Thiền “Phồng-Xẹp” được đại trưởng lão thiền sư Pa-Aak Tawya Sayadaw phân tích và giải thích theo kinh điển PāLI

10403043_242573595939134_1443803351464603138_n

Câu hỏi về chủ đề này được đặt ra trong buổi thuyết pháp của ngài tại Hà Nội cũng như tại Đà Lạt tháng 5/2014 như sau:

“Thay vì quan sát vùng đầu chóp mũi và môi trên thì quan sát (sự phồng xẹp) ở bụng có được không ?”

Trả lời:

Nếu quí vị muốn nói đến việc quan sát phồng xẹp ở bụng, tôi xin hỏi quí vị việc quan sát phồng xẹp ở bụng là đề mục thiền nào trong số tất cả bốn mươi đề mục thiền mà Đức Phật đã chỉ dạy(trong Tam Tạng Kinh Điển)?

Lúc đầu, người ta cho rằng việc quan sát phồng xẹp ở bụng chính là niệm hơi thở ( ān∙āpāna). Tuy nhiên, Trong Thanh Tịnh Đạo (VsM.viii.223), ‘Luận về Niệm Hơi Thở’ (Ān∙Āpāna∙Ssati∙Kathā) đã trích dẫn lời giải thích của ngài Xá Lợi Phất trong ‘Phân Tích Đạo’ về vấn đề này như sau:
“Phuṭṭha∙phuṭṭh∙okāse pana satiṃ thapetvā bhāventass∙eva bhāvanā sampajjati.”
[ Nhưng thiền tập của vị ấy thành tựu (bhāvanā sampajjati) chỉ khi sự tu tập (hơi thở) của vị ấy được cố định với niệm (satiṃ ṭhapetvā) trên sự xúc chạm (phuṭṭha) ngay tại điểm xúc chạm (phuṭṭh∙okāse)].

Vì vậy nếu hành giả muốn thực hành niệm hơi thở (Ān∙Āpāna∙Sati) hành giả cần phải đặt niệm trên hơi thở chỉ ngay tại điểm xúc chạm. Điểm xúc chạm ở đây chính là đầu chóp mũi hay môi trên. Ngay tại vị trí đầu chóp mũi hay môi trên ấy, nếu hành giả quan sát được đối tượng hơi thở ra vào (tại vị trí ấy), vị ấy có thể tiến đạt bậc thiền hơi thở (ān∙āpāna jhāna).
Bụng đâu phải điểm xúc chạm! Vì vậy việc quan sát phồng xẹp tại bụng không phải niệm hơi thở!
Nhưng về sau, người ta lập luận rằng, việc quan sát sự chuyển động phồng xẹp ở bụng chính là thiền niệm tứ đại. Nhưng Đức Phật luôn dạy việc quan sát “Bốn” đại trong thiền tứ đại, chứ không phải “nhất” đại. Cũng vậy khi quan sát sự chuyển động của bụng , họ cho rằng đó là đặc tánh của phong đại (vāyo∙dhātū). Tuy nhiên, đặc tánh của phong đại thật sự là đẩy (+ hỗ trợ hay nâng đỡ) chứ không phải chỉ là sự chuyển động (của bụng).
Như vậy, khi nào hành giả quan sát đặc tánh đẩy thì mới được xem là ghi nhận đặc tánh của phong đại. Nhưng để ghi nhận đặc tánh đẩy của gió, hành giả không phải chỉ chú tâm tại vùng bụng mà thôi, hành giả còn phải chú tâm ghi nhận đặc tánh này trong khắp toàn thân . Sau khi phân biệt được đặc tính đẩy ( cũng như nâng đỡ) của phong đại trong khắp toàn thân, hành giả cần phải chuyển sang phân biệt đặc tính khác nữa (của các đại còn lại). Bởi vì , Đức Phật chỉ dạy thiền Tứ Đại trên đặc tính của bốn đại chủng chứ không phải 1 đại chủng, thiền tứ đại mang ý nghĩa là việc quan sát đặc tính của bốn đại chứ không phải chỉ 1 đại là được. Đây cũng là lý do, nếu hành giả muốn hành thiền tứ đại đúng theo sự chỉ dẫn trong Bộ Pháp Tụ (Dhamma∙Saṅgaṇī), vị ấy cần hiểu rõ về tứ đại.

Thế nào là Tứ Đại ?
(1) Địa đại (pathavī∙dhātu).
(2) Thủy đại (āpo∙dhātu),
(3) Hỏa đại (tejo∙dhātu)
(4) Phong đại (vāyo∙dhātū)
Đức Phật chỉ dạy thiền “tứ” đại chứ không phải thiền “nhất” đại.
Vì vậy khi phân tích:
+ Đặc tính của Địa đại gồm: 1) Cứng, 2)Thô (nhám) , 3) Nặng, 4) Mềm, 5) Mịn, 6) Nhẹ.
+ Đặc tính của Thủy đại : 1) Chảy, 2) Kết dính.
+ Đặc tính của Hỏa đại: 1) Nóng, 2) Lạnh.
+ Đặc tính của Phong đại: 1) Đẩy, 2) Hỗ trợ ( nâng đỡ).
Tất cả có 12 đặc tính. Hành giả cần phải phân biệt tất cả mười hai đặc tính này trong khắp toàn thân, từ đầu đến chân, từ chân lên đầu, lặp đi, lặp lại. Sau khi phân biệt được 12 đặc tính này trong khắp toàn thân. Hành giả có thể chú tâm trên toàn thân để thấy ra các đặc tính của tứ đại liên tục, vào thời điểm có thể phân biệt các đặc tính của tứ đại một cách nhuần nhuyễn, hành giả sẽ chuyển sang ghi nhân được mười hai đặc tính này theo bốn nhóm:
+ Thấy được: 1) Cứng, 2) Thô (nhám) , 3) Nặng, 4) Mềm, 5) Mịn, 6) Nhẹ –> Nhận định đây là địa đại.
+ Thấy được: 1) Chảy, 2) Kết dính –> Nhận định đây là thủy đại.
+ Thấy được: 1) Nóng, 2) Lạnh –> Nhận định đây là hỏa đại.
+ Thấy được: 1) Đẩy, 2) Hỗ trợ (nâng đỡ) –> Nhận định đây là phong đại.
Cứ như vậy, hành giả ghi nhận Địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại hay đất , nước , lửa , gió…Theo cách này (nhận biết theo nhóm các đặc tính), hành giả sẽ định tâm trên đề mục tứ đại. Cứ như vậy, hành giả sẽ liên tục quan sát đề mục tứ đại trong khắp thân mình. Từ đó hành giả sẽ không còn thấy các khái niệm như thân thể của mình, hay cái bụng của mình mà chỉ thấy được các nhóm đặc tính của tứ đại. Nếu hành giả tiếp tục phân biệt tứ đại như vậy một cách đúng theo trình tự hệ thống… Hành giả sẽ tuệ tri được, trong toàn thân này được hợp thành từ các hạt hạ nguyên tử hay còn gọi là rūpa kalāpa, mỗi hạt rūpa kalāpa cơ bản được cấu thành từ 8 loại sắc bất ly ( đất , nước, lửa, gió , màu, mùi, vị , dưỡng chất)… Đây mới được xem là thiền tứ đại. Còn việc chỉ quan sát sự chuyển động phồng xẹp ở bụng như vậy không được đề cập trong lời dạy của Đức Phật.

Pa-Auk Tawya Sayadaw.
(Pháp Quang trích dẫn và dịch lại theohttps://www.youtube.com/watch?v=00y9j2UuVto&hd=1)

Các tài liều cần tham Khảo về thiền Tứ Đại :
1) * ‘Kinh Đại Niệm Xứ’ (Mahā∙Sati∙Paṭṭhāna Sutta), Đức Phật dạy tóm tắt thiền tứ đại
“Lại nữa này các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu quán sát thân này về vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại (pathavī∙dhātu), thủy đại (āpo∙dhātu), hỏa đại (tejo∙dhātu) và phong đại (vāyo∙dhātū’ti).”
2) Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la, Đức Phật dạy chi tiết về thiền tứ đại.
3) Bộ ‘Pháp Tụ’ (Dhamma∙Saṅgaṇī), Đức Phật mô tả sắc theo mười hai đặc tánh.
4) Bộ Phân Tích Đạo (Paṭisambhidāmagga)
5) Bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)

Trong những buổi thuyết pháp tại quốc tế, Ngài Đại Lão Thiền Sư Pa-Auk Sayadaw thường đặt ra một câu hỏi trước thính chúng trước khi thuyết pháp như sau:
Do you have enough faith in the Buddha’s Teachings?
(Qúi vị có đủ tín tâm vào lời dạy của Đức Phật hay không?)
If you have enough faith, you would never get over the Buddha’s Teachings!
(Nếu quí vị có đủ niềm tin, quí vị sẽ không bao giờ vượt qua điều học của Đức Phật!!!)

Việc làm sáng tỏ về phương pháp thiền này là tiêu chí cho sự nhận định chân pháp mà những ai mong muốn hướng đến Thiền Phật Giáo đúng nghĩa cần phải nương theo. Vì pháp hành chân chánh và đáng tin cậy chỉ có thể được triển khai theo đúng nền tảng Pháp Học có Kinh Văn Pāḷi làm y cứ mà thôi!
Và nếu như chúng ta có đủ niềm tin vào lời dạy của Đức Phật, chúng ta sẽ không vượt qua, không thêm, không bỏ bớt những điều học từ Ngài!

Cầu mong cho tất cả chúng sanh có được tri kiến chân chánh đối với Thiền Phật Giáo.

Pháp Quang

Nguồn
Facebook page “Chánh Pháp và Sự Thực”

Advertisements