– Pháp môn Tịnh Độ trong kinh điển Pàli

Pháp môn Tịnh Độ trong kinh điển Pàli

Toại Khanh

Người Phật tử Việt Nam xưa nay thường biết đến khái niệm Tịnh Độ qua các kinh nói về Phật Di Đà (Amitàbhasutra và Sukhavativyùhasutra ) từ Hán Tạng, vốn được phiên dịch từ kinh điển Sanskrit. Ở đó, cõi Tịnh Độ hay Cực Lạc (từ Phạn ngữ là Sukhavatì) được mô tả là một cảnh giới tuyệt vời với tất cả những thứ du dương, mát mẻ, thơm ngát và không có chuyện đói lạnh. Con đường dẫn đến cõi này có thể chỉ gói gọn trong công phu trì niệm hồng danh Phật Di Đà. Ngoài sự thanh tịnh có được từ việc nhất tâm trong lúc niệm Phật Di Đà, oai lực của Ngài cũng thừa sức tiếp dẫn vong linh đương sự (tức người niệm Phật) vãng sinh về thế giới Tịnh Độ của Ngài để họ tiếp tục tu hành trong điều kiện thuận lợi hơn xưa gấp triệu lần. Trên ấy giữa người với người không hề biết tương tranh, thù hận vì ở đó không có chuyện chiếm hữu lợi danh như ở cõi Sa Bà nhiều kiếp nạn này.

Nhưng đó là theo Hán tạng, nguồn giáo lý chủ đạo của hệ Phật giáo Bắc truyền. Trong bài viết này ta thử tìm hiểu vấn đề qua kinh điển Pàli, nguồn giáo lý căn bản của Phật Giáo Nam phương, xem sao. Dĩ nhiên, trong Tam Tạng Pàli cũng có khái niệm Tịnh Độ (nếu ta muốn gọi thế) với những những trình bày thật rõ ràng về cảnh giới này, những cư dân ở đó và con đường dẫn đến cảnh giới Tịnh Độ, tức phép cầu vãng sanh theo kinh điển Nam Truyền.

I- CÕI TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI 

Trước hết, cõi Tịnh Độ được biết đến trong kinh điển Pàli qua danh từ Suddhàvàsa, còn được dịch là Tịnh Cư, theo lối chiết tự Suddha (thanh tịnh) và Àvàsa (chổ ở ). Vậy Suddhàvàsa cũng có thể được dịch là Tịnh Độ, Tịnh Thổ. Thậm chí chữ Pàli này còn gần gũi với chữ Tịnh Độ, Tịnh Thổ hơn là Sukhavati (Chốn An Lạc), một chữ chỉ có thể xem là tương đương với từ Sugati (Lạc Cảnh, Thiện Thú) trong kinh điển Pàli, chỉ chung cho các cõi nhân thiên.

Theo các Chú Sớ A Tỳ Đàm, có tất cả 5 cõi Tịnh Độ, nằm trong 16 cõi Phạm thiên Hữu Sắc, và là chổ tái sanh của các bậc Thinh Văn Bất Lai hay còn gọi là A-Na-Hàm (Anàgàmi, Người-Không-Còn-Trở-Lại-Các-Cõi-Dục-Giới). Tuy cảnh giới này chỉ gồm toàn các vị Bất Lai và La Hán (chứng La Hán sau khi sanh về đây), nhưng trên căn bản vì vẫn là cõi Hữu Sắc nên ở 5 cõi Tịnh Độ này vẫn có những lâu đài, hoa viên rất trang nghiêm, dĩ nhiên không phải là nơi chốn hưởng thụ, mà đó chỉ là những dấu vết tối thiểu của một cõi Ngũ Uẩn [*]. Về tuổi thọ, chư thánh Bất Lai ở cõi thấp nhất trong 5 cõi Tịnh Độ là cõi Vô Phiền (Avihà) có thọ mạng 1000 đại kiếp, cõi kế đến là Vô Nhiệt (Àtappà) có thọ mạng 2000 đại kiếp, cõi thứ ba là Thiện Hiện (Sudassà) có thọ mạng 4000 đại kiếp, cõi thứ tư là Thiện Kiến (Sudassì) có thọ mạng 8000 đại kiếp và cõi Sắc Cứu Cánh (Akanittha) có thọ mạng 16000 đại kiếp.

Do có những lúc trãi qua một thời gian quá dài không có chư Phật ra đời độ sinh, nhân số trên 5 cõi Tịnh Độ chỉ có giảm mà không được bổ sung nên cũng có những thời điểm 5 cõi này không tiếp tục tồn tại.

II -CƯ DÂN TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI

Trước tiên là vài hàng trình bày đại lược về 4 tầng Thánh Trí làm nên 4 bậc thánh nhân và chính đức Phật cũng được kể vào đó. Sơ Quả hay Tu Đà Huờn (Sotàpatti, Dự Lưu ), còn được gọi là Thất Lai, người không thể tái sanh quá 7 lần, là vị đã chấm dứt hoàn toàn 3 thứ phiền não Thân Kiến (nôm na là chấp kiến trong 5 Uẩn), Hoài Nghi (nghi ngờ về Phật Pháp nói chung) và Giới Cấm Thủ (chấp trước các tín điều mù quáng). Ở một số vị, thánh trí Sơ Quả chỉ là một giai đoạn thoáng qua trước khi hoàn tất các tầng thánh trí cao hơn. Như trường hợp đức Phật hoặc các vị Thinh Văn tốc chứng. Nhưng cũng có lúc giai đoạn này kéo dài trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều năm hoặc vài kiếp sống (dĩ nhiên không quá 7 kiếp). Sớ Giải Trường Bộ ghi rằng thiên vương Đế Thích hiện nay là một vi thánh Sơ Quả. Khi hết tuổi thọ, ngài sẽ sinh xuống nhân gian làm Chuyển Luân Vương và chứng đắc Nhị Quả Tư Đà Hàm. Sau đó sanh lên Đao Lợi Thiên chứng Tam Quả A Na Hàm và lần lượt tái sanh ở đủ 5 cõi Tịnh Độ, bắt đầu là cõi Vô Phiền. Cuối cùng ngài sẽ chứng quả La Hán và nhập diệt ở cõi Sắc Cứu Cánh.

Tầng thánh trí thứ hai là Nhị Quả Tư Đà Hàm. Ngoài 3 phiền não đã chấm dứt ở tầng thánh trước, quả vị này còn làm giảm nhẹ Dục Ái và Sân Hận. Do chỉ còn có thể tái sanh cõi Dục Giới một lần nữa thôi, nên quả vị này còn được gọi là Nhất Lai (Sakadàgàmì).

Tầng thánh thứ ba là Tam Quả A na Hàm, chữ phiên âm từ tiếng Pàli là Anàgàmi, nghĩa là bậc Bất Lai, người không còn trở lui các cõi Dục Giới nữa ( có tất cả 11 cõi Dục Giới). Theo A Tỳ Đàm Tạng Pàli thì do đã chấm dứt Dục Ái (niềm tham luyến trong ngũ trần) và Sân Hận nên vị thánh Tam Quả trong trường hợp không thể chứng La Hán rồi nhập diệt ngay đời này thì chỉ có hai con đường để đi:

A- Nếu đã chứng đắc Ngũ Thiền thì sẽ tùy theo khả năng mạnh yếu của Ngũ Quyền (Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ) mà sanh về cõi nào đó trong 5 cõi Tịnh Độ. Tín Quyền nổi trội thì sanh về cõi Vô Phiền, Tấn Quyền hùng hậu thì về cõi Vô Nhiệt, Niệm Quyền hùng hậu về cõi Thiện Hiện, Định Quyền hùng hậu thì về cõi Thiện Kiến, Tuệ Quyền thâm hậu thì sanh về cõi Sắc Cứu Cánh (Pàli gọi là Akanittha, Không-Thứ-Gì-Yếu-Kém). Ở cõi Tịnh Độ thứ năm này toàn bộ Ngũ Quyền đều được sung mãn, vì đây là nơi chốn sau cùng để một vị Bất Lai chứng quả La Hán và nhập diệt.

B- Trong trường hợp vị thánh Bất Lai chưa chứng qua một tầng thiền định nào, tức chỉ có trí tuệ Thiền Quán (Vipassanà) mà không từng tu tập thiền Chỉ (Samatha) thì lúc mạng chung, vị này do khả năng ly dục vô sân tuyệt đối nên tối thiểu cũng thành tựu Sơ Thiền trước khi mạng chung ở cõi Dục giới và như vậy cũng đủ để sanh về cõi Phạm Thiên thấp nhất là Phạm Thiên Sơ Thiền.

Do túc duyên và trình độ tu chứng có khác nhau nên giữa các bậc thánh Tam Quả cũng có vài sai biệt, theo Manorathapurani, Chú Sớ Tăng Chi Bộ (Phần Tika):

– Antaràparinibbàyì (Tiền Bán Niết Bàn): vị Bất Lai chứng La Hán khi chưa sống hết phân nửa thọ mạng cõi Tịnh Độ nào đó trong 5 cõi.

– Upahaccaparinibbàyì (Hậu Bán Niết Bàn): Chứng La Hán sau khi sống hơn nửa thọ mạng ở cõi Tịnh Độ nào đó.

– Uddhamsoto Akanitthagàmì (Luân Lưu Niết Bàn): Do căn tánh không xuất sắc, có vị Bất Lai phải lần lượt sanh đủ 5 cõi Tịnh Độ mới chứng quả La Hán rồi nhập diệt ở cõi Tịnh Độ cao nhất.

– Asankhàraparinibbàyì (Bất Lao Niết Bàn): Vị Bất Lai có thể chứng La Hán mà không cần nhiều cố gắng.

– Sasankhàraparinibbàyì (Cần Lao Niết Bàn): Vị Bất Lai phải nhiều nổ lực mới có thể chứng La Hán.

Tầng thánh trí thứ tư chính là quả vị La Hán, người chấm dứt toàn bộ phiền não. Theo A Tỳ Đàm Pàli thì có 3 quả vị La Hán: Chư Phật Chánh Đẳng Giác (sammàsambuddha hay Sabbannubuddha – Toàn Giác) cũng là những vị La Hán nhưng do tự mình chứng đắc và là đạo sư hướng dẫn cho những người hữu duyên chứng đắc La Hán. Những vị La Hán đệ tử này được gọi là Thinh Văn Giác (Sàvakabuddha). Quả vị La Hán thứ ba là Độc Giác Phật (Paccekabuddha), những vị tự mình chứng ngộ La Hán nhưng không thể hướng dẫn người khác chứng ngộ La Hán. Kinh điển Hán Tạng còn gọi Độc Giác Phật là Duyên Giác Phật vì cho rằng các ngài nhờ liễu ngộ nguyên lý Duyên Khởi mà giác ngộ (cách nghĩ này bắt nguồn từ những giai thoại về chư Phật Độc Giác trong Chú Sớ Tiểu Bộ Kinh, một trong những bộ phận kinh điển từng làm nền tảng cho nhiểu kinh luận hậu tác, ai từng đọc kỹ các bộ A Hàm sẽ thấy rõ điều này). Kỳ thực, nếu đọc kinh Đại Duyên trong Trường Bộ Kinh, ta sẽ thấy lý Duyên Khởi và lý Tứ Đế (vẫn bị hiểu lầm là dành riêng cho Thinh Văn) vốn dĩ chỉ là một. Trong Trung Bộ Kinh, đức Phật đã xác định ai thấy lý Duyên Khởi chính là thấy Pháp và ngược lại. Đồng thời, không hề có chuyện một người giác ngộ lý Tứ Đế mà lại mơ hồ về lý Duyên Khởi hay ngược lại. Tất cả quả vị La Hán vừa nêu trên đây luôn giống nhau về khiá cạnh giác ngộ các pháp cần yếu (như Tứ Đế, Duyên Khởi,..), chỉ khác ở hai điểm chính: Tự mình hiểu ra hay phải nhờ thầy hướng dẫn, và điểm thứ hai là ngoài trí tuệ giác ngộ có còn khả năng hiểu biết sâu rộng những gì nằm ngoài lý tưởng giác ngộ hay không. Xét về khía cạnh này, chỉ có chư Phật Chánh Đẳng Giác là viên mãn. Trong bài viết này chúng ta chỉ đặc biệt nhấn mạnh quả vị Bất Lai, vì đề tài ở đây là các cõi Tịnh Độ.

III- PHÉP VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI

Vãng sanh vẫn được dùng song song với chữ siêu sanh, nhưng theo tinh thần A Tỳ Đàm Pàli mà nói thì Siêu Sanh còn có thể được hiểu là vượt thoát tái sanh, một điều chỉ thực hiện được bởi một vị La Hán. Như vậy trong trường hợp vị Bất Lai sanh về các cõi Tịnh Độ chỉ có thể gọi là Vãng Sanh. Và nếu phải trả lời câu hỏi về con đường vãng sanh Tịnh Độ, thì như tất cả những gì vừa nêu phần trên, ta hoàn toàn có thể nói rằng Vãng Sanh Tịnh Độ chỉ là một phần đường trên hành trình giải thoát của một vị Thinh Văn, và như thế cái gọi pháp môn Tịnh Độ hay con đường vãng sanh trong trường hợp này cũng đồng nghĩa với hành trình Tam Học, hành trình Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, nói chung là hành trình 37 Bồ Đề Phần. Các pháp trong 37 Bồ Đề Phần đối với nhau chỉ là mối quan hệ Tương Tức: Cái này chính là cái kia, trong cái kia có cái này.

Đã nói rõ ràng như vậy thì lời đáp cho câu hỏi về con đường vãng sanh lúc này đã là toàn bộ những gì mà ta vẫn gọi là Phật Pháp và theo cách hiểu này, pháp môn Tịnh Độ cần thiết cho tất cả mọi người, chỉ trừ những vị nuôi hạnh Bồ Tát, muốn trở thành một đức Phật Chánh Đẳng Giác trong tương lai. Một khi đã chấp nhận ghé bến Tịnh Độ thì không thể đi xa hơn nữa. Bởi theo kinh điển Pàli chỉ có hàng Thinh Văn mới có thể rơi vào trường hợp kéo dài thời gian sau khi chứng ngộ một quả vị Hữu Học nào đó, chỉ vì khiếm khuyết túc duyên. Bởi rõ ràng 5 cõi Tịnh Độ chỉ là trạm trung chuyển cho những người chậm bước và điều này dĩ nhiên không thể xảy ra đối với chư Phật.

Đồng thời, chiếu theo tinh thần căn bản của Phật Giáo mà nói thì khi nhắc đến pháp môn Tịnh Độ, ta còn phải định nghĩa lại chữ CẦU trong CẦU VÃNG SANH vì Cầu Vãng Sanh không hề có nghĩa là chờ đợi sự tiếp dẫn của bất cứ ai, mà phải là sự lên đường bằng chính đôi chân của mình. Vì sao lại thế? Xin thưa: Khi ta nói ai đó đã sáng thế có nghĩa là ta đang gián tiếp nguyền rủa kẻ đã tạo nên một thế giới khổ nhiều hơn vui, và khi ta cường điệu cái gọi là oai lực gia trì của chư Phật có nghĩa là ta đang thầm trách các Ngài khi Phật lực thì trùng trùng nhưng người khổ vẫn cứ điệp điệp.

Mong thay!

TOẠI KHANH

FLORIDA, MÙA TỰ TỨ 2005

[*] Theo A Tỳ Đàm Pàli, trong cái gọi là thế giới này gồm có 31 cõi với 11 cõi Dục giới (có đủ 5 uẩn), 16 cõi Sắc giới (trong đó có cõi Vô Tưởng, chỉ có Sắc uẩn mà thôi), và 4 cõi Vô Sắc (chỉ có 4 uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức). 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Xin xem thêm trong các sách Abhidhammatthasangaha (Thắng Pháp Tập Yếu Luận, bản dịch của ngài Minh Châu), The Essence Of Buddha Abhidhamma của giáo sư Mehm Ti Mon (sách miễn phí trên Internet), Chúng Sanh và Sinh Thú của ngài Jotikàcariya (bản tiếng Việt của Toại Khanh)…

-ooOoo-


4 phản hồi on “– Pháp môn Tịnh Độ trong kinh điển Pàli”

  1. THANH NO nói:

    con muon xindia chi cua THOAI KHANH

  2. Khoa nói:

    Bài viết này rất hay bây giờ mới đọc được, giải quyết được các tranh cải hiện nay. Theo ý kiến của riêng anh thì có cõi Cực lạc và Phật A Di đà không ?

  3. sammadhamma nói:

    http://sammadhamma.wordpress.com/2014/02/03/dhamma3/

    ■ Phần III: Tịnh Độ Tông

    Giáo lý của Tịnh Độ Tông là Tà Pháp.

    Vì sao nói giáo lý Tịnh Độ Tông là Tà Pháp? Đó là vì 4 nguyên nhân sau đây:

    1. Hình thành trên nền tảng giáo lý Đại Thừa.

    Vì giáo lý Đại Thừa là Tà Pháp nên giáo lý Tịnh Độ Tông, được hình thành trên nền tảng Tà Pháp như vậy, cũng là một Tà Pháp, và mang trong nó hầu hết các tà kiến và tà tư duy của giáo lý Đại Thừa.

    Kinh A-di-đà không do Phật thuyết, không do các Chánh Tăng thời ấy tu tập và hộ trì, nhưng được nói là do Phật thuyết, được các Tỷ-kheo thời ấy hoan hỷ thọ trì, thì sự tình như vậy là không thể có được.

    Ác tà kiến ấy, ác tà tư duy ấy, phát biểu sai lệch ấy, là xuyên tạc, là phỉ báng bậc Chánh Đẳng Giác.

    Ác tà kiến ấy, ác tà tư duy ấy, phát biểu sai lệch ấy, là xuyên tạc, là phỉ báng Chánh Pháp.

    Ác tà kiến ấy, ác tà tư duy ấy, phát biểu sai lệch ấy, là xuyên tạc, là phỉ báng các Chánh Tăng.

    2. Khi thuyết pháp, Đức Phật có dùng một số hình tượng về cỗ xe, về voi chúa, về người thợ mộc, v.v… để làm ví dụ cho người nghe dễ hiểu. Tuy là ví dụ nhưng những hình tượng ấy đều rất thực tế, đã – đang – hoặc sẽ xảy ra, và tồn tại tùy thuận theo các pháp, không nghịch với các pháp (cấu tạo cỗ xe là thật như thế, công việc của những người thợ mộc đúng thực là như thế,…).

    Trong kinh điển Đại Thừa – Tịnh Độ Tông, những người biên soạn cũng thường sử dụng những hình tượng, nhằm mục đích giáo hóa, phá chấp chúng sinh. Nhưng những hình tượng ấy, một cách vô tình hay cố ý, làm cho người nghe, người đọc những kinh điển ấy, nghĩ những hình tượng đó là thực sự tồn tại, những sự kiện ấy là thực sự đã xảy ra. Mà những hình tượng ấy, đa phần không thực tế, đã – đang – và sẽ không xảy ra, tồn tại không tùy thuận các pháp:

    Quán Thế Âm Bồ-tát không phải là một nhân vật lịch sử có thật.

    Đó là hình ảnh ước lệ, tượng trưng, là tập hợp của những tha lực thể hiện cùng một tính chất chung là lòng từ bi, tồn tại trong vũ trụ này. Chứ không chỉ là duy nhất một vị hữu tình xác định nào cả.

    Tương tự, Phật A-di-đà, Phật Dược Sư, Địa Tạng Vương Bồ-tát,… cũng như thế.

    Pháp này, không trong sáng trong cách diễn đạt, hình ảnh dễ gây huyễn hoặc, nói về đối tượng này nhưng thực tế là nhằm vào đối tượng khác. Do nói không như thật nên dễ dẫn đến hoang mang, dẫn đến mâu thuẫn, dẫn đến tà tín, tà kiến, tà tư duy.

    Chánh Pháp của Đức Phật giảng dạy thì luôn thực tế, trong sáng, rõ ràng, luôn nói như thật.

    Do vậy Pháp này là Tà Pháp, không phải Chánh Pháp.

    Nói Tà Pháp này là Pháp của Đức Phật giảng dạy, thì sự tình này là không thể có được.

    Ác tà kiến ấy, ác tà tư duy ấy, phát biểu sai lệch ấy, là xuyên tạc, là phỉ báng bậc Chánh Đẳng Giác.

    Ác tà kiến ấy, ác tà tư duy ấy, phát biểu sai lệch ấy, là xuyên tạc, là phỉ báng Chánh Pháp.

    3. Pháp này thiên về mong cầu tha lực.

    Do thiên về mong cầu tha lực, xem nhẹ tự lực, trái ngược với lời dạy Đức Phật, nên là Tà Pháp.

    Nói Đức Phật giảng dạy và khuyên chúng sinh tu tập, hộ trì một Pháp, mà Pháp này thiên về mong cầu tha lực, thì sự tình này không thể có được.

    Ác tà kiến ấy, ác tà tư duy ấy, phát biểu sai lệch ấy, là xuyên tạc, là phỉ báng bậc Chánh Đẳng Giác.

    Ác tà kiến ấy, ác tà tư duy ấy, phát biểu sai lệch ấy, là xuyên tạc, là phỉ báng Chánh Pháp.

    4. Pháp này không đưa đến tịch tịnh giải thoát, thắng trí, niết bàn.

    Cõi Tây Phương Cực Lạc, hay cõi Tịnh Độ, thực chất là sự tích hợp các cõi nhân-thiên, tạo thành một cõi giới chung nhất mang tính ước lệ.

    “Vãng”, có nghĩa là “đi, hướng đến”. Không có nghĩa là “cuối, muộn, sắp hết” như một số người lầm tưởng (họ nhầm với “vãn” trong “vãn tuồng”). “Vãng sanh” nghĩa là hướng đến sự sinh, đi đến sự sinh, không có nghĩa là hướng đến vô sinh.

    Một hữu tình tu theo Pháp này, cho dù là những vị Bất Lai ở Tịnh Cư Thiên, bằng phương tiện này, tinh tấn thế nào đi nữa cũng không thể đạt đến vô sinh, vì khi thân hoại mạng chung sẽ tiếp tục tái sinh ở các cõi giới, vì tư tưởng của Pháp môn này là hướng đến sinh.

    “Này các Tỷ-kheo, có hai loại tầm cầu này: Thánh cầu và phi Thánh cầu. Chư Tỷ-kheo, và thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh… tự mình bị chết… tự mình bị sầu… tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.”

    ~ Trung Bộ: Kinh Thánh Cầu (MN 26)

    Do vậy Pháp này không phải là con đường đưa chúng sinh vượt khỏi luân hồi sinh tử, diệt tận khổ đau, diệt tận lậu hoặc, diệt tận vô minh, không đưa đến chánh trí, niết bàn.

    Nói Đức Phật giảng dạy và khuyên chúng sinh tu tập, hộ trì một Pháp, mà Pháp này không đưa chúng sinh vượt khỏi luân hồi sinh tử, diệt tận khổ đau, diệt tận lậu hoặc, diệt tận vô minh, không đưa đến chánh trí, niết bàn, thì sự tình này không thể có được.

    Ác tà kiến ấy, ác tà tư duy ấy, phát biểu sai lệch ấy, là xuyên tạc, là phỉ báng bậc Chánh Đẳng Giác.

    Ác tà kiến ấy, ác tà tư duy ấy, phát biểu sai lệch ấy, là xuyên tạc, là phỉ báng Chánh Pháp.

    Tổng quan:

    1. Giáo lý Tịnh Độ Tông là Ác Tà Pháp:

    – Vì giáo lý này không nói như thật. Cho dù chỉ là hình ảnh mang tính ước lệ, hay cho dù vì bất cứ nguyên nhân gì, nếu đã không phải do Đức Phật giảng dạy, tuyên thuyết, xác chứng, không ý cứ vào Pháp, không tùy thuận Pháp, mà nói là lời của Đức Phật, thì đó là sự phỉ báng, xuyên tạc Thế Tôn, Pháp và Tăng đoàn của Ngài.

    – Vì giáo lý này, không do bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết và giảng dạy, không do những bậc Chánh Tăng thừa tự và tu tập, không tùy thuận Chánh Pháp.

    – Vì giáo lý này dễ duôi, đề cao tha lực, không đưa đến sự đoạn diệt khổ, tạo nên những chướng ngại pháp trên con đường diệt tận khổ đau.

    – Vì giáo lý này là Tượng Pháp, là Giả Pháp, tồn tại trá hình bên dưới Chánh Pháp, nên nó huyễn hoặc chúng sinh, tạo nên những tà tín, tà kiến và tà tư duy.

    – Do tạo nên những tà kiến, tà tư duy như vậy, đã dẫn đến sự chia rẽ Tăng đoàn, chia Tông lập Phái, phá hòa hợp Tăng.

    Vậy nên nói giáo lý Đại Thừa là Ác Tà Pháp.

    2. Nguyên nhân hình thành nên giáo lý Tịnh Độ:

    – Giáo lý này được hình thành từ tri kiến thế gian thường tình, hình thành từ dễ duôi, hình thành từ dục, hình thành từ tà kiến tà tư duy, hình thành từ hữu lậu, hình thành từ vô minh.

    Do những nhân, những duyên như trên mà giáo lý Tịnh Độ được hình thành.

    3. Sự đoạn diệt của giáo lý Tịnh Độ:

    – Đưa lại sự trong sáng của Chánh Pháp.

    – Đưa lại hòa hợp Tăng.

    – Tăng lòng chánh tín, chánh kiến, chánh tư duy của chúng sinh vào Chánh Pháp.

    – Giúp Chánh Pháp tồn tại lâu dài hơn.

    Nếu Tượng Pháp, Giả Pháp này được đoạn diệt trước khi Chánh Pháp suy vong, thì sẽ tạo nên những kết quả tốt đẹp như thế.

    4. Con đường đưa đến sự đoạn diệt giáo lý Tịnh Độ:

    – Tôn trọng Chánh Pháp, tinh tấn tu tập Bát Chánh Đạo nhằm có được chánh kiến, chánh tư duy để có thể giúp mình và người tránh được những tà kiến, tà tư duy.

    Chánh pháp được giảng dạy để chúng sinh đạt quả vị A-la-hán đã được chính Đức Phật thực chứng, xác quyết, tuyên bố, truyền dạy cho đệ tử. Và những vị đệ tử này tu tập theo Pháp ấy, đã thực chứng Thánh quả và được chính Đức Phật xác chứng. Do vậy, đây là Pháp mà chúng sinh cần tu tập.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s