– Nibbana (Níp-Bàn)

Chúng ta đều biết điều gì xảy ra khi lửa tắt. Ngọn lửa lụn tàn và lửa ra đi. Khi lần đầu chúng ta học rằng cứu cánh của Đạo Phật,  cái gọi tên là “Nibbana”, có nghĩa là sự  tắt lửa, quả thật khó hình dung cứu cánh tâm linh lại là một hình ảnh đoạn diệt: đoạn diệt hoàn toàn. Khái niệm này là một lầm lẫn dịch thuật, đây mới chỉ là một nghĩa của một từ chứ chưa phải là một biểu tượng. Một ngọn lửa tắt biểu tượng cho điều gì vào thời của Đức Phật. Rất nhiều, ngoại trừ sự đoạn diệt

Theo những người bà La Môn cổ đại, khi ngọn lửa tắt nó sẽ ẩn vào trạng thái tiềm năng. Khi không tồn tại, ngọn lửa ngủ, và trong trạng thái này, tức trạng thái không lệ thuộc nhiên liệu, nó lan tỏa vào vũ trụ. Vào thời Đức Phật, khi ngài dùng hình ảnh biểu tượng để giải thích Nibbana cho những người Bà La Môn, ngài đã bỏ qua câu hỏi khi ngọn lửa tắt nó còn hay mất và thay vào đó bằng cách nhấn mạnh vào sự không thể xác định một ngon lửa khi nó không cháy; cũng vậy cái ngã khi đã hoàn toàn biến mất cũng không thể mô tả được.

Khi dạy các môn đồ, Đức Phật dùng Nibbana như một hình ảnh của tự do. Rõ ràng là tất cả các người Ấn thời đó quan niệm lửa cháy như sự kích động, lệ thuộc, mắc bẫy. Lửa dính mắc và bị cột buộc vào nhiên liệu khi nó cháy. Muốn đánh lên một ngọn lửa, người ta phải bắt dính nó. Khi lửa hết nhiên liệu, nó được tự do và thoát khỏi mọi kích động, lệ thuộc, mắc bẫy – yên tĩnh và tự do. Do đấy thi ca Pali luôn dùng hình ảnh một ngọn lửa tắt như ẩn dụ của sự tự do. Thật ra, ẩn dụ này là một phần của mô hình biểu tượng về lửa có liên hệ tới cả hai từ liên quan: Chấp thủ (upadana) hay bám víu: ám chỉ sự bám víu của ngọn lửa với nhiên liệu. Uẩn (khandha): không chỉ có nghĩa là một trong năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) dùng để chỉ các trải nghiệm có điều kiện, mà còn có nghĩa cái thân cây. Giống như khi ngọn lửa tắt đi khi nó ngưng không bám víu để lấy nhiên liệu từ gỗ, Tâm thức sẽ được tự do khi nó thôi không bám víu vào các uẩn.

Vậy hình ảnh mà Nibbana muốn ám chỉ là sự tự do. Các chú giải Pali ủng hộ quan điểm này bằng cách truy đến âm gốc của từ Nibbana là “không bị dính mắc”. Không dính mắc với cái gì. Kinh điển mô tả hai mức độ. Mức độ thứ nhất là không dính mắc trong cuộc đời hiện tại này, so sánh như một ngọn lữa đã tắt nhưng tro than còn ấm. Điều này để ám chỉ một vị A la Hán chứng ngộ, vẫn thấy nghe, cảm thụ khoái lạc và đau khổ, nhưng thoát khỏi mọi đam mê, chán nghét và ảo tưởng. Mức độ thứ hai, so sánh như một ngon lữa đã hoàn toàn tắt, tro than nguội lạnh. Đó là những gì một vị A La Hán trải nghiệm sau cuộc đời này. Khi mọi giác quan nguội lạnh, vị đó (ông hay bà) giải thoát khỏi mọi căng thẳng nhỏ nhặt nhất, khỏi mọi giới hạn khi phải hiện hữu trong không gian và thời gian.

Đức Phật nhấn mạnh mức độ này là không thể diễn đạt. Không thể nói là có hiện hữu hay không hiện hữu. Bởi vì ngôn ngữ chỉ dùng được cho những điều hữu hạn. Tất cả điều Đức Phật thực sự muốn nói ( ngoài biểu tượng và ẩn dụ) là ta có thể nếm trước trải nghiệm này trong đời sống hiện tại. Một hạnh phúc tột cùng mà ta đáng phải biết.

Vì vậy sau này, khi bạn nhìn một ngọn lửa tắt đi, đừng nhìn như đó là sự đoạn diệt, mà hãy nghĩ đến thế nào là tự do ta có được khi buông xả.

Nguồn:

Nibbana by Bhikkhu Thanissaro

BS Phạm Doãn dịch từ Anh sang Việt


7 phản hồi on “– Nibbana (Níp-Bàn)”

  1. cannguyen nói:

    Nip-bàn là một danh từ trườu tượng khó giải thích .Rãi rác trong các kinh sách thì đưa ra các cặp từ :Níp-bàn&sanh tử hay Níp-bàn&luân hồi ..v.v..
    Theo tôi nếu muốn rõ về vân đề này thì chúng ta nên quay về BÁT NHÃ TÂM KINH .Chính trong BNTK đã cho ta biết đươc 2 đinh luật của vũ trụ :
    1)Bản chất của vũ trụ :sắc tưc thị không….sắc bất dị không … tức là các hạt mang năng lượng đang hiện hữu trong vũ trụ
    2)Sự chu biến của các hạt mang năng lượng đó mà thành ra các thế giới và cả vạn vật có trong thế giới đó:bất sanh -bất diệt,bất cấu -bất tịnh,bất tăng -bất giảm …
    Như vậy giữa ta và vạn vật trong đó có đức Phật đều bị chi phối bởi đinh luật đó .Duyên sinh và duyên diệt là cả một quá trình chu biến của các hạt mang năng lượng.
    Các hạt mang năng lượng thì có nặng ,có nhẹ,có năng lượng nhiều hay ít chu biến mà thành hình ra mọi thứ .Tuy là hình tướng khác nhau nhưng bản chất là đồng.Bởi thế đức Phật mới nói:Chúng sanh đều có Phật tánh .Vì chúng sanh mê mờ nên các hạt mang năng lượng của chúng nặng nề và yếu kém . Như thế chúng sanh phải trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi .
    Đức Phật là một người đã tu luyện nhiều đời nhiều kiếp đã kết tập cho mình một nguồn năng lượng thanh sạch.Với cái quang minh tâm thức như thế thì khi nhập diệt Ngài đã vượt qua tam giới mà an trụ trong cỏi Nip-bàn tỉnh tịch bằng cái nguồn năng cao của tâm thức.Còn nguồn năng lượng cao khác trong nhuc thân của Ngài thì kết thành Xá lợi mà chúng ta thấy ngày hôm nay.
    Quán chiếu sâu vào BNTK sẽ cho chúng ta thấy biết được nhiều điều kỳ diệu.Từ đó mà cái Tâm phân biệt không còn Nghiệp chướng tiêu trừ nhờ vào Trí tuệ Bát nhã -Phát triển được con đường tiến hoa tâm linh.

  2. phuocphant nói:

    (Kinh) 55.- Niết-bàn
    Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
    – Thiết thực hiện tại là Niết bàn, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
    – Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Tham ái được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
    Bị sân làm uế nhiễm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Sân được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
    Bị si làm mê mờ, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Si được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
    Khi vị ấy, này Bà-la-môn, cảm thọ tham ái được đoạn tận, không có dư tàn, cảm thọ sân được đoạn tận, không có dư tàn, cảm thọ si được đoạn tận, không có dư tàn. Như vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
    – Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
    (Tương Ưng Kinh)

    Ý kiến:
    Thiệt ra Niết Bàn là khi tâm không còn tham sân si nữa. Tức là tâm trong sáng, thanh tịnh không bị điều kiện ràng buộc bởi những điều kiện của thế gian. Người ta có thể đè nén tham sân si (tự kỷ ám thị, ruồng bỏ cuộc đời, quán tưởng, thiền định sâu lắng, cầu nguyện…) nhưng cách đó là cách rất dở và chưa thể giải thoát được của nhiều pháp tu Đại Thừa và các tôn giáo. Trong khi đó, khi bạn tu thiền quán Tứ Niệm Xứ, bạn sẽ thấy rõ tham, sân, si đã trừ diệt như thế nào, và hơn hết bạn sẽ thấy rõ sự vận hành của vật chất và tâm thức ở chính nơi thân tâm của bạn nên bạn sẽ không “thèm” thân tâm nữa. Vì thấy sự nguy hiểm của thân tâm nên Lánh xa chúng mãi mãi nên sẽ không bao giờ bị chúng làm ảnh hưởng. Nhưng để chứng nghiệm Niết Bàn thì phải thực hành tứ niệm xứ rồi sẽ tự mà biết.
    Nói một cách chính xác như thế này: tham sân si diệt được bao nhiêu thì Niết Bàn được bấy nhiêu. Rốt ráo Niết Bàn là khi mọi “lậu hoặc” (cái rỉ rả hôi thúi của tâm thức chảy ngày đêm nơi tâm) bị tiêu diệt hoàn toàn.
    Như tôi trích dẫn Kinh Niết Bàn ở trên để các bạn suy nghiệm cho chính xác. Người tham ái vào đời sống quá sâu dày thì không thể nào muốn hành thiền Tứ Niệm Xứ, không hành thiền thì chẳng thể nào mà hiểu được sự thanh thoát của tâm trong sạch phiền não. Có nhiều vị tu cả đời, khi chia ly mất mát thì òa khóc, rươm nước mắt vì họ còn vô minh, khi thấy ai chê bai mình thì nổi sân lên, không hạp ý mình thì ngoảnh mặt làm ngơ xem thường, sợ hãi vào những điều nhỏ nhặt…do không chứng nghiệm Niết Bàn là như vậy.
    Bọn Đại Thừa đâu biết rằng chính cái “lý luận” đẻ pháp tu của bọn chúng làm bọn chúng ngu càng ngu, càng dính vào tà kiến “Vô thượng” và tham ái. Cái pháp tu Tứ Niệm Xứ như tôi đã nói là phải sống với Tứ Niệm Xứ ngày đêm, ít ra là phải biệt lập liên tục với cuộc sống bên ngoài 7 ngày 7 đêm thì sẽ có hiệu ứng về giảm thiểu tham sân si. Khi cô đơn tìm hiểu thân tâm mình sẽ thấy rõ thân tâm mình như thế nào mà thôi, pháp hành giản dị và cụ thể thì mới xứng đáng được Phật thuyết cho tất cả mọi người. Còn những pháp hành làm khó khăn, tư tưởng đẻ nặn thì sẽ không bao giờ chứng đắc dù tên đó viết sách luận chứng tỏ ta hiểu biết nhiều như thế nào.
    Như khi bạn tu thiền Tứ Niệm Xứ một thời gian liên tục, bạn muốn chứng đắc Tứ Thiền thì dễ như trở bàn tay vì chính cái tâm ít bị phiền não bởi tham sân si sẽ dễ dàng nhập, xuất Tứ Thiền, làm thuần phục Tứ Thiền nếu như định tâm liên tục vào hơi thở, tác ý bỏ qua quán sát Pháp. Đó là lộ trình quán trước chỉ sau. Khi đó, nhờ năng lực Tứ Thiền sẽ quán và diệt sạch những “cái ô nhiễm” còn sót lại. Ai không xa lánh thế gian 1 thời gian thì sẽ không thể chứng đắc được. Đó là lời khuyên của tôi. Và phải nhớ rằng phải thực hành đúng Kinh, chứ không nên bám vào những cuốn sách làm “thỏa mãn” tinh thần của sự học thức. Tôi biết nhiều kẻ đi giảng Kinh mà chả thuộc bài Kinh Tứ Niệm XỨ cho nằm lòng, nói chi đến cái bọn Đại Thừa mất gốc. Nói chi đến thực hành. Kinh dịch chưa chuẩn xác nhưng khi thực hành liên tục sẽ thấy được những gì cần thấy, sẽ biết được chỗ dịch nào còn chưa hợp lý.
    Trung đạo là tứ niệm xứ đó. Khi nghiên cứu kinh kỹ sẽ thấy 37 phẩm trợ đạo nằm ở trong đó. Và thực hành sẽ chắc ý như vậy, đó là lý do vì sao nó đứng đầu trong 37 phẩm trợ đạo, không có nó thì Đạo Phật chỉ là Đạo Bà La Môn. Đó là lý do vì sao bọn Đại Thừa đã phỉ báng Kinh Tứ Niệm Xứ trong Kinh Niệm Phật Ba la mật. Và bọn chúng không hề nói gì về Tứ Niệm Xứ trong các Kinh “Ngu như heo” khác. Bọn chúng nhiều như cát sông hằng xưa nay là vậy. Chỉ biết hý luận. Bọn Đại Thừa này phần lớn bị đọa vào khổ cảnh mặc dù chúng tuyên truyền Phật Pháp rất hăng sai. Vì sao? Chính cái tà kiến đã đẩy chúng vào khổ cảnh.
    Tôi vì thương bọn chúng nên mới chửi rủa bọn chúng trên youtube, diễn đàn…chứ nếu nói theo kiểu “ưu ái” bọn chúng sẽ lờ đi và không bao giờ nhìn lại pháp hành của mình.
    Thời gian sau này tôi sẽ không tham gia comment trên internet nữa mà viết bài cho Đạo Phật Nguyên Thủy và Tuyên Chiến Đại Thừa. Chánh Pháp nằm trọn trong 4 bộ Kinh: Trường Bộ, Trung Bộ, Tăng Chi, Tương Ưng; còn ngoài cái đó ra thì nên thận trọng những “tư tưởng”.
    Tôi nói thiệt với các bạn, cỡ Long Thọ, tôi bẽ gẫy lý luận như chơi (dùng Nikaya), đừng nói chi đến các ông thầy nhỏ bé khác. Tôi không bẻ là vì tôi sợ sân hận làm cho những đệ tử mang Nghiệp lớn chứ không phải tôi không có khả năng. Viết sạch u mê mà bảo là ‘tổ”. Vì sao? Vì ai ủng hộ đại thừa là kẻ phàm phu, chưa bao giờ ném mùi vị của giác ngộ. Giác ngộ Tu Đà hoàn mà làm chưa xong mà đòi viết luận rối loạn bao thế hệ. Bạn nên nhớ rằng trong đạo Phật Nguyên Thủy chỉ có 2 cửa: VÔ MINH và GIÁC NGỘ, chứ không có Bồ Tát, Bò Tót gì cả. Bồ Tát là kẻ ngu si chưa trừ diệt tận gốc tham sân si thì bọn chúng dù nổi tiếng cỡ nào vẫn phải bị Quả Dị Thục của Nghiệp đánh cho tan xương nát thịt. Đừng tưởng rằng mình phạm tội giết người bị xử tử hình là hết Nghiệp đó; không đâu: cái nghiệp sát sanh sẽ bám suốt hành trình luân hồi cho tới khi nào đoạn tận lậu hoặc. Và cái địa ngục lớn nhất là tà kiến gây ra. Đó là lý do vì sao Chánh Kiến dẫn đầu các chi phần khác trong Bát Chánh Đạo.
    Thân ái.
    PHUOCPHANT

  3. NhatLy nói:

    To phuocphant
    Ở đâu đó phuocphant blog /Pbatchanhdao.wordpress.com co đoạn:
    ” Muốn đạt đến sự giải thoát đó thì phải luôn luôn quan sát THÂN và TÂM của mình để thấy rõ sự đổi thay của THÂN TÂM trong từng giây phút. Càng thấy rõ sự đổi thay của THÂN và TÂM theo nhân duyên càng thấy rõ THÂN, TÂM đều VÔ NGÃ, chẳng phải là TA, chẳng phải là CỦA TA. Do đó mà trở thành KHÁCH QUAN, ĐỘC LẬP với chính BÃN NGÃ của mình. Đó gọi là “ra khỏi giòng sông”. Lúc đó dầu có trôi theo giòng sông thì cũng không thể còn bị giòng sông nhận chìm nữa.”
    “ra khỏi giòng sông” có phải là một kiểu Chứng Đắt do tính vượt ra, vượt khỏi chương ngại đạt đến mục tiêu và nếu như thế thì có nghe ai nói Chứng Đắt vÔ NGÃ CHƯA? hay là Chứng Đắt Ngã KHÔNG? PHÁP KHÔNG?

  4. – Câu hỏi 51: Bạch ngài, sự mô tả Niết-bàn do những người mà ngài tin đã đạt đến đó là như thế nào?
    Mahasi:
    Một số mô tả về Niết-bàn do những người, theo tôi tin, đã chứng ngộ thực sự, là như sau:
    Tôi thấy các đối tượng và tâm ghi nhận(hay tâm chánh niệm) đột nhiên ngừng lại.
    Tôi khám phá ra rằng các đối tượng và tâm chánh niệm bị cắt đứt giống như một sợi dây leo bị chặt đứt vậy.
    Tôi thấy các đối tượng và tâm chánh niệm rơi xuống như thể tôi không còn cầm được chúng nữa.
    Tôi thấy các đối tượng và tâm ghi nhận rơi xuống thình lình giống như vất xuống một gánh nặng vậy.
    Tôi cảm thấy như thể tôi đã thoát khỏi các đối tượng và tâm ghi nhận.
    Tôi phát hiện ra rằng các đối tượng và tâm ghi nhận đột nhiên ngừng lại giống như một ngọn nến bị thổi tắt.
    Tôi cảm thấy như thể tôi đã rời khỏi các đối tượng và tâm ghi nhận, giống như thoát ra khỏi bóng tối đi vào ánh sáng vậy.
    Tôi cảm thấy rằng tôi đã thoát khỏi đối tượng và tâm ghi nhận, như thể tôi vừa từ chỗ tối tăm vào nơi sáng sủa.
    Tôi thấy cả đối tượng lẫn tâm ghi nhận chìm xuống như thể chúng bị dìm vào nước vậy.
    Tôi khám phá ra rằng cả đối tượng lẫn tâm ghi nhận đột nhiên dừng lại giống như một vận động viên chạy nước rút bị đẩy lại từ phía trước vậy.
    source: http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/MinhSatThuc/MinhSatThucTien1.htm

  5. Mai Pham nói:

    NIẾT BÀN(như thế nào được gọi là niết bàn)

    28) — Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết pháp để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt già chết, thời đủ để được gọi là vị Tỷ-kheo thuyết pháp.
    Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, già chết, thời đủ để được gọi là Tỷ-kheo tùy pháp hành.
    Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, vô minh được giải thoát, không có chấp thủ, thời đủ để được gọi vị Tỷ-kheo đã đạt được hiện tại Niết-bàn.(twb2 nh duyên c)

    9) Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly, lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly, thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.

    10) Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly, lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.

    11) Cũng vậy, này Ràdha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.
    12-14) … thọ… tưởng… các hành…
    15) … Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.

    16) Ðoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn.(twb3 radha chúng sanh)

    2) — Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông con đường thích ứng với Niết-bàn. Hãy lắng nghe… Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích ứng với Niết-bàn?(twb 4 6 xứ e thích ứng)
    3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy mắt là vô thường, thấy các sắc là vô thường, thấy nhãn thức là vô thường, thấy nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường.
    4-5) … tai… mũi…
    6-7) … lưỡi… thân…
    8) .. thấy ý là vô thường, thấy các pháp là vô thường, thấy ý thức là vô thường, thấy ý xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là vô thường.
    9) Và này các Tỷ-kheo, đây là con đường thích ứng với Niết-bàn.
    Khi vị ấy, này Bà-la-môn, cảm thọ tham ái được đoạn tận, không có dư tàn, cảm thọ sân được đoạn tận, không có dư tàn, cảm thọ si được đoạn tận, không có dư tàn. Như vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.(tcb1 các bà la môn)

    — Ðồng nghĩa với Niết-bàn giới là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si, cũng được gọi là đoạn tận các lậu hoặc.(twb 5 Đạo a)

    I. Nibbàna (Niết-bàn) (twb 4 jambukhadaka)
    1) Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nàlaka.
    2) Rồi du sĩ Jambukhàdaka đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
    3) Ngồi một bên, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sàriputta:
    — “Niết-bàn, Niết-bàn”, này Hiền giả Sàriputta, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Niết-bàn?
    — Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.
    4) — Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
    — Này Hiền giả, có con đường có đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
    5) — Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến chứng đắc Niết-bàn?
    — Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy.
    6) — Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn. Thật là vừa đủ, này Hiền giả, để không phóng dật.

    Niết bàn giới có dư y và không dưy Kinh Phật thuyết như vậy(tiểu bộ)
    Ðiều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
    Này các Tỷ-kheo, có hai Niết-bàn giới này. Thế nào là hai? Niết-bàn giới có dư y và Niết-bàn giới không có dư y.

    Này các Tỷ-kheo, thế nào là Niết-bàn giới có dư y? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã diệt, đã giải thoát nhờ chánh trí. Trong vị ấy, năm căn còn tồn tại, ngang qua các căn ấy, vị ấy hưởng thọ khả ý, không khả ý vì rằng tự ngã không có thương hại cảm giác lạc khổ. Với vị ấy, tham diệt, sân diệt, si diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Niết-bàn có dư y.

    Này các Tỷ-kheo, thế nào là Niết-bàn giới không có dư y? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã diệt, đã giải thoát nhờ chánh trí. Ở đây, đối vị ấy, mọi cảm thọ đều không có hoan hỷ ưa thích, sẽ được lắng dịu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Niết-bàn không có dư y. Này các Tỷ-kheo có hai Niết-bàn giới này.

    GIẢI THOÁT

    4) Và khi nào vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của năm thủ uẩn này, được giải thoát không có chấp thủ. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị A-la-hán, các lậu hoặc được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí.(twb3 uẩn g alahán)

    VII. Giải Thoát (Tập 3twb uẩn g)
    1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
    2) — Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Ông có quán sắc: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?
    — Thưa có, bạch Thế Tôn.
    — Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải như thật quán sắc với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
    3-5) … thọ… tưởng… các hành…

    6) … các Ông có quán thức: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”?
    — Thưa có, bạch Thế Tôn.
    — Lành thay! Này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải như thật quán thức với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
    7) Do thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ: “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.

    2) Tại đấy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo (twb 5 sự thật a)

    — Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, do không thông đạt bốn Thánh đế mà Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này. Thế nào là bốn?

    3) Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này… Thánh đế về Khổ tập… Thánh đế về Khổ diệt… Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này.

    4) Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, Thánh đế về Khổ này đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ tập đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được giác ngộ, đã được thông đạt. Ðược chặt đứt là hữu ái, được đoạn tận là những gì đưa đến tái sanh (bhavanetti). Nay không còn tái sanh nữa.

    Nhàm chán là giải thoát

    3) — Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammam): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.
    4) Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.

    5) Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.(twb3 uẩn g thiện nam tử)

    8) Còn vị Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, thấy rõ các bậc Thánh… tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Ða văn Thánh đệ tử, không bị trói buộc bởi các trói buộc của sắc, không bị trói buộc bởi các trói buộc nội ngoại, vị đã thấy bờ bên này, vị đã thấy bờ bên kia. Ta nói, vị ấy được giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ.
    9-11) … Ðối với thọ… với tưởng…. với các hành…

    12) … không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Ða văn Thánh đệ tử, không bị trói buộc bởi sự trói buộc của thức, không bị trói buộc bởi sự trói buộc nội ngoại; vị đã thấy bờ bên này, đã thấy bờ bên kia. Ta nói, vị ấy đã giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ.(twb 3 uẩn g trói buộc)

    Tâm giải thoát(twb4 tâm)

    5) — Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi… với tâm câu với hỷ… an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô lượng tâm giải thoát.

    6) Và bạch Thượng tọa, như thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát? Ở đây, Tỷ-kheo vượt lên Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô sở hữu tâm giải thoát.

    7) Và bạch Thượng tọa, thế nào là không tâm giải thoát? Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo đi đến rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống và suy tư: “Cái này là trống không tự ngã hay ngã sở hữu”. Bạch Thượng tọa, đây gọi là không tâm giải thoát.

    8) Và bạch Thượng tọa, thế nào là vô tướng tâm giải thoát? Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo không tác ý tất cả tướng, chứng và trú Vô tướng tâm định. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô tướng tâm giải thoát.

    Đôi với các pháp này bất động tâm giải thoát được xem là tối thượng,nhưng bất động tâm giải thoát này trống không ,không có tham,trống không,không có sân,trống không không có si.Do đó các pháp môn này đồng nghĩa chỉ khác ngôn từ!

    -ooo-


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s