– Thực và Mộng

Ngày xưa có nhiều chuyện về mộng :
Trang Tử một hôm nằm mộng thấy mình hoá bướm, bay lượn vui chơi khắp nơi cùng cây cỏ lá hoa. Khi tỉnh lại, ông rơi vào trạng thái phân vân, không biết Trang Tử nằm mộng hoá bướm hay bướm nằm mộng hoá Trang Tử.
Cũng chuyện ngày xưa, có chàng thư sinh, trên đường đi đến trường thi, mệt mỏi đói khát dừng chân nơi quán trọ. Trong khi chờ chủ quán nấu cho một bát chè kê, chàng nằm ngủ quên dưới gốc cây hoè . Chàng nằm mộng thấy mình thi đỗ trạng nguyên, được làm phò mã ,sống cuộc đời đầy vinh hoa phú quí. Một hôm vì nịnh thần dèm pha mà chàng bị truất hết tước vị, mang án lưu đày. Quá sợ hãi, chàng giật mình tỉnh mộng, thì nồi chè kê vẫn còn …chưa chín .
Trong cả hai trường hợp, cả Trang Tử lẫn chàng thư sinh ngủ gục, khi từ cõi này bước sang cõi kia đều thấy 2 cõi đều thực như nhau. Người trong mộng thì không biết được mình đang trong mộng, đó là một đặc tính của mộng. Rất nhiều truyền thuyết về mộng, những giấc mộng linh thiêng tiên tri đúng chính xác về sự xuất hiện của những nhân vật quan trọng hay những biến cố trọng đại của lịch sử .Ngay trong sinh hoạt đời thường ,một người loại “nhạy cảm” cũng có thể có kinh nghiệm về những giấc mộng biết trước chuyện sắp xảy ra .Nhưng thực tế không phải luôn luôn giấc mộng cho những dự đoán đúng,ví du: Chuyện ngày xưa có Đỗ Thích đêm nằm mộng thấy sao rơi vào miệng ,cho rằng đó là điềm-triệu báo mình sẽ là vua ,nên nổi loạn để soán ngôi . Chuyện không thành ,bởi vì “sao rơi vào miệng” chỉ là biểu hiện của khát vọng cá nhân .
Tản Đà gọi giấc mộng ban đêm là giấc mộng con, còn cuộc đời mình là giấc mộng lớn. Phân biệt giữa mộng và thực có khi không phải là chuyện dễ .
Mộng mị ,chiêm bao là hiện tượng xảy ra thường ngày vào mỗi đêm. Có nhũng giấc mộng dữ, có những giấc mộng lành, có khi có tính tiên tri, có khi có tính sáng tạo phát minh, tất cả đã để lại trong ta biết bao nhiêu là ấn tượng. Tuy nhiên hầu như rất ít người thât sự hiểu được nguồn gốc, đặc tính và bản chất của giấc mộng .
Về mặt khoa học, người ta có thể tìm hiều giấc mộng qua tính chất điện học của não bộ . Điện não (electro-encephalo-gramme) có thể đo được dễ dàng như điện tim,và được biểu hiện dưới dạng các sóng điện não :
Sóng beta (20 chu-kì/giây) : khi đang căng thẳng, làm việc…
Sóng alpha(10-12chu-kì/giây) : khi thư giản, nghỉ ngơi…
Sóng theta( 4-6chu-kì/giây) : khi vừa ngủ, hoặc thiền định (meditation).
Sóng delta (2 chu-kì/giây) :khi ngủ sâu, hoặc vào định sâu.

MỘNG là giấc ngủ R.E.M

Mỗi đêm giấc ngủ chia thành nhiều chu kì. Mỗi chu kì ngủ gồm 4 giai đoạn :
1. Giai đoạn 1: sóng não beta( 20chu kì/s) chuyển dần thành sóng alpha (10 chu kì/s )
2. Giai đoạn 2 : xuất hiện sóng não theta ( 4→6chu kì/s)
3. Giai đoạn 3 : sóng não delta (2chu kì/s) .
4. Giai đoạn 4 : sóng chậm hơn nữa .
Trong giai đoạn 2,  khi xuất hiện sóng não theta, người ta thấy mắt có cử động nhanh, tương ứng với giai đoạn này là lúc ta đang nằm mơ ( và lúc này cũng có hiện tượng penil erection )
Mơ ( mộng,chiêm bao ) là giấc ngủ R.E.M (rapid eye movements )
Nếu định nghĩa rằng Thực là tất cả những gì hiện hữu trong giác quan của ta, thì không thể nói Mộng là ảo, là không thực , vì mộng là một hiện hữu có thật . Ví dụ tối qua, lúc 2 giờ sáng tôi nằm mộng, giấc mộng hiện hữu lúc 2giờ sáng, tôi thấy tôi đi giữa vườn hoa, gió rất nhẹ, hoa rất đỏ, hương rất nồng , và cỏ rất xanh, tôi bảo đảm điều đó đã thực sự xảy ra .
Có ai đã từng rơi vào loại giấc mộng giống như giấc mộng hoá bướm của Trang Tử thì mới hiểu tâm trạng thực sự hoang mang của Trang Tử lúc thức dậy. Không biết bướm hoá ra mình hay mình hoá ra bướm. Không biết mình từ mộng bước ra thực hay từ thực bước vào mộng. Một người bình thường thì chỉ có một giấc mộng bình thường. Trong giấc mộng bình thường, ta có cảm giác rất mơ hồ, ít khi rõ rệt, nội dung giấc mơ thường là non-logic, và thường là ta sẽ quên hết khi thức dậy .
Có một loại giấc mộng đặc biệt hơn, được nhiều người nghiên cứu từ thế kỉ trước như Denys (1867) ,Van Eeden (1900) nhắc đến gọi là :
Giấc mộng minh bạch, tỉnh táo (Lucid dream)
Trong giấc mộng này người ta biết rõ mình đang nằm mộng. Mọi cảm giác (xúc giác , thị giác, thính giác ,khứu giác ,vị giác ) đều rất rõ ràng .Màu sắc rực rỡ rất huy hoàng , âm thanh rất rõ, những mùi hương rất nồng nàn, đặc biệt những cảm giác xúc giác như cứng mềm, thô nháp hay mượt êm đều được cảm nhận giống hệt như trong đời sống thực . Mọi diễn tiến của giấc mộng minh bạch thường là logic . Logic loại này đôi khi rất kì lạ ,ví dụ :Tôi nằm mộng thấy mình đi lang thang trong một khu rừng, nhìn thấy nhiều loài hoa cỏ lạ, rồi bỗng nhiên một cây cổ thụ nghiêng dần đổ về phía tôi, tôi cố gắng chạy thoát ,nhưng không kịp nữa cái cây đã đổ xầm vào chân tôi. Đúng lúc đó, tôi giật mình, vì bức tranh treo trên tường phòng ngủ không hiểu vì sao rơi xuống chân tôi đau điếng . Tất cả thời gian tôi nằm mộng dường như là tiên tri, dường như là chuẩn bị cho sư rớt xuống của bức tranh mấy phút sau đó . Cùng có những giấc mộng minh bạch cho những tiên tri về nhũng hiện tượng xảy ra lâu hơn về sau , ở những địa điểm xa hơn đến không ngờ . Ở đây ta sẽ bắt đầu thấy năng lực sáng tạo kì lạ của giấc mộng minh bạch .

Vài giải thích về giấc mộng

Sigmund Freud (người khai sáng Psychanalyse) nghiên cứu rất nhiều về giấc mộng, xem giấc mộng như là biểu hiện duy nhất của tình dục (libido) bị ức chế .
Carl Gustave Jung có cái nhìn rộng hơn Freud , giấc mộng còn là thể hiện của vô thức tập thể (collective inconscience), của năng lực tâm lí vũ trụ (?)
Allen Hobson (Đại học Havard ) cho rằng mộng chỉ là ngẫu nhiên. Một bộ phận trong cuống não tình cờ phát ra những tia điện kích thích não, và não sắp xếp những dấu hiệu ấy thành một giấc mơ có khi là logic.
Crick và Mitchison cho rằng giấc mộng có mục đích làm quên đi những thông tin vô ích mà não đã tiếp nhận trong cuộc sống .
Sagan giải thích mộng là hoạt động của bán cầu não phải (right cerebral hemisphere ) lúc ngủ. Khi thức, ta sống và làm việc với bán cầu não trái, vì thế não phải luôn bị ức chế. Khi ngủ bán cầu não phải được giải phóng và tạo thành những giấc mơ .
Phật giáo cho rằng nội dung của giấc mộng cũng bị qui định của nghiệp (karma).
Đạo Bon và Mật tông ở Tây tạng chú ý rất nhiều về cách luyện tập những giấc mộng tỉnh táo vì cho rằng những trải nghiệm này có thể đánh thức sự giác ngộ!

Có thể tạo ra những giấc mộng minh bạch (lucid dreaming)

Năm 1867 ,Hầu tước Hervey de Saint Denys đã xuất bản cuốn “Giấc mộng và làm thế nào để hướng dẫn chúng” . Trong sách có nói đến khả năng thức tỉnh trong giấc mộng và khả năng điều khiển giấc mộng của tác giả .
Steven Laberge dùng những chuyển động nhanh của mắt để tạo ra phương pháp tập luyện giấc mộng minh bạch. Những người tham gia nghiên cứu được nghe một băng thu âm liên tục nhắc nhở : “ Đây là một giấc mộng… “ mỗi khi họ đi vào giấc mộng (giấc mộng được nhận biết bằng cách theo dõi chuyển động của mắt) . Khi người tập đã có khả năng tỉnh táo trong giấc mộng, họ sẽ dùng một chuyển động của mắt mình để báo cho người ngoài cuộc biết. Kết quả khoảng 20% người tập luyện có khả năng thực hiện những giấc mộng minh bạch. Về sau Laberge chế tạo một máy đeo trên mặt, máy này nhận biết được những chuyển động nhanh của mắt lúc đi vào giấc mộng và phát ra ánh sáng tín hiệu khiến người đang mộng có khả năng nhận biết được mình đang mộng .
Phật giáo quan niệm tất cả mọi hiện hữu đều như mộng (Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh – Kinh Kim Cang của PG đại thừa). Đối với giấc mộng minh bạch, nghĩa là lúc người nằm mộng có tỉnh giác, thì mọi hành động đều có thiện–ác, có tác nghiệp ( kinh Đại trí Độ , phẩm mộng hành , mộng thệ  – PG đại thừa). Vì thế có thể coi Mộng như Thực, có thể tu hành trong mộng, có thể hành thiện, bố thí, thuyết giảng, học hỏi trong mộng. Đạo BON và MẬT TÔNG là những pháp môn chú ý đến tỉnh giác của giấc mộng. Muốn tạo ra những giấc mộng minh bạch, người đệ tử phải tập thiền định hoặc thiền quán để tạo ra tỉnh giác. Mật Tông có một kỹ thuật đặc biệt để tạo ra những giấc mộng : tập trung sức định và quán vào luân-xa ở cổ họng .

Mật nghĩa của giấc mộng

Mộng trong lúc ngủ là Bardo
Dưới con mắt triết học của Mật tông Tây tạng, giấc mộng là một Bardo ( nghĩa đen là giai đoạn trung gian ) theo triết học phật giáo sự sống là một liên tục vĩnh hằng của tâm. Tâm thức của con người gồm 6 bardo :
Bardo 1 : tâm bình thường của con người lúc thức
Bardo 2 : tâm của con người trong lúc ngủ
Bardo 3 : tâm trong thiền định
Bardo 4 : tâm trong lúc … đang chết
Bardo 5 : tâm …sau khi chết (sau bardo 4 )
Bardo 6 : tâm lúc… định hướng tái sanh (sau bardo 5)
Mộng minh bạch là tam muội
Trong giấc mộng minh bạch, người nằm mộng biết mình đang mộng, sự biết rõ ràng đó gọi là tỉnh giác (rigpa). Người nằm mộng có thể chủ động sáng tạo nội dung giấc mộng. Người nằm mộng đi vào một cảnh giới có ánh sáng tự nhiên, Mật tông gọi giấc mộng minh bạch, tỉnh táo là mộng ảo tam muội. Tam muội (samadhi) hiểu theo Phật giáo đại thừa và Mật tông là những trạng thái tâm khi thực hành thiền.
Mộng ảo tam muội
Là một trong 6 pháp tam muội của Naropa, một guru mật tông nổi tiếng. Khi một người đạt được một mức độ thiền quán nào đó sẽ thực hiện được mộng ảo tam muội, sẽ đi vào vô số cảnh giới lạ lùng (strange worlds), sẽ có thể gặp những thiên nhân (ví dụ những dakini …) , những vị thày trong cảnh giới mộng, và có thể nhận được những giáo huấn cao siêu trong cảnh giới này .
Huyễn thân tam muội
Khi đạt được mộng ảo tam muội thuần thục ,nghĩa là cảm nhận thế giới mộng rõ ràng như thực , người mộng tiến lên một bước ,tập quán mình có thân thể trong mộng hiện-hữu rõ ràng như trong thế giới thực ,có đầy đủ mặt mũi chân tay , cảm thụ xúc giác rõ ràng .Sự hình thành một thân-thể (body) trong cảnh giới mộng lúc này gọi là huyễn thân tam muội (virtual body samadhi).
Cứu cánh giải thoát
Trong cuộc sống rất nhiều người bất ngờ rơi vào giấc mộng minh bạch ( mơ mà vẫn biết mình mơ, với những cảm giác rõ ràng ), nhưng rất ít người hiểu được bản chất của loại giấc mơ ấy, cũng không có khả năng chủ động tạo ra và tái hiện giấc mơ. Mười tám ngàn năm trước, đạo Bon ở vùng Tây Iran, và sau này Mật tông Tây tạng đã biết sử dụng giấc mộng làm phương tiện tu tập nhằm cứu cánh giải thoát. Khi thức( ngoài mộng ) ta có một thân thể cùng một trí óc tỉnh thức, rồi khi đi vào trong mộng ta cũng có một thân xác hành xử với một trí óc tỉnh thức. Cuối cùng sự so sánh giữa mộng và thực sẽ đưa đến cơ hội để nhận ra thế giới với toàn thế tính chân thực của nó .

BS Phạm Doãn


9 phản hồi on “– Thực và Mộng”

  1. Hải nói:

    Tôi có đọc vài kinh Phật như kinh Lăng nghiêm, bát nhã. Như một số người tôi cũng ưu tư về cuộc đời của mỗi con người. Thật mong manh nếu so với vũ trụ bao la quanh mình. Cuộc sống thực tế đời thường thì thật nhiêu khê. Từ bé đã chịu nhiều áp lực, của xã hội, đi học thì sợ bài vở, thày cô, quy chế, ở nhà thì sợ cha mẹ. Lớn lên trong tâm trí, mọi người đều không có được trạng thái yên ổn. Lo sợ điều này, toan tính chuyện kia, cơm ăn, áo mặc, tai nạn, bệnh tật, thiên tai, chiến tranh. Cuối cùng là cái chết. Như vậy tôi nghĩ không biết sống để làm gì, con người sinh ra từ đâu, chết còn hay hết và đi từ đâu. Cuộc đời thật vô nghĩa. Bao người tài trí, anh hùng, đạo hạnh, ác nhơn rồi cũng mồ xanh cỏ. Tôn giáo có mặt và giải thích vẫn chưa thỏa đáng. Tôn giáo an ủi và chỉ là chỗ dựa cho một số người. Vũ trụ tự nhiên có hay do Thượng đế tạo ra. Hai cách trả lời đều không hợp lý. Một vật nhỏ như chiếc đồng hồ cũng phải do người tạo chớ làm sao tự nhiên mà có được. Câu hỏi này có từ xưa, đến giờ vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng! Đạo Phật xem Phật Thích ca là nhất. Nhưng thật ra, trước khi Phật sinh ra đời thì đã có vũ trụ rồi. Con người vẫn phải loay hoay. Tự nhiên bị quẳng trên một hành tinh quay giữa trời với một tốc độ cao. Nhân loại phải làm sao đây ? Phải dựa vào tôn giáo hay tự mình tìm câu giải đáp? Trông vào tôn giáo thì có vô số tôn giáo trên hành tinh này. Nói riêng về đạo Phật thì biết bao nhiêu kinh điển, chỉ đọc thôi, cả đời cũng chưa hết. Đọc hết thì cũng chỉ là mọt sách. Và kinh Phật có giảng cho người trong thời đại này đâu, ông đã giảng cho nhân loại ở hơn 2000 năm trước, lúc đó chưa có xem gắn máy, chưa có sự giao thông, liên lạc như máy bay, điện thoại, vi tính. Thời đại mà đức Phật giảng kinh là thời đại mà nhiều khi suốt đời con người không ra khỏi làng mạc của mình. Bây giờ thì trình độ nhân loại tiến quá xa rồi. Ai cũng đã trải qua bao nhiêu kiếp rồi. Trình độ kiến thức phổ thông và trình độ về tâm linh của nhân loại đã tiến nhiều rồi. Hầu hết đã biết thân này gồm tập hợp của tế bào, mọi vật chất được kết hợp bởi nhiều nguyên tử, và mỗi giây trôi qua là có vô số sự biến dịch của các electron ngoài cùng, hay nói khác hơn là một sát na mỗi sát na mọi vật đều biến chuyển, không bền mà đạo Phật gọi là vô thường. Còn sắc thanh hương vi xúc pháp thì cũng vậy đều ví như bọt, bóng, có rồi thay đổi, biến dịch trong nháy mắt. Vậy đích đến có giải quyết sinh tử được không, có toàn giác, toàn tri, toàn năng được không, bởi vì ai cũng có Phật tánh mà, ai cũng là Phật đã thành mà. Phải có một cách nào đơn giản hơn, hợp lý hơn để cho nhân loại của thế kỷ này chứng ngộ chứ. Không lẻ cứ đọc ê a, hay thuộc lòng các sách, kinh của hơn 2000 năm trước, rồi người tu phải đọc hơn vô số bài giảng giải, bình luận… của vô số tác giả nữa. Thực tình tôi không hiểu và không phải riêng tôi mà một số người có lòng cầu đạo cảm thấy hoang mang? Xin được hồi đáp với tinh thần cầu học. Chân thành cảm ơn

  2. Sinh nói:

    Mong hồi đáp của bạn

    • BS Phạm Doãn nói:

      – Chú ý bài viết này thuộc về trang “Các bài viết cũ”.
      Vào thời điễm này, các tài liệu tham khảo của tôi dựa trên triết lý của Đạo Phật Đại Thừa. Cũng vào thời điểm này, đầu óc tôi còn lang thang với các chủ đề không cần thiết. Vậy, người đọc chỉ xem trang này như phần đọc chơi thôi nhé!
      – Bạn đã yêu cầu hồi đáp!
      Xin đọc các trang chính của Blog này. Ví dụ: Giác Ngộ là gì? Nguyên Lý của Giác Ngộ. Thiền là gì? Định là gì? Tuệ là gì? …Từ đây bạn có thể thấy “Đạo Lộ tu tập” mà bạn phải đi (nếu muốn). Chi tiết hơn là các pháp Thiền Chánh Niệm, Thiền Định, Thiền Tuệ (mà Đức Phật đã giảng, còn ghi lại trong kinh). Đạo Phật mà Đức Phật đã dạy tập trung vào các pháp thực hành này. Còn phần triết lý tạm thời cất đi. Khi nào tâm linh và Tuệ giác trưởng thành thì ta sẽ dễ dàng tiếp thu. Nhớ kĩ là đừng phí thì giờ vào các triết lý rối rắm và pháp thực hành không phải do Đức Phật dạy.
      – Chú ý:
      Trang blog này chỉ có mục đích chia sẻ thông tin (cho những ai cần thông tin). Việc học hỏi tu tập là nổ lực của từng cá nhân!

  3. Sinh nói:

    Chân thành cảm ơn bác sĩ Phạm Doãn. Tôi đã 62 tuổi mà thực sự chưa tìm được con đường về nhà. Nhiều khi con đường đó ở chính ngay mình, mà mình chưa tin. Rồi tìm, đọc nhiều kinh sách rốt cuộc kinh sách nào cũng bảo quay về với tâm mình. Lúc trước tôi đọc kinh Lăng Nghiêm, đoạn Phật hỏi Anan : ông l ấy gì để tu đạo ta. Rồi Phật không đồng ý với Anan này là lấy thân để tu. Đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu, thân này gồm nhiều phần ( hệ tiêu hóa, tiết niệu, tuần hoàn, hô hấp, thần kinh ). Tôi nghĩ tất cả tư tưởng, nghĩ suy…đều bắt nguồn từ những tế bào não, nghĩa là chính từ t,hân. Tôi nghĩ từ vọng tâm cho đến cái thường gọi là chân tâm cũng là tình trạng của óc não chúng ta. Khi suy nghĩ chuyện này, nọ, quá khứ, tương lai, sợ hãi, mừng, âu sầu, lo lắng đến một trạng thái khác là dừng bặt mọi tư tưởng, nghĩ suy cũng từ đầu óc chúng ta. Và 84.000 pháp môn từ Thiền Tịnh Mật cũng chỉ mục đích là làm sao từ chối các vị khách không mời ( vọng tâm ). Cho nên từ lúc đọc kinh Lăng Nghiêm đền giờ ( hơn 20 năm ) tôi vẫn còn chưa hiểu nếu thân này hư hoại, óc não không còn hoạt động thì vọng tâm đâu, chân tâm đâu? Và tôi nghĩ quay đầu là bờ ( quay đầu khỏi những suy nghĩ lăng xăng, buông xuống tất cả thì sẽ gặp tình trạng an lạc ) chứ đâu cần phải ” đạo lộ ” để tu. Xin cảm ơn tấm lòng của bác sĩ khi lập ra trang web này. Kính thư

    • John nói:

      Kính thưa Bác Sinh,
      Cho cháu được phép chia sẻ vài suy nghĩ của cháu. Ý kiến của bác, quay đầu là bờ, buông xuống là bờ, có người cũng nói thế này, “sống tốt là đươc, không làm ác, không hại ai, không làm bất kể ai buốn, không suy nghĩ vọng niệm thế này, thì đâu lo gì chuyện nhân quả tuần hoàn mà… phải tu.”

      Kính thưa bác, những ý nghĩ như vậy dĩ nhiên là không sai. Nhưng cháu xin đơn cử một ví dụ thế này.

      Cháu có 2 đứa con trai sinh đôi, giống nhau như đúc. Cả 2 đứa đều ăn chay gần như hơn 90%, chỉ có lúc đi học là… ăn đụng một chút. Cả 2 đứa đều ăn uống rất cẩn thận, giữ gìn sức khỏe, không rượu, không hút thuốc, không thức đêm, sống rất điều độ, ăn đúng bữa, không quá no, cũng không để quá đói. Nói chung là tụi nó biết sống tốt.

      Một trong 2 đứa thì nghĩ rằng, miễn cứ sống tốt như thế là được, cũng sẽ không bị bệnh hoạn gì.

      Tuy thế đứa thư 2, ngoài sống tốt như đứa đầu, nó còn hàng ngày dành thời gian rảnh chạy bộ, tập tạ, tập khí công, tập võ, chơi thể thao rất đều đặn.

      Với cái đà như thế, sau 10 năm, 20 năm sau, dù cả 2 đứa đều có cuộc sống tốt, sinh hoạt lành mạnh, nhưng đứa thứ 2 thì lại năng luyện tập thân thể, trong khi đứa đầu thì chỉ với suy nghĩ sống tốt là được, vậy thì theo chúng ta thử nghĩ xem, sau một thời gian có sự khác nhau về sức khỏe không?

      Chắc chắn chúng ta cũng biết được câu trả lời, là đứa thứ 2 không những sống tốt, mà lại còn chuyên rèn luyện thân thể, dĩ nhiên phải có sự khác biệt tốt hơn đứa đầu, chỉ có đơn giản sống tốt, nhưng thiếu sự tập luyện.

      Tâm con người chúng ta cũng vậy đó bác à. Không chỉ sống tốt. Nếu người sống tốt không những chỉ luyện thân, mà còn rèn luyện cả tâm, dĩ nhiên với những hành giả thiền tập rèn luyện tâm, tâm của vị ấy phải hơn hẳn tâm của chính vị ấy, nếu chỉ có sống tốt, tuy buông xả quay đầu là bờ, nhưng lại thiếu phương pháp rèn luyện tâm một cách tích cực hơn.

      Giữa 2 người đều sống tốt, buông xuống, người có tập thể dục dĩ nhiên sẽ có sự khác biệt hơn là người kia. Tâm chúng ta cũng vậy.

      Tập luyện thân thể cũng có nhiều phương pháp, có cả cách thức và những tầng bậc, thứ lớp, không chỉ là quơ tay quơ chân. Luyện tâm càng vi tế hơn, không đơn giản là vọng tới thì buông, đừng theo vọng. Thật ra tâm, nói thì trừu trượng nhưng cũng là tâm vật lý. Sỡ dĩ nói vật lý vì với khoa học ngày nay, người ta có thể đo được những luồng tư tưởng, như máy phát hiện nói dối chẳng hạn, đo được điện não thay đổi lúc con người không suy nghĩ và lúc có suy nghĩ, lúc thương yêu, lúc giận dữ, chán chường. Điện não đồ cho thấy sự khác nhau của những luồng tư tưởng, của tâm con người trong những trạng thái khác nhau. Ngày xưa tâm dường như là trừu tượng, nhưng ngày nay tâm được biết là tâm vật lý.

      Điều này, Đức Phật từ hơn 2500 năm trước, Ngài đã biết rồi. Và Ngài cũng biết bản chất của tâm chỉ là những dòng tương tục, làm cho chúng ta đồng hóa cái dòng tương tục ấy là ngã. Âm thanh mà chúng ta nghe cũng chẳng phải âm thanh, chỉ là những làn sóng, những ký hiệu 1, 0, 0, 1 hợp thành. Tất cả những điều này, Đức Phật hơn 2500 trước Ngài đã tìm ra rồi, bằng chính cái tiến trình thiền của Ngài, đã nhận chân sự thật như chính nó là, chứ không phải như những suy nghĩ tương đối, đồng hóa tất cả, có ngã. Ngã là tính chất tương đối mà con người gán đặt cho moi sự vật hiện tượng.

      Bác Sinh thân kính, tất cả những điều đó một hành giả thiền minh sát không những chỉ hiểu, mà sẽ có thể “thấy rõ,” trực nhận được qua quá trình quán sát.

      Thật là kỳ diệu phải không Bác. Mãi đến ngày nay, con người với kiến thức và khoa học mới có thể hiểu được những điều này. Vậy mà Đức Phật vĩ đại đã thấy tất cả, biết tất cả.

      Kính mong Bác tha lỗi cho những chia sẽ dông dài. Với tâm thành kính, cháu nguyện bác luôn dồi dào sức khỏe, nhiệt tâm giác ngộ, giải thoát.

      Cháu cũng không quên thành kính cám ơn BS Phạm Doãn đã bỏ thời gian, tấm lòng từ bi chia sẽ pháp từ những kinh nghiệm thực hành quý báu và kiến thức trên trang blog này.

      Nguyện Hồng Ân Tam Bảo luôn gia hộ cho các Bác, cho khắp chúng sanh sớm trọn thành đạo quả, giác ngộ, giải thoát.

      Thân kính,
      John

  4. Sinh nói:

    Chân thành cảm ơn Bác sĩ Phạm Doãn.

  5. vuonghongnhung_06081990@yahoo.com nói:

    đọc bài này cháu hiểu ra rất nhiều điều về những rất mộng phù du của mình!chúc bác luôn tinh tấn trong con đường tu tập!

  6. Sinh nói:

    Nghề nghiệp của tôi là sửa máy…người. Tôi đã về hưu hai năm tuy nhiên vẫn còn sửa máy mỗi tuần hai ngày. Tôi nghĩ kiếp tằm phải nhả tơ. Vả lại nghề này tuổi đời càng lớn, kinh nghiệm càng nhiều nên vẫn còn phục vụ. Tuy nhiên tất cả các môn học ở đời đều cần phải tham khảo, tích lũy kiến thức, nghiên cứu. Nhưng khi bước vào đạo, gần đây tôi thấy có khác. Việc giải quyết sinh tử không phải là ở đọc nhiều, nghiên cứu, bàn luận nhiều. Khi ngồi sửa máy người, việc giải quyết những rắc rối của bệnh nhân không phải chỉ dựa vào kiến thức, kinh nghiệm của mình của bậc đàn anh, mà còn ở sự quan sát và học hỏi chính người bệnh. Tôi nhớ Khổng tử có nói ” Ba người cùng đi ắt có người là thầy ta “. Từ lâu tôi thường khấn trước khoảng không gian vô hình là làm sao thấy được một người theo dấu Phật và đạt đến nơi Phật đến. Nhiều năm qua, không tin tức gì. Nhưng gần đây tôi cảm nhận gặp được một người, không do kiến thức, không phải đọc, học nhiều kinh điển, người này đã đến nơi đức Phật đặt chân đến. Đó là cảm nhận riêng. Tôi tin bs là người rộng mở, có thể nghĩ bệnh nhân đứng trên một góc độ nào đó có thể là thày ta. Với tấm lòng tha thiết muốn người có tâm đạo tìm cầu giải thoát. Xin chân thành giới thiệu với Bs và tất cả những ai cùng ý hướng một trang web. Có thể có được một chút gì về BỈ NGẠN chăng. Kính thư

    vn.360plus.yahoo.com/nhampl

    • BS Phạm Doãn nói:

      Hôm nay tình cờ lại vào bài này, nhìn thấy comment của bác Sinh tại đây mà chưa có phần trả lời bên dưới
      Thành thật xin lỗi vì đã vô tình bỏ quên không hồi âm lời chia sẻ tâm tình của bác!
      Cám ơn bác đã ghé qua trang web này và đã để lại những lời chia sẻ chân tình!
      Chúc bác và gia đình luôn được an vui
      Kính


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s