– Về việc hồi hướng phước báu

Về việc hồi hướng phước báu

Bhikkhu Indacanda

HỒI HƯỚNG PHƯỚC BÁU ĐẾN THÂN BẰNG QUYẾN THUỘC ĐÂ QUÁ VÃNG:

(Trích Petavatthu – Chuyện Ngạ Quỷ, xem ở www.paliviet.info)

 

Nhân lúc đọc kiểm tra lại tập Kinh Petavatthu – Chuyện Ngạ Quỷ, thấy câu chuyện này hay và súc tích nên post trọn vẹn để thuận tiện cho Bà Con Cô Bác đọc và suy nghĩ. Ở Sri Lanka, sau khi cúng dường cơm nước, thí chủ được hướng dẫn đọc câu Pali này 3 lần, đọc rõ thành tiếng: ‘Idaṃ me ñātīnaṃ hotu sukhitā hontu ñātayo = ‘‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’

3. 2.

413. Vị trưởng lão của thành phố Kuṇḍi có sự cư ngụ ở núi Sānuvāsī, có tên là Poṭṭhapāda, là vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập.

414. Mẹ, cha, em trai của vị ấy bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.

415. Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ hãi, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.

416. Người em trai của vị ấy, lõa lồ, một mình trên lối đi bộ, quỳ chống hai tay, đã vội vã tiến đến và hiện hình ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.

417. Và vị trưởng lão không để ý đến, có trạng thái im lặng, đã bước đi. Và người ấy đã cho vị trưởng lão biết rằng: ‘Tôi là em trai, đã trở thành ngạ quỷ.

418. Thưa ngài, mẹ và cha của ngài bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.

419. Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ hãi, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.

420. Là người có lòng bi mẫn, xin ngài hãy thương xót. Xin ngài hãy bố thí rồi chỉ định (việc ấy là) dành cho chúng tôi. Nhờ vào vật thí đã được ngài bố thí, những kẻ có nghiệp ghê rợn sẽ được nuôi sống.

421. Sau khi đi khất thực, vị trưởng lão và mười hai vị tỳ khưu khác nữa đã tụ tập tại một chỗ vì nguyên nhân phân phối vật thực.

422. Vị trưởng lão đã nói với toàn bộ tất cả các vị ấy rằng: ‘Xin các vị hãy cho tôi phần đã nhận được, tôi sẽ thực hiện bữa ăn dâng đến Hội Chúng, vì lòng thương xót các thân quyến.’

423. Các vị đã trao cho vị trưởng lão. Vị trưởng lão đã thỉnh mời hội chúng. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:

424. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì vật thực đã được sanh lên ngay lập tức.

425. (Vật thực) là sạch sẽ, hảo hạng, được đầy đủ, có nước xúp với nhiều gia vị. Kế đó, người em trai đã hiện ra, có sắc vóc, có sức mạnh, có sự an lạc.

426. ‘Thưa ngài, có nhiều thức ăn rồi. Xin ngài hãy nhìn xem chúng tôi bị lõa lồ. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được vải vóc.’

427. Sau khi góp nhặt những mảnh vải rách từ nơi đống rác, vị trưởng lão đã chế biến vải vụn thành y phục rồi dâng đến Hội Chúng bốn phương.

428. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’

429. Khi được chỉ định thì các vải mặc đã được sanh lên ngay lập tức. Kế đó, được mặc vải đẹp, (người em trai) đã hiện thân ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.

430. ‘Thưa ngài, các vải vóc ở lãnh thổ của đức vua Nanda nhiều chừng nào, thì các vải vóc và các y phục của chúng tôi còn nhiều hơn thế ấy.

431. Chúng bằng tơ lụa, sợi len, sợi lanh, và bông vải. Chúng dư thừa và có trị giá cao, hơn nữa chúng treo lòng thòng ở không trung.

432. Chúng tôi đây chỉ khoác vào cái nào thích ý. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nhà ở.’

433. Sau khi làm cái cốc bằng lá, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:

434. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì các ngôi nhà đã được sanh lên ngay lập tức.

435. Những ngôi nhà mái nhọn và các chỗ ngụ là được phân chia thành từng phần cân xứng. Các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây như thế nào thì ở loài người không có như thế này.

436. Ở các cõi trời như thế nào thì các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây như thế ấy. Trong lúc tỏa sáng rực rỡ, chúng chiếu sáng bốn phương ở xung quanh.

437. ‘Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nước uống.’ Sau khi làm đầy bình đựng nước, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương.

438. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’

439. Khi được chỉ định thì nước uống đã được sanh lên ngay lập tức. Có các hồ sen sâu thẳm, hình chữ nhật, đã khéo được hóa hiện ra.

440. Có nước trong, có những bến bãi xinh đẹp, mát mẻ, có mùi thơm, được che phủ bởi nhiều loại sen đỏ và sen xanh, tràn ngập nước và phấn hoa.

441. Sau khi tắm và uống nước ở nơi ấy, họ đã xuất hiện cho vị trưởng lão thấy (nói rằng): ‘Thưa ngài, có nhiều nước uống rồi. Các bàn chân của chúng tôi bị nứt nẻ đau đớn.

442. Trong khi lang thang, chúng tôi đi khập khiễng ở nơi sỏi đá, ở gai nhọn của cỏ kusa. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được phương tiện di chuyển.’

443. Sau khi nhận được chiếc giày, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:

444. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì ngay lập tức các ngạ quỷ đã đi đến bằng cỗ xe.

445. ‘Thưa ngài đại đức, chúng tôi đã được thương xót với vật thực, với y phục, với ngôi nhà, với sự bố thí nước uống, với sự bố thí phương tiện di chuyển, và cả hai. Thưa ngài, chúng tôi đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.”

Chuyện Ngạ Quỷ ở Núi Sānuvāsī là thứ nhì.

THẢO LUẬN

Anh Phan:

Giữa việc dân gian đốt vàng mã là áo quần, mũ nón, giày dép, mô hình ngôi nhà và xe hơi,…với việc làm phước bố thí các vật dụng thiết yếu cho Hội chúng có liên hệ gì không? Theo câu chuyện trên thì sự hồi hướng sau khi bố thí là có hiệu quả tức thì và có lợi lạc. Còn việc đốt vàng mã nghe nói chỉ làm thỏa mãn tâm tính của người thân đã quá vãng thôi, tức chỉ cho họ cái Tưởng là người thân còn sống có quan tâm đến họ.

Con xưa nay trong tư gia không bao giờ đốt vàng mã, mặc dù trong xóm họ đốt như cháy rừng, thà làm một việc phước nhỏ mà hồi hướng xung quanh ngôi nhà còn hơn :)

Hiếu Nguyễn:

Xin thành kính tri ân Sư đã dịch bộ Petavatthu.

Từ khi đọc bộ Petavatthu này, con đã làm được nhiều điều phước thiện để hồi hướng phước cho các thân bằng quyến thuộc 2 bên nội ngoại.

Thực không có bộ Kinh nào khuyến khích/cưỡng ép/thúc đẩy (:D) mọi người làm các việc phước thiện bằng bộ Petavatthu này.

Ngoài ra sau khi đọc trọn bộ xong, con đã có thêm kiến thức về các cảnh, cõi và về loại chúng sinh Peta này, theo kinh điển Pali.

Hoa Nguyen:

Hồi hướng công đức, phước đức đã có từ thời Phật giáo Nguyên Thuỷ (hay từ Theravda), như thấy ở đây, qua các chuyện kể về ngạ quỷ. Ở Bắc tông, hồi hướng đi xa hơn, vì chịu thêm ảnh hưởng của nhiều tín ngưỡng, tôn giáo có trước Phật giáo ở các điạ phương. Từ niềm tin về hồi hường đi tới niềm tin ở tha lực (hồi hưóng là tác động của tha lực), cho nên dễ thấy có sự phát triển về các hình thức niệm Phật để được Phật , Bồ tát hộ trì, hay niệm chú để tâm tương ưng với chư Phật.

Phạm Doãn:

Tôi tin là có sự câu thông giữa các cá thể, nhất là khi cùng huyết thống. Các đạo sư Ấn Độ hay nói “Tất cả là một, một là tất cả”. Nhưng để hình dung sự cúng dường, hồi hướng với sự hiện lên các vật thực, nhà cửa v.v.. thì quả là lúc này tôi chưa hiểu thấu được! Tôi chỉ hình dung được là: khi ta làm được nhiều công đức, thành tâm thương tưởng, có ý giúp đỡ thân nhân quá vãng thì các vong hốn trong cõi Peta đó sẽ được an ủi, bớt khổ đau, sớm được giải thoát lên các cảnh giới tốt hơn…và chỉ hình dung được như thế thôi!

Phạm Doãn:

Đoạn kinh này:

“413. Vị trưởng lão của thành phố Kuṇḍi có sự cư ngụ ở núi Sānuvāsī, có tên là Poṭṭhapāda, là vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập. …”

mô tả trải nghiệm trong cõi Peta của một người tu tập thiền định thành tựu!

Có lẽ vì thế, mà khi cúng dường, hồi hướng cho thân nhân, thì thần thông của ngài có thể thực hiện được như vậy!

Phạm Doãn:

Vài ngày nữa là đến giỗ cha tôi.

– Cả nhà vẫn giữ truyền thống thờ phụng, cúng bái ông bà. Con cháu vẫn mong làm gì đó để hồi hướng cho người đã chết.

– Nếu người đã mất, có được những con cháu đức hạnh, hay làm được nhiều điều thiện trong đời, thì chắc họ cũng được an ủi phần nào (qua tương ưng của tâm), có thể là được sớm thoát khỏi cảnh giới khổ!

– Còn về những nghi lễ được đẩy lên đến mức tin tưởng tha lực, dị đoan, tệ nạn: Thày tụng, thày cúng, cầu siêu, đốt vàng mã v.v…(mong thực hiện giải thoát cho người đã chết) thì Đức Phật đã có giải thích rõ về những tà kiến này trong: Kinh: Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết (S.iv,311). Đại ý kinh: Chẳng ai có thể xóa nghiệp hay thực hiện giải thoát cho người khác được!

– Kinh Tương Ưng, Tập 4, thiên 6 xứ, [42] chương 8, Tươngưng thôn trưởng

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-42.htm

Tuong Ung – Tap 4 – Chuong 42

Hoa Nguyen

‎”Thày tụng, thày cúng, cầu siêu” có thể giúp thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỷ hay địa ngục. Vì hương linh khi nghe kinh Phật có thể sinh tâm sám hối (có tụng kinh sám hối trong các lễ đó), quy ngưỡng Phật pháp, tội sẽ nhẹ đi vàđược siêu thoát. Chắc chắn siêu thoát không phải nghĩa “giải thoát” , mà chỉ là thoát ra khỏi cảnh khổ đang sống trong đó. Tâm từ của người theo Bồ tát đạo rải rộng khắp mọi chúng sinh, không phân biệt (đó là nói theo nguyên tắc, đạo lý chung). Ngay trong đời sống, một người bình thường có thể giúp được một người bình thường khác gặp khổ nạn nếu dùng đúng phương tiện, nên suy ra con người có thể giúp vong linh với phương tiện thích hợp. Kinh Nam tông không thể ghi chép hết lời Phật dạy về hơn 84 ngàn trường hợp klhác nhau ở 6 cõi luân hồi. Cho nên không thể dựa vào điều kinh Nam tông không ghi chép mà cho là không nên làm, chỉ không làm khi nào trái với lời ghi là Phật dạy.

Phạm Doãn

‎- Nghiệp chướng vừa là cái riêng, vừa là cái sở hữu tập thể của mọi sinh linh. Do đó, nghiệp của người này có thể tương tác với nghiệp người kia. Ở mức độ nào thì chỉ có bậc toàn giác mới thấu hiểu triệt để.

– Việc nhấn mạnh khái niệm “cứu rỗi” (Catholique) hay “cầu siêu” (PG phát triển) thành phương pháp tiêu trừ nghiệp chướng chắc chắn sẽ làm lệch con đường Chánh. Một người tự mình đã “siêu” rồi thì may ra mới có thể giúp cho người khác “siêu” được. Tâm phàm phu làm sao có thể cầu siêu cho ai được!

– Bỗng nhớ đến Thanh Hải Vô Thượng Sư, một vị cổ phật, một tái sinh của phật Quán âm (như đệ tử của ngài xưng tụng!). Sau mỗi buổi lễ “truyền tâm ấn”, ngài tuyên bố đã rửa sạch nghiệp quá khứ cho tất cả các đệ tử thọ pháp. Sau thời điểm tâm ấn, thì ai tạo nghiệp người ấy tự gánh chịu. Chính vì khả năng rửa sạch nghiệp cho người khác, mà đệ tử của ngài rất đông!

Hoa Nguyen

Tôi vừa tìm vào trang nhà Buddhanet ở bài KINH TỤNG của THERAVĀDA của PHẬT GIÁO

Dịch giả: TỊNH TÂM

(Hòa thượng HỘ TÔNG)

Ấn bản 2005

Thấy có phần (41) sau đây nhưng toàn tiếng Pali. Không dám nói là như vậy không dành cho vong VN, nhưng thật đáng tiếc vì không hiểu được nghĩa.

VI DIỆU TẠNG (PHÁP TỤ) KINH TỤNG TRONG ĐÁM CÚNG VONG NHÂN

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-nhat-tung/ktung04.htm

Kinh Tung – HT Ho Tong

www.buddhanet.net

Hoa Nguyen

Tôi đồng ý với ông Phạm Doãn là không có ai, hay đấng nào có thể giúp con người rửa sạch hết tội, trừ hết những sai phạm của chúng ta trong quá khứ (nhiều kiếp). Nhưng theo Phật giáo (mà tôi hiểu) khi chân thành sám hối và hứa nguyện không tái phạm thì tội sẽ được giảm rất nhiều, tâm sẽ an hơn (không còn ray rứt, buồn phiền), và như thế mới có thể làm được việc thiện trong tương lai để bù đắp, chuộc lại lỗi lầm với những người mình đã có hành động không tốt. Tất nhiên có những cái quả xấu trước kia vẫn phải trả, nhưng cũng được thêm nhiều quả thiện sau lần sám hối thực tâm đó. Thật ra, luật nhân quả không phải dễ hiểu vì do nhiều nhân duyên chằng chịt tác động (kinh Hoa Nghiêm gọi là trùng trùng duyên khởi), chỉ những bậc chứng đạo mới thấy hết các đầu mối và hậu quả. Dù sao cũng không nên hiểu một cách đơn giản, máy móc. Còn về từ “siêu thoát” chỉ có nghĩa là thoát cảnh khổ ở dưới để vượt lên cõi trên sung sướng, và cái trên này có thể là cõi trời, thậm chí là cõi người cho các loài chúng sanh ở các cõi thấp hơn. Trong các chuyện ngạ quỷ ở đây, tôi nhớ có chuyện một vong được lên cõi trời. Như thế là siêu thoát. Trong kinh ông Doãn dẫn chứng, Phật cũng dạy kẻ ăn ngay ở lành sẽ được sinh Thiên. Tôi chỉ biết ở Bắc tông có pháp tu Thập Thiện , giữ và làm 10 điều lành (khiến liên tưởng đến 10 điều răn của đạo Do Thái và Thiên Chúa), khi chết có thể lên cõi Thiên, nhưng thuộc Dục giới, thấp hơn người tu Định thành tựu được lên từ cõi Trời Sắc giới trở lên. Còn “Giải thoát” theo đạo Phật là nhập Niết Bàn, thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, ra khỏi lục đạo. Có thể người theo Bắc tông dùng chữ “siêu thoát” cũng để chỉ về cõi Cực Lạc của tông Tịnh Độ. Nhưng Cực Lạc chỉ như cõi Trời (lên được đó còn phải tu nhiều), chưa phải Niết Bàn, nhưng vong khi còn sống không niệm Phật khi chêt rồi làm sao vãng sinh về nơi đó được (theo giáo thuyết Tịnh Độ tông).

Anh Phan:

Nói về chuyện “Hộ niệm vãng sanh cực lạc quốc”, Sư phụ PA có giải thích như sau: Theo như pháp môn này, chỉ cần hộ niệm cho người sắp chết hay người đã chết thì người đó – là kẻ ác, kẻ bất nhân, kẻ cướp, kẻ giết người, kẻ suốt đời không tu tập thiện pháp,…(Không ai biết chắc tất cả xác chết kia đều là người hoàn toàn thiện) sẽ đến Nước Cực Lạc, thì chắc chắn nước ấy không còn là nơi cực lạc nữa. Vì những người này sẽ mang các tập khí, bản tính tham lam, hung hăng, trộm cắp, ngu muội lên trên đó, và như vậy trên đó cũng có những đội quân bảo an như cảnh sát, quân đội,…để canh chừng những người này. Vì vậy đừng nghĩ rằng sống làm tất cả điều ác mà chỉ cần tụng niệm một tiếng gì đó khi sắp chết là rửa sạch tất cả tội lỗi. Điều này không đúng với sự vận hành tự nhiên của Pháp.

Tứ Diệu Đế Dạ, Tứ Diệu Đế khi nghe kinh hoặc đọc kinh còn chưa siêu được, tâm sân si mạn nghi còn đầy, huống chi là lúc mình chết được nghe kinh.

Hoa Nguyen:

Pháp Hộ niệm là của tông Tịnh Độ cũng rất có ý nghĩa.

Người lúc sắp chết thường sợ hãi, luyến tiếc cuộc sống, gia đình, tài sản nên rất đau khổ khi “biết” sẽ phải lìa khỏi cõi đời, sẽ mất tất cả. Ai có thể giúp họ lúc đó vượt khỏi những đau đớn thân xác và đau khổ tinh thần như vậy là người có lòng nhân ái (còn bỏ mặc họ thế nào có phải thiếu lòng nhân không ?). Hộ niệm, tụng đọc kinh Phật trước người sắp lâm chung sẽ có giá trị lớn nếu ngày thường người đó có lòng tin ít nhiều ở kinh Phật họ đã quen nghe, quen đọc, vì câu niệm lời kinh có thể tác động lên tâm trí không còn tỉnh táo, gần mê mang của họ. Đối với người (hay có gia đình) theo Bắc tông mà đọc kinh Pali hay làm phép rửa tội thì chắc không được nhiều hiệu quả (trong việc làm giảm đau khổ) vì người sắp chết không hiểu được gì. Nhưng đa số người VN (xin dè dặt với chữ đa số” này) quen thuộc với kinh kệ Bắc tông ngay từ nhỏ, ít ra nghe và thuộc được câu niệm hồng danh Phật A Di Đà, thì nếu có nhiều người bên cạnh đồng thanh niệm danh hiệu đó, gọi là hộ niệm, chắc chắn sẽ có kết quả lên tâm trí, tâm tình, và tâm linh người sẽ ra đi. Người sắp mất sẽ nghe, có thể niệm thầm theo, và với niềm tin trong cơn tuyệt vọng, không biết bấu víu vào đâu, họ ít ra thấy đỡ sợ hãi, đau khổ hơn. Bắc tông còn tin, giai đoạn cận tử rất quan trọng đối với người phải đi đầu thai theo nghiệp, nên nếu tâm ý họ được an tịnh hơn do thiện nghiệp vừa phát sinh, họ sẽ được đầu thai vào những nơi an lạc (tin là có thể gặp lại Phật pháp dù không được vãng sinh), còn nếu tâm mang nặng sợ hãi, đau buồn sẽ dẫn họ vào còn đường luân hồi xấu ác. Với Nam tông nếu tin chết là đầu thai liền, thì có lẽ việc hộ niệm, tụng kinh cho người sắp chết nghe là không cần thiết, điều này tôi hiểu và không tranh cãi.

Với vong lời niệm Phật có tác dụng gì không ? Bắc tông giải thích là niệm Phật cho người sắp chết và cả cho vong nghe là để đánh thức chủng tử (hạt giống) Phật pháp đang nằm sâu trong tiềm thức hay thức A-lại-da của họ. Khi còn sống do nhân duyên nào đó, họ đã có dịp vun trồng, nuôi dưỡng các chủng tử thiện đó, và sau này có thể quên mất, bỏ mặc cho chủng tử thiện khô cằn, thui chột. Nhưng nếu được nhắc lại bằng hộ niệm, người sắp mất hay vong sẽ nhớ lại.

Hoa Nguyen

‎”Điều này không đúng với sự vận hành tự nhiên của Pháp” (Anh Phan). Vận hành tự nhiên của Pháp là thế nào, ai dám chắc mình hiểu được.

“Tứ Diệu Đế khi nghe kinh hoặc đọc kinh còn chưa siêu được, tâm sân si mạn nghi còn đầy, huống chi là lúc mình chết được nghe kinh.” Câu viết vớ vẩn như thế này (lấy mình ra làm nhân chnứg của đệ tử TL) mà có người “Like” thì lạ thật. Làm sao biết chắc mình không “siêu” khi mình còn chưa chết, và có thể vì đọc kinh như két, dẫn chứng kinh tràng giang đại hải, mà không hiểu nghĩa kinh. Còn vong cũng có nhiều loại hạng (giống như loài người) làm sao chắc là không có vong nào siêu thoát lên cõi người hay cõi trời khi nghe kinh. Kinh Nam tông kể chuyện Phật giảng kinh ở cõi Trời, kinh Bắc tông kể chuyện Bồ tát Điạ Tạng giảng kinh ở nơi điạ ngục, tin cả hai hay tin thế nào là tuỳ người.

Karmalaw Net nếu dâng lên Hội chúng ở bốn phương với lòng hồi hướng cho chúng sinh khắp nơi thì sao nhỉ? Vì nếu luân hồi suy rộng ra thì chúng sinh nào cũng từng có quan hệ cha mẹ với chúng ta cả mà?

Hoa Nguyen:

Hồi hướng cần có Tín tâm và Định lực. Nếu không có niềm tin vững về hiệu quả của hồi hướng và thiếu khả năng tập trung tâm ý cao, việc hồi hướng tuy phát khởi từ lòng thành, từ thiện tâm, cùng với công đức tạo được cũng có thể không đạt …See More

Karmalaw Net: của thiên trả địa thôi mà…

Anh Phan

Bác Hoa Nguyen: “Vận hành tự nhiên của Pháp là thế nào?” Lấy dẫn chứng như việc học văn hóa chẳng hạn (Pháp là bao trùm mọi lĩnh vực), một học sinh ban đầu phải đăng ký vào học lớp 1, không học sinh nào đốt cháy giai đoạn như ngay từ đầu đăng ký vào học đại học liền được. Nên khái niệm “siêu thoát” nghe có vẽ đốt cháy giai đoạn quá, người mà không lo tu tập thiện pháp gì cả, buông lung, làm ác thì để cho người ta trả quả khổ sau khi chết cho rồi, siêu thoát cho họ làm chi, cứ để cho họ biết khổ mà học ra bài học xương máu về cái sai trái của mình để rồi nghiệm ra cách thoát cái khổ này, người khác siêu thoát cho họ thì họ sẽ ỉ lại và cứ thế họ khổ hoài, không tự thoát khổ được, rồi lại nhờ siêu thoát giùm hoài. Đạo Phật là đạo tự mình giác ngộ mà, không ai giác ngộ giùm được ngay cả Đức Phật huống hồ là những phàm nhân, Đức Phật chỉ đường cho mà đi thôi. Siêu thoát cũng vậy, tự lo mà siêu đi không ai siêu giùm cho được.

PA hiểu “siêu” là siêu cái tâm sân, si, mạn, nghi của mình đi, chứ người khác hộ niệm cho rồi siêu lên cảnh giới an lạc như cảnh người, cảnh trời thì ai dám chắc mình làm được, kiểm chứng được.

Anh Phan

Hay “siêu” có nghĩa là “hồi hướng phước” như trên? Như vậy thì vẫn có tác dụng nho nhỏ (chỉ có một ít chúng sanh nhận được quả hồi hướng phước). Hôm nay PA có đi dự một lễ hộ niệm, nhìn kỹ thấy quý Thầy oai nghi tế hạnh rất thô tháo trong cuộc lễ, kết quả có thể tác dụng ngược, vì các vong rất nhạy cảm các trạng thái tâm lý của người sống. Tóm lại, mục đích tối thượng của đạo Phật là giải thoát khổ luân hồi, còn luân hồi còn khổ.

Hoa Nguyen

‎”PA hiểu “siêu” là siêu cái tâm sân, si, mạn, nghi của mình đi, chứ người khác hộ niệm cho rồi siêu lên cảnh giới an lạc như cảnh người, cảnh trời thì ai dám chắc mình làm được, kiểm chứng được.”

Cái tâm sân, si, mạn, nghi ở đây có ai dám chắc là “siêu” được. “Ai” là những ngjười đọc dòng chữ này. Chỉ là mong cầu như thế thôi, dù đang tu luyện Minh sát hay An chỉ. Dù qua được cái sân thì cái si vẫn còn nặng lắm. Còn Niết bàn làm sao kiểm chứng được, khi những điều trong Vi Diệu pháp cũng thấy là khó kiểm chứng, chỉ đón nhận bằng niềm tin. Nên khiêm tốn để nhận đạo Phật là tôn giáo nên đầy dẫy niềm tin không kiểm chứng được hết. Ai tin thì theo, hay tin gì thì làm theo nấy, đừng tưởng mình “duy lý” mà chê bai kẻ khác “mê tín”. Thật ra cái gọi là “duy lý” đó là do tinh thần duy vật được rao giảng, ép buộc phải tin trong thời gian gần đây thôi.

Hoa Nguyen

Trong lần giảng về Thiền ở Đài Loan, có người hỏi thiền sư Pa-Auk Tawya Sayadaw (U Acinna) về trường hợp cận tử và ngài trả lời như sau.

Hỏi : Trường hợp một người sắp chết, nếu có chánh niệm mạnh mẽ, họ có thể ngăn một nghiệp tướng (kamma nimitta) thuộc bất thiện nghiệp hay thiện nghiệp trước đó không cho khởi lên được không?

Đáp: Niệm mạnh và vững chắc có thể ngăn các nimitta (tướng) như vậy không cho khởi lên; nhưng niệm mạnh và vững chắc là như thế nào? Nếu một hành giả nhập thiền (jhāna), và duy trì thiền ấy hoàn toàn vững chắc cho đến thời điểm chết, hành giả có thể nói rằng niệm thuộc thiền ấy là mạnh và vững chắc. Loại niệm đó có thể ngăn một tướng bất thiện hoặc một tướng thuộc thiện dục giới không cho khởi lên. Nó chỉ bắt lấy đối tượng thiền, như tợ tướng hơi thở hoặc tợ tướng kasiṇa trắng chẳng hạn.

Một loại niệm mạnh và vững chắc khác là niệm kết hợp với Minh Sát Tuệ. Nếu Minh Sát Tuệ của hành giả là Hành Xả Tuệ (sankhārupekkhañāṇa), và nếu hành giả hành Minh sát (vipassanā) cho đến sát-na cận tử, thì tốc hành tâm cận tử của hành giả là minh sát tuệ kết hợp với niệm mạnh và vững chắc. Loại niệm đó cũng có thể ngăn các tướng bất thiện không cho xuất hiện, cũng như ngăn các tướng thiện khác xen vào thay thế tướng Minh sát của hành giả. Tướng Minh sát ở đây là tính chất vô thường, khổ và vô ngã của một “hành” (sankhāra) đã chọn. Hành giả có thể chết với một tướng như vậy làm đối tượng cho tốc hành tâm cận tử (maranasanna javana) của mình. Nó có thể tạo ra một kiết sanh thức thuộc chư thiên (deva paṭisandhicitta) nhờ vậy hành giả được tái sanh tức thời như một vị chư thiên.

Đọc đoạn trên có thể hiểu tác dụng của Hộ Niệm đối với người đang lâm chung. Vài người không hiểu hay cố ý hiểu lầm “hộ niệm” để chỉ trích pháp này. Trước 1975, tôi nhớ ở miền Nam có từ (nữ) “hộ sinh” và được chế diễu khi gán cho có nghĩa là “đẻ dùm”. Thật ra có nghĩa là giúp đỡ việc sinh nở. Hộ niệm không phải niệm dùm mà giúp cho người sắp mất niệm Phật khi người đó quá yếu sức không tự niệm thành tiếng được. Người bệnh lắng nghe và có thể niệm thầm theo. Bây giờ cũng có máy niệm Phật, mà người nghe bằng earphone có thể niệm thầm theo (không gây trở ngại cho người khác ở chung quanh). Ai nghi ngờ về “pháp” nghe kinh, niệm Phật bằng máy phát , có thể đọc lời Đức Phật nói trong kinh “Sotānugata” (Người Nghe Kinh) :

“So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjhati. Tassa tattha sukhino dhammapadā plavanti. Dandho bhikkhave satuppāto, atha so sutto khippameva visesagāmīhoti.

(Này các tỳ khưu, một kẻ phàm phu (puthujjana) được nghe Pháp, thường lập lại Pháp, suy tư về Pháp, thể nhập trọn vẹn Pháp với minh sát tuệ, nếu người ấy chết, người ấy có thể tái sanh vào một trong những cảnh giới chư thiên, ở đấy các hành

Anh Phan

Phương tiện gì cũng có cái dụng ít nhiều của nó, vì thế nó mới tồn tại được, vấn đề cần bàn là tính tự lực hay tha lực, tính hiệu quả trong việc hộ niệm hay hồi hướng phước. Hồi hướng phước cũng có hạn chế như tác dụng quá nhỏ bé hay vô tác dụng tùy việc phước lớn nhỏ, sự thành tâm, sự chấp nhận và số lượng đối tác được nhận.

Vấn đề chánh niệm đúng sai hay mạnh chừng nào để ngăn ngừa tâm tán loạn. Cách đây khoảng 1 tháng, PA tự nhiên khởi lên một bệnh đau đôi chân từ mông trở xuống (lần đầu tiên từ nhỏ đến giờ, không biết lý do), 3 đêm liên tiếp không ngủ được, nằm ngồi không được, chỉ đi và đứng thì giảm đau, thử các cách như niệm hơi thở, trú trợ tướng hơi thở, đọc kinh niệm “Araham Đức Phật trọn lành” thì đều rất khó chịu (cũng không muốn đi bác sỹ, vì xưa nay bệnh nặng nhẹ chỉ dành hành thiền 1,2 ngày là tự khỏi), đêm thứ 3 cắn răng nhìn trực diện cái đau của đôi chân, mặc kệ cơn đau (Niệm Thọ Đau như thực) thì tự nhiên khỏi, mai đi làm lại bình thường. Điều này nói lên rằng nếu không dựa vào chính mình và đúng phương pháp thì khổ đau vẫn dài dài, cận tử nghiệp thì cảm thọ vô cùng khổ, tâm rất dễ lao xao, không khéo nghe Kinh người sắp chết lại nổi sân (như tác ý “Đau muốn chết, không đưa người ta đi chữa trị, cứ ở đó mà tụng niệm hoài”)

Anicca Anatta

Hộ niệm xuất phát từ Tịnh Độ bên Bắc Tông, phương cách hộ niệm cũng rất đơn giản ,nhờ mấy thầy cùng với thân nhân của người đang hấp hối cùng nhau niệm phật với mục đích như “trợ sức” cho người hấp hối có bớt sợ hãi và có thêm niềm tin .Nhờ đó có thể “ hên xui” mà vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc của Phật ADIĐÀ.Theo một số kinh nghiệm tôi nghe được là họ có thể thấy Phật ADIĐÀ phóng quang để rước người sắp chết về nước Tây Thiên. Những người hộ niệm thì tụng liên tục cả tiếng thậm chí cả mấy tiếng,cường độ tụng vào giờ phút cuối càng mãnh liệt đến khi nào người đang hấp hối “ lạnh” đi mà thôi …Bác Hoa Nguyen có kiến thức về Phật học rất là “thâm sâu”…bác còn có thể đem kinh pali và cả bài pháp của ngài Pa Auk ra để đối chiếu nữa. Tôi thật bái phục bác. Và hiện tại trong thời “Mạc Phap” có rất nhiều thầy Bắc Tông đã vận dụng hay “ mượn” những giáo lý bên Nguyên Thủy đem ra để hùng hồn giảng dạy nhưng sau cuối thời thì chung quy chỉ có việc niệm danh hiệu ADIĐÀ để “ vãng sanh”. Chúng ta suy nghĩ thế nào về vấn đề này? Tôi xin phép “chuộc lại” “Pháp” từ bác Hoa Nguyên chút về đoạn …………”So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjhati. Tassa tattha sukhino dhammapadā plavanti. Dandho bhikkhave satuppāto, atha so sutto khippameva visesagāmīhoti.

(Này các tỳ khưu, một kẻ phàm phu (puthujjana) được nghe Pháp, thường lập lại Pháp, suy tư về Pháp, thể nhập trọn vẹn Pháp với minh sát tuệ, nếu người ấy chết, người ấy có thể tái sanh vào một trong những cảnh giới chư thiên, ở đấy các hành xuất hiện rõ ràng trong tâm vị ấy… ) Bên Nguyên Thủy có vài bài kinh hay thường tụng cũng tương tư như phương thức cầu siêu hay bên Bắc Tông là những bài như Samvejaniyagatha(kệ động tâm), Paticcasamuppada( Y tương sinh), Năm điều quán tưởng, và nhất là kệ Vô Thường-Khổ-Vô Ngã. Tôi nghĩ bác Hoa Nguyen nên đọc xem những bài này trước khi bác muốn nói về “ Pháp” mà Đức Phật muốn ngụ ý kẻo bác lại mang nghiệp xuyên tạc Giáo Pháp mà tôi lấy làm đáng tiếc cho bác về sau. Đức Phật có nói: “Hãy lấy mình làm nơi nương tựa cho chính mình , đừng nương tựa vào bất cứ nơi nào khác.” Tất cả những giáo lý của ngài chung quy để chỉ ra Vô Thường, Khổ, Vô Ngã,… Tam tướng này có thể dùng tư duy để lập lại, suy tư, còn việc thể nhập trọn vẹn và chắc chắn chỉ qua Thiền Minh Sát…bởi Đức Phật có dạy: “Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh tri kiến? Này các Tỷ kheo, tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tri kiến”. Khi lập

lại, suy tư và thể nhập vào pháp như vậy , (Pháp ỡ đây chính là Vô Thường , Khổ, Vô Ngã) tâm sẽ khởi sanh Chánh Kiến ,Chánh Kiến là yếu tố quan trọng và được xếp hàng đầu trong Bát Thánh Đạo,bởi sau khi Chánh kiến được sanh thì bảy chi phần còn lại cũng khởi sanh đúng theo trật tự của nó. Thiếu Chánh kiến làm sao sanh được Chánh tư duy,Chánh tinh tấn, …và nhất là Chánh Niệm .Tà kiến không bao giời khởi sanh Chánh Tư Duy hay Chánh Niệm được.Tâm có Chánh Kiến hay các tâm thiện (vô tham, vô sân và vô si), chính những tâm thiện này mới có thể giúp người đó tái sanh làm chư thiên ..chứ không phải cái tâm kinh sợ , trông đợi mình được cứu vớt bởi ai đó hay nôn chờ mình được sống an vui vĩnh hằng ở miền đất hứa nào đó. Hơn nữa trong Giaó Pháp của Đức Phật ngài chưa bao giờ thuyết về ADIĐÀ, thậm chí bên Bắc Tông cũng thừa nhận tụng niệm danh hiệu ADIĐÀ chỉ là “phương tiện” giúp những người có “căn cơ thấp tu tập mà thôi” . Nếu bac Hoa Nguyen đã có lần bệnh nặng như thế nào bác nên quán tưởng tâm một người sắp lâm chung cũng gần như vậy, rất khổ sở và yếu ớt họ cần sự yên tĩnh để Chánh Niệm, hay những tư duy thiện về Pháp chứ không phải ráng tai lên mà nghe tụng Namo ADida Phat….inh ỏi như vậy . Người đang sống khỏe mạnh nghe nữa tiếng còn thấy mệt huống chi người sắp chết. Có thể một số người muốn được như vậy nhưng một số người thì không cần thiết. Nhưng tôi nghĩ , tất cả chúng ta đều là con người như nhau, đều có trí tuệ như nhau, nên phương tiện “ hạ cấp” đó cũng không cần thiết để sử dụng trong khi có vô số các “ chánh phương tiện” mà Đức Phật đã đưa ra mà chúng ta có thể sử dụng ngay bây giờ chứ không phải chờ đến giấy phút lâm chung. …

Anicca Anatta

Tôi muôn trích thêm một số ý của Bác Hoa Nguyen đã nói là “Còn Niết bàn làm sao kiểm chứng được, khi những điều trong Vi Diệu pháp cũng thấy là khó kiểm chứng, chỉ đón nhận bằng niềm tin. Nên khiêm tốn để nhận đạo Phật là tôn giáo nên đầy dẫy niềm tin không kiểm chứng được hết. Ai tin thì theo, hay tin gì thì làm theo nấy, đừng tưởng mình “duy lý” mà chê bai kẻ khác “mê tín”. Thật ra cái gọi là “duy lý” đó là do tinh thần duy vật được rao giảng, ép buộc phải tin trong thời gian gần đây thôi” Bác hãy cẩn thận về những lời nói của mình bằng không sau này bác sẽ phải mọc rễ chịu khổ trong luân hồi dài dài, không những vậy bác còn gieo rắc hoài nghi và những tâm bất thiện khác cho nhiều người như vậy là không tốt… Nếu bác lấy Pa Auk ra để nói thì hãy nói cho đúng, đối với Vi Diệu Pháp, có thể nhiều người xem là nó quá xa vời hay không thực tế hay không đáng tin…thậm chí bên Nguyên Thủy thì đó chỉ là lý thuyết suông nằm trong chương trình giảng dạy Pháp học vì trong cách thực hành của họ chưa thể đạt đến mức độ để đối chiếu Vi Diệu Pháp.. không thấy được sự áp dụng của Abhidhamma …nhưng bên Pa Auk thì khác, họ tu tập đúng trong Tam học Giới Định Tuệ và dùng định làm nền tảng để phát triển tuệ. Do việc Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai đúng với 11 loại ngũ thủ uẫn do Đức Phật đề cập.Do vậy họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp.Và nhiều người đã chứng ngộ được Niết Bàn. Còn việc ai muốn kiểm chứng thì cứ hành theo rồi tự mình kiểm chứng chứ đừng có dùng tư kiến quá hạn hẹp của mình để lý luận về Pháp.

Phạm Doãn

– Phần đông đa số người vì không đủ trí nên đời sống tâm linh chỉ biết dựa vào tín ngưỡng, cúng bái, lễ lạy, cầu xin. Lúc chết chỉ biết dựa vào sự hộ niệm của người khác để đến một nơi gọi là “cõi A Di Đà” mà giáo pháp của Đức Phật không hề đề cập tới. Đây là cách tu tập và là một sự chọn lựa “bất đắc dĩ” của những người không đủ trí.

– Một người có đủ trí, biết phân biệt và nhận ra giáo pháp chân thực của Đức Phật thì sẽ không có ai đi theo con đường “Nam mô A di đà phật”, sẽ không có ai tin vào tính hiệu quả của cách hộ niệm A Di Đà, sẽ không có ai tin là có “Đức Tiếp dẫn đạo sư” hiện ra đưa vong hồn lên cõi cực lạc. Tất cả hình ảnh thấy được không là gì khác hơn sự tự kỉ ám thị (auto-suggestion) do tâm hôn trầm mệt mỏi của người sắp chết.

– Mỗi người có căn nghiệp riêng, trí tuệ riêng và sự lựa chọn riêng.

Không ai phải thuyết phục ai trên con đường tâm linh cả!

Mười Hai Nhân Duyên: tại sao chúng ta không sống một đời sồng đạo đức nhân bản nhân quả đẻ rồi lúc lâm chung làm chuyện tào lao mà chúng ta tự vấn KHÔNG BIẾT VIỆC LÀM ĐÓ ĐÚNG HAY SAI? phí cho kiếp người

Hiếu Nguyễn

Hòa thượng Hộ Pháp, trong cuốn Nghiệp và Quả của Nghiệp, có giải thích về Nghiệp Cận Tử rất chi tiết (theo Vi Diệu Pháp). Về đại ý, có 4 loại nghiệp quyết định sự tái sinh, sắp xếp theo thứ tự từ mạnh tới yếu:

1. Garukakamma: Nghiệp trọng yếu, loại nghiệp nặng là nghiệp nặng nhất có quyền ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau trước tiên, không có nghiệp nào có thể ngăn cản được (VD: 5 ác nghiệp vô gián, hoặc thiện nghiệp đã chứng các bậc thiền) Nếu không có nghiệp trọng yếu này, thì kế tiếp nghiệp cận tử (āsannakamma) cho quả tái sinh kiếp sau.

2. Āsannakamma: Loại nghiệp cận tử là nghiệp phát sinh lúc lâm chung. Nếu không có nghiệp trọng yếu, thì nghiệp cận tử này có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau.  Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì kế tiếp nghiệp thường hành (āciṇṇakamma) cho quả tái sinh kiếp sau.

3. Āciṇṇakamma: Loại nghiệp thường hành là nghiệp thường được hành hằng ngày đêm đã trở thành thói quen. Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì nghiệp thường hành này có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau. Nếu không có cả 3 loại nghiệp trên (nghiệp trọng nhẹ, nghiệp cận tử và nghiệp thường hành), thì kế tiếp nghiệp loại thường (kaṭattākamma) cho quả tái sinh kiếp sau.

4. Kaṭattākamma: Loại nghiệp loại thường là nghiệp yếu hơn 3 loại nghiệp trên, nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hoặc nghiệp đã được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau.

4 loại nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau theo tuần tự nhất định. Trong mỗi loại nghiệp, nghiệp nào có nhiều năng lực nhất, thì nghiệp ấy có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau.

http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/NghiepVaQuaCuaNghiep/Nghiep3.htm

Như vậy, nếu không tạo nghiệp trọng yếu, thì vẫn có một khả năng là Nghiệp Cận Tử > Nghiệp Thường Hành. Cũng ở những phần sau trong sách này thì Hòa Thượng Hộ Pháp ví dụ thêm đó là những trường hợp tuy được tái sinh ở cõi giới tốt (người) nhưng yểu mạng hoặc sinh ra tàn phế (do các nghiệp khác quá nặng).

Theo thiển ý cá nhân, ý kiến như vậy hợp lý hơn. Trong trường hợp rất hiếm hoi khi mà 1 nghiệp cận tử (xảy ra được) cho tái sinh vào cảnh tốt lành thì vẫn phải gánh nghiệp quá khứ.

—-

Riêng vấn đề thanh lọc nghiệp, kinh 61 của Trung Bộ (Giáo Giới Rahula) có ghi rõ, chỉ có thanh lọc bằng cách phản tỉnh (reflect):

[…] Này Rahula, trong thời quá khứ, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã tịnh hóa thân nghiệp, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, đã tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần đã tịnh hóa thân nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa ý nghiệp. Này Rahula, trong thời vị lai, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sẽ tịnh hóa thân nghiệp, sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sẽ tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy; sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, sẽ tịnh hóa thân nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, sẽ tịnh hóa ý nghiệp. Này Rahula, trong thời hiện tại, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tịnh hóa thân nghiệp, tịnh hóa khẩu nghiệp, tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, tịnh hóa khẩu nghiệp; sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, tịnh hóa ý nghiệp. Do vậy, này Rahula: “Sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa thân nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa ý nghiệp”. Như vậy, này Rahula, Ông cần phải tu học […]

Cách phản tỉnh thì được ghi rõ ở đoạn trên của kinh.

Hoa Nguyen:

‎Spymaster TheShadows.”Hơn nữa trong Giaó Pháp của Đức Phật ngài chưa bao giờ thuyết về ADIĐÀ, thậm chí bên Bắc Tông cũng thừa nhận tụng niệm danh hiệu ADIĐÀ chỉ là “phương tiện” giúp những người có “căn cơ thấp tu tập mà thôi” .

Kinh Tiểu A Di Đà là tiền thân của kinh A Di Đà (đầy đủ hơn) đã được viết khoảng thế kỷ 1, hoặc 2 trước Công Nguyên, nghĩa là còn trước hay it ra đồng thời với kinh Pali khi bắt đầu được viết xuống ở Tích Lan. Có thể tìm đọc trên Thư Viện Hoa Sen về công trình nghiên cứu của một học giả Nhật về kinh Tiểu ADĐ. Pháp niệm Phật A Di Đà theo kinh Tịnh Độ được Phật dạy đầu tiên cho người dì (cũng là kế mẫu) của Phật, tức không phải trong hàng xuất gia, cho nên có thể vì thế mà trong các lần kết tập kinh các bậc A-la-hán và chư tăng thời đó không nhắc tới (và biết đâu có nhắc mà 500 năm sau không ghi lại trong kinh Pali ).Kinh Pali chỉ ghi chép lời Phật, chuyện Phật do một bô phái ghi nhớ, so với kinh Sanskrit của Nhất thiết hữu bộ cũng có chố bất đồng, chỉ ưu thế ở còn giữ lại đầy đủ sau 2000 năm. Phần chắc kinh ADĐ là kinh Phật vì pháp niệm Phật bao gồm đủ Giiới, Định và Tuệ, và phù hợp vơi kinh dạy pháp Niệm Phật trong Pali (kinh Một kinh , cũng có thể đi tới giải thoát, ngay cả khi niệm chư Thiên). Giới là thanh tịnh thân, khẩu, ý, Định là niệm danh hiệu Phật với chánh niệm và đến “nhất tâm bất loạn” (là từ Phật dùng trong kinh), còn Tuệ là kết quả của giới và Định. Nam tông cũng tin có hơn 20 vị Phật (ngoài Phật Thích Ca).Trong Thanh Tịnh Đạo và một kinh khác mà tôi đọc, Phật dạy tỳ kheo nào tu tập ở nơi vắng vẻ sinh lòng sợ hãi thì niệm danh hiệu Phật sẽ được an tâm. Tịnh Độ tông căn cứ theo kinh ADĐ mà niệm danh hiệu một vị Phật có danh hiệu khác.

Nhiều người cho nếu những gì không ghi chép trong kinh Pali thì không phải lời Phật dạy. Nên biết rằng theo lịch sử Phật giáo, đạo Phật ở Tích Lan không phài trưc tiêp từ Theravada (Thượng Toạ bộ), mà từ một bộ phái phát sinh từ đó gọi là Đồng Diệp bộ (theo ghi chép của Bắc tông), đồng thời còn có một bộ phái khác là Nhất thiết hữu bộ, cũng phát sinh từ Theravada, nhưng ghi chép kinh điển bằng Sanskrit, và từ đó được dịch ra Hán ngữ rất sớm. Ngoài ra còn có nhiều bộ phái khác sau chia làm hai nhóm gọi là Mahayana và Hinayana, có giáo nghỉa giống và khác nhau. Dựa vào một câu nói của Phật (đừng dựa vào đâu mà chỉ tu một mình) là rởm, hay của người chỉ biết một câu kinh, vì không ai, ngoài Phật có thể tự tu để thành đạo. Ít ra phải dựa vào thầy, mà thời Phật cũng đã có thầy rởm, không chứng đắc được. Tôi không muốn đi xa hơn.

Hoa Nguyen: Karmalaw net. “nghe thì có vẻ là vậy, nhưng ng chết ko có tai làm sao mà nghe? Chưa kể các thày đọc tụng kiểu gì mà cả ng sống nghe còn ko hiểu thì lấy gì ng chết hiểu?”.

Tật nhiên KN chỉ nói theo ý nghĩ của người bên ngoài. Nhưng hôm nào thử đi chùa Nam tông nghe các sư (VN) đọc kinh tiếng Pali thấy có hiểu gì không. Phải cần học biết tiếng Pali mới hiểu được. Với kinh Bắc tông phải cần nghe, học quen, và có khi cũng biết nhiều từ Hán Việt.

Hoa Nguyen Phần trả lời ông Doãn tôi đã nói trong góp ý với comment của Spymaster. Không phải Phật chỉ dạy những điều được ghi chép trong kinh Pali. Đó là chắc chắn phải nhìn nhận sự thật như vậy bằng trí tuệ mở rộng, vì ngay xưa không có phương tiện ghi âm chính xác như ngày nay. Ngay kinh Pali cnũg có nhiều chỗ đáng nghi là thêm vào sau này, hay không chắc đúng như lời Phật dạy (nói trùng lặp một ý nhiều lần). Dễ chê người khác là không đủ trí, mà khó nhận ra chính mình kém trí tuệ vì không giải thích được tại sao Phật Thích Ca nói về cõi Trời, và dạy cách sống thiện, tu Định thế nào để khi chết được sanh Thiên.

Hoa Nguyen:@ Anicca Anatta. “thậm chí bên Nguyên Thủy thì đó chỉ là lý thuyết suông nằm trong chương trình giảng dạy Pháp học vì trong cách thực hành của họ chưa thể đạt đến mức độ để đối chiếu Vi Diệu Pháp.. không thấy được sự áp dụng của Abhidhamma …nhưng bên Pa Auk thì khác, họ tu tập đúng trong Tam học Giới Định Tuệ và dùng định làm nền tảng để phát triển tuệ”.

Lòi nói trên có giá trị gì không, có là đúng thật như vậy không, hãy để mọi người phán đoán, trươc khi tôi có ý kiến riêng. Ai cũng cho mình hiểu Nguyên Thuỷ là thế này, hiểu Pa Auk là thế kia, nhất là Phật giáo phải là theo cách mình hiểu, còn tội nghiệp cho tôi phải luân h2ôi (mà không tội nghiệp cho bản thân) thì kinh dị lắm. Một thái độ giả đạo đức đáng sợ. Theo tôi thấy một điều nhỏ: Pa Auk dùng An chỉ để dạy Minh sát trong bài giảng đó. Nhưng không phải ai cũng cho cách dạy là vậy là (duy nhất) đúng.

Hoa Nguyen: Tôi xin lỗi về một chử dùng nều Anicca Anatta là tăng sĩ. Thật ra, tôi phản ứng như thế vì “tội nghiệp” hay thương hại tôi là lời rất ngạo mạn, trịch thượng.

Hoa Nguyen: ‎@Anicca Anatta. “Do việc Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai đúng với 11 loại ngũ thủ uẫn do Đức Phật đề cập.Do vậy họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp”

Xin dẫn chứng kinh hay luận, như Thanh tịnh đạo, để chứng cho câu viết “Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế”. Tôi nghĩ Danh và Sắc này là do thiền Minh sát nói tới và mới cho có khả năng đem lại, không phải là đối tượng đạt tới của thiền An Chỉ, tức Định . “Ngũ thủ uẩn” theo nghĩa (chính danh) chỉ cho 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) về sau nếu ai thêm vào thành 11 thủ ngũ uẩn thì dẫn chứng kinh từ đâu Phật dạy như vậy, để làm sáng tỏ từ ngữ.

AnittaAnatta : “họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp.” Họ (những nhà tu Định Chỉ) có nói họ thấy đúng như vậy không, hay là, ngay như Pa Auk chĩ dẫn Abhidhamma để làm chứng cho điều ông nói là đúng (mà không nói rõ là ông thấy đúng như Vi Diệu pháp). Lý luận tiếp theo là thuộc về thần thông: “họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai”. Nhưng mà thiền Minh sát có nói tới thần thông không (và thiền An chỉ không nói tới Danh và Sắc). Anitta Anatta:” nhiều người đã chứng ngộ được Niết Bàn. Còn việc ai muốn kiểm chứng thì cứ hành theo rồi tự mình kiểm chứng chứ đừng có dùng tư kiến quá hạn hẹp của mình để lý luận về Pháp”. Tôi chưa hề dám hý luận Pháp Phật, và về Niết Bàn tôi biết Phật không nói tới (tức không nói rõ). Tôi chỉ dùng chuyện Vi Diệu pháp và Niết Bàn để đáp lại một hoặc hai người cho không thể biết “vong nghe kinh mà siêu thoát được hay không”, và chứng minh cho cái ý tưởng là đạo Phât cũũg cần đến nhiêu lòng tin (mà nhiều người tự cao không thấy vây). Tôi thấy thậm chí có một thứ đạo Phật duy vật ra đời: không tin cõi Trời, chư Thiên, không tin vong, địa ngục, và không tin cảnh giới Niết Bàn.

Hiếu Nguyễn:

Lưu ý các bạn đang tham gia thảo luận: cuộc thảo luận đang nảy sinh ra nhiều ý kiến hay, đang thử thách niềm/đức tin của nhiều người vào pháp môn mình đang theo.

Mong rằng mọi người tiếp tục thảo luận với đầu óc rộng mở và hạn chế sân si trong khi viết bài, dễ dẫn đến việc lăng mạ (khẩu nghiệp) và topic sẽ lại bị closed :-) thật đáng tiếc.

Ngoài ra, để tránh biến cuộc thảo luận, thành tranh luận, bất cứ khi nào có thể, xin vui lòng trích dẫn nguồn để bảo vệ ý kiến cá nhân, và hãy chánh niệm tỉnh giác khi còm men, hì hì.

Phạm Doãn:

Comments trong nhiều trường hợp là động não (rất mệt) để trình bày tóm tắt cái hiểu biết của mình (qua học tập gian khó) cho mọi người mà không cần nhận lại cái gì cả. Mọi người thường hay gọi là “chia sẻ”! Trên “Pali chuyên đề” chuyện chia sẻ luôn là vui vẻ, là bình thường! Vì trên tinh thần học hỏi ai cũng được ít nhiều lợi ích! Nếu comments mà căng thẳng quá thì… thôi. Anh đi đường anh, tôi đường tôi! Comment đến thế cũng …vậy thôi! Hì hì… Có nhiều trường hợp vào đọc mà cảm thấy “làm biếng” comment quá!

Hoa Nguyen

‎@Anicca Anatta:”Hơn nữa trong Giaó Pháp của Đức Phật ngài chưa bao giờ thuyết về ADIĐÀ, thậm chí bên Bắc Tông cũng thừa nhận tụng niệm danh hiệu ADIĐÀ chỉ là “phương tiện” giúp những người có “căn cơ thấp tu tập mà thôi” .

Tôi thấy các tu sĩ Công giáo hay Tin Lành được dạy đàng hoàng về các tôn giáo khác, như về Hồi hay Phật giáo, có thể để thấy đạo của họ không kém đạo nào, nếu không hơn. Chính mắt tôi thấy ở phòng làm việc của một mục sư VN (tại Mỹ) có vài cuốn sách Phật giáo. Thậm chí còn biết vài ông linh mục đi học Thiền. Nhưng một người như Anicca Anatta có thể là biết nhiều về kinh Pali mà không biết gì về kinh điển Phật giáo Bắc tông. Dù sao tôi cũng đã trả lời Spymaster về kinh A Di Đà. Trong đó tôi nhớ nhầm Phật dạy pháp Niệm Phật A Di Đà cho di mẫu, sau nhớ lại là cho bà hoàng hậu Vi-đề-hi ở xứ Magadha, nên đã viết thêm vài hàng đính chính lại, nhưng bị xoá comment đó. Viết thêm nữa chẳng ích cho ai.

Karmalaw Net: ko biết trong tạng Nikaya có bài kinh Phật thuyết A Di Đà ko nhỉ?

Anicca Anatta

‎@Hoa Nguyen” Xin dẫn chứng kinh hay luận, như Thanh tịnh đạo, để chứng cho câu viết “Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế”. Tôi nghĩ Danh và Sắc này là do thiền Minh sát nói tới và mới cho có khả năng đem lại, không phải là đối tượng đạt tới của thiền An Chỉ, tức Định . “Ngũ thủ uẩn” theo nghĩa (chính danh) chỉ cho 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) về sau nếu ai thêm vào thành 11 thủ ngũ uẩn thì dẫn chứng kinh từ đâu Phật dạy như vậy, để làm sáng tỏ từ ngữ.”

AnittaAnatta : “họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp.” Họ (những nhà tu Định Chỉ) có nói họ thấy đúng như vậy không, hay là, ngay như Pa Auk chĩ dẫn Abhidhamma để làm chứng cho điều ông nói là đúng (mà không nói rõ là ông thấy đúng như Vi Diệu pháp). Lý luận tiếp theo là thuộc về thần thông: “họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai”. Nhưng mà thiền Minh sát có nói tới thần thông không (và thiền An chỉ không nói tới Danh và Sắc).

Tôi không nghĩ là bác có thể hiểu được Giaó Pháp với sự chấp thủ ngoan cố của mình , nhưng tôi cũng xin trích dẫn tóm tắt và đơn giản nhất về 11 loại ngũ thủ uẩn hay danh và sắc vì lợi ích của những người khác..

Trong “Khandha Sutta” (Uẩn Kinh) Đức Phật giải thích và phân tích năm thủ uẩn thêm nữa thành ra mười một loại:

“Và, thế nào này các Tỳ khưu, là năm thủ uẩn? Bất cứ sắc nào, hoặc

[1-3] quá khứ, vị lai hay hiện tại (atītā nāgata paccuppannaṁ);

[4-5] bên trong hay bên ngoài (ajjhattaṁ vā bahiddhāvā);

[6-7] thô hay tế (oḷārikaṁ vā sukkumaṁ vā);

[8-9] cao thương hay hạ liệt (lānaṁ vā paṇītaṁ vā);

[10-11] xa hay gần (yam” dūre santike vā);

có lậu hoặc, được chấp thủ, thì được gọi là sắc thủ uẩn. Bất cứ loại thọ nào… tưởng… hành… thức nào dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, xa hay gần, cao thượng hay hạ liệt, có lậu hoặc

sāsava), được chấp thủ (upādāniya), đây gọi là thức thủ uẩn.Này các Tỳ khưu, như vậy được gọi là năm thủ uẩn.

Năm thủ uẩn này là Thánh Đế về Khổ và như Đức Phật giải thích, mỗi uẩn gồm mười một loại. Như thế có nghĩa rằng muốn biết và thấy năm uẩn thì phải biết và thấy được mười một loại của mỗi uẩn này.

Uẩn đầu tiên của năm thủ uẩn cũng còn gọi là Sắc (rūpa), và bốn thủ uẩn còn lại (Thọ, Tưởng, Hành và Thức) gọi chung là Danh (nāma). Như vậy năm thủ uẩn cũng còn gọi là Danh-Sắc (nāma-rūpa) .

Chúng ta có Ba loại định là:

1. Chuẩn bị định – parikamma-samādhi. Đôi khi định này còn được gọi là sát-na định (khaṇika-samādhi)

2. Cận định – upacāra-samādhi

3. An chỉ định – appanā-samādhi Cũng còn gọi là định của bậc thiền như tám thiền chứng

Do vậy an chỉ định chỉ là phương tiện để cũng cố sức mạnh của định mà thôi còn việc dùng định đễ thấy danh và sắc thì phải dùng sát na định hay cận định qua việc tu tập thiền tứ đại.

Còn tại sao thiền minh sát phải quán danh và sắc thì trong 11 Pháp duyên khởi có đề cập:

Vô minh (1) duyên hành (2)

– Hành duyên thức (3)

– Thức duyên danh-sắc (4)

– Danh-sắc duyên lục nhập (5)

– Lục nhập duyên xúc (6)

– Xúc duyên thọ (7)

– Thọ duyên ái (8)

– Ái duyên thủ (9)

– Thủ duyên hữu (10)

– Hữu duyên sanh (11)

– Sanh duyên lão, tử , sầu, bi, khổ thân, khổ tâm và tuyệt vọng

Hơn nữa mục đích và ý nghĩa tu tập minh sát để làm khởi sanh 16 tuệ minh sát từ Phàm đến Thánh, và Tuệ đầu tiên chính là Phân Tích Danh Sắc (Nāma-rūpa pariccheda ñāṇa) do đó không thấy được danh và sắc chơn đế thì không thể nào gọi là tu thiền minh sát(vipassana)… 16 Tuệ Minh sát là:

1. Tuệ Phân Tích Danh Sắc (Nāma-rūpa pariccheda ñāṇa)

2. Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (Paccaya – pariggaha ñāṇa)

3. Tuệ Thẩm Sát (Sammasana ñāṇa)

4. Tuệ (quán) Sự Sanh Diệt (Udayabba ñāṇa)

5. Tuệ (quán) Sự Tan Hoại (Bhanga ñāṇa)

6. Tuệ (quán) Sự Kinh Úy (Bhaya ñāṇa)

7. Tuệ (quán) Sự Nguy Hiểm (dīnava ñāṇa)

8. Tuệ Yểm Ly (Nibbidā ñāṇa)

9. Tuệ Dục Thoát (Muñcitukamyatā ñāṇa)

10. Tuệ Giản Trạch (Paṭisankhā ñāṇa)

11. Tuệ Xả Hành (Sankhārupekkhā ñāṇa)

12. Tuệ Thuận Thứ (Anulama ñāṇa)

13. Tuệ Chuyển Tộc (Gotrabhù ñāṇa)

14. Tuệ Đạo (Magga ñāṇa)

15. Tuệ Quả (Phala ñāṇa)

16. Tuệ Phản Khán (Paccavekkhana ñāṇa)

Những gì tôi muốn nói thì người khác đã nói thay rồi, do đó tôi cũng chẳng có gì để bận tâm về những lời của Bác Hoa Nguyen.Đức Phật cũng đã đưa ra ví dụ về người khách đến nhà mang quà tặng vị chủ nhà,nhưng vị chủ nhà không nhận thì món quà đó thuộc về ai? Tôi nghĩ bác Hoa Nguyen cũng hiểu rõ…Tôi chỉ thấy tội nghiệp thật sự cho Bác vì đang cố vùng vẫy ,đào bới trong “mớ kiến thức hỗn độn” của mình để khẳng định cái đúng thuộc về mình và người khác cần phải học hỏi kiến thức từ mình. Tuy nhiên chẳng có ai quan tâm và hoan nghênh cả.. Bác nên xem lại và tự hỏi tại sao hơn là bực tức để nói những điều hàm hồ như vậy…

@Hoa nguyen,@ Spymaster TheShadows.”Người đệ tử Phật sợ nhất là việc gây ra các nhân bất thiện trong hiện tại vì đúng theo sự vận hành tự nhiên của Pháp mà bác đã đề cập thì khi nghiệp ác chính mùi , chẳng có một ai, chư thiên , PhạmThiên hay ông Phật ADIĐÀ nào hiện ra để cứu Bác cả… Hãy tự có trách nhiệm trong luân hồi của chính mình và đừng gieo rắc tà kiến và hoài nghi cho người khác.

Anicca Anatta ‎@Spymaster TheShadows: Tôi không hiểu anh đắc gì ?nhưng anh từ đâu đến thì hãy trở về đó..nếu anh nghĩ anh “siêu phàm” như vậy thì anh không nên ở lại chốn “phàm trần” này mà hô hào về sự “tự đắc” của mình .Một bậc Thánh không bao giờ có một phẩm chất kém cõi như vậy.. Hãy nói những điều lợi ích cho mình và người khác.



Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s