“NIMITTA” được đại trưởng lão PA-AUK TAWYA SAYADAW giải thích theo kinh điển PāLI

PA

NGHI VẤN VỀ NIMITTA TRONG KINH ĐIỂN PāLi

được đặt ra với Đại Trưởng Lão Pa-Auk Sayadaw sau buổi thuyết pháp đầu tiên tại chùa Linh Thông – Hà Nội như sau :
“Nimitta được nói đến trong bài kinh nào? Và nimitta có phải là đề mục thiền không?”

Trả lời :


(Cười) Câu hỏi này mang hơi hướng tư tưởng phương Tây, có lẽ người hỏi câu hỏi này thường hay nghiên cứu các sách vở Tây Phương, vì ở đó, họ phản ánh rất nhiều về khái niệm Nimitta!

Trong Bộ Phân Tích Đạo(Paṭisambhidā∙Magga), Tôn giả Xá-lợi-phất có giải thích về Nimitta :
“Nimittaṃ assāsa∙passāsā, an∙ārammaṇam∙eka∙cittassa;
a∙jānato ca tayo dhamme, bhāvanā n∙upalabbhati.”
“Tướng(Nimitta), hơi thở vô, hơi thở ra, không phải là đối tượng của một tâm duy nhất;
Người không biết rõ ba pháp này, pháp tu không tiến đạt”.

Đoạn kệ trên là lời giải thích đối với những hành giả mới bắt đầu thực hành niệm hơi thở. Khởi đầu, nimitta chính là hơi thở vô, hơi thở ra ngay tại đầu chóp mũi hay môi trên.

(PQ bổ sung :

Điều này cũng được giải thích trong Sớ giải Thanh Tịnh Đạo – VsMṬ.viii.219. ‘Luận về Niệm Hơi Thở’ (Ān∙Āpāna∙Ssati Kathā) (M–1.391) như sau:
“Assāsa∙passāse nissāya uppanna∙nimittam∙p∙ettha assāsa∙passāsasam∙aññam∙eva vuttaṃ”
“Vì tướng nương vào hơi thở vào và ra, nên tướng được sanh lên cũng có thể được gọi là hơi thở vào và ra”).

Như vậy, ý nghĩa của đoạn “Nimittaṃ assāsa∙passāsā, an∙ārammaṇam∙eka∙cittassa” là :
“Nimittaṃ (tướng), Assāsa (hơi thở vào) Passāsā (hơi thở ra) , cả ba pháp này cùng là đối tượng cho mỗi sát-na tâm. Không phải (riêng lẻ từng pháp trong ba pháp này) là đối tượng cho mỗi sát-na tâm (an∙ārammaṇam∙eka∙cittassa)

Và ý nghĩa của đoạn kệ sau “a∙jānato ca tayo dhamme, bhāvanā n∙upalabbhati” là :
“ Nếu hành giả không biết rõ cả ba pháp này cùng là đối tượng cho mỗi sát-na tâm, vị ấy không thể tiến đạt bậc thiền”.

Đó chính là lời giải thích của Tôn giả Xá-lợi-phất!

Thêm một đoạn kệ khác nữa là :
“Nimittaṃ assāsa∙passāsā, an∙ārammaṇam∙eka∙cittassa;
jānato ca tayo dhamme, bhāvanā upalabbhantīti”.
“Tướng (nimitta), hơi thở vô, hơi thở ra, không phải là đối tượng của một tâm duy nhất ;
Người biết rõ ba pháp này, pháp tu tiến đạt”.

Đây là câu kệ thứ hai của Tôn giả Xá-lợi-phất trong Bộ Phân Tích Đạo (Paṭisambhidā∙Magga), chương “Chánh Niệm Hơi Thở”. Và ý nghĩa của đoạn kệ ấy là gì?

Đối với những hành giả sơ cơ, tướng (nimitta), hơi thở vô (assāsa), hơi thở ra (passāsā),cả ba pháp này không cùng là đối tượng cho mỗi sát-na tâm .
Nhưng về sau, khi mức định của hành giả phát triển sâu hơn, lúc hành giả đã có thể định tâm trên tợ tướng (paṭipabhāga nimitta_counterpart sign). Vào thời điểm ấy, nimitta chính là tợ tướng, hơi thở vào cũng chính là tợ tướng, hơi thở ra cũng chính là tợ tướng. Chính vào lúc ấy, mỗi một sát-na tâm đều bắt tợ tướng hơi thở (‘Ān∙Āpāna paṭipabhāga nimitta_counterpart sign) làm đối tượng. Lúc ấy, tợ tướng hơi thở vào chính là tướng (nimitta), hơi thở vô (assāsa),hơi thở ra (passāsā), cả ba pháp hợp thành một.
Bởi vì thế, lúc đó, mỗi một sát-na tâm thiền (jhana mind-moment) đều hướng bắt cùng một đối tượng duy nhất, đó chính là tợ tướng hơi thở (Ān∙Āpāna paṭipabhāga nimitta). Chính như vậy, hành giả mới có thể tiến đạt bậc thiền.

Tôn giả Phật Âm (Buddhaghosa), người soạn thảo bộ Thanh Tịnh Đạo (Visudhi Magga) đã trích dẫn hai đoạn kệ của Tôn giả Xá-lợi-phất trong Bộ Phân Tích Đạo để giải thích những phương cách tu tập định bậc thiền khác nhau nhằm tiến đạt tứ thiền. Có rất nhiều các vị A-la-hán đã rất tôn kính Tôn giả Xá-lợi-phất , bởi Tôn giả Xá-lợi-phất có tuệ căn (wisdom faculty) tối thắng hơn các vị A-la-hán khác.
Tuệ căn của các học giả Tây Phương không thể thể nhập pháp để thấy được thậm chí dù chỉ là các hạt hạ nguyên tử (sub-atomic) được gọi là rūpa kalāpa. Do không thấy được các hạt kalāpa, họ càng không thể phân tích được chúng! Nhưng Tôn giả Xá-lợi-phất đã tuệ tri được những hạt kalāpa và phân tích được chúng, và ngài hoàn toàn thấu hiểu được các chân thể tuyệt đối của danh tối hậu và sắc tối hậu. Đồng thời , ngài có thể thông đạt đầy đủ thập nhị nhân duyên. Do vậy, ngài có thể quán chiếu danh-sắc cùng với các nhân của chúng ( thập nhị nhân duyên) tức là các hành(saṅkhāra) là vô thường-khổ-và vô ngã để đạt đến quả vị tối thắng của một bậc A-la-hán. Và Đức Phật cũng đã tán dương ngài Xá-lợi-phất là đệ nhất thanh văn có tuệ căn tối thắng trong Giáo Pháp của Ngài.
Vì vậy, quí vị nên có đức tin vào lời giải thích của Tôn giả Xá-lợi-phất.

Pa-Auk Tawya Saydaw.

Pháp Quang trích và dịch lại theo ( https://archive.org/details/nimitta ) hoặc (http://www.4shared.com/video/cgTJHIDGce/Nimitta_LinhThong_27-4.html )

Lời chia sẻ :
Tôn giả Xá-lợi-phất , bậc Thượng Thủ Thinh Văn Đệ Nhất về Trí Tuệ, bậc Tướng Quân của Chánh Pháp (Generalissimo) được Đức Phật nói đến như sau :
“Này Tỷ-kheo, Sariputta có thể khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt hiển lộ một cách rộng rãi bốn Thánh đế”. (Kinh Phân Biệt về Sự Thật thuộc Trung Bộ Kinh)
Lại nữa, Đức Phật tán tán Tôn Gỉa Xá-lợi Phất trong Kinh Bất Đoạn thuộc Trung Bộ Kinh như sau:
“Này các Tỷ-kheo, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là bậc Hiền trí; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Ðại tuệ; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Quảng tuệ; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Hỷ tuệ (Hasupanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Tiệp tuệ (javanapanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Lợi tuệ (tikkhapanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Quyết trạch tuệ (nibbedhikapanna)….”
‘ Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, một người có thể nói về người ấy như sau: “Người này là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất”.
Và Đây là lời xác định của Đức Phật đối với Tôn giả Xá-lợi-phất trong việc hoằng dương giáo Pháp của Ngài :
“Sāriputta, này các Tỷ-kheo, chơn chánh chuyển Pháp luân vô thượng đã được Như Lai chuyển vận.”

Và với những lời tán thán của Đức Phật , cũng như lời xác định từ Ngài đối với Tôn giả Xá-lợi-phất, một câu hỏi được đặt ra rằng :
“Liệu một người học Phật chân chánh, có sự tầm cầu giải thoát cao thượng, sẽ có niềm tin trên sự thực hành y cứ vào những lời dạy trong Tam Tạng Kinh Điển, những lời dạy của Đức Phật , và các bậc Thượng Thủ Thinh Văn cũng như các bậc A-la-hán, hay vị ấy sẽ tin và thực hành theo tư tưởng đơn giản và thoải mái của các học giả Tây Phương trong thời hiện đại này???”

Thật sự, đối với những ai có sự nghiên cứu kĩ lưỡng Pháp Học lẫn Pháp Hành trong Phật giáo , vị ấy sẽ thấy rằng, hầu hết tất cả các phương pháp tu tập trên thế giới hiện nay đều dị biệt và không có có sự nhất quán trên phương cách thực hành đưa đến giác ngộ! Và mấu chốt chính đó là không có nhất quán trên việc đối chiếu và liên kết đầy đủ đối với “Tam” Tạng Kinh Điển cũng như Chú giải và Sớ giải. Thế nên, những người học Phật chân chánh hướng đến Chánh Pháp bị thiệt thòi khi họ bị bủa vây bởi những tư tưởng mới, những phương cách “đơn giản nhưng hiệu quả”! Nhưng liệu chúng sẽ có công năng đưa họ thoát khỏi luân hồi ? Hay chỉ làm họ mù mờ trong cái ảo giác của “trí tuệ” mà thôi?
Tôn giả Phật Âm (Buddhaghosa) có nói như sau:
“One’s own opinion is the weakest authority of all. . . “.
“Dựa vào ý kiến cá nhân của một người nào đó (để hiểu toàn bộ Giáo Pháp) là căn cứ yếu kém nhất”. (DA.II.3)

Đối với Đại Trưởng Lão Thiền Sư Pa-Auk Sayadaw, sau khi trình bày những phương cách hướng dẫn tu tập , ngài luôn nói rằng :

“This is not my method. I have just taken it from the
Pāḷi texts and commentaries.”

“Đây không phải là phương pháp của tôi! Tôi chỉ lấy nó từ Kinh Điển PāḷI và các Chú giải mà thôi!”

Cầu mong cho tất cả chúng sanh có được tri kiến chân chánh đối với Pháp Hành Phật Giáo!
Cầu mong Chánh Pháp hưng thịnh suốt năm ngàn năm!!!

Pháp Quang

Nguồn: Facebook Page “Chánh Pháp và Sự Thực”


Thiền “Phồng-Xẹp” được đại trưởng lão thiền sư Pa-Aak Tawya Sayadaw phân tích và giải thích theo kinh điển PāLI

10403043_242573595939134_1443803351464603138_n

Câu hỏi về chủ đề này được đặt ra trong buổi thuyết pháp của ngài tại Hà Nội cũng như tại Đà Lạt tháng 5/2014 như sau:

“Thay vì quan sát vùng đầu chóp mũi và môi trên thì quan sát (sự phồng xẹp) ở bụng có được không ?”

Trả lời:

Nếu quí vị muốn nói đến việc quan sát phồng xẹp ở bụng, tôi xin hỏi quí vị việc quan sát phồng xẹp ở bụng là đề mục thiền nào trong số tất cả bốn mươi đề mục thiền mà Đức Phật đã chỉ dạy(trong Tam Tạng Kinh Điển)?

Lúc đầu, người ta cho rằng việc quan sát phồng xẹp ở bụng chính là niệm hơi thở ( ān∙āpāna). Tuy nhiên, Trong Thanh Tịnh Đạo (VsM.viii.223), ‘Luận về Niệm Hơi Thở’ (Ān∙Āpāna∙Ssati∙Kathā) đã trích dẫn lời giải thích của ngài Xá Lợi Phất trong ‘Phân Tích Đạo’ về vấn đề này như sau:
“Phuṭṭha∙phuṭṭh∙okāse pana satiṃ thapetvā bhāventass∙eva bhāvanā sampajjati.”
[ Nhưng thiền tập của vị ấy thành tựu (bhāvanā sampajjati) chỉ khi sự tu tập (hơi thở) của vị ấy được cố định với niệm (satiṃ ṭhapetvā) trên sự xúc chạm (phuṭṭha) ngay tại điểm xúc chạm (phuṭṭh∙okāse)].

Vì vậy nếu hành giả muốn thực hành niệm hơi thở (Ān∙Āpāna∙Sati) hành giả cần phải đặt niệm trên hơi thở chỉ ngay tại điểm xúc chạm. Điểm xúc chạm ở đây chính là đầu chóp mũi hay môi trên. Ngay tại vị trí đầu chóp mũi hay môi trên ấy, nếu hành giả quan sát được đối tượng hơi thở ra vào (tại vị trí ấy), vị ấy có thể tiến đạt bậc thiền hơi thở (ān∙āpāna jhāna).
Bụng đâu phải điểm xúc chạm! Vì vậy việc quan sát phồng xẹp tại bụng không phải niệm hơi thở!
Nhưng về sau, người ta lập luận rằng, việc quan sát sự chuyển động phồng xẹp ở bụng chính là thiền niệm tứ đại. Nhưng Đức Phật luôn dạy việc quan sát “Bốn” đại trong thiền tứ đại, chứ không phải “nhất” đại. Cũng vậy khi quan sát sự chuyển động của bụng , họ cho rằng đó là đặc tánh của phong đại (vāyo∙dhātū). Tuy nhiên, đặc tánh của phong đại thật sự là đẩy (+ hỗ trợ hay nâng đỡ) chứ không phải chỉ là sự chuyển động (của bụng).
Như vậy, khi nào hành giả quan sát đặc tánh đẩy thì mới được xem là ghi nhận đặc tánh của phong đại. Nhưng để ghi nhận đặc tánh đẩy của gió, hành giả không phải chỉ chú tâm tại vùng bụng mà thôi, hành giả còn phải chú tâm ghi nhận đặc tánh này trong khắp toàn thân . Sau khi phân biệt được đặc tính đẩy ( cũng như nâng đỡ) của phong đại trong khắp toàn thân, hành giả cần phải chuyển sang phân biệt đặc tính khác nữa (của các đại còn lại). Bởi vì , Đức Phật chỉ dạy thiền Tứ Đại trên đặc tính của bốn đại chủng chứ không phải 1 đại chủng, thiền tứ đại mang ý nghĩa là việc quan sát đặc tính của bốn đại chứ không phải chỉ 1 đại là được. Đây cũng là lý do, nếu hành giả muốn hành thiền tứ đại đúng theo sự chỉ dẫn trong Bộ Pháp Tụ (Dhamma∙Saṅgaṇī), vị ấy cần hiểu rõ về tứ đại.

Thế nào là Tứ Đại ?
(1) Địa đại (pathavī∙dhātu).
(2) Thủy đại (āpo∙dhātu),
(3) Hỏa đại (tejo∙dhātu)
(4) Phong đại (vāyo∙dhātū)
Đức Phật chỉ dạy thiền “tứ” đại chứ không phải thiền “nhất” đại.
Vì vậy khi phân tích:
+ Đặc tính của Địa đại gồm: 1) Cứng, 2)Thô (nhám) , 3) Nặng, 4) Mềm, 5) Mịn, 6) Nhẹ.
+ Đặc tính của Thủy đại : 1) Chảy, 2) Kết dính.
+ Đặc tính của Hỏa đại: 1) Nóng, 2) Lạnh.
+ Đặc tính của Phong đại: 1) Đẩy, 2) Hỗ trợ ( nâng đỡ).
Tất cả có 12 đặc tính. Hành giả cần phải phân biệt tất cả mười hai đặc tính này trong khắp toàn thân, từ đầu đến chân, từ chân lên đầu, lặp đi, lặp lại. Sau khi phân biệt được 12 đặc tính này trong khắp toàn thân. Hành giả có thể chú tâm trên toàn thân để thấy ra các đặc tính của tứ đại liên tục, vào thời điểm có thể phân biệt các đặc tính của tứ đại một cách nhuần nhuyễn, hành giả sẽ chuyển sang ghi nhân được mười hai đặc tính này theo bốn nhóm:
+ Thấy được: 1) Cứng, 2) Thô (nhám) , 3) Nặng, 4) Mềm, 5) Mịn, 6) Nhẹ –> Nhận định đây là địa đại.
+ Thấy được: 1) Chảy, 2) Kết dính –> Nhận định đây là thủy đại.
+ Thấy được: 1) Nóng, 2) Lạnh –> Nhận định đây là hỏa đại.
+ Thấy được: 1) Đẩy, 2) Hỗ trợ (nâng đỡ) –> Nhận định đây là phong đại.
Cứ như vậy, hành giả ghi nhận Địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại hay đất , nước , lửa , gió…Theo cách này (nhận biết theo nhóm các đặc tính), hành giả sẽ định tâm trên đề mục tứ đại. Cứ như vậy, hành giả sẽ liên tục quan sát đề mục tứ đại trong khắp thân mình. Từ đó hành giả sẽ không còn thấy các khái niệm như thân thể của mình, hay cái bụng của mình mà chỉ thấy được các nhóm đặc tính của tứ đại. Nếu hành giả tiếp tục phân biệt tứ đại như vậy một cách đúng theo trình tự hệ thống… Hành giả sẽ tuệ tri được, trong toàn thân này được hợp thành từ các hạt hạ nguyên tử hay còn gọi là rūpa kalāpa, mỗi hạt rūpa kalāpa cơ bản được cấu thành từ 8 loại sắc bất ly ( đất , nước, lửa, gió , màu, mùi, vị , dưỡng chất)… Đây mới được xem là thiền tứ đại. Còn việc chỉ quan sát sự chuyển động phồng xẹp ở bụng như vậy không được đề cập trong lời dạy của Đức Phật.

Pa-Auk Tawya Sayadaw.
(Pháp Quang trích dẫn và dịch lại theohttps://www.youtube.com/watch?v=00y9j2UuVto&hd=1)

Các tài liều cần tham Khảo về thiền Tứ Đại :
1) * ‘Kinh Đại Niệm Xứ’ (Mahā∙Sati∙Paṭṭhāna Sutta), Đức Phật dạy tóm tắt thiền tứ đại
“Lại nữa này các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu quán sát thân này về vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại (pathavī∙dhātu), thủy đại (āpo∙dhātu), hỏa đại (tejo∙dhātu) và phong đại (vāyo∙dhātū’ti).”
2) Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la, Đức Phật dạy chi tiết về thiền tứ đại.
3) Bộ ‘Pháp Tụ’ (Dhamma∙Saṅgaṇī), Đức Phật mô tả sắc theo mười hai đặc tánh.
4) Bộ Phân Tích Đạo (Paṭisambhidāmagga)
5) Bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)

Trong những buổi thuyết pháp tại quốc tế, Ngài Đại Lão Thiền Sư Pa-Auk Sayadaw thường đặt ra một câu hỏi trước thính chúng trước khi thuyết pháp như sau:
Do you have enough faith in the Buddha’s Teachings?
(Qúi vị có đủ tín tâm vào lời dạy của Đức Phật hay không?)
If you have enough faith, you would never get over the Buddha’s Teachings!
(Nếu quí vị có đủ niềm tin, quí vị sẽ không bao giờ vượt qua điều học của Đức Phật!!!)

Việc làm sáng tỏ về phương pháp thiền này là tiêu chí cho sự nhận định chân pháp mà những ai mong muốn hướng đến Thiền Phật Giáo đúng nghĩa cần phải nương theo. Vì pháp hành chân chánh và đáng tin cậy chỉ có thể được triển khai theo đúng nền tảng Pháp Học có Kinh Văn Pāḷi làm y cứ mà thôi!
Và nếu như chúng ta có đủ niềm tin vào lời dạy của Đức Phật, chúng ta sẽ không vượt qua, không thêm, không bỏ bớt những điều học từ Ngài!

Cầu mong cho tất cả chúng sanh có được tri kiến chân chánh đối với Thiền Phật Giáo.

Pháp Quang

Nguồn
Facebook page “Chánh Pháp và Sự Thực”