– Kinh ngụy tạo (Apocrypha)

Tác giả Prof. KYOTO TOKUNO, Ph.D
Dịch sang Việt: PHẠM DOÃN

Giới chuyên môn Tây Phương dùng chữ APOCRYPHA – KINH ĐIỂN NGỤY TẠO để gọi văn học Phật giáo phát triển ở nhiều khu vực Á châu giả mạo những văn bản Phật giáo có gốc từ Ấn độ. Mớ bong bong của ngụy thư có nhiều nét chung, nhưng chúng không bao giờ thống nhất bằng cùng một kiểu mẫu (style) văn học hay cùng một nội dung.

Kinh điển ngụy tạo (Apocrypha) có đặc điểm chung là một loại văn học, vốn thuộc về các tôn giáo bản xứ, nhưng lại tự cho mình có nguồn gốc hoặc mối liên hệ với Phật giáo Ấn Độ. Điều này đòi hỏi phải đặt ra nhiều mức độ khác nhau về tính hợp chuẩn và độ tin cậy khi tham khảo nội dung của kinh điển.Một vài kinh ngụy tạo, đặc biệt của Phật giáo Đông Á, mạo nhận nó chính là giáo pháp của Đức Phật – Buddhavacana (Word of the Buddha) tức tự mạo nhận nó là KINH (Sutra). Kinh ngụy tạo đôi khi cũng tự mạo nhận là lời luận giảng về kinh từ một vị thày có tiếng tăm (hoặc có khi cũng vô danh) của Phật giáo Ấn Độ, tức nó tự mạo nhận là LUẬN (Sastra). Một số kinh ngụy tạo tuyên bố xuất phát từ tuệ giác của các đấng giác ngộ ở Ấn Độ hoặc là người được truyền thừa tuệ giác đó từ một dòng phái chính thức, ví dụ như trường hợp “các bộ Thánh Thư Quí Báu” (Gterma) của Tây Tạng cho là đã được dấu kín và rồi được khám phá lại bởi những người đủ cơ duyên. Một số kinh ngụy tạo được soạn thảo theo văn phong kinh điển kiểu kể chuyện, ví dụ như trường hợp bộ “Tiền thân Đức Phật” (Jataka) của khu vực Đông Nam Á. Như vậy cái phân biệt kinh ngụy tạo với Phật học bản xứ là kinh ngụy tạo luôn tuyên bố hoặc cố ý ám chỉ rằng nó xuất nguồn từ Ấn Độ. Sự tạo ra các văn bản ngụy tạo có mối liên hệ với bản chất của các bộ kinh Phật thật trong từng mỗi truyền thống. Các bộ kinh Trung Quốc hay Tây Tạng có nội dung luôn “để mở” hay “bỏ ngõ” với mục đích cho phép sự tiếp tục thêm vào dễ dàng các bản kinh mới từ Ấn Độ qua nhiều thế kỉ. Không còn nghi ngờ gì nữa, một tình huống như vậy đã tạo cảm hứng cho ý muốn tân trang các bản kinh và khích lệ sự sáng tạo ra các bản kinh gọi là kinh ngụy tạo. Kinh Pali của vùng Nam và Nam Á, trái lại đã được “cố định” rất sớm trong lịch sử, điều này khiến khó có thể thêm vào đó những nội dung nào khác.

Những đặc điểm chung ở trên đem đến một chỉ dẫn cho chức năng và mục đích của kinh ngụy tạo: Tích hợp tư liệu Ấn Độ vào những nội dung bản địa – đó có thể là tôn giáo, văn hóa xã hội, hoặc chính trị – bằng cách ấy nó xóa bỏ ý niệm rằng làm đồng hóa Phật giáo rất khó hoặc là không thể. Tác quyền trong văn bản truyền thống chính thức được mặc nhiên công nhận và thông qua để làm cho tôn giáo địa phương trở thành dễ hiểu đối với con người đương thời của vùng đất mới, nơi Đạo Phật được đưa vào. Thực tế lịch sử cho thấy, một vài văn bản giả đã đóng vai trò làm nhân tố phát triển nền văn hóa Phật giáo cục bộ địa phương, khi nó trở thành một phần của văn bản trong hay ngoài của kinh điển thực. Không phải tất cả kinh giả chỉ thuần túy nhằm mục đích phổ biến Phật giáo. Ví dụ, vài kinh giả Trung quốc đều cố ý đồng hóa những phong tục và cách thực hành tôn giáo có tính cục bộ địa phương bằng cách mạo nhận đấy là giáo pháp của Đức Phật.. Những ví dụ đó cho thấy (sức mạnh từ) thẩm quyền của thánh điển đã khiến sản sinh ra mảng văn học vượt ra ngoài giáo pháp thực sự của Đạo Phật, đồng thời tạo ra một loại hình văn bản thể hiện những nội dung tôn giáo cục bộ địa phương.

Trong bộ sưu tập các kinh giả, phải nói “kinh dị” nhất là các kinh giả của Đạo Phật Đông Á. Các kinh này mạo nhận cấp bậc cao nhất của truyền thống Ấn Độ bằng cách tự nhận là lời nói của chính Đức Phật. Hiển nhiên khi kinh ngụy tạo mạo nhận là thánh điển, nó không thể không bị phát hiện bởi các nhóm bảo thủ hay tư do trong cộng đồng Phật tử. Trong thời kỳ trung cổ các kinh giả trở thành đối tượng bị khinh bỉ nhưng ngược lại chúng cũng đã trở nên công cụ và lực lượng vật chất làm biến đổi ý nghĩa của Phật giáo.

Như vậy kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung quốc là hình ảnh thu tóm tất cả sự phức tạp xung quanh các vấn đề lịch sử, lí lịch và chức năng của nó bao gồm một lãnh vực rộng hơn trong kinh điển Phật giáo.

Kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung quốc

Kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung Quốc được viết hầu như đồng thời với lúc khởi đầu các hoạt động dịch thuật kinh Phật vào giữa thế kỉ thứ 2 sau công nguyên. Theo ghi chép của Đại Tạng kinh Phật giáo, con số kinh ngụy tạo gia tăng liên tục qua các thế hệ cho đến ít nhất vào thế kỉ thứ tám. Các nhà làm danh mục phê bình kịch liệt các ngụy kinh, theo chuẩn mốc của họ, là “không có nguồn gốc rõ ràng” hoặc “đầy nghi vấn” hoặc lên án các ngụy kinh đã làm sói mòn sự toàn vẹn việc truyền bá kinh điển Phật giáo tại Trung quốc. Bất kể sự phối hợp của tập thể các nhà soạn danh mục, đồng thời với hội đồng của triều đình cố gắng loại bỏ các ngụy kinh bản xứ, mãi tận đến lúc kết tập cho lần in kinh lần thứ nhất (tại Trung Quốc) tức ấn bản của nhà Bắc Tống (971-983) thì việc tạo ngụy kinh mới giảm xuống rồi ngưng lại. Sự xuất bản các ngụy thư ở Trung quốc như vậy đã làm nên “hiện tượng” của thời kì gọi là “kinh điển viết dưới dạng bản thảo”. Khi những bản thảo viết tay có nguồn gốc địa phương lại có thể được chấp nhận là kinh và được xếp vào bộ thánh điển, thì giữa ngụy thư và kinh điển đã trở thành một phạm trù mơ hồ (không phân biệt được).

Khám phá của chuyên gia thời hiện đại về các kinh điển ngụy tạo cho thấy tính phức tạp và khó khăn khi xác quyết một văn bản về mức độ giả tạo kiến thức, cũng như khả năng làm nhái các văn bản Phật giáo, của tác giả các ngụy kinh. Thật không dễ dàng cho các chuyên gia thư mục xác định được tính chính thống của kinh điển. Phải có kiến thức rất rộng về Phật học mới có thể truy tìm những văn bản ngụy tạo đặc biệt khi chúng được tạo ra bởi những loại người thông hiểu lý thuyết và thực hành trong Phật giáo, nhất là người đó lại có thêm kỉ năng văn chương. Ngoài ra, trong nghiệp vụ đã có lúc phải cần đến sự thỏa thuận trong cẩn trọng, ví dụ trường hợp của Bộ Lịch Đại Tam Bảo Kí (Lidai Sanbao Ji – Record of the three Treasures) xuyên suốt các triều đại; 597- vì không có lí do khác hơn là một cuộc tranh cãi cần để tẩy uế bộ thánh điển sạch các yếu tố ngoại lai có thể làm Đạo Phật vướng vào sự chí trích của các đối thủ tôn giáo và tư tưởng như Đạo Lão và Đạo Khổng.

Vì khi tranh luận trong việc loại bỏ các yếu tố ngoại lai ra khỏi thánh điển có thể đưa Đạo Phật vướng vào sự chỉ trích của các đối thủ về mặt tôn giáo và tư tưởng như Đạo Lão và Đạo Khổng. Bộ Lịch Đại Tam Bảo Chí đã thêm vào nhiều nguồn tư liệu về tác giả và dịch giả không có thực, nhằm mục đích làm các văn bản của nó giống như của một bộ kinh thực sự chính thống. Và một khi các thuộc tính giả mạo được chấp nhận bởi bộ Thư Mục của triều đình (the Da-Zhou kanding zhongjing mulu – Danh mục kinh tạng, công bố bởi nhà Đại Chu năm 695) thì truyền thống Trung quốc buộc phải nhận thêm rất nhiều các văn bản giả tạo kiểu như thế vào bộ Đại Tạng Kinh. Bộ Khai Nguyên Thích Giáo Lục (Kaiyuan Shijiao Lu Record of Sakyamuni’s teaching), soạn vào đời Khai Nguyên năm 730- được cho là hay nhất trong tất cả các bộ Danh Mục Đại Tạng – Bộ này chỉ trích cả hai bộ Đại tạng trước đó. Nhưng chính bộ Khai Nguyên cũng không thể loại trừ tất cả những điều không chính xác trong quá khứ, điều này một phần cũng do ảnh hưởng nặng nề của truyền thống. Kinh ngụy tạo là một ví dụ lý tưởng cho sự lệch lạc giữa sự vận động và thỏa hiệp đạt được trong quá trình hình thành ra một truyền thống tôn giáo (bản xứ). Những kinh ngụy tạo này đã thêm vào chiều kích mới cho sự phát triển Đạo Phật Trung quốc một phần nhờ sự tình trạng tôn sùng kinh điển ở Trung quốc, nhưng quan trọng nhất là vì để đáp ứng nhu cầu cho chính tôn giáo và văn hóa tại Trung quốc.

Có khoảng 450 tựa đề kinh ngụy tạo Trung quốc liệt kê trong Danh Mục Đại Tạng kinh Nhưng thực ra tổng số tích lũy của ngụy thư viết ở Trung quốc gần đến con số 550, khi chúng ta tính cả hai loại bằng chứng văn học, ví dụ những văn bản không liệt kê trong danh mục nhưng lần lượt được tìm thấy trong tập hợp các văn bản Phật giáo và bản thảo tại Trung Quốc và Nhật Bản. Khoảng chừng một phần ba tổng số này còn tồn tại đến ngày nay, một con số lớn kinh ngạc đối với sự kiểm duyệt liên tục ngụy thư suốt thời Trung cổ. Tỉ lệ ngụy thư còn sót lại đã chứng minh cho tính “lợi hại” của kinh Phật ngụy tạo trong bản xứ và cũng chứng minh cho sự kiện người Trung Quốc tiếp tục tin dùng loại văn bản này, trong đó có cả nhà phân tích thông tuệ như Trí Di (538-597) [1], người hệ thống hóa trường phái Thiên Thai của Đạo Phật Trung Quốc. Sự bùng nổ của hiện tượng ngụy kinh tại Trung Quốc cũng đã thúc đẩy cho sự lan rộng kinh điển ngụy tạo tại các vùng khác thuộc Đông Á, mặc dù không nơi đâu lại nhiều bằng tại Trung Quốc.

Tập hợp các ngụy thư bao gồm cả hai loại: kinh ngụy tạo và các văn bản được bảo tồn như là nguồn tham khảo trong các bộ luận Trung Quốc. Kinh ngụy tạo cũng đã được tìm thấy trong bộ sưu tập các bản thảo thời trung cổ phát hiện trong hiện tại. Thứ nhất là kho cất dấu tại Đôn Hoàng ở Trung Á, được phát hiện trong thế kỉ 20, gồm các bản thảo từ thế kỉ thứ 5 đến thế kỉ thứ 11. Hai là các bản thảo kinh tìm thấy tại Nanatsu-dera ở Nagoya, Nhật Bản, được kết tập suốt thế kỉ 12, dựa vào các ấn bản kinh Phật trước đó. Vào năm 1990, phát hiện cho thấy có cả ngụy thư của Trung Quốc lẫn Nhật Bản. Điều kinh ngạc nhất trong lịch sử tìm kiếm là trong các bộ kinh được tìm thấy này là cuốn kinh Piluo Sanmei jing – the Scripture on the Absorption of Piluo, một cuốn kinh giả mạo nhưng được chứng thực trong danh mục Đại Tạng Kinh soạn bởi nhà sư học giả nổi tiếng Đạo An (312-385), trước đó thì kinh này không ai biết. Bản thảo kinh Phật tại Nhật Bản chỉ là bản sao của bộ ngụy thư có sớm nhất từ Trung Quốc. Các công cuộc tìm kiếm khác cũng không kém phần giá trị trong sự xác nhận toàn cảnh lịch sử của kinh ngụy tạo: Cả hai loại bản thảo tại Đôn Hoàng và tại Nanatsu-dera bao gồm nhiều tựa đề không thấy có trong các bảng danh mục Đại Tạng, bằng chứng chỉ ra rằng sự tự sáng tác ra kinh bản xứ còn nhiều hơn như trước đây người ta nghĩ. Hơn bao giờ hết, các học giả chuyên môn cần phải đề xuất ra hay phân loại một cách thuyết phục các kinh ngụy tạo tìm thấy ở Nanatsu-dera là soạn thảo của Nhật Bản dựa trên văn bản Ấn Độ, hay dựa trên kinh ngụy tạo ở Trung Quốc. Như vậy các ngụy thư còn tồn tại ở Nhật Bản được đóng vai trò là bằng chứng cho sự ảnh hưởng và phổ biến của loại văn bản còn tranh chấp nhưng rõ ràng “thực dụng” này.

Văn bản và nội dung

Tập hợp văn học ngụy tạo hiện còn tồn tại thách thức sự diễn đạt đơn giản, ví dụ mỗi văn bản có riêng một học thuyết hay một khuynh hướng thực hành, động lực, và mô thức văn học hay kĩ thuật. Vài kinh ngụy tạo rất khéo léo trong sự tổng hợp tài liệu của Phật giáo nguyên thủy (chính thống) từ Ấn Độ mà không nói bất cứ gì về nguồn gốc tộc hệ của chúng; tuy thế, một số kinh ngụy tạo khác tuyên truyền về những loại đức tin và những loại thực hành phổ biến tiêu biểu cho văn hóa bản địa, đồng thời thêm vào một cách vụng về cẩu thả những yếu tố Phật giáo nhằm mục đích giải thích cho cái tựa đề là “kinh” (tức Jing trong tiếng Trung Quốc). Đa số các kinh ngụy tạo Trung Quốc rơi vào hai cực đoan khi ca ngợi các đức tin và cách thực hành Phật giáo như là phương tiện để thu hoạch lợi ích vừa trần gian vừa tâm linh. Một số các nhà chuyên môn đã dự định thực hiện “phân loại hệ thống” (Typological classification) đối với tất cả các ngụy thư còn tồn tại, nhưng điều này sẽ còn khó khăn cho đến khi đã nghiên cứu toàn thể các ngụy thư và thấu hiểu các nội dung tôn giáo và văn hóa xã hội của chúng. Sau đây là những phê bình có chọn lọc về những nguyên cớ cho sự xuất hiện của các kinh giả tạo, điều này phản ánh cái cách mà giáo pháp của Đức Phật đã bị đóng khung và bị suy diễn.

Chúng ta bắt đầu bằng hai ví dụ kinh ngụy tạo từ học thuyết Đại Thừa ủng hộ một lý thuyết hay một cách thực hành không có phiên bản tương ứng trong Phật giáo Ấn Độ. Thứ nhất cuốn Khởi Tín Luận (Dasheng Qixin lun) tái tạo Phật giáo chính thống bằng cách tổng hợp ba khuynh hướng chính của học thuyết Ấn Độ: Tánh không (Sunyata), A Lại Da Thức (Alayavijnana) và Thai Tạng giới (Tatha Gatagarbha). Kinh này nhằm đặt ra một bản thể luận cho tâm trí con người, theo đó Tâm trí có thể đồng thời vừa vô minh vừa có giác tánh nội tại. Sau khi xuất hiện ở thế kỉ thứ sáu, bộ Luận Khởi Tín có lẽ đã trở nên ví dụ nổi bật của sự tác động của kinh ngụy tạo vào sự phát triển của hệ tư tưởng Phật giáo Trung Quốc, vì nó đã trở nên chất xúc tác cho sự hình thành các học thuyết của các giáo phái (pháp môn) bản xứ như Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Thiền Tông (TQ). Văn bản ngụy thư cũng là ví dụ chủ yếu cho phương cách của một tác giả bản xứ chọn lọc phù hợp và tổng hợp một cách thông minh những văn bản Ấn Độ sao cho thích nghi hoàn hảo với bản chất tôn giáo Trung Quốc. Trường hơp thứ hai, cuốn Kinh Kim Cang Định (Jin’gang sanmei jing, Vajrasamadhi sutra) được tạo ra bằng sự pha trộn hỗn tạp tất cả các học thuyết Đại Thừa, nhằm cung cấp một nền tảng cho một hệ thống thực hành thiền và khẳng định hiệu quả giải thoát của hệ thống đó. Đây là một trong những những bản kinh lâu đời nhất của Thiền Tông của Trung Quốc và Đại Hàn, vì vậy có tính tiêu biểu lịch sử. Không giống trường hợp của các kinh ngụy tạo khác đã bàn đến trong bài viết này, một nghiên cứu cho rằng kinh này thực sự là tác phẩm của Đại Hàn từ thế kỉ thứ 7 (theo Buswell 1989). Bản ngụy kinh này, cùng với ngụy kinh tại Nhật bản đã đề cập ở phần trước, chính là thước đo cho mối liên hệ hữu cơ có được giữa Phật Giáo Trung Quốc với phần còn lại của Đông Á, và cũng cho thấy có sự kích động lan tràn của việc tạo tác kinh bản xứ ở khắp khu vực.

Một số kinh ngụy tạo thêm vào các nguồn dẫn và sự suy diễn với mục đích tăng cường một giá trị hay quan điểm nào đó của Đạo Phật với môi trường bản xứ. Giới luật, nền tảng của giải thoát Phật giáo, đã được kinh ngụy tạo thể hiện nổi bật như một chủ đề. Ví dụ như Kinh Phạm Võng (Fanwang Jing, Brahma’s bet sutra)). Kinh này thay đổi một phần giới luật của Bồ Tát đạo bằng cách thêm vào khái niệm Hiếu của Đạo Khổng, một xảo thuật lộ liễu phản lại cả truyền thống Trung Quốc cũng như nổ lực tương thích hai hệ thống giá trị quá khác biệt. Cũng phải nói đến những vấn nạn phát sinh khi đặt để những trói buộc có tính thế gian lên tăng đoàn và tăng sĩ. Sự pha trộn giữa giáo pháp và các mối quan tâm trần tục chính là điểm tiêu biểu cho các kinh ngụy tạo, như ta sẽ thấy dưới đây.

Có loại kinh ngụy tạo đưa ra giới luật nhấn mạnh một cách đặc biệt vào giới cư sĩ. Loại kinh như thế gồm các kinh như Piluo sanmei jing – the Scripture of the absorption of Piluo, Tiwei Jing – The scripture of Tiwei và Chingjing Faxing Jing – the Scripture of pure religious cultivation. Các ngụy kinh này dạy hướng dẫn đạo đức cơ bản cho cư sĩ, như ngũ giới, thập thiện, sự quan trọng của cúng dường tất cả được dựng trong học thuyết của Nghiệp và Tái sanh. Năm giới cư sĩ được cho là điều kiện đủ để đạt tới giác ngộ của Phật, một con đường cực kì đơn giản vạch ra để động viên sự tham gia của cộng đồng cư sĩ vào thực hành Đạo Phật. Những giới đó còn thường được coi như tối cao hơn năm đức của Khổng Giáo, hơn sự rối rắm siêu hình của thế giới quan cổ đại của người Trung Quốc, kể cả hệ thống âm dương, ngũ hành và năm tạng của Y học Lão Giáo. Khái niệm “Hiếu” thể hiện rất rõ trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân (Fumu enzhong jing – the Scripture on profound gratitude toward parent) đặt căn bản trên giáo huấn theo kiểu “24 ân phụ mẫu” của Khổng Tử. Ngụy thư tô đậm hành động cụ thể của người con bất hiếu và thúc đẩy anh ta phải báo đáp cha mẹ, phải hi sinh bằng cách cúng dường tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Loại kinh này là một trong những kinh ngụy tạo phổ biến nhất vào thời Trung cổ.

Luật nghiệp và tái sanh được đề cập ở trên là một chủ đề có khắp mọi nơi hay một hậu cảnh của kinh ngụy tạo. Văn bản được biết một cách phổ biến ví dụ như kinh Thập Điện Diêm Vương (the Shiwang Jing, the Scripture of the Ten Kings) minh họa giáo lý Đạo Phật Ấn Độ cho độc giả Trung Quốc bằng cách mô tả sự thanh tẩy sau khi chết. Sau khi chết, mỗi người phải lần lượt đi qua mười cửa địa ngục, mỗi địa ngục cai quản bằng một phán quan; số phận của của môt người sau khi chết tùy thuộc vào sự xét xử hành động của người đó lúc còn trên trần thế. Địa ngục kiểu phong kiến này là một sự đổi mới để phản chiếu cấu trúc chính trị-xã hội Trung Quốc. Ảnh hưởng rộng khắp của kinh này có thể được chuẩn hóa từ nhiều tranh ảnh, đá điêu khắc và tượng về Thập Điện Diêm Vương- với chuẩn mực trang phục, mũ mão truyền thống của các quan chức Trung Quốc- tất cả thấy ở nhiều nơi trong thời Trung cổ.

Các kinh ngụy tạo là sản phẩm ở những không gian và trong những thời gian đặc biệt, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi có sự phê phán tình trạng tôn giáo đó, hay sư phê phán toàn thể xã hội, cả cấp quốc gia mà chính sách của nó đã thực hiện đối với Đạo Phật. Những phê phán như thế đã thường thể hiện trong khái niệm về thuyết Mạt Thế gọi là Thời Mạt Pháp truyền vào từ các nguồn Ấn Độ.. Kinh Nhân Vương (Renwang Jing, Humane King sutra) mô tả sự thoái hóa tất cả các tầng lớp xã hội, thiên tai, dịch bệnh, quyền kiểm soát đất nước, sự suy đồi biến dạng Đạo Phật, buông lơi giới luật của Phật tử. Giải pháp được đề xuất cho khủng hoảng này là sự hoàn thiện Tuệ giác (trí huệ bát nhã), cái được tin là có thể khôi phục trật tự tôn giáo xã hội và ngay cả bảo vệ được sự diệt vong của đất nước. Kinh được phổ biến rộng trong thời Trung cổ của khu vực Đông Á, đặc biệt là trong giới cầm quyền ít nhất cũng là vì nó cũng khẳng quyết về việc bảo vệ quốc gia. Kinh Tỳ kheo Nguyệt Quang (Shoulo biqiu Jing – Scripture of Bhiksu Shoulo) đưa ra một giải pháp khác cho thời Mạt Pháp: Nó tiên tri một đấng cứu thế xuất hiện, Nguyệt Quang, vào lúc khủng hoảng và suy đồi đã đến lúc cực điểm. Một thông điệp cứu thế như vậy dĩ nhiên không thể không có cội nguồn từ Phật Giáo Ấn Độ- giáo phái thờ phật tương lai Di Lặc là một ví dụ- nhưng sự đề xuất một đấng cứu thế trong thế giới hiện tại có thể dễ bị giải thích như một sự lật đổ chính trị và là một thách thức cho nhà cầm quyền của chế độ thế tục. Kinh này là một kinh ngụy tạo đã bị thất lạc được tìm thấy tại Đôn Hoàng 1400 năm sau lúc có bằng chứng là nó được sáng tác.

Phần bài viết tới đây chỉ chạm đến một phần rất nhỏ câu chuyện về Kinh Phật Giáo ngụy tạo. Ngay cả khi đã được làm rõ, Kinh ngụy tạo vẫn chiếm chỗ quan trọng trong lịch sử Phật Giáo như một sự đổi mới và thích nghi để nối liền văn bản từ truyền thống Phật Giáo Ấn Độ với tôn giáo, văn hóa, xã hộ bản địa Trung Quốc. Tuy vậy chúng cũng cung cấp tài liệu vật chất cho các nghiên cứu liên văn hóa và nghiên cứu đối chiếu các thánh điển, các kinh trong các truyền thống tôn giáo khác nhau.

Chú thích của người dịch
[1] Trí Di (chữ Hán: 智顗; Wade-Giles: Chih-i; 538 – 597) được coi là Tổ thứ tư của Thiên Thai tông; đệ tử của Huệ Tư, Tổ thứ ba của Thiên Thai tông.
Ông tu trên núi Thiên Thai thuộc tỉnh Chiết Giang 22 năm cho đến khi mất để nghiên cứu Phật học. Tùy Dưỡng Đế đã ban cho ông danh hiệu Trí Giả, nên ông được người đời tôn xưng là Trí Giả đại sư hay Thiên Thai đại sư.
Hầu hết các sách tiếng Việt đều phiên tên ông là “Trí Khải“. Tuy nhiên tên đúng của ông phải là Trí Di. Encyclopædia Britannica (Từ điển Bách khoa Britannica) đã viết rõ về vấn đề này như sau, trong mục từ Chih-i:
Pinyin Zhiyi, also called Chih-k’ai Buddhist monk, founder of the eclectic T’ien-t’ai (Japanese: Tendai) Buddhist sect, which was named for Chih-i’s monastery on Mount T’ien-t’ai in Chekiang, China. His name is frequently but erroneously given as Chih-k’ai.

Source:
– Apocrypha by Kyoto Tokuno,
Encyclopedia of Buddhism (Editor in Chief: Robert E. Buswell.Jr)


The term apocrypha has been used in Western scholarship to refer to Buddhist literature that developed in various parts of Asia in imitation of received texts from the Buddhist homeland of India. Texts included under the rubric of apocrypha share some common characteristics, but they are by no means uniform in their literary style or content. Apocrypha may be characterized collectively as a genre of indigenous religious literature that claimed to be of Indian Buddhist pedigree or affiliation and that came to acquire varying degrees of legitimacy and credence with reference to the corpus of shared scripture. Some apocrypha, especially in East Asian Buddhism, purported to be the BUDDHAVACANA (WORD OF THE BUDDHA) (that is, sutra) or the word of other notable and anonymous exegetes of Indian Buddhism (Sa stra). Others claimed to convey the insights of enlightened beings from India or of those who received such insights through a proper line of transmission, as in the case of Tibetan “treasure texts” (gterma) that were hidden and discovered by qualified persons. Still others were modeled after canonical narrative literature, as in the case of apocryphal JA TAKA (birth stories of the Buddha) from Southeast Asia. Thus, what separates apocrypha from other types of indigenous Buddhist literature was their claimed or implied Indian attribution and authorship. The production of apocryphal texts is related to the nature of the Buddhist CANON within each tradition. The Chinese and Tibetan canons remained open in order to allow the introduction of new scriptures that continued to be brought from India over several centuries, a circumstance that no doubt inspired religious innovation and encouraged the creation of new religious texts, such as apocrypha. The Pali canon of South and Southeast Asia, on the other hand, was fixed at a relatively early stage in its history, making it more difficult to add new materials.

The above general characterization offers a clue as to the function and purpose of apocrypha: They adapted Indian material to the existing local contexts—be they religious, socio cultural, or even political—thereby bridging the conceptual gulf that otherwise might have rendered the assimilation of Buddhism more difficult, if not impossible. The perceived authority inherent in the received texts of the tradition was tacitly recognized and adopted to make the foreign religion more comprehensible to contemporary people in the new lands into which Buddhism was being introduced. Indeed history shows that some apocryphal texts played seminal roles in the development of local Buddhist cultures as they became an integral part of the textual tradition both inside and outside the normative canon. But not all apocrypha were purely or even primarily aimed at promoting Buddhist causes. Some Chinese apocrypha, for example, were all about legitimating local religious customs and practices by presenting them in the guise of the teaching of the Buddha. These examples illustrate that the authority of SCRIPTURE spurred literary production beyond the confines of Buddhism proper and provided a form in which a region’s popular religious dimensions could be expressed in texts.

Of the known corpus of apocrypha, the most “egregious” case may be East Asian Buddhist apocrypha that assumed the highest order of Indian pedigree, by claiming to be the genuine word of the Buddha him- self. Naturally their claims to authenticity did not go unnoticed among either conservative or liberal factions within the Buddhist community. During the medieval period these texts became objects of contempt as well as, contrarily, materials of significant utility and force in the ongoing signification of Buddhism.

Thus Chinese Buddhist apocrypha epitomize the complexity of issues surrounding the history, identity, and function of Buddhist apocrypha as a broader genre of Buddhist literature.

Chinese Buddhist apocrypha

Chinese Buddhist apocrypha began to be written al- most contemporaneously with the inception of Buddhist translation activities in the mid-second century C.E. According to records in Buddhist CATALOGUES OF SCRIPTURES, the number of apocrypha grew steadily every generation, through at least the eighth century. Most cataloguers were vehement critics of apocrypha, as can be gauged from their description of them as either “spurious” or “suspected” scriptures, or from statements that condemned these scriptures as eroding the integrity of the Buddhist textual transmission in China. Despite the concerted, collective efforts of the cataloguers and, at times, the imperial court to root out these indigenous scriptures, it was not until the compilation of the first printed Buddhist canon, the Northern Song edition (971–983), that new textual creation waned and eventually all but ceased. The production of apocrypha in China was thus a phenomenon of the manuscript period, when handwritten texts of local origin could gain acceptance as scripture and even be included in the canon, the result being an enigmatic category of scripture that is at once inauthentic and yet canonical.

Modern scholarship’s discovery of such “canonical apocrypha” testifies to the complexity and difficulty of textual adjudication as well as to the authors’ sophisticated level of comprehension and assimilation of Buddhist materials. It was never easy for traditional bibliographical cataloguers to determine scriptural authenticity. Success in ferreting out apocryphal texts—especially when the texts in question were com- posed by authors with extensive knowledge of Buddhist doctrines and practice and with substantial literary skill—required extensive exposure to a wide range of Buddhist literature. In addition, the task was at times deliberately compromised—as in the case of the Lidai sanbaoji (Record of the Three Treasures throughout Successive Dynasties; 597)—for no other reason than the polemical need to purge from the canon any elements that might subject Buddhism to criticism from religious and ideological rivals, such as Daoists and Confucians. The Lidai sanbaoji added many false author and translator attributions to apocrypha in order to authenticate those texts as genuine scripture; and once its arbitrary attributions were accepted in a state-commissioned catalogue, the Da- Zhou kanding zhongjing mulu (Catalogue of Scriptures, Authorized by the Great Zhou Dynasty; 695), the Chinese tradition accepted the vast majority of those texts as canonical. The Kaiyuan shijiao lu (Record of Sakyamuni’s Teachings, Compiled during the Kaiyuan Era;

730)—recognized as the best of all traditional catalogues—was critical of both these predecessors, but even it was unable to eliminate all these past in- accuracies due in part to the weight of tradition. Canonical apocrypha are therefore ideal examples of the clash of motivations and compromises reached in the process of creating a religious tradition. These apocrypha thus added new dimensions to the evolv- ing Buddhist religion in China due in part to their privileged canonical status, but also, more importantly, because of their responsiveness to Chinese religious and cultural needs.

There are some 450 titles of Chinese apocryphal texts listed in the traditional bibliographical catalogues. In actuality, however, the cumulative number of apocrypha composed in China is closer to 550 when we take into account both other literary evidence, as well as texts not listed in the catalogues but subsequently discovered among Buddhist text and manuscript collections in China and Japan. Approximately one-third of this total output is extant today—a figure that is surprisingly large, given the persistent censorship to which apocrypha were subjected throughout the medieval period. This survival rate is testimony to their effective- ness as indigenous Buddhist scripture and attests to the continued reception given to these texts by the Chinese, even such knowledgeable exegetes as ZHIYI (538–597), the systematizer of the TIANTAI SCHOOL of Chinese Buddhism. The vitality of the phenomenon of apocrypha in China also catalyzed the creation of new scriptures in other parts of East Asia, though to nowhere near the same extent as in China proper.

The extant corpus of apocrypha includes both canonical apocrypha as well as texts preserved as citations in Chinese exegetical works. Apocrypha were also found in the two substantial medieval manuscript collections discovered in modern times. The first is the DUNHUANG cache of Central Asia discovered at the turn of the twentieth century, which included manuscripts dating from the fifth to eleventh centuries. The second is the Nanatsu-dera manuscript canon in Nagoya, Japan, which was compiled during the twelfth century based on earlier manuscript editions of the Buddhist canon. It was discovered in 1990 to have included apocrypha of both Chinese and Japanese origin. The most astonishing historical finding in this canon was the Piluo sanmei jing (The Scripture on the Absorption of Piluo), an apocryphon attested in the bibliographical catalogue compiled by the renowned monk-scholar DAO’AN (312–385), but previously un- known. The Japanese manuscript is the only extant copy of this extremely early Chinese apocryphon. Other findings are no less valuable in ascertaining the overall history of apocrypha: Both the Dunhuang and Nanatsu-dera manuscripts included many titles with no known record in the catalogues, evidence indicating that indigenous scriptural creation was even more prolific than had previously been recognized. More- over, scholars have suggested or identified convincingly some of the Nanatsu-dera apocrypha as Japanese compilations based on Indian texts or Chinese apocryphal materials. Thus the apocrypha extant in Japan serve as witness to the currency and impact of this contested, but obviously useful, material.

Texts and contents

The extant corpus of apocryphal literature defies simple description, as each text has its own unique doctrinal or practical orientation, motive, and literary style and technique. Some of the canonical apocrypha skill- fully synthesized orthodox Buddhist material from India without any apparent indication of their native pedigree; others, however, propagated popular beliefs and practices typical of local culture while including negligible Buddhist elements, save for the inclusion of the word sutra (jing) in the title. The majority falls somewhere between the two extremes, by promoting Buddhist beliefs and practices as the means of accruing worldly and spiritual merit. A few scholars have attempted to make typological classifications of all extant apocrypha, but these remain problematic until the corpus is thoroughly studied and understood in its religious and socio cultural contexts. What follows therefore is a selected review of some of the raison d’être of apocrypha, which are reflected in the ways in which Buddhist teachings are framed and presented.

We will begin with two examples of apocrypha that assembled MAHAYANA doctrine in ways that would support a theory or practice that had no exact counterpart in Indian Buddhism. First, the AWAKENING OF FAITH (DASHENG QIXIN LUN) reconstructed Buddhist orthodoxy by synthesizing three major strands of Indian doctrine—SUNYATA (EMPTINESS), ALAYA VIJNANA (storehouse consciousness), and TATHA GATAGARBHA (womb/embryo of Buddhas)—in order to posit an ontology of mind in which the mind could simultaneously be inherently enlightened and yet subject to ignorance. After its appearance in the sixth century, the Awakening of Faith became perhaps the most prominent example of the impact apocrypha had on the development of Chinese Buddhist ideology, as it became the catalyst for the development of the sectarian doc- trines of such indigenous schools as Tiantai, Huayan, and Chan. The text is also a prime example of the ways in which an indigenous author selectively appropriated and ingeniously synthesized Indian materials in order better to suit a Chinese religious context. Second, the Jin’gang sanmei jing (The Scripture of Adamantine Absorption, or Vajrasamadhi-sutra) is an eclectic amalgam of a wide range of Mahayana doctrine, which sought to provide a foundation for a comprehensive system of meditative practice and to assert the soteriological efficacy of that system. The scripture is also one of the oldest works associated with the CHAN SCHOOL in China and Korea, and is thus historically significant. Unlike other apocrypha discussed else- where in this entry, one study suggests that this sutra is actually a Korean composition from the seventh century (Buswell 1989). This scripture, along with Japanese apocrypha mentioned earlier, is thus a barometer of the organic relationship that pertained between Buddhism in China and the rest of East Asia and demonstrates the pervasive impetus for indigenous scriptural creation throughout the region.

Other apocrypha incorporated local references and inferences in order to better relate certain Buddhist values and stances to the surrounding milieu. PRECEPTS are the bedrock of Buddhist soteriology and figure prominently as a theme among apocrypha, as, for example, in the FANWANG JING (BRAHMA ’S NET SUTRA). This scripture reformulated the Mahayana bodhisattva precepts in part by correlating them with the Confucian notion of filial piety (xiao), a conspicuous maneuver that betrays both the Chinese pedigree of the text as well as its motive to reconcile two vastly different value systems. It also addressed problems arising from secular control over Buddhist institutions and membership—a blending of religious instruction and secular concerns that was not atypical of apocrypha, as we will see again below.

Other apocrypha that have precepts as a prominent theme specifically targeted the LAITY; such texts include the Piluo sanmei jing (The Scripture of the Absorption of Piluo), Tiwei jing (The Scripture of Tiwei), and Chingjing faxing jing (The Scripture of Pure Religious Cultivation). These apocrypha taught basic lay moral guidelines, such as the five precepts, the ten wholesome actions, and the importance of DANA (GIVING), all set within a doctrinal framework of KARMA (ACTION) and REBIRTH. These lay precepts are at times presented as the sufficient cause for attaining buddhahood, a radically simplified PATH that is no doubt intended to encourage the participation of the laity in Buddhist practice. These precepts are also often presented as being superior to the five constant virtues (wuchang) of Confucianism, or to any of the tangible and invisible elements of the ancient Chinese worldview, including the cosmological network of yin and yang, the five ma- terial elements, and the five viscera of Daoist internal medicine. The idea of filial piety is most conspicuous in the Fumu enzhong jing (The Scripture on Profound Gratitude toward Parents), which is based on the Confucian teaching of “twenty-four [exemplary types of] filial piety” (ershihsi xiao). The text highlights the deeds of an unfilial son and exhorts him to requite his parents’ love and sacrifice by making offerings to the three JEWELS (the Buddha, the dharma, and the SANGHA). The scripture has been one of the most popular apocrypha since the medieval period.

The law of karma and rebirth mentioned above is a ubiquitous theme or backdrop of apocrypha. The text commonly known as the Shiwang jing (The Scripture on the Ten Kings) illustrated the alien Buddhist law to a Chinese audience by depicting the afterlife in purgatory. After death, a person must pass sequentially through ten hell halls, each presided over by a judge; the individual’s postmortem fate depended on the judges’ review of his or her deeds while on earth. This bureaucratization of hell was an innovation that mirrored the Chinese sociopolitical structure. This scripture’s pervasive influence can be gauged from the many paintings, stone carvings, and sculptures of the ten kings—typically garbed in the traditional attire and headgear of Chinese officials—that were found in medieval East Asian Buddhist sites.

Given that apocryphal scriptures were products of specific times and places, it is no surprise that they also criticized not only the contemporary state of religion but also society as a whole, and even the state and its policies toward Buddhism. Such criticisms were often framed within the eschatological notion of the DECLINE OF THE DHARMA, which was adapted from Indian sources. The RENWANG JING (HUMANE KINGS SUTRA) described corruption in all segments of society, natural calamities and epidemics, state control and persecution of Buddhism, and the neglect of precepts by Buddhist adherents. The suggested solution to this crisis was the perfection of wisdom (prajña paramita ), whose efficacy would restore order in religion and society and even protect the state from extinction. The scripture was popular in medieval East Asia, especially among the ruling class, not least because of its assertion of state protection. The Shouluo biqiu jing (The Scripture of Bhiks u Shouluo) offered a different solution to eschatological crisis: It prophesized the advent of a savior, Lunar-Radiant Youth, during a time of utter disorder and corruption. Such a messianic message is of course not without precedent in Indian Buddhism—the cult of the future Buddha MAITREYA is the ubiquitous example—but the suggestion of a savior in the present world might easily be construed as politically subversive, and as a direct challenge to the authority of the secular regime. This scripture is one of those lost apocrypha that was discovered among the Dunhuang manuscript cache some fourteen hundred years after the first recorded evidence of its composition.

The preceding coverage has touched upon only a small part of the story of Buddhist apocrypha. Even this brief treatment should make clear, however, that apocrypha occupy a crucial place in the history of Buddhism as a vehicle of innovation and adaptation, which bridged the differences between the imported texts of the received Buddhist tradition and indigenous religion, society and culture. As such, they also offer substantial material for cross-cultural and comparative studies of scripture and canon in different religious traditions.

See also:
Daoism and Buddhism; Millenarianism and Millenarian Movements

Bibliography

Buswell, Robert E., Jr. The Formation of Ch’an Ideology in China and Korea: The Vajrasamadhi-Sutra, a Buddhist Apocryphon. Princeton, NJ: Princeton University Press, 1989.

Buswell, Robert E., Jr., ed. Chinese Buddhist Apocrypha. Honolulu: University of Hawaii Press, 1990.

Jaini, Padmanabh S., and Horner, I. B. Apocryphal Birth Stories (Paññasa-Jataka), 2 vols. London: Pali Text Society, 1985.

Kapstein, Matthew T. The Tibetan Assimilation of Buddhism: Conversion, Contestation, and Memory. Oxford: Oxford Uni- versity Press, 2000.

Makita, Tairyo. Gikyo kenkyu (Studies on Suspect Scriptures).Kyoto: Kyoto Daigaku Jinmon Kagaku Kenkyu sho, 1976.

Makita, Tairyo , and Ochiai, Toshinori, eds. Chugoku senjutsu kyoten (Scriptures Composed in China); Chugoku Nihon sen-jutsu kyoten: kanyaku kyoten (Scriptures Composed in China and Japan, Scriptures Translated into Chinese [Extractions]); and Chugoku Nihon senjutsu kyoten: senjutsusho (Scriptures and Commentaries Composed in China and Japan). Nanatsu-dera koitsu kyo ten kenkyu sosho (The Long Hidden Scriptures of Nanatsu-dera, Research Series), Vols.1–5. Tokyo: Daito Shuppansha, 1994–2000.

Mochizuki, Shinko. Bukkyo kyo ten seiritsushi ron (Study on the Development of Buddhist Scriptures). Kyoto: Ho zo -kan,1946.

Orzech, Charles D. Politics and Transcendent Wisdom: The Scrip- ture for Humane Kings in the Creation of Chinese Buddhism. University Park: Pennsylvania State University Press, 1998.

Teiser, Stephen F. The Scripture on the Ten Kings and the Making of Purgatory in Medieval Chinese Buddhism. Honolulu: University of Hawaii Press, 1994.

Tsukamoto, Zenryu . Tsukamoto Zenryu chosakushu , Vol. 2: Hokucho bukkyo shi kenkyu (Collected Works of Tsukamoto Zenryu , Vol. 2: Studies on the Buddhist History of North- ern Dynasties). Tokyo: Daito Shuppansha, 1974.

Yabuki, Keiki. Meisha yoin: kaisetsu (Echoes of the Singing Sands: Explanations). Tokyo: Iwanami Shoten, 1933.

Zürcher, Erik. “Prince Moonlight: Messianism and Eschatology in Early Medieval Chinese Buddhism.” T’oung-pao 68 (1982), 1–59.

Bài xem thêm:

Sự thật về tam tạng kinh điển

Kinh điển Phật giáo thực và hư

.


26 phản hồi on “– Kinh ngụy tạo (Apocrypha)”

  1. Lam Trần nói:

    Có điều nực cười nếu là tác giả nước ngoài thì trang mạng Việt hồ hởi đưa tin như một phát hiện độc đáo, nhưng những bài viết tương tự và không kém phần giá trị của người Việt lại bị mạt sát. Ví dụ Thích Thông Lạc có một vài bài thuyết pháp nói về tính Bà-la-môn trong một số hệ phái Phật giáo thì bị tỳ kheo Thích Nguyên Hải viết nguyên một cuốn sách “Đối Thoại Với Thầy Thích Thông Lạc” đả phá và quy chụp nặng nề và nhiều trang web Việt đăng lại. Điều đáng nói hơn cuốn sách ấy lại là cuốn sách sao chép nhiều đoạn từ sách khác không ăn nhập mấy đến chủ đề cho dài ra để chứng minh mình uyên bác và lập luận hết sức thô thiển, thậm chí trích từ kinh bị nghi là ngụy tạo. Đọc kỷ hơn sẽ thấy cuốn sách của Thích Nguyên Hải sao chép đầy ý thức hệ Bà-la-môn giáo đang ô nhiễm Phật giáo.
    Vậy Thích Thông Lạc hay Thích Nguyên Hải là tội đồ của Phật. Theo tôi, tu như Thích Nguyên Hải uổng cơm của chúng sinh quá, làm nhục Phật tổ quá khi tuyên xưng là con Phật.
    Trang Web Hoàng Thần Tài Nhược Thủy lại ngụy biện để tiếp tục lừa Phật từ bán đồ phong thủy, nhiều trang web khác cũng vậy để bọn tăng ni làm hia2u. Hiện nay giàu có như tăng ni dân đen thèm chết được.

    • phuocphant nói:

      Có đọc qua vài bài về thầy Hải và thầy Lạc.
      Cả 2 thầy đều sai và chưa giác ngộ.
      thầy Hải: chỉ cần nói câu 84000 pháp môn là bân sinh đủ kết luận là phàm phu.
      thầy Lạc: tuyên bố chỉ có thầy là A la hán từ lúc Phật nhập diệt là đủ kết luận là phàm phu. Có xem qua vài bài giảng của thầy thấy thầy giảng cũng chưa đúng nhiều thứ. Vả lại, tuy thầy chê Đại Thừa nhưng chê không biết cách chứng minh nên không hiệu quả. Các bạn nào theo thầy Lạc nên cẩn thận mà tìm hiểu những gì ngoài thầy đã giảng (tìm hiểu các thầy Nguyên Thủy khác). Bần sinh thấy chưa hợp lý nhiều chuyện, nói ra mất nhiều thời gian mà cũng ko phải là trách nhiệm của bần sinh. Cẩn thận vẫn hơn. Bần sinh ko tin vào thầy nào cả, ngay cả Kinh Nguyên Thủy, chỉ tin ở chính mình.

      • Trương Triết Học nói:

        Hi hi … Thế thì sư Dung ở Ninh Bình đủ 84.000 pháp môn trụy lạc. Đi xe canry, nhậu thịt chó, chơi gái, … Đủ 84.000 pháp môn này nên được làm phó ban trị sự tỉn Nin Bình Hi hi hi … Này Phuocphant cho dấu tội lỗi làm hũy hoại Phật pháp cũng sa vào tội Ngũ Nghịch như Đề-bà-đạt-đa đấy. Hối ngay kẽo muộn.
        Nói Thích Thông Lạc nói sai mà ko6ng chứng minh được sai cỗ nào là ngụy ngôn, cũng là đại trọng tội.
        Mô Phật, chẳng lẽ tôi phải hàng ngày tụng kinh cầu siêu cho tội vong của bạn sau này

  2. Lam Trần nói:

    Có 3 cơ duyên ngụy tạo kinh
    – Muốn nói điều mình muốn nhưng không đủ uy tín nên mượn danh Phật để lừa
    – Bọn Bà-la-môn cải đạo mang tư tưởng cũ thâm nhập vào
    – Bọn tăng xấu tạo huyền hoặc để lừa tín đồ làm giàu

    • phuocphant nói:

      Nếu xét cẩn thận thì Kinh giả Đại Thừa như Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm vẫn có tạo được Nghiệp Thiện khi tu hành theo nhưng cái thiện chỉ là cái tiềm năng của đau khổ, chỉ có vượt qua thiện thì mới xứng đáng là hạnh phúc chân thật.
      Các nhà Đại Thừa cũng đã thành công gieo vào tâm thức chúng sinh hạt giống Phật, để thời đại này những nhà Nguyên Thủy nên hướng họ về cội nguồn.
      Đó cũng chính là ý nghĩa Bồ Tát.
      Còn những loại Kinh giả gây tai hại, kích tham sân si thì phải dẹp trừ không thương tiếc.
      Bần sinh ko lo về Đại Thừa mà có tu thiền mà bần sinh lo cho những đạo hữu tịnh độ tông, họ quá là bướng bỉnh sai lầm, rất thương họ nhưng chả biết cách nào tốt nhất bởi Tịnh Độ Tông là đạo God chứ không khác gì. Những trò mê tín, lố lăng trong Phật giáo đều do Tịnh Độ mà ra.
      Cho nên khi viết bài thì đừng xem họ như kẻ thù, ngoại đạo mà cải tạo họ bằng giải thích chứng minh.

      • Trương Triết Học nói:

        Chẳng hạn như “nói đến tăng ni là bị đạo dđịa ngục là cách gieo tâm thức Phật của ma tăng”. Có tiền được tụng kinh thì về Tây Phương Cực Lạc nghèo quá thì xuống địa ngục vì tâm thức được gieo phải là “cân tu” tụng mới hiệu quả, mà chân tu gì xe tay ga, phòng máy lạnh, tắm bồn, tiền vàng đầy túi ….
        Ôi tâm thức Phật của Phuocphant sao mà làm khổ chúng sin thế

      • Trương Triết Học nói:

        Phật dạy là quán tính để giác ngộ tức thấy Phật tính (phật nghĩa là sáng suốt), nhưng Hoa Nghiêm và Liên Hoa ru ngũ chúng sinh vào mê đạo được kiếp lai sinh hoan lạc ở Tây Phương và Đao Lợi (tức là tham trong Tam độc), Thế thì thuốc độc chúng sinh rồi còn gì.
        Lại nữa dựa vào đó bọn ma tăng làm tiền thiên hạ: cúng ngọ 500 k đưa đám 3 triệu.
        Nhà tôi thei Phật giáo nên đưa hủ cốt mẹ tôi vào chùa bị ra giá rất Phật pháp kiểu Phuocphant: :Con cúng dường 10 triệu đi”. Ôi cúng dường cũng có giá như chợ trời thế hay sao Phuocphant
        Đừng bịt ắt trước sự thực xã hội mà có hại cho chính pháp phải tội rất nặng. Chính vì duyên cớ này mà ở Hàn Quốc Phật tử cải sang Tin Lành gần hết. Chính vì thế ông bà nói “thích tử phá thích gia”, biện minh cho chúng cũng là đồng phạm.
        Thích Phước San có dẫn một câu nói của ông bà “Năm lừa mười lọc mới trọc cái đầu” để lên án bọn người mà Phuocphant đang ngụy biện làm hại Phật Pháp. Hối ngay kẽo bị đạo

  3. Lam Trần nói:

    Đã là đạo Phật thì phải nghe Phật vô úy. Những gì không thích nghe thì xóa như trang wev Hoàng Thần Tài và nhiều trang web ngụy xưng Phật giáo khác
    Ai cũng có quyền tranh luận mới là chánh tư duy.
    Hi hi Nhược Thủy, Chánh Nguyên và nhiều tên nữa là quỷ đầu trọc phá đạo

  4. Lam Trần nói:

    Mê hoặc chúng sinh làm giàu là một tội
    Phật không nói mà viết thành kinh là hai tội
    Những tội này là tội ngũ nghịch, thế mà Nhược Thủy ngụy biện là tiếp biến theo xã hội
    Thế thì nguy quá. Cho mấy tên này xuống a=tỳ một vạn kiếp

    • phuocphant nói:

      Thật ra thì chả có tội lỗi gì đâu, chỉ là tạo Nghiệp thiện hay ác. Ví dụ: viết Kinh giả mà có ý muốn dụ chúng sinh tin Phật cho nhiều để giúp chúng sanh theo Phật thì là nghiệp thiện. Còn viết kinh giả để phỉ báng Nguyên thủy tự cho mình là hơn Phật, phá hoại đạo phật thì là Nghiệp xấu. Nghiệp xấu tùy theo điều kiện mà trổ quả chưa chắc đọa địa ngục gì đâu.
      Bần sinh biết nhiều người vì lười lao động nên núp vào Phật giáo, tôn giáo khác để moi tiền tín đồ chứ họ không có ý muốn theo tâm linh, giác ngộ chẳng hạn.
      Có người vì sợ Thần Linh nên theo tôn giáo.
      Cũng như nhiều người biết God là không có nhưng vẫn làm linh mục vì họ thích như vậy.
      Cũng như bây giờ có nhiều thầy biết Kinh giả Đại Thừa nhưng vẫn sợ thiên hạ chửi và mất chức nên ko dám hó hé. Tội cho dân của mình chẳng biết A di đà là thật hay giả, nhà nào cũng có bàn thờ lạy lạy…cúng kiếng tùm lum.
      Con két. máy hát đĩa niệm Nam mô A di đà Phật thì vãng sanh cực lạc ra sao? công đức như thế nào? Thiệt hết biết.

      • ket nói:

        phuocphant viết bài với lý lẽ thật không chê được tý nào!

        • Xuân Tân nói:

          thật sự thì người theo đúng con đường Phật Pháp hay không thì tùy vào duyên phước của người đó,còn việc xấu tốt cũng sẽ có nhân quả chi phối,các bạn ko nên vì chuyện này mà động tâm,chưa kể đến bình phẩm người khác làm cho thêm phiền não,ko lợi cho người mà còn hại cho bản thân.Vậy nên mong các bạn chỉ ghi nhận mọi hành động và tùy duyên mà giúp đỡ theo phương diện góp ý nhẹ nhàng,hiệu quả sẽ cao hơn nhiều.

        • Trương Triết Học nói:

          Hi hi …. một lần ngụy biện nữa cho ma tăng Phuocphant à.
          Nè đồi bại của bọn ma tăng có thể đọc ở các bài văn bút của ni sư Diệu đả phá sự thối nát trong chùa chiềng như bài “Lời Than Phiền Của Một Cô Vải” (Từ Bi Âm 27, 1933), “Cái Án Ngụy Truyền Chánh Pháp” (Từ Bi Âm 73, 1935), … Hay những cây bút nối gót ít nổi tiếng hơn như ni cô Diệu Minh với bài “Vấn Đề Hoằng Dương Phật Pháp Bên Nữ Giới” (Từ Bi Âm 116-118, 1936), “Cái Tu Sơn Lâm Với Cái Tu Thành Thị” của nữ cư sĩ Tâm Đăng (Từ Bi Âm 133, 1937), …

          Hay Đời Sư Sãi của nhóm Nhất Linh

      • nguyễn danh chung nói:

        anh ơi xin cho em hỏi với bài viết của anh em thấy hay quá nhưng em chưa rành lắm nên muốn anh chỉ giúp xin cảm ơn anh lien hẹ cho em. chung 01668076171

      • Trương Triết Học nói:

        Viết kin giả hay làm bất cứ việc gì đều có mưu đồ đen tối vì giả là vậy mà. Ví dụ hàng giả là hàng độc hại hay kém chất lượng, ko thế thì giả làm gì. Bọn làm kin giả chẳng “dụ” chúng sin tham hư “cúng chùa làm ăn khá” (hóa ra Phật đòi hối li65 à) hay sẽ lên trời hưởng một thế giới đầu dục lạc, rồi lại “dọa” ai không nghe thì xuống địa ngục chịu khổ ải.
        Biện pháp dụ và dio5a này Hồi giáo cực đoan làm nhiều rồi: ai đán bom liều chết sẽ lên trời có các trinh nữ chiều cuộng, không thì bị xuống địa ngục bằng cách chúng chặt đầu.
        Ôi, cứ theo Phuocphant thì Phật giáo sẽ thành ma giáo mất, chúng sinh sẽ thêm thứ thuế cúng dường (nghĩa là không tùy hỉ mà bắt buộc),
        Tôi tin là Phật không dung thứ điều đó đâu bạn

  5. anhtu0911 nói:

    ay da, các bạn nói về Đại Thừa nặng quá, nhất là Amitabha phật, đây chỉ là ý kiến của mình:

    Phật giáo Đại Thừa cũng được coi là Phật giáo phát triển vì sau khi Đức Phật Thích Ca nhập diệt thì có những giai đoạn mà Phật giáo bị suy yếu, các đạo khác xâm lấn thậm chí phá hoại Đạo Phật. Những tãng sĩ thời đó có những người có tư tưởng phát triển muốn hoằng dương Phật pháp và hệ thống hóa các tư tưởng của Phật giáo thành các bộ kinh lớn Pháp Hoa, kinh Duy Ma Cật, Kinh Thủ Lăng Nghiêm … Ngoài ra còn có Trung Quán Luận của ngài Long Thọ, Đại Trí Độ luận … Đó là những tư tưởng rất uyên thâm mà nếu không phải là các bậc trưởng lão, các vị tổ hay những người đã kiến tánh thì không thể nào viết ra nổi. Tuy là có mượn danh của Phật Thích Ca nhưng không ngoài tư tưởng của Phật, chỉ là “tùy duyên bất biến” thay đổi hình thức để phù hợp với các văn hóa bản địa khác. Ví như ở Tây Tạng ngày xưa không dễ truyền bá đạo Phật vì dân chúng ở đó thường theo các đạo phù thủy, bùa ếm, cầu nguyện … Nếu chỉ thuyết Pháp đơn thuần thì dân chúng sẽ không tin theo vì vậy Mật Tông đã phát triển ở Tây Tạng, không những thế mà Mật Tông đã bảo lưu được kinh điển qua các thế hệ mà vẫn giữ nguyên tiếng Phạn. Cũng nhờ Phật Giáo Đại Thừa mà Phật giáo đã phát triển ra các quốc gia trên toàn thế giới trong đó có Trung Quốc và Việt Nam.

    Mình rất đồng ý và coi trọng Phật giáo Nguyên Thủy vì là chính xác những lời Phật nói trong suốt thời gian Phật Thích Ca thuyết pháp, nhờ đó chúng ta có thể đối chiếu lại mà không bị sai lạc. Và nhất là Thiền Minh Sát (vipassana) đó quả thật là cách tu chân thật của Phật Thích Ca, tất cả các pháp môn khác đều cũng hướng dẫn hành giả đến minh sát tuệ như pháp môn Quán Âm tuy nhiên do căn tánh của chúng sinh sai biệt nên các pháp môn Đại Thừa nói riêng cũng có rất nhiều cách tu để chuyển hóa tâm.

    Cũng xin nói thêm là trong Đại Tạng Kinh Đại Thừa cũng có các kinh tạp A hàm là những kinh như kinh Nguyên Thủy vì thế Đại Thừa vẫn bao hàm cả Nguyên Thủy, thêm vào đó Đạo Phật có thêm các phương tiện thiện xảo để hoằng hóa chúng sinh. Tam giới duy tâm , vạn pháp duy thức, nên các hình ảnh của các chư Phật hay Bồ Tát đưa vào tâm thức có năng lực bất khả tư nghì, có khả năng tiêu trừ vọng tưởng, và cũng nhờ đó gieo được chủng tử của Phật pháp vào tâm thức và tạo duyên cho tương lai chúng ta có cơ hội tu tiếp đến ngày thành Phật. Nếu để ý sẽ thấy các danh xưng của các chư Phật, Bồ Tát đều là những hạnh mà người tu phải nương theo và hành trì hay ẩn ý hơn như Địa Tạng Vương Bồ tát, A Di Đà Phật (Amitabha)… Như Mật Tông hay Thiền Tông đều có những cách tu đốn ngộ có thể giác ngộ trong một đời như Đại Thủ Ấn, Sáu pháp du già, Thiền đốn ngộ của Tổ Sư như Lâm Tế, Tào Động hay Thiền Trúc Lâm Việt Nam …

    Nhân đây mình cũng xin nói thêm về Tịnh Độ: Phật A Mi Đà ( mình gọi là A Mi Đà vì đồng âm tiếng Phạn hơn và chỉ có Việt Nam mói gọi là A Di Đà) hay Địa Tạng Vương Bồ tát là hình tượng biểu trưng cho chân tâm. A Mi Đà là vô lượng quang, vô lượng thọ, vô lượn công đức… đó là cái dụng vô biên của chân tâm hay Phật tánh có sẵn trong mỗi chúng sinh. Vì vậy trong các pháp quán của Mật Tông đều hướng về A Mi Đà Phật và xem Phật A Mi Đà là vị Phật nổi bật nhất trong các vị Phật, “ngài chính là diệu thể, dể tất cả quay về quy y và nương tựa”. Còn cõi Cực Lạc của Phật A Mi Đà để cho người tu quán tưởng hướng về vì ở thế gian không đâu sánh bằng vì vậy sanh tâm yểm ly Ta bà, từ đó không còn cái gì ở thế gian có thể níu kéo họ nữa, thì cũng như tự nhiên lìa bỏ ái dục, nhất tâm niệm Phật nên trừ được các vọng tưởng (nhất là khi lâm chung một lòng quán tưởng và niệm danh hiệu của ngài), tuy là cảnh giới của tâm nhưng là cảnh giới có thọ mạng vô lượng, ánh sáng vô lượng và tùy theo công phu niệm Phật mà đạt phẩm vị cao hay thấp. Địa ngục hay Thiên đàng là do tâm tạo vì vậy cảnh giới của Phật A Mi Đà thì thù thắng, thọ mạng vô lượng, đẹp đẽ, đầy đủ công đức, không bị đọa lạc… là một cảnh giới đáng mong cầu về. Đó là nói về kiếp sau, khi bỏ báo thân này, còn tu hiện tại thực ra có Kinh Niệm Phật Ba la mật, kinh Quán Vô Lượng Thọ hướng dẫn người tu niệm Phật và 16 phép quán để được nhất tâm bất loạn thì được định, có định thì sinh tuệ có thể giác ngộ. Nhưng do ngày nay người tu theo Tịnh Độ càng ngày càng tu đơn giản chỉ có niệm danh mong về Cực Lạc và cũng không mấy thực hành các phép quán và niệm Phật cho nhất tâm bất loạn, chỉ cần tín, hạnh, nguyện nên nhiều khi thấy người niệm Phật mà không hiểu nhiều Phật pháp, càng tu càng ngạo mạn …
    Công bằng mà nói trong kinh Lăng Nghiêm thì hai mươi lăm vị Bồ Tát nói lên cách hành trì của mình mà đạt đạo và vị nào cũng nói pháp môn của mình là đệ nhất, tuy nhiên trong đó có Niệm Phật Viên Thông của Đại Thế Chí Bồ tát và Quán Âm Viên Thông của Bồ tát là hiệu quả và phổ biến. Ngoài ra nếu pháp môn nào hợp với mình nhất thì đó là đệ nhất.

    tham khảo thêm:

    ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ LÀ AI ?
    http://duylucthien.wordpress.com/2011/02/19/d%e1%bb%a9c-ph%e1%ba%adt-a-di-da-la-ai/

    • Hoahong nói:

      Bạn Anhtu0911 thưa bạn Phật Giáo đã phát triển mạnh mẽ QT trước khi đại thừa ra đời, do công của phái Nhất Thiết Hữu Bộ, sau này đại thừa vô hoạt động chính trị kết với vua quan và ra nhiều tác phẩm, thuyết Pháp mang tính cách nhục mạ Nhất Thiết Hữu Bộ là “Tiểu Thừa” miệt thị, làm cho người dân bán tín bán nghi, rồi dần theo Đại Thừa hết, vì nghĩ rằng tu thì tu cái to, cái lớn, cái Đại chứ ai mà tu tiểu thừa, dần về sau Nhất Thiết Hữu Bộ vắng mặt trên thế gian này, chính bộ kinh A Hàm là của nhất thiết hữu bộ, từ “hinayana Tiểu Thừa ” không riêng gì gắn cho NTHB mà còn gắn cho những phái khác không theo quan điểm của Đại thừa, từ hinayana là cái từ miệt thị, nhục mạ người ta, nó nghĩa là ích kỷ, hẹp hoài, nhỏ mọn, chỉ biết tự độ chứ không độ tha. Đó là cách hành đạo chà xát lên người để mà tồn tại.
      Còn xét về thời nay, bất cứ một nước Phương tây nào hễ các nhà sư Nguyên Thuỷ Đong Nam Á, tới dọn đường cho sẵn, ông Đại Thừa đổ bộ tới rót vào những cái tri kiến của Đại Thừa. Như vậy đại thừa có mặt trên thế gian này là có công truyền bá Phật Giáo khắp Năm Châu ư ???

      • Trương Triết Học nói:

        Lý tưởng Đại Thừa lúc khởi nguyên là tốt, nhưng sau đó bị bọn tăng phiệt thích thụ hưởng lạm dụng.
        Không ai phê phán Đại Thừa Hay Tiểu Thừa theo đúng chánh pháp cả, mà phê phán bọn làm kinh giả để kinh doanh Phật

  6. Thế nói:

    Tôi có thắc mắc này, mong các cao nhân giải đáp giúp”
    1/ Pháp môn niệm Phật “Nam mô A Di Đà Phật” rất phù hợp với mọi căn cơ, ai hành cũng được cả, cứ niệm niệm như vậy đến độ Nhất Tâm Bất Loạn thì lúc lâm chung sẽ được đức A Di Đà tiếp dẫn về cõi Cực Lạc. Nếu quá đơn giản như vậy thì thời Phật còn tại thế, đức Phật chỉ dạy 1 pháp môn này rồi nhập diệt, chứ cớ sao lại thuyết pháp 49 năm làm gì?? Lại nữa, Cực Lạc là cõi thanh tịnh, an lạc, người ở cõi này cũng thanh tịnh, ko còn tham sân si nữa, vậy lẽ nào chỉ có niệm Nam Mô A Di Đà Phật đến Nhất Tâm Bât Loạn mà diệt được tham sân si mà về Cực Lạc sao?? Sao quá đơn giản vậy?? Nếu mục đích là Tâm phải Nhất Tâm Bất Loạn, nghĩa là lúc đi đứng nằm ngồi Tâm đều nhớ nghĩ đến 6 chữ này, các tạp niệm ko thể xen vào được, thế thì cũng có thể đọc 6 chữ ” A B C D E F” đến Nhất Tâm Bât Loạn cũng được mà, đi đứng nằm ngồi cũng đều nhớ 6 chữ, tạp niệm ko xen vào được, vậy có được vãng sanh ko?? Thật là khó hiểu!!
    2/ Có phải các thầy tổ tu hành giỏi hơn đức Phật ko? Vì chỉ có giỏi hơn nên mới chế và tự biên soạn là những loại kinh khác, có phải vậy ko?

    • Hongngoc Vu nói:

      Lành thay! bạn hỏi y như tôi muốn hỏi vậy, chỉ cần niệm mà được Phật A di đà nào đó rước thì sung sướng thật,các thầy đi tu mần chi từ nhỏ cho cực khổ.cứ tham sân si,dùng mọi cách tham nhũng như các quan chức,mua bán ma túy… tiền bạc đầy túi,hưởng thụ cho thật thỏa mãn rồi để lại cho con cái,còn mình chỉ cần quăng vào ngân hàng một mớ,xây một cái phòng cho ngon lành đầy đủ tiện nghi,suốt ngày ăn ngủ nghĩ trong đó mà niệm hoài thì nhất tâm bất loạn ngay chứ khó khăn CHI ĐÂU MÀ LẠI CÒN GÁN CHO PHẬT THÍCH CA THUYẾT MÀ TỘI CHO NGÀI LẮM LẮM.!!!!

  7. bao son nói:

    nói tóm lại người viết bài này không phải là nhà nghiên cứu hay người tu đạo mà chỉ là một nhà tiêu cực không chụi tìm tòi và không bỏ chấp ngã, hay nói đúng hơn là một người đang nằm trong si mê. tại sao không tìm rỏ nguồn gốc Phật giáo đại thừa xuất phát từ đâu.

  8. Minh Trường nói:

    Thế nói hay quá !! Nhất Tâm Bấn LOẠn sẽ hay hơn , không ngờ đến cả Tôn Giáo mà cũng có thể làm giả được . Xin bái phục !!!!!!!!

  9. Minh Trường nói:

    Bạn Thế đặt vấn đề rất hay . Chính vì thế có thể Niệm A B C được ko sai chút nào cả ,

  10. Tuan Minh nói:

    Những bạn nào không theo Phật hoặc theo Phật mà không dụng công tu hành thì đừng có phán bừa. Cứ dụng công theo một pháp môn nào đó thích hợp rồi sau này hãy nói sau cũng chưa muộn. Phật giáo Nguyên Thủy hay Đại Thừa đều là vi diệu nếu hợp căn cơ. Phật giáo Nguyên Thủy hay Đại Thừa đều là con đường tìm đến giác ngộ và giải thoát. Mình là một phật tử, nếu mình khuyên là theo Phật giáo thì các bạn cũng có thể không tin. Nhưng kết lại: Theo một tôn giáo nào đó còn tốt hơn là Vô thần Vô thánh.

  11. Ngày nay có nhiều người học phật không bằng chánh trí như lời Đức Phật dạy.

    Họ u mê học bằng niềm tin, là cách học của những giáo phái thờ thần khi xưa.

    Do hành nhầm tà pháp nên trí tuệ họ mê mờ, vô minh che phủ dày đặc chẳng còn phân biệt được đúng sai.

    Dưới đây tôi xin chia sẻ những bài luận với một trường hợp trí tuệ đã mê mờ đến cao độ.

    Mời các bạn tham khảo những điểm sai lạc đã được làm sáng rõ để tránh bị hồ đồ như trường hợp này. (tạm thời là hơn 50 điểm, tôi sẽ tiếp tục viết thêm sai lạc của trường hợp này và tổng hợp để thành tư liệu cho mọi người tham khảo).

    Những nội dung sai lạc của Rain Vũ

    1. Bạn cho rằng người tu học có thể vì tác dụng từ bên ngoài mà được giải thoát – điều này trái với lời phật dạy:

    Nhiễm tịnh do ta cả
    Không ai thanh tịnh ai

    Vậy thì cái bạn đang theo không phải phật pháp rồi.

    2. Đức Phật dạy không nên học bằng niềm tin mà phải tự mình thấy và biết nhưng bạn lại bị tư tưởng tà đạo đưa vào con đường học bằng niềm tin.

    Học bằng niềm tin là lối học phật mù quáng không theo bát chánh.

    Học theo bát chánh thì phải dùng chánh kiến thấy đúng, biết đúng mới theo.

    Bạn nên đọc lại lời dạy chân chính của đức phật:

    “”Này các Kālāma, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được Kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì xuất phát từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo Sư của mình. Nhưng này các Kàlàma, khi nào tự mình biết rõ như sau: các pháp này là bất thiện, các pháp này có tội; các pháp này bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàma, hãy từ bỏ chúng!”

    Đó mới là lời dạy chân chính của Đức Phật. Những cái bạn đang theo trái với lời dạy này.

    Điều này lần nữa chứng minh cái bạn theo không phải chánh pháp mà là tà pháp.

    3. Người đã học bằng niềm tin thì không có nghi ngờ, nếu có nghi ngờ thì là chưa tin. Nếu học do nghi khởi thì không phải là học bằng niềm tin.

    Bạn hãy xem lại những gì bạn viết:

    “t hướng họ đến niềm tin nơi tâm , từ tâm sinh huệ”

    Nhưng để lý giải cho câu trên thì câu sau bạn lại viết:

    “tại sao? do nghi khởi, vì do nghi khởi sinh tìm hiểu”

    Vậy là câu trước của bạn mâu thuẫn với câu sau mà bạn lại hồ đồ không nhận ra.

    Như mình đã viết rõ ở trên, học do nghi khởi thì không phải là học bằng niềm tin, bạn hãy tỉnh táo lại.

    Học phật đúng phải phát sinh trí tuệ, vậy nhưng bạn càng học trí tuệ càng mê mờ, vậy là bằng chứng rõ ràng cho thấy cái bạn đang thực hành không phải phật pháp.

    4. Từ “thường niệm” trong kinh nguyên thủy phải hiểu là “thường tâm niệm”, tức là tâm thường khắc ghi những lời phật dạy mà thực hành.

    Vì vậy từ thường niệm trong kinh nguyên thủy nói đến việc nỗ lực tinh tấn hành pháp chứ không phải như bạn hiểu.

    Cách niệm của người theo bắc tông là tụng niệm, tâm vọng tưởng, cầu xin, vì vậy đó không phải chánh niệm mà là tà niệm.

    Cách tụng niệm cầu xin đức phật đã chỉ ra là sai và khuyên chúng ta bỏ:

    “Cả đời nay đời sau

    Không vọng cầu thôi thúc”

    Vậy điều bạn đang theo không phải pháp phật.

    5. Bạn viết “bản chất xưa nay chúng sinh thường tín trước rồi mới đi vào tìm hiểu là sai lạc”

    Như lời phật đã dạy mà mình trích ở trên, không nên học bằng niềm tin, học bằng niềm tin thì sẽ u mê. Đó không phải chánh kiến. Chánh kiến là phải thấy đúng, biết đúng mới tin theo.

    Như Đức Phật đã dạy: “Nếu ông thấy là đúng và có ích thì nên thực hành theo.
    Không nên chỉ vì kính trọng mà tin theo lời dạy của ta”

    Như vậy một lần nữa bạn lại viết trái với lời phật dạy, một lần nữa bạn lại cho thấy bạn không theo chánh pháp mà theo tà pháp.

    6. Phật giáo chân chánh phát triển không liên quan gì tới sự mất hay còn của Balamon giáo cả.

    Phật giáo phát triển đơn giản vì đức phật đã chỉ rõ đúng sai, vạch lớp mây đen cho mọi người thấy sự thật, thấy sự thật rồi mọi người đều theo và vì vậy, phật giáo phát triển.

    Balamon giáo không trụ vững bởi con đường của họ là sai lạc và khi luận pháp với các đệ tử phật đều thất bại, vì vậy tất nhiên không trụ vững

    Bạn viết chỗ này cho thấy cái bạn đang theo không phải phật giáo mà là Balamon giáo đó. Vậy bạn có nên nhìn lại con đường của mình không?

    7. Bạn viết “tất cả chúng ta vẫn chưa có chánh trí” là sai

    Thời nào cũng có người có chánh trí và người u mê.

    Người có chánh trí thì học pháp bằng chánh trí, đó là họ hành theo bát chánh đạo, theo chánh đạo.

    Người u mê thì học bằng niềm tin, đó là hành ngược với bát chánh đạo, là tà đạo.

    Hồ đồ trộn lẫn, đánh đồng chánh đạo và tà đạo chính là mục đích của tà đạo, bởi chúng muốn xen vào phá hoại chánh đạo.

    Vậy bạn một lần nữa thể hiện sự u mê do bị tà đạo đưa đi sai đường.

    8. Bạn đã biết rằng phải tu tập tinh tấn để tự mình chứng thấy sự thật mà không hành pháp tứ diệu đế lại đi cầu xin, đó là bạn không tu tập.

    Bạn không tu tập nên nơi bạn không có chánh trí, bạn lại mang cái không tu tập của bạn ra để nói chung về người hành pháp là bạn đang mê sảng không biết gì tới xung quanh nữa, nghĩ mọi người đều mê như bạn.

    Điều đó một lần nữa cho thấy bạn có tư tưởng đánh đồng của tà pháp, cái bạn đang theo không phải chánh pháp.

    9. Con đường tinh tấn chân chánh thì chính là chánh tin tấn trong bát chánh. Không phải con đường nào cũng là đúng, chỉ có chánh tin tấn mới đúng. Bạn lại đánh đồng tất cả các con đường, kể cả con đường ngược với tứ diệu đế.

    Đức phật đã tuyên rõ chỉ bát chánh đạo mới là đường đưa tới giải thoát giác ngộ.

    Điều này một lần nữa cho thấy bạn đang bị tà đạo đưa đi sai đường.

    10. Bạn cho rằng con đường nào cũng chứng được chánh trí điều này là sai lạc.

    Đức Phật dạy:

    Tu thiền trí tuệ sanh
    Bỏ thiền trí tuệ diệt
    Được mất khéo phân biệt
    Biết rõ đường chánh tà
    Tự nỗ lực theo đà
    Trí tuệ dần tăng trưởng.

    Quan điểm của bạn ngược với phật dạy, vì vậy bạn không phải phật tử chân chánh. Đang bị tà đạo đưa đi nhầm đường mà u mê không thấy.

    11. Bạn hồ đồ không nhận ra cách niệm của bạn, cái bạn cho là thuốc ấy là cách mà các giáo phái thờ thần đã thực hiện từ xưa và đó là điều đức phật bác bỏ.

    Niệm phật theo nguyên thủy không phải là tụng niệm mà là “Tâm tâm niệm niệm”, tức là lúc nào cũng thực hành phật pháp.

    Bạn viết sai về cái hiểu của mình rồi bạn ạ, nhưng điều này cũng không quan trọng.

    Vấn đề quan trọng là bạn đang lúc viết ngược, lúc viết xuôi, chính bạn cũng không hiểu rằng điều bạn viết mâu thuẫn với nhau.

    Ở trên thì bạn thừa nhận tác dụng của tha lực, ở dưới lại bác bỏ tha lực.

    Người theo tịnh độ nghĩ rằng về tịnh độ là cõi thuận tiện cho việc tu tập, về đó rồi họ sẽ tu tập tiếp.

    Tuy nhiên cõi tịnh độ là không có thật và điều này đã được chứng minh rõ. Không thể có chuyện gieo nhân khác nhau mà cùng chuyển về một cõi, điều này trái với luật nhân quả, vì vậy tịnh độ không có thật.

    Niệm phật kiểu của bắc tông không phải cách đúng, như mình đã chứng minh rõ ở trên.

    Những điều này đã được làm rõ trong các link mình đưa bạn tham khảo mà bạn vẫn không đọc, còn viết đi viết lại quan điểm sai lạc.

    Điều này cho thấy bạ thực sự đã u mê vô minh phủ đầy do đi theo tà đạo.

    12. Người vọng niệm nếu quá mê mải, chỉ tập trung vào điều họ vọng tưởng thì sẽ dẫn tới u mê sinh ảo tưởng. Như người mê tiền, nhìn đâu cũng nghĩ đến tiền, tâm luôn hướng đến tiền vậy. Lúc họ không còn nghĩ đến gì khác ngoài tiền là lúc họ u mê rồi, có đâu lại tự cho là nhất tâm bất loạn. Thực là kiểu suy nghĩ lầm lạc do u mê.

    Một lần nữa mình nhắc lại là quan điểm này đã được chứng minh là sai lạc trong những link mình đưa, bạn vẫn u mê nhắc lại.

    Đức phật đã bác bỏ lối học bằng niềm tin mà bạn lại cho rằng “khởi thủy bằng niềm tin dẫn nhập tốt hơn” thì là bạn đang nói trái lời phật – bạn không phải hành theo phật như bạn tưởng.

    13. Bạn viết rằng phân biệt luôn đi với chấp trước là sai. Đức phật dạy học phật cần phải có chánh kiến, thấy đúng, biết đúng, phân biệt rõ đúng sai mới là người có chánh trí:

    Được mất khéo phân biệt
    Biết rõ đường chánh tà …

    Bạn lại lần nữa cho thấy đang bị tà đạo đưa xa chân lý của phật.

    14. Bạn viết rằng tất cả các pháp đều quy về tứ diệu đế mà bạn không biết điều cốt lõi trong tứ diệu đế là đức phật dạy bỏ tham. Tham ái là gốc của đau khổ và mọi pháp chân chánh do đức phật dạy đều là hướng dẫn người ta bỏ tham ái.

    Bạn lại cho rằng tùy người bỏ được gì thì bỏ là u mê.

    Điều này cho thấy bạn không hiểu tứ diệu đế nên đi sai đường bát chánh.

    15. Bạn viết rằng thấy gì hiểu đó là không đúng, mà hiểu gì thấy đó mới đúng là đang u mê và không hiểu ví dụ của mình.

    Mình nói .. như soi gương .. có nghĩa là tâm ý phải an tịnh lắng trong phẳng lặng như tấm gương vậy, không bị xao động nên khi nhìn vật gì sẽ thấy rõ bản chất của nó, không bị biến đổi chút nào, giống như đem tấm gương ra phản chiếu hình ảnh của vật.

    Đức phật dạy:

    Chân thực biết chân thực
    Phi chân biết phi chân
    Ai nuôi dưỡng chánh niệm
    Ắt hẳn đạt được chân

    Có nghĩa là thấy gì thì phải biết rõ điều đó, nó là đúng hay là sai thì phải biết. Hiểu gì thây đó như bạn viết chính là vọng tưởng, ví như mơ gặp địa tạng vương là do bạn tưởng vậy nên thấy đó chứ chuyện mơ đó chẳng có thật. Việc hành pháp sai lạc theo bắc tông mà thấy gặp phật gặp tiên chính là tưởng mà thấy. Khác với người hành pháp nguyên thủy, khi thần thức trong lắng thoát khỏi ngũ uẩn thì thần thức đi tới cõi hợp với nó và thấy, biết cõi đó có thật. Hai kết quả hoàn toàn khác nhau.

    Bạn viết rằng niềm tin của bạn là chân chánh trong khi đức phật bác bỏ lối học bằng niềm tin.

    Bạn viết rằng bạn sinh trí và thấy tâm tuy nhiên những ví dụ đơn giản nhất mình đưa ra bạn cũng hiểu sai. Những lời phật dạy bạn đều làm trái.

    Điều đó cho thấy rõ bạn là tà đạo và không phải phật tử.

    16. Bạn không nắm rõ cái gốc của lòng tin chân chính mà đức phật dạy. Như ở trên mình đã trích kinh Kalama. Lòng tin chân chánh phải là từ thấy đúng và biết đúng rồi mới tin, không được tin mù quáng.

    Vì không nắm chắc chỗ này nên bạn hiểu sai các tùy pháp.

    Lòng tin chân chánh phải là thấy đúng, biết đúng, như những lời dạy của phật mà mình đã đưa ra ở trên vì vậy kiểu tin mù quáng của bạn là sai lạc và bạn đang đi ngược với điều phật dạy.

    * Kết lại, mỗi điều bạn viết ra đều cho thấy rõ bạn đang u mê và đi ngược với con đường chân chính của đức phật – bạn không phải phật tử mà đang hành theo ngoại đạo, tưởng mình theo phật thôi.

    Bạn tỉnh táo lại nhé.

    17. Bạn Rain Vũ viết:

    “Bắc Tông – Nương nhờ tha lực – điều này chẳng trái với lời Phật”

    là sai hoàn toàn.

    Đức phật đã dạy trong kinh pháp cú:

    Chính ta bảo vệ ta,
    Chính ta nương tựa ta,
    Chính ta tự điều phục,
    …..
    Nhiễm tịnh do ta cả,
    Không ai thanh tịnh ai.

    Vậy mà bạn lại viết ngược với lời phật dạy -> vậy thì pháp bạn theo không phải là phật pháp.

    18. Bạn viết là tha lực không trái với lời phật dạy, nhưng cái bạn phân tích để chứng minh điều đó thì không phải tha lực mà là tự lực.

    Tha lực là lực từ bên ngoài, bạn hãy xem các ví dụ dưới đây:

    – Khi bạn đang khát nước, cần đi đến giếng nước mà bạn lười đi, bạn xin người khác cõng bạn tới giếng nước. Người đó dùng sức họ cõng bạn tới giếng. Trường hợp này bạn tới được giếng không bằng sức lực của bạn mà nhờ sức lực của người khác thì gọi là bạn nhờ tha lực mà tới được giếng.

    – Khi bạn đang khát nước mà không biết giếng nước ở đâu, có người chỉ hướng cái giếng cho bạn, động viên bạn đi tới đó. Bạn biết hướng rồi tự thân bạn đi tới cái giếng đó thì gọi là tự lực, vì bạn đi bằng chính sức lực của bạn.

    Việc người kia chỉ ra con đường chỉ giúp ta biết đường đến cái đích ta muốn, còn lực đưa ta đến đích là vấn đề khác.

    Đến đó bằng lực của người khác thì gọi là nhờ tha lực, đến bằng sức của ta thì gọi là nhờ tự lực.

    Cũng có thể ví như việc bạn đi mua điện thoại, có người báo cho bạn giá chiếc điện thoại bạn muốn mua là một triệu.

    Người đó nói lên rất nhiều ưu điểm của chiếc điện thoại, lại khen nó hợp với bạn để khuyến khích bạn mua.

    Tuy nhiên khi mua thì bạn có thể bỏ tiền của bạn ra mua, hoặc bạn có thể xin tiền người khác mua.

    Việc người kia báo giá chiếc điện thoại cho bạn biết, hay người ta khuyến khích bạn mua là một vấn đề khác với vấn đề bạn lấy tiền từ đâu mua.

    Tự lấy tiền của mình (do mình lao động chân chính mà có) ra mua thì là không lệ thuộc vào ai cả. Xin tiền người khác thì là bạn lệ thuộc vào người

    Tương tự như vậy, nhờ tha lực thì dựa dẫm vào thế lực khác, là tự trói mình lệ thuộc vào thế lực khác, không phải giải thoát.

    Đạo phật là đạo giải thoát, vậy đường lối nào hướng người ta dựa vào tha lực không phải phật pháp.

    Bạn cho rằng giáo pháp tu tậpĐó là giáo pháp tu tập (người ấy thực hành )- , sự khuyến khích của người khác .v.v. là tha lực là bạn đang viết sai, như mình đã phân tích ở trên. Người ấy thực hành pháp để giải thoát thì là tự lực chứ không phải tha lực.

    Việc viết sai này có thể có hai nguyên nhân.

    – Nguyên nhân thứ nhất là bạn đang cố tình ngụy biện để tránh thừa nhận sai lầm đã bị mình chỉ ra trước đó.

    Người hành chánh pháp thì có hành động đàng hoàng chân chánh, người hành tà pháp thì có hành động không đàng hoàng, gian xảo.

    Ngụy biện để lẩn tránh chính là hành động không đàng hoàng, vậy có nghĩa là bạn đang hành tà pháp.

    – Nguyên nhân thứ hai là bạn không có chánh trí nên hiểu nhầm vấn đề. Chánh pháp làm người ta sáng suốt, tà pháp làm người ta u mê.

    Từ đơn giản như “tha lực” mà bạn còn nhầm lẫn với “tự lực” thì là bạn đang u mê rồi -> vậy điều này chứng minh bạn đang theo tà pháp.

    Cả hai nguyên nhân đều đưa đến một kết luận duy nhất, đó là pháp mà bạn đang thực hành là tà pháp.

    19. Bạn Rain Vũ không hiểu điều cơ bản của đạo phật nên không phân biệt được thế nào là đạo phật.

    Đạo phật không phải là đạo xuất thế gian. Đao phật hết sức thực tế và những gì đức phật dạy đều không hề xa rời thực tế.

    Bạn vì ham cái cao siêu giả tưởng mà bị tà đạo dẫn dắt vào đường tà.

    Đức phật và các đệ tử năm xưa khi chỉ ra cho mọi người thấy lẽ phải đều dùng thực tế mà dẫn chứng, ví dụ khi nói về người không hành pháp, phật dạy:

    “Dù đọc tụng nhiều kinh
    Tâm buông lung cẩu thả
    Như kẻ chăn bò thuê
    Khó hưởng sa môn quả”.

    Ngài Xá Lợi Phất khi xưa biện luận thắng 10 luận sư ngoại đạo là do dùng lý lẽ và minh chứng để làm sáng rõ phật pháp là chân lý, chứ không phải ngài bảo với họ rằng pháp của ngài cao siêu mà họ nghe theo.

    Lúc đó tà đạo đang muốn ngăn cản phật giáo phát triển, những vị luận sư kia họ chẳng tin gì ngài, chỉ vì lý lẽ của ngài xác đáng rõ ràng, họ không thể bác bỏ được nên đành thua.

    Bạn viết:

    ”mình không thể dùng những thứ cao siêu huyền bí không có thật ở hiện tại để nói chuyện với bạn được”

    Là bạn đang đi theo lối nói xuông xa rời thực tế, điều đó cho thấy bạn đang đi vào đường tà, hành pháp của ngoại đạo khi xưa, không phải phật pháp.

    20. Bạn viết: “Nương nhờ tha lực là dựa vào lực từ bên ngoài , đây là nghĩa khái quát nhất”

    Tuy khẳng định rằng nương nhờ tha lực là dựa vào lực từ bên ngoài, nhưng ngay sau câu đó bạn lại mở ngoặc:

    “Tha lực thì bỏ từ dựa vào đi” – Như vậy là vừa gắn nó vào xong bạn lại vứt nó luôn, chỗ này là bạn đang tự đấm vào mồm, câu sau bác bỏ câu trước của chính bạn.

    Lẫn lộn hồ đồ như vậy một lần nữa cho thấy sự u mê vô cùng ở bạn.

    Tôi thật không ngờ một thanh niên trẻ tuổi mà đã không còn minh mẫn. Đây là kết quả của việc hành tà pháp.

    Sự u mê của bạn chính là minh chứng rõ nhất cho cái sai của con đường bạn theo, đó là tà đạo, không phải chánh đạo. Như mình đã viết rõ trong phần trả lời bạn Huấn Phạm, tà đạo có tác dụng ngu dân.

    21. Tiếp tục từ sai lạc 20, bạn viết:
    “trong phật giáo thì nó dụng cho việc dựa vào Phật lực” Tuy nhiên kết lại ý đoạn này bạn lại mở ngoặc ( Tha lực thì bỏ từ “dựa vào” đi ) – lặp lại sai lầm như trên.

    Bạn viết Đức phật, bồ tát ấy không có thực nhưng lại cho rằng “dư âm từ vị ấy rất mạnh”. Không có thực thì có cái gì đâu mà mạnh với yếu Bạn thật ngớ ngẩn.

    Bạn có hiểu lý trí là gì không bạn Rain Vũ? nếu bạn có lý trí thì đã tỉnh táo nhìn lý lẽ mà phân định đúng sai, không mê muội như vậy.

    Bạn dùng từ ngữ chẳng tương thich gì với vấn đề bạn viết để giải thích cho vấn đề, thật dốt nát.

    Bạn đừng cho là tôi viết quá lời, hay tôi sân hận gì ở đây, tôi chỉ viết sự thật thôi,

    Càng đọc bài của bạn tôi càng thấy ở bạn vô minh che phủ dày đặc.

    22. Bạn viết về niềm tin vào cơ hội cứu vớt mà không hiểu ra đó chính là niềm tin mù quáng của những giáo phái thờ thần khi xưa. Trong khi đức phật bác bỏ hẳn:

    Chính ta bảo vệ ta
    Chính ta nương tựa ta
    Chính ta tự điều phục

    ………

    Hãy tự xây hòn đảo
    ……………
    Nhiễm tịnh do ta cả
    Không ai thanh tịnh ai ……..

    Ngoại đạo khi xưa biện luận với phật pháp thất bại nên không phát triển được, sau khi đức phật mất chúng muốn phục khởi nên mạo danh đệ tử phật mà xuyên tạc kinh điển, cho giáo lý của chúng xen vào kinh phật.

    Bạn không có lý trí, không phân biệt được đúng sai nên không nhìn ra điểm mâu thuẫn với lời dạy của đức phật, lại cho rằng tư tưởng của bắc tông là … cấp tiến.

    Bắc tông là đường lối sinh ra sau thời đức phật, tư tưởng trái ngược với lời dạy của phật, bạn lại cho nó là cấp tiến đồng nghĩa với việc bạn cho rằng tư tưởng của đức phật là … bảo thủ, có nghĩa là bạn đang phỉ báng đức phật đó.

    Theo bạn thì bậc giác ngộ có bảo thủ không?

    Bạn không hiểu hết được những gì bạn viết, thật là nông cạn. Bạn tỉnh táo lại đi, cái bạn đang tuyên truyền là tư tưởng của ngoại đạo chứ không phải của đạo phật.

    23. Bạn viết rằng:

    “Vì nối khổ tâm , họ nhớ lời vị ân sư đáng kính , ngày ngày niệm danh hiệu , chân ngôn Phật, Bồ Tát với lòng tôn kính và ước vọng thoát được khổ ải . Họ không biết rằng chính điều đó ,họ được tu tập để có cơ hội nhập vào định như bao người tu tập thiền định khác”

    Là sai lạc, phải buông xả tham ái để hết khổ chứ không phải vọng tâm mà thoát được khổ.

    Đức phật đã dạy:

    Cả đời nay đời sau
    Không vọng cầu thôi thúc
    Giải thoát hết tham dục
    …………

    Một lần nữa mình nhắc bạn rằng tư tưởng của bạn là tư tưởng của ngoại đạo thờ thần. Họ rất tôn kính vị thần của họ và họ rất thành tâm xin thần của họ đó.

    Đức phật dạy:
    Tu thiền trí tuệ sinh
    Bỏ thiền trí tuệ diệt
    …….

    Vọng cầu thì sẽ nhập mê chứ không phải nhập định đâu bạn ạ. Bạn đã nhập mê rồi đó.

    24. Bạn viết rằng: “Bạn nên phân biệt nương” nhưng sau đó bạn chẳng viết gì để làm sáng tỏ chữ này và bạn quên nó luôn.

    Điều này cho thấy tư duy của bạn không được mạch lạc, có vấn đề.

    25. Ở trên bạn đã viết rằng các vị phật và bồ tát ấy không có thực, nhưng ở dưới bạn lại viết rằng năng lực nguyện của phật khiến tâm linh người cầu xin tốt lên.

    Những vị phật, tiên mà bạn nói đã không có thật thì tất nhiên năng lực nguyện đó cũng là giả và chỉ để lừa người. Bạn lại hồ đồ không phân được thật giả rồi.

    Cầu xin thì từ ngàn xưa các giáo phái thờ thần đã thực hiện, và tất nhiên họ thực hiện chăm chỉ, suốt ngày, nhưng đó không phải là con đường đúng, đức phật dạy không cầu xin, như mình đã phân tích rõ ở trên.

    Điều này một lần nữa cho thấy cái bạn đang theo không phải đạo phật mà là bạn đang theo các giáo phái thờ thần.

    26. Bạn nhầm lẫn giữa ý thức và hành động. Việc người ta chỉ cho bạn hướng đi chỉ là tác động đến ý thức của bạn, không phải là hành động tạo ra lực đưa bạn tới đích.

    Sau khi ý thức về vấn đề rồi bạn hành động như thế nào lại là vấn đề khác

    Đó cũng như sự khác nhau giữa tưởng và hành trong ngũ uẩn. Bạn lại nhầm lẫn hai vấn đề là một.

    27. Bạn nhầm lẫn về lực trong vấn đề điện thoại.

    Bạn nhìn quá nông cạn nên không nghĩ ra rằng nếu bạn tự đi mua điện thoại mà không có tiền thì không mua được.

    Có tiền rồi mới mua được điện thoại. Tiền chính là lực ở ví dụ này.

    Có tiền rồi thì bạn có đi đến cửa hàng hay không không quan trọng, không muốn đi bạn có thể gọi điện cửa hàng sẽ tự mang đến cho bạn, miễn bạn có đủ tiền cho dịch vụ của cửa hàng

    Bạn đi đến nơi bán rồi mà bạn không có tiền bạn sẽ không có được cái điện thoại. Giống như việc bạn biết pháp là đúng hay sai rồi mà bạn không hành pháp thì bạn mãi không có được kết quả giải thoát.

    Mình không hề nói tiền là múc đích mà bạn luận tới vấn đề tiền là mục đích, tiền ở đây là nguồn lực để ta đạt được cái mục đích là có chiếc điện thoại.

    Chính vì vậy lý luận của bạn ở trên là quá nông cạn hồ đồ, do bạn hoàn toàn không hiểu bản chất vấn đề.

    Vì không hiểu nên bạn liên hệ hai ví dụ một cách máy móc và sai lầm. Giống như bạn nhìn thấy con cá sống dưới nước lại nghĩ rằng cứ là động vật thì đều sống được ở dưới nước, bạn liền đem con trâu vứt xuống dưới nước vậy

    ***

    Tóm lại bạn học lầm tà pháp nên tư tưởng mê mờ, hiểu cái gì cũng sai, viết cái gì cũng lạc, càng luận càng hồ đồ.

    Từ 1 cái sai, giờ sinh ra thêm bao nhiêu là sai.

    28. Bạn Rain Vũ nhầm lẫn giữa chánh pháp và tà pháp.

    Việc tôi chỉ ra cái sai để mọi người hiểu đúng là hành động chân chánh. Đó là hành theo chánh pháp.

    Việc mọi người u mê cầu xin là trái với lời dạy của phật:

    Cả đời nay đời sau
    Không vọng cầu thôi thúc
    Giải thoát hết tham dục …
    …….
    Tự ta tịnh thân tâm
    Nhiễm tịnh do ta cả
    Không ai thanh tịnh ai
    ……
    Mọi người đang hành tà pháp giống như các ngoại đạo thờ thần trước đây, nhưng lại cứ tưởng đang hành pháp phật, đó là cẩu thả, không suy xét kỹ, đó là một điều nguy hại, khiến cho phật pháp bị hiểu lầm. Vì vậy phải làm rõ trắng đen.

    Bạn không nhìn ra vấn đề này, không hiểu đâu là đúng đâu là sai thì không có chánh trí, không phải người hành chánh pháp.

    29. Bạn đã đọc các link của tôi đưa mà không nhận ra rằng tôi luôn khuyên mọi người hành kinh căn bản, chuyển pháp luân, lửa cháy.

    Tôi còn có một bài khuyên người ta không nên học nhiều kinh, mà nên thực hành đó bạn ạ.

    Tôi chưa từng nói mọi người phải đọc hết một cuốn kinh dày cộp mà bạn viết sai lạc vậy. Viết như vậy là bạn đọc nhưng không hiểu lạc ý tôi, hoặc cố tình xuyên tạc ý tôi.

    Với tôi hành pháp luôn quan trọng nhất, khi thảo luận với các đạo hữu tôi luôn chú trọng điều tâm, buông xả, với mục đích duy nhất là viết lên sự thật.

    Tâm ý lắng trong vì vậy mà khi nhìn sai lạc tôi chỉ ra được ngay.

    Xưa kia tôn giả Ca Chiên Diên mắng người Bà La Môn tóc bạc là để ông ta hiểu ra sai lầm chứ không phải vì ngài sân hận với ông ta mà măgs. Khi mắng và ngài giải thích rõ ràng đúng sai chứ không nói xuông.

    Còn bạn không nhìn lại con đường của bạn, con đường đó đâu có đúng đâu, nên bạn ngày càng mê mờ. Càng viết thì điểm sai càng nhiều, đó là bằng chứng cho thấy bạn theo tà pháp nên mất đi sự sáng suốt.

    30. Bạn vì ngụy biện loanh quanh mà ngày càng thêm hồ đồ.

    Chúng ta đang biện luận để làm sáng rõ đúng sai vì vậy tất nhiên tôi lấy ngài Xá Lợi Phất để làm ví dụ là hợp lý, vì ngài là người đã biện luận với những luận sư ngoại đạo.

    Bạn lại bảo lấy các vị khác không luận đạo ra so thì chẳng ăn nhập gì tới việc làm rõ đúng sai của chúng ta cả.

    Ngài Xá Lợi Phất bản thân ngài cũng không muốn biện luận (Bạn đang nhầm biện luận và tranh luận đó nhé). Tuy nhiên vì đê xiển dương chánh pháp, làm rõ đúng sai mà ngài phải luận.

    Ngày nay những phật tử phật chân chánh cũng vậy, luận không phải để chứng minh bản thân mà để làm rõ đúng sai, không cho tà pháp mạo danh chánh pháp.

    Bạn không hiểu rõ điều này, chứng tỏ bản thân bạn không vì làm sáng rõ pháp mà luận, vậy thì rõ ràng là bạn đang hành tà pháp.

    31. Bạn đọc mà không hiểu nghĩa của ví dụ.

    Tôi đưa ví dụ ngài xá lợi phất là để bạn thấy được việc phân định đúng sai phải có lý lẽ rõ ràng và minh chứng cụ thể, bạn lại nói lạc sang vấn đề người trí tìm người trí mà luận.

    Chúng ta đang làm rõ đúng sai cơ mà. Bản thân bạn cũng đã từng viết là luận để nhìn lại mà sao khi luận sai bạn không nhìn lại mà lại bảo thủ?

    Chính vì người thường u mê không phân định được đúng sai, hành nhầm tà pháp nên người trí mới phải luận để cho họ hiểu, đánh tan tà niệm của họ, đó là gieo nhân lành.

    Bạn không hiểu rõ lại cho rằng việc biện luận làm rõ đúng sai là gieo quả bất thiện là bạn mê lầm rồi.

    32. Bạn u mê, mê tín mà bị tà pháp lừa gạt.

    Bạn học pháp mà không theo chánh kiến. Những cái bản thân bạn không biết nó là đúng hay không, không dùng lý trí lý giải được mà bạn cũng tin. Đó là bạn đang làm trái lời phật dạy.

    Ngài dạy phải học bằng trí tuệ, thấy đúng, biết đúng mới tin, như tôi đã nhiều lần phân tích ở trên.

    Việc bạn làm trái lời phật dạy một lần nữa chứng minh bạn theo tà pháp.

    33. Bạn không hiểu rằng bản thân từ tha lực đã bao hàm chữ dựa vào trong đó rồi, vì vậy bạn viết bỏ chữ dựa vào đi.

    Nếu bỏ chữ dựa vào đi thì tha lực không còn là tha lực.

    Ví như bạn nhờ người ta cõng tới giếng, có nghĩa là bạn muốn dựa vào sức của họ mà tới được giếng, tuy nhiên bạn lại không dựa vào họ (bỏ dựa vào đi) thì người kia chẳng có cái gì để cõng cả.

    Dù họ có muốn cõng, có đủ sức để cõng mà không có cái gì để họ cõng thì họ cũng chẳng cõng được cái gì. Không cõng thì cũng chẳng có tha lực sinh ra.

    Vì vậy bản thân từ tha lực đã bao gồm chữ dựa vào rồi.

    Bạn đưa ra một định nghĩa khái quát nhất về từ tha lực, sau đó bản thân bạn lại bỏ hai từ cốt yếu trong định nghĩa đó đi thì cái định nghĩa đó đã không còn là nó nữa rồi.

    Đó chính là lý do mà tôi viết rằng bạn tự đấm vào mồm bạn.

    Bạn đã hiểu chưa?

    34. Bạn không hiểu rằng những vị phật adida, bồ tát quán thế âm mà bạn tin là giả nên cũng chẳng có lời nguyện nào ở đây cả. Tất cả chỉ là để lừa người khiến họ mù quáng vì lòng tham thôi.

    Tin do lòng động mà không tận mắt thấy biết là niềm tin sai lầm mà đức phật đã nhắc chúng ta phải bỏ. Ngài dạy chúng ta phải học bằng chánh trí, thấy, biết đúng mới tin.

    Điều này tôi đã nhiều lần phân tích rồi mà bạn vẫn bảo thủ ngoan cố tin mù quáng thì là làm sai lời phật dạy, càng rõ bạn không phải phật tử.

    35. Bạn không chứng minh được quan điểm, viết ra điều gì là sai lạc điều ấy nhưng vẫn ngoan cố cho rằng bạn nhìn rất rõ, bạn biết chỗ thật và chỗ không thật.

    Điều này là không chính xác, vì biết được sẽ chỉ ra được, còn bạn không chỉ ra được.

    Như vậy là bạn đang hoang tưởng.

    36. Tôi sau khi chỉ ra được cái sai và sự u mê của bạn mới nói bạn đần độn, đây là nói lên sự thật. Giống như Tôn giả Ca Chiên Diên xưa kia nói thẳng với người Bà La Môn tóc bạc vậy, ông nói thẳng và phân tích rõ ràng.

    Bạn không chỉ ra được cái sai của tôi nhưng lại từ việc tôi nói thật về bạn mà phê bình chê bai tôi thì là nói xuông.

    Cái này thì tùy bạn, bạn thích nói gì thì nói. Với tôi khen chê không quan trọng. Dù bạn có khen tôi mà tôi thấy bạn sai tôi vẫn nói ra thôi.

    Cái chúng ta đang bàn là vấn đề làm sáng tỏ đúng sai.

    Khi đã rõ đúng sai rồi, thì thực hành, bạn thấy đúng không?

    37. Bạn vẫn mê sảng nói về niềm tin có rồi mới làm …. Lễ vật cầu xin …. Thì đúng là ngoại đạo, như tôi đã nhiều lần viết rõ ở trên. Đức phật dạy phải học bằng chánh trí, không được học bằng niềm tin.

    Con đường của đức phật dạy thì không có cầu xin, ngài dạy:
    Cả đời nay đời sau
    Không vọng cầu thôi thúc.

    Bạn lại chứng minh bạn là ngoại đạo rồi.

    38. Bạn thấy tôi biện luận mà nghĩ rằng tôi không lo tu tập là không hiểu gì về người phật tử. Khi luận tôi vẫn hành pháp để tâm ý thanh tịnh, viết những điều đúng.

    Bạn là tà đạo mạo danh phật tử, như tôi đã phân tích rõ ràng ở trên, vì vậy việc tôi luận với bạn chỉ ra cái sai của bạn là hộ pháp.

    39. Bạn không hiểu vấn đề tùy duyên, tùy cảnh, tùy người trong phật pháp.

    Vấn đề này tôi đã phân tích ở trên nhưng bạn đọc mà u mê không hiểu.

    Đức Phật thuyết nhiều pháp để phù hợp với căn cơ của chúng sanh. Nhưng khi tìm hiểu vấn đề này chúng ta phải sáng suốt nhận biết, phải hiểu như sau:

    Ở vùng bão lũ, mọi người đều phải vật lộn đau khổ để chống lại dòng nước lũ. Có đỉnh núi an bình giữa vùng lũ đó, nếu lên được sẽ thoát khỏi soáy lũ. Đức Phật là người tự mình tìm ra đường lên núi. Ngài lên núi rồi và được an bình, nhìn xuống thấy chúng sinh còn quay cuồng trong dòng nước lũ ngài bèn chỉ cho mọi người đường lên núi. Người ở phía bắc thì Đức Phật chỉ cho con đường phía Bắc, người ở hướng Nam Đức Phật chỉ cho con đường phía nam. Người ở gần Đức Phật chỉ đường gần, người ở xa Đức Phật chỉ đường xa. Tùy vào vị trí từng người mà Đức Phật chỉ ra con đường phù hợp. Tựu chung những con đường ấy đều không mâu thuẫn với nhau.

    Từ “Đạo vốn không hai” phải hiểu là các con đường Đức Phật chỉ ra đều không mâu thuẫn với nhau. Vì vậy những Pháp nào mà ta thấy mâu thuẫn với lời dạy của Đức Phật thì phải tránh xa.

    40. Bạn không hiểu rằng để có được thành quả thì ta phải thực hành, muốn buông xả tốt thì thực hành buông xả từ những cái nhỏ rồi mới đến những cái lớn.

    Không thể dựa vào từ căn cơ để không hành chánh pháp

    Tất nhiên con đường khó thì không phải ai cũng đủ dũng cảm theo ngay, nhưng không theo được chánh pháp thì cũng không được mạo danh chánh pháp.

    Bạn theo tà pháp vì vậy bạn không nên mạo danh phật tử.

    41. Bạn cho rằng bạn là người có cơ duyên … học được giáo pháp thậm thâm vi diệu, nâng cao được trí tuệ … mà trên thực tế thì những gì bạn viết đêu có chỗ sai và đã được tôi chứng minhi rõ ràng, điều này cho thấy cho thấy trí tuệ bạn mê mờ.

    Luận pháp sai mà bạn ngụy biện loanh quanh, hành vi này là không đàng hoàng, và nó cho thấy bạn là tà đạo.

    42. Bạn không hiểu rằng hầu hết các đạo đều hướng người ta đến cái thiện. Tuy nhiên không phải cứ thiện là đạo phật.

    Đạo thiên chúa, đạo nho … đều thiện.

    Đạo phật phải là đạo giải thoát bằng tứ diệu đế, phải đi đúng con đường bát chánh đạo.

    Lạc ra ngoài con đường bát chánh thì không được mạo danh đạo phật.

    43. Bạn cho rằng tôi lấy căn cơ của mình áp lên người khác là không đúng.

    Trong hành pháp thì tùy căn cơ. Trong luận pháp thì phải rõ đúng, sai, không để tà pháp mạo danh chánh pháp.

    44. Bạn viết: “anh nay 1 bước lên tiên muốn họ vào ngay chánh pháp là điều không thể”. Có nghĩa là bạn cũng nhất trí rằng cái tôi đang nói là chánh pháp, còn cái bạn đang bảo vệ là tà pháp.

    Thực ra không phải tôi muốn họ vào ngay, vì để đến với chánh pháp cần phải có sự dũng cảm vô cùng, có lẽ phải có thời gian họ mới chấp nhận được sự thật.

    Nhưng sự thật ấy sẽ không được họ biết đến nếu không có ai nói ra.

    Nói ra là để họ biết, họ biết rồi họ có vào ngay hay không thì họ cũng không được mạo danh chánh pháp nữa.

    Cái tôi đang làm là để vạch rõ chánh tà, bạn không hiểu điều này.

    45. Bạn không biết gì về quá trình thực hành của tôi mà ngồi đó viết bậy là không nên.

    Trước kia tôi thực hành con đường tà đạo ấy và đã đạt được những thành quả mà với họ là cao rồi, phật, tiên như bạn mơ tôi cũng đã thấy … nhưng tôi nhìn lại thì thấy trói mình lệ thuộc vào thế lực khác không đúng nghĩa với giải thoát vì vậy mà quay về được nẻo chánh.

    46. Bạn bị tà đạo lừa mà cho rằng từ vọng cầu có thể vào định là sai lầm

    Người hành Tịnh Độ tâm luôn vọng cầu, như vậy là trái với điều Phật dạy.

    Người vọng niệm nếu quá mê mải, chỉ tập trung vào điều họ vọng tưởng thì sẽ dẫn tới u mê sinh ảo tưởng. Như người mê tiền, nhìn đâu cũng nghĩ đến tiền, tâm luôn hướng đến tiền vậy. Lúc họ không còn nghĩ đến gì khác ngoài tiền là lúc họ u mê rồi, có đâu lại cho rằng vào định.

    47. Bạn xuyên tạc rằng tôi chỉ ngồi thiền không là sai lạc. Tôi luôn chia sẻ với mọi người phải thiền cả khi đi đứng năm, ngồi …

    Động vẫn có thể định được tâm vì hành theo chánh đạo, có chánh định

    Ngồi tụng kinh cầu xin vọng niệm không thể định tâm vì hành lối đó không theo chánh pháp. Chỉ sinh tà niệm và bị mê hoặc thôi.

    48. Bạn cho rằng bạn không mê lầm giống họ. Nhưng trên thực tế thì tôi thấy bạn mê lầm hơn họ. Chưa có ai tôi thấy có nhiều sai lạc, hầu như viết gì cũng sai như bạn.

    Bạn sai nhưng lại tự cho rằng mình hơn người là bạn đang hoang tưởng.

    Bạn nên đến bác sĩ để được kiểm tra và tư vấn kịp thời.

    49. Bạn cho rằng tôi xới bé, chọc ngoáy là không phải.

    Tôi chỉ thấy điểm sai và chỉ ra thôi.

    Chúng ta đang luận thì nhìn vào đúng sai.

    Bị chỉ ra cái sai thì nên biết thay đổi sửa sai.

    50. Bạn thật hồ đồ, thấy sai thì phải quay đầu về nẻo chánh. Bạn lại cho rằng nên đi tiếp xem nó làm gì

    Đi tiếp con đường tà đạo thì ngày càng u mê, giống như bạn vậy.

    Ở dưới bạn lại u mê viết lại những điều đã được tôi chỉ rõ là sai. Tôi không viết lại nữa.

    51. Bạn tiếp tục nhầm lẫn giữa ý thức và hành động như trên tôi đã phân tích.

    Bạn xem lại ở trên nhé.

    Tuy chúng đều tác động qua lại lẫn nhau nhưng không thể nhầm cái này là cái kia như bạn được.

    52. Bạn thấy tôi chỉ ra cái sai của bạn mà cho rằng tôi là kẻ ác.

    Bạn không hiểu rằng tô chỉ cái sai của bạn cũng là vì không muốn những người con của Phật đi theo đường tà dẫn tới u mê không thể giải thoát.

    Việc này giống như người anh thấy em nghiện thuốc phiện, đắm trìm vào khói thuốc mà mắng mỏ, chỉ ra thuốc phiện hại người ta ở chỗ nào để người em bỏ cái xấu theo cái tốt cho nên người, chứ không phải là có ác tâm với người em.

    53. Bạn không phân biệt được phương tiện và lực.

    Phương tiện không đem lại kết quả, mà lực bỏ ra mới đem lại kết quả.

    Ví như bạn có cái xe – đó là phương tiện – bạn muốn tới Sơn La chơi, bạn phải bỏ lực ra đạp xe. Cái lực bạn bỏ ra này mới đem lại kết quả là bạn đến Sơn La.

    Nếu không có xe thì bạn có thể dùng máy bay, đó là phương tiện khác. Quan trọng là bạn vẫn phải bỏ lực ra để lái nó tới sơn la.

    Tương tự như vậy. Khi mua điện thoại thì tiền mới là lực đem lại kết quả là bạn có chiếc điện thoại.

    Còn vấn đề bạn đi đến hay người khác mang đến cho bạn chỉ là phương tiện thôi.

    Dù là tự đi hay người khác mang tới thì vẫn phải bỏ tiền. Trong ví dụ này thì tiền mới là lực.

    54. Bạn hiểu sai pháp, hành sai pháp, khi bị chỉ ra vẫn không nhìn lại cái sai. Tiếp tục bám vào con đường tà đạo thì đã mê càng mê thêm.

    Bạn cũng biết pháp bạn theo không phải chánh pháp (như mấy lần bạn thừa nhận ở trên) tuy nhiên bạn vẫn tiếp tục tuyên truyền với người khác rằng đó là pháp phật là bạn đang lừa mọi người đó.

    Lừa người khác vào nẻo tà thì trầm luân muôn đời.

    Bạn cẩn thận cân nhắc lại thật kỹ càng nhé.

  12. Biện luận giữa Phật Giáo Nguyên Thủy và nhánh rẽ Bắc Tông (Những nội dung biện luận dưới đây là tôi gom góp lại từ các bài biện luận với Bắc Tông. Các bài luận có thời gian khác nhau, đối tượng khác nhau nhưng cùng nội dung và chung ý thì tôi xếp nối tiếp. Nội dung biện luận còn rất nhiều, tuy nhiên tôi chưa đưa lên đủ, khi nào tới duyên sẽ tiếp tục bổ xung). Phần I: Người hiểu chánh pháp không im lặng 1. Không có pháp dành cho tất cả các hạng căn. 2. Cái có không nhất thiết phải cầm được. 3. Con đường chân lý nằm ở chân kinh. 4. Người hiểu chánh pháp không im lặng. 5. Đúng thì không nên nhận sai. Phần II: Thanh tịnh Phần III: Tư cách thẩm định kinh 1. Tất cả mọi người đều có tư cách thẩm định kinh. 2. Làm sáng rõ chân kinh không phải là đấu đá. Phần IV: Pháp của Thế Tôn dành cho tất cả chúng sinh. Phần V: Phật tử chân chánh không ăn chay. Phần I: Người hiểu chánh pháp không im lặng 1. Không có pháp dành cho tất cả các hạng căn. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Trí Bát Nhã: Đức Phật Bổn Sư dạy chúng sanh trong đời mạc Pháp Tu là để thoát khỏi cõi ngũ trược này, đó là Pháp Môn Niệm Phật, giành cho tất cả hạng căn. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Nếu quả có pháp môn tu tập dành cho tất cả các hạng căn thì tại sao năm xưa Đức Phật phải thuyết nhiều pháp? Nếu quả có pháp môn kỳ diệu ấy thì ngài sẽ chỉ thuyết một pháp thôi, làm như vậy vừa thuận tiện cho người thuyết pháp vừa thuận tiện cho người hành pháp. Nhưng trên thực tế thì ngài thuyết rất nhiều pháp tuỳ theo từng căn cơ, vậy chứng mình rằng kẻ nào nói có pháp phù hợp với mọi căn cơ là lừa bịp và nói ra chỉ với mục đích quy tụ giáo chúng. Giống như thầy thuốc, nếu có một phương thuốc chữa được tất cả các loại bệnh trên đời và phương thuốc này ai cũng có thể dùng được, ai cũng có thể kiếm được không khó khăn thì việc gì thầy thuốc phải chế ra những phương thuốc khác nhau theo từng căn bệnh. Chỉ vì không có phương thuốc nào như vậy nên thầy thuốc mới phải đưa ra những phương thuốc khác nhau. Nếu kẻ nào nói có một phương thuốc thần kỳ nhất chữa được tất cả các bệnh, thuốc này lại dễ kiếm, dễ tìm, ai cũng có thể tự tìm được thì là kẻ đó đang nói dối để lừa người bệnh. Vì thế lời nói: “pháp môn dành cho tất cả các hạng căn” không đúng. Mà đã không đúng thì chúng ta cần phải xem lại tính chân thực của kinh. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Trí Bát Nhã: Đạo Phật là Đạo để hành, không nên chấp vào Ngôn từ, không bám vào chữ nghĩa, càng biện luận thì càng xa đạo, càng xa đạo thì càng xa Phật Tánh của mình. Mong đạo hữu đọc được ý mà quên lời, chúng ta tu là giải thoát sanh tử, thì phải biết gốc sanh tử từ đâu, thì chúng ta mới tu được, nếu không thì càng tu thì càng lạc hướng. Mong đạo hữu đọc lại Kinh A Di Đà, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Và Kinh Kim Cang, đạo hữu sẽ rỏ và có câu trả lời cho mình, hơn là tui trả lời. Mong đạo hữu giữ khẩu cho thanh tịnh, kẻo bị đọa lạc. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Đúng vậy, đạo Phật là đạo để thực hành, nhưng Đức Phật đã dạy chúng ta rằng: “Chớ có tin vì được Kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện”. Thời của chúng ta cách xa thời của Đức Phật, đạo truyền qua bao thế kỷ, qua bao nhiêu nước khác nhau tất nhiên đã bị ảnh hưởng bởi văn hóa, bởi ý đồ chính trị của các nước nó đi qua nên đâu còn giữ nguyên bản chất, vàng thau lẫn lộn. Lịch sử đã chứng minh có nhiều kinh điển được người đời sau viết, tư tưởng khác hoàn toàn với kinh Phật nhưng lại mạo danh là kinh Phật. Vì vậy chúng ta phải học Phật với trí tuệ, quán chiếu để thấy rõ kinh ta đang đọc có phải kinh Phật thực không, không được tin mù quáng. Thấy phi lý rõ ràng mà còn bám víu vào đó là mù quáng. Biện luận chính là để làm sáng rõ con đường đi tới chân lý cho người học. Nếu như các đại đệ tử của Đức Phật khi xưa không có tài biện luận thì đâu thể đưa chánh pháp tới chúng sinh. Tiêu biểu là ngài Xá Lợi Phất đã biện luận thắng cả 10 luận sư của ngoại đạo. Nếu nói như đạo hữu “càng biện luận càng xa đạo” thì có nghĩa là ngài Xá Lợi Phất đã sai khi ngài biện luận, và ngài … xa đạo chăng? Tôi đồng ý với đạo hữu về quan điểm: “chúng ta tu là giải thoát sanh tử, thì phải biết gốc sanh tử từ đâu chúng ta mới tu được , nếu không thì càng tu càng lạc hướng”. Tuy nhiên tôi e rằng đạo hữu đã nhầm về cái gốc của sinh tử chăng? nếu đạo hữu chắc chắn thì chúng ta cùng thảo luận về vấn đề này. Điều tôi muốn nói với đạo hữu ở trên chính là: “đạo hữu hãy đưa ra ý kiến của đạo hữu về chỗ phi lý đó, và dùng lý lẽ để biện luận xác đáng cho ý kiến của đạo hữu”. Điều đó đạo hữu không làm mà lại lảng tránh. Nếu đạo hữu thấy chỗ đó là vô lý thì nên thừa nhận. Đừng trốn tránh và lảng sang chuyện khác. Xin mời đạo hữu đọc lại lời dạy này của Đức Phật: “Này các Kālāma, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được Kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì xuất phát từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo Sư của mình. Nhưng này các Kàlàma, khi nào tự mình biết rõ như sau: các pháp này là bất thiện, các pháp này có tội; các pháp này bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàma, hãy từ bỏ chúng!” Khẩu nghiệp có không là do tâm tạo tác. Nếu tâm niệm thanh tịnh không hề có ý xấu, chỉ muốn giải mê cho chúng sinh thì đâu tạo khẩu nghiệp. Chỉ có người trong lòng có ý xấu thì mới sợ khẩu nghiệp thôi. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Kim Cang Nhật: Cái câu nạn vấn là tại sao Pháp Môn Niệm Phật phù hợp mọi căn cơ mà Đức Phật không dạy chỉ một môn đó lại dạy nhiều pháp môn thì chẳng có gì mà khó trả lời cả. Pháp Môn Niệm Phật phù hợp mọi căn cơ có nghĩa là người căn bậc Thượng, bậc Trung là người tu hành nhiều đời trồng sâu căn lành hay là người bậc Hạ là người mới tu hành chưa có căn lành thì cũng có thể tu tập chứng quả. Nhưng cho dù Pháp Môn Niệm Phật phù hợp mọi căn cơ nhưng mà nếu chúng sanh không chịu tu tập thì sẽ không có kết quả. Như là thuốc chửa bịnh mà không chịu uống thì chẳng được lợi ích đó là tại người bịnh chứ không thể trở lại bắt lỗi thuốc không hay. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Lý giải của bạn thì chưa chính xác, tôi xin đưa ra ví dụ chứng minh: “Xưa kia hai anh em Bàn Đà, người anh thì thông minh, em thì ngốc nghếch. Người em học Pháp mãi không được, nhiều lần bị các đệ tử Đức Phật đề nghị đuổi đi, nhưng anh ta vẫn muốn xin học”. Nếu điều bạn nói là đúng, tức là chỉ cần người ta chịu học tịnh độ là sẽ có kết quả vậy tại sao các đệ tử Phật không bảo anh ta thực hành tịnh độ? Theo các bạn thì tịnh độ ứng với mọi căn cơ, anh ta lại sẵn lòng học mà – Phù hợp với đối tượng này quá còn gì?(Chịu uống thuốc – theo như bạn nói). Lý do đơn giản chỉ vì tịnh độ đâu phải Pháp Phật, nên tất nhiên các đệ tử Phật chẳng dạy cho Châu Lợi Bàn Đà. Chỉ đến khi Đức Phật dạy anh ta đọc câu: “Quét bụi trừ bẩn”, anh ta đọc nhiều và ngộ ra rằng cái bụi bẩn cần trừ chính là bụi bẩn trong tâm mình, từ đó mới đắc đạo. Như vậy anh ta đắc đạo là do quán chiếu mà thấy được cái bẩn thật sự. Vậy đó, nếu vấn đề như bạn nghĩ thì người anh và các bạn đồng tu đâu cần khổ sở nghĩ đủ mọi cách để dạy Châu Lợi. 2. Cái có không nhất thiết phải cầm được. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Trí Bát Nhã: Các Bạn Hữu thân mến ! Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy không nên chấp vào 2 tánh không, tức là chấp có, chấp không, chấp hơn chấp thua, đừng chấp vào đối đãi 2 bên, càng bên vực cho cái ý của mình đúng, người khác sai thì vẫn tiếp tục sanh tử, càng xa đạo. Và hãy giữ khẩu nghiệp cho thanh tịnh, kẻo sẽ bị đọa lạc. Ai làm sai thì người đó chịu tội, chứ mình có tội đâu mà phải tranh nhau, hơn thua nhau từng lời nói chi vậy để gây thêm phiền não cho mình, khộng được lợi gì mà khổ thêm. bây giờ ngồi lại mà tranh hơn thua, phải quấy có lợi ích gì đâu. Tại sao phải nhất định lấy lại công bằng cho ý nghĩ của mình, đặt câu hỏi lại, cái mình đang nghĩ đó từ đâu mà có, có thật không, lời nói có thật không, nếu thật thì hãy lấy lại xem, nó đang ở đâu, Quá Khứ không nắm bất được, tương lai cũng không nắm bất được, hiện tại thì mới vừa trôi qua cũng không nắm bất được, cái gì là thật, hãy tìm xem thế gian này cái gì là thật, toàn là giả tạm vậy mà giờ thì ngồi lại mà tranh hơn thua nhau, trong khi chúng ta là anh em bạn đạo, là con của Đức Phật, lại còn hơn thua nhau, như vậy có phải là Phật Tử Chân Chánh không, có xứng đáng là con của Bậc Giác Ngộ không, không cùng nhau chia sẽ nhau, nhắc nhở nhau để mà giải thoát, lại tranh giành nhau từng lời nói, đã đang đau khổ trong cái biển lửa, nay lại thêm cái khổ của tranh giành hơn thua. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Nếu đạo hữu thấy người ta sai mà đạo hữu kệ người ta, để mặc người ta chịu tội thì tấm lòng bồ tát của đạo hữu để đâu vậy. Nếu Đức Phật khi xưa cũng nghĩ như đạo hữu thì ngài đã kệ chúng sinh lầm lạc u mê mà không thuyết pháp. Các đệ tử của ngài cũng vậy. Tư tưởng mà đạo hữu viết thật trái với đạo phật. Phật thuyết pháp để cho chúng sinh thoát khổ mà đạo hữu lại có ý mặc kệ chúng sinh chịu tội, chịu khổ. Người học pháp chân chính khi biện luận mục đích không phải muốn lấy lại công bằng cho mình, mà muốn làm sáng rõ chánh pháp của Thế Tôn. Chúng ta biện luận về Phật Pháp, vậy cái chúng ta đang nghĩ là từ trong chân kinh của Đức Phật ra, kinh là có thật, và chân kinh chỉ ra con đường thoát khổ. Đạo hữu học những kinh điển kia mà không biết suy nghĩ xem tính chân thực của kinh. Nếu coi cái gì có thật cũng phải cầm, phải lấy ra xem được, vậy tôi hỏi đạo hữu: “Đạo hữu có đang xử dụng o xi để thở không? Có ô xi không?” Nếu đạo hữu nói rằng có thì ngược với ý của đạo hữu là cái có phải cầm ra xem được. Nếu đạo hữu nói rằng không thì tôi bịt mũi đạo hữu lại, đạo hữu không có o xi thì đạo hữu chết, lúc đó mới chứng thực là có ô xi và đạo hữu dùng nó thường xuyên. Tôi lại cho đạo hữu một ví dụ nữa. Cái khổ là có thật và chúng ta tu tập là để thoát khỏi cái khổ, thoát khỏi vô thường. Vậy nhưng chúng ta có cầm cái khổ ra mà chỉ vào nó, mà nhìn vào nó được không, hay chúng ta chỉ có thể hiểu về nó thôi? Nếu đạo hữu bảo cái khổ không có thật, vậy tôi hỏi đạo hữu tu học để làm cái gì vậy? Tại sao đạo hữu phải tu. Như tôi đã nói, chúng ta tranh luận không phải để dành hơn thua mà để làm sáng tỏ chân lý, sáng tỏ con đường đi chân chính tới giải thoát mà Đức Phật dạy. 3. Con đường chân lý nằm ở chân kinh. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Trí Bát Nhã: Con đường chân lý nằm ngay nơi Tự Tánh mình, chứ có chổ nào đâu mà tìm, phàm những gì ngoài Tâm là không thật, còn có chổ để tìm chân lí nữa hay sao, sao không xoay lại cái đang đi tìm chân lí đó là gì, Phật là ở tự Tâm mình có ở đâu ngoài Tâm đâu, không thể nào đem Phật mà tìm Phật, nếu đạo mà ở ngoài Tâm là đạo gì rồi. Còn Bồ Tát Xá Lợi Phất là thánh, không còn chấp ngã, không còn sanh từ,tuy có tranh luận với 10 Luận sư nhưng Bổ Tát Xá Lợi Phất không chấp vào mình đang là người đang biện luận, không chấp vào người đang biện luận với mình, không còn đối đãi 2 bên, không chấp hơn chấp thua, lời nói thốt ra đều hợp với Tâm Phật, trong khi chúng ta là Phàm Phu, còn có tướng chấp ngã, còn bám vào tướng sanh diệt, còn muốn hơn thua nhau làm sao mà hợp với đạo, biện luận mà còn chấp, còn bám vào ngôn lời thì đã sai rồi, làm sao hợp đạo được. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Con đường chân lý là do Đức Phật mở ra. Với hiện tại thì nó nằm trong “Chân kinh”. Đạo hữu viết “nó ở trong tự tánh mình chứ không có chỗ nào đâu mà tìm, phàm những gì ngoài Tâm là không thật, còn có chổ để tìm chân lí nữa hay sao?” Vậy tôi hỏi đạo hữu: “Pháp của Đức Phật đạo hữu học từ Kinh sách hay là không học mà tự trong tâm đạo hữu đã biết rồi. Nếu tự trong tâm đạo hữu biết mà không cần học thì đạo hữu giỏi hơn cả Đức Phật, vì Đức Phật cũng phải trải qua muôn vàn gian khổ mới tư duy quán chiếu, ngộ được chân lý mà thuyết pháp. Nếu đạo hữu thừa nhận là học từ kinh sách, hay từ thầy của đạo hữu thì rõ ràng trong tâm đạo hữu không có sẵn con đường chân lý, nếu có thì đạo hữu cần gì phải học từ thầy hay từ kinh sách nữa. Thầy và kinh sách đều là đối tượng bên ngoài, vậy nếu cứ ngoài tâm là không có thật thì đạo hữu học pháp từ đâu? Bởi trong tâm đạo hữu không có sẵn pháp như đã phân tích ở trên. Vì vậy, đạo (tức con đường chân lý) thì ở ngoài tâm, nhưng đối tượng hành đạo lại là tâm, chúng ta phải điều phục tâm, hướng tâm đi theo con đường đó mà giác ngộ. Khi đã ngộ rồi thì tâm chúng ta có thể sinh ra đạo. Giống như người thợ mộc nhìn thợ cả học việc, lúc đầu chỉ làm theo mẫu, theo hướng dẫn của thợ cả thôi, nhưng về sau thành nghề rồi thì tự anh ta biết sáng tạo các mẫu khác. Chúng ta học đạo là để điều phục tâm mình mà thoát sinh tử luân hồi. Cái cần điều phục là tâm thì nhiều đạo hữu không chú ý, lại đi mơ tưởng về cõi thanh tịnh xa vời, đó đúng thật là lạc lối, là mê muội. Đạo hữu làm sao lấy tâm của đạo hữu mà so sánh với tâm người khác được. Tôi biện luận chỉ để sáng rõ chánh pháp, không hề quan niệm hơn thua. Đạo hữu nói mà không hiểu mình nói gì, biện luận thì phải bằng ngôn từ, nếu không bám vào ngôn từ mà phân biệt đúng sai thì bám vào cái gì. Chẳng lẽ đạo hữu nghĩ năm xưa Tôn giả Xá Lợi Phất và mười ngoại đạo biện luận bằng cách đứng nhìn vào mắt nhau xem mắt ai chớp sau là thắng à? 4. Người hiểu chánh pháp không im lặng. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Trí Bát Nhã: Đạo hữu này không hiểu Phật Pháp. Thôi, đạo hữu học suông trên chữ nghĩa, nếu thật đạo hữu hiểu Phật Pháp thì bạn sẽ im lặng, chứ không phải nói như vậy, không phải bắt tôi trả lời, không phải để biện luận đâu, thật ra không có một pháp để mà nói, có nói là có bám, có trụ trên sắc tướng là ý thức phân biệt, vì chúng ta là phàm phu. Không phải cái gì cũng dùng ngôn ngữ để mà hiểu được. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Những gì viết ở trên là đạo hữu đang nguỵ biện rồi. Nói như đạo hữu nếu hiểu Phật Pháp thì im lặng, vậy năm xưa các đại đệ tử của Đức Phật sẽ không biện luận về giáo pháp mà sẽ im lặng. Vậy thì đâu có chuyện ngài Xá Lợi Phất biện luận với 10 tà sư ngoại đạo để bảo vệ chánh pháp. Nói như đạo hữu rẳng: “Có nói là có bám” thì năm xưa Đức Phật và các đệ tử sẽ không nói pháp. Vì có nói là có bám mà, vậy nên các ngài sẽ không nói gì. Đạo hữu thấy thế nào? Tại sao các ngài vẫn nói? Nếu không có một pháp để mà nói thì Đức Phật dạy chúng ta cái gì đó, chúng ta đang học cái gì nếu không phải học pháp. Đạo hữu có thực tu theo cách mà đạo hữu nói không. Tức là cái cách không nói gì ấy, bởi tôi vẫn thấy đạo hữu trao đổi mà. Nếu theo cách đó thì đạo hữu phải im lặng không nói gì chứ. Đạo hữu nên xem lại xem lời nói và hành động của đạo hữu có giống nhau không nhé, qua đó xem lại đường tu của đạo hữu. Đã theo một con đường suốt một thời gian dài thì lúc biết đó là đường lạc cũng khó mà bỏ nổi, khó mà chấp nhận. Tôi thông cảm với đạo hữu nhưng cũng khuyên rằng. Thấy sai thì phải biết nhìn nhận sai. Nhận sai thì sẽ sửa được. Sửa là cho mình chứ chẳng cho ai, còn nếu cứ yếu đuối không bỏ nổi cái sai thì đến lúc khổ cũng không ai chịu thay mình. Chúc đạo hữu an lạc. 5. Đúng thì không nên nhận sai. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Trí Bát Nhã: NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT Phật dạy trong đời mạc Pháp chỉ có Pháp môn niệm Phật để thoát ly sanh tử, để cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Tu thì đừng nói thị phi, ai đúng ai sai. Dù mình đúng lý mà người khác nói mình sai, mình cũng cứ tiếp nhận ý kiến ấy. Hễ bạn tự nhận mình sai – dù mình đúng – thì phiền não sẽ không khởi; bằng ngược lại, tâm bạn sẽ không an, phiền não sẽ kéo tới. NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Xin hỏi đạo hữu có biết chúng ta vì sao phải chịu luân hồi sinh tử không? Chúng ta an lạc là ở trong tâm hay do bên ngoài. Nếu ở trong tâm thì làm sao đạo hữu lại mơ tới cõi cực lạc bên ngoài. Đạo hữu học mà không tư duy quán chiếu sao? Câu: “Dù mình đúng lý mà người khác nói mình sai, mình cũng cứ tiếp nhận ý kiến ấy, Hễ bạn tự nhận mình sai – dù mình đúng – thì phiền não sẽ không khởi; bằng ngược lại, tâm bạn sẽ không an, phiền não sẽ kéo tới” là sai hoàn toàn. Nếu mình đúng mà mình nhận sai có nghĩa là mình tạo điều kiện cho cái sai phát triển, vậy đó là hành động sai. Hơn nữa đạo hữu đã nói: “Chúng ta là phàm phu”, với tâm phàm phu khi đúng mà phải nhận sai thì sẽ rất phiền não, uất ức. Người trí nếu đúng họ cũng nhất định không nhận sai mà sẽ chỉ ra cái sai để làm sáng rõ cái đúng. Khi xưa tà đạo bảo chính đạo là sai, tôn giả Xá Lợi Phất vì muốn làm sáng rõ chánh pháp nên mới biện luận bác bỏ lý lẽ sai lạc của 10 tà sư ngoại đạo. Phần II: Thanh tịnh * Nhánh rẽ Bắc Tông – Giới Định Huệ: Hôm bữa có người kia nói với GDH là ngay trong lúc mình đang ăn uống vui vẻ bên gia đình hạnh phúc chính là Tây Phương, Cực Lạc là ở tại đây ngay đây … GDH hỏi vậy lát nữa đi tolet có phải Tây Phương không ? Người ấy im lặng không dám nói Tây Phương là ở đây nữa. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Quỳnh Nga: Nếu nói đó là Tây Phương thì QN cũng lạy và phục, quan trọng là ở trong đó mãi cũng được nếu nói đó là Tây Phương. Chừng nào vào Toilet mà thấy an vui, thoải mái như ăn cơm cùng gia đình, có thể ăn cơm trong đó, rồi mới nên nói đây là Tây Phương. Bởi sự an lạc của Tây Phương là không thể nghĩ bàn, không gián đoạn. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Giới Định Huệ: Nếu nói trong thân là phần uế không đáng sợ thì chúng ta đi tắm làm gì nữa vì bên trong dơ quá rồi phải không đạo hữu ? Các bạn nói sao chứ mình thì lúc nào cũng cảm thấy thân này là khổ lắm. Nó thật sự là một gánh nặng. Ấn Tổ có kể câu chuyện như vầy: “Một kẻ té xuống hầm phân , người ở trên muốn kéo anh ta lên nhưng anh ta lại mắng người ở trên là ” ở trong bụng nhà ngươi cũng đầy phân có sạch sẽ gì hơn ta đâu ” cho nên anh ta cho rằng việc mình bị té xuống hầm phân và người đứng ở trên cũng như nhau nên quyết định không chịu rời khỏi hầm phân”. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Tôi chọn con đường Phật Giáo nguyên thủy nên có nhìn nhận khác với các bạn. An lạc hay không là do tâm mình chứ không phải bên ngoài, vì vậy cái cần làm là thực hành điều tâm chứ không phải cầu xin để được đến một nơi đẹp đẽ nào đó. Ví như bạn là con một gia đình cực kỳ giàu có, cuộc sống xa hoa muốn vật chất gì đều được đáp ứng thì bạn chưa chắc đã coi cuộc sống như vậy là tốt đẹp, bạn sẽ coi đó là bình thường, bạn sẽ muốn hơn nữa, cho dù chẳng để làm gì. Nếu bạn không mơ về vật chất nữa, bạn sẽ mơ có một người yêu như thế này, thế này, nếu có rồi, lập gia đình với người đó rồi thì bạn lại chán, lại mơ tưởng đến người khác thế kia, thế kia … lòng tham không được điều phục thì sẽ còn mãi đòi hỏi thôi. Các bạn đều đã từng trải, chán cái xô bồ, tranh đấu vụn vặt, nhỏ nhen của xã hội mà nghĩ rằng nếu được đến nơi cực lạc ấy các bạn sẽ an lạc mà không còn đòi hỏi gì hơn nữa. Nhưng thử coi những gia đình giàu có, chiều chuộng con cái, muốn gì cho đó con cái họ có vui không? Nếu chúng không chán gét cái cảnh ấy thì chúng cũng trở thành những đứa trẻ nhõng nhẽo mà thôi. Điều cần quan tâm để giúp trẻ nên người là dạy trẻ chứ không phải chiều trẻ. Các bạn cũng vậy, nếu không điều phục tâm thì dù có cái nơi cực lạc ấy thật và các bạn có đến được thì khi nhìn thấy châu báu ở đó các bạn cũng sẽ so sánh viên này đẹp hơn viên kia, bạn thích viên này hơn viên kia, khi các bạn ngôi nghe Phật A Di Đà của các bạn giảng pháp, các bạn nhìn người bên cạnh mình các bạn sẽ nhủ thầm: “ông này xấu thế mà cũng được lên đây”, hoặc: “ông này dám ngồi trước mình, mình ngồi trước ông ấy mới đúng” … thế giới nào cũng vậy, quan trọng là biết điều phục tâm thôi. Bàn vào điều mà các bạn nêu ở trên: “Các bạn không chú trọng thực hành điều tâm nên cảm thấy vào toilet không an vui thanh tịnh. Thưc ra thì bất cứ lúc nào, ở đâu, làm gì, chỉ cần chúng ta thực hành điều tâm thì đều được an lạc và thanh tịnh, kể cả vào toilet hay đi lại trên những quãng đường đông người, thậm chí bạn có thấy người ta đánh chém nhau bạn vẫn an lạc như thường. Khi tôi bị bệnh tôi vẫn thực hành điều tâm và vẫn an lạc thanh tịnh không khác gì lúc khỏe mạnh”. Lúc ấy tôi có làm bài thơ về điều này: Bệnh không mong khỏi Ốm và khỏe mạnh, khác chi đâu Phật pháp tinh chuyên, chẳng chút sầu Xác dẫu dật dờ, hom tựa khỉ Thần còn an tịnh, sáng như châu Nhẹ nhàng quán chiếu, quên đau họng Thong thả tư duy, kệ nhức đầu Mọi hướng hào quang luôn rạng tỏa Ốm và khỏe mạnh, khác chi đâu Có bạn đọc được viết mấy câu trao đổi, cho rằng tôi nói phét, đó là do bạn ấy ít hành pháp nên nghĩ không thể được. Giống như người ít tập thể dục thấy quả tạ trăm cân, có người bảo họ nâng lên được, anh ta không tin vì bản thân anh ta mười cân nâng cũng khó. Bạn QN viết “Chừng nào vào Toilet mà thấy an vui, thoải mái như ăn cơm cùng gia đình, có thể ăn cơm trong đó, rồi mới nên nói đây là Tây Phương” đó là bạn QN sa vào cực đoan rồi, mà hai phía cực đoan Đức Phật đều khuyên chúng ta nên tránh, Tương tự như vậy về câu truyện GĐH kể về anh chàng ngã xuống hố phân. Đức Phật và các vị A La Hán lúc nào tâm ý cũng thanh tịnh, vậy các bạn phải hiểu là lúc các ngài làm vệ sinh cá nhân các ngài cũng vẫn thanh tịnh chứ không mất đi cái thanh tịnh. Nhưng các ngài đâu có vì ở đó các ngài cũng thanh tịnh mà đem thức ăn vào chỗ vệ sinh ăn, chỗ nào hợp để làm việc gì chúng ta sẽ dùng để làm việc đó. Chúng ta khi gặp điều gì thì vẫn biết là nó tốt hay xấu, ô uế hay sạch sẽ nhưng không để nó làm tâm mình động loạn. Nếu thấy sạch sẽ mà ham muốn thì tâm cũng không còn thanh tịnh, tâm thanh tịnh không phụ thuộc vào cảnh bên ngoài. Đức Phật dạy chúng ta biết quán sát vô thường, biết nhàm tởm là hướng chúng ta điều tâm dứt bỏ tham ái chứ không phải để chúng ta chạy trốn cái khổ trước mắt, mong cầu an lạc viển vông ở đâu đâu, mong như vây chính là bỏ hình bắt bóng, đứng núi này trông núi khác, sai đường lạc lối, tham càng thêm tham. Chạy trốn không thể thoát được, chỉ có điều phục mới chiến thắng thôi. Đốn cây không đào gốc Chồi tược sẽ lên hoài Tham ái chưa nhổ rễ Khổ đau mãi dằng dai * Nhánh rẽ Bắc Tông – Quỳnh Nga: 1. Đúng rồi, Đức Phật và các vị A La Hán thì là đúng là như thế, điều này QN đồng ý! Nhưng xin hỏi là chúng ta đã là Phật hay A La Hán hay chưa, chúng ta đã đạt được tâm thanh tịnh như thế hay chưa. ĐH quên rằng chúng ta đang là phàm phu sao?! 2. QN tôn trọng cách lựa chọn của các Đạo Hữu, ngược lại đây là Topic thuộc chuyên mục Tịnh Độ thì xin Quý Đạo Hữu hãy tôn trọng và nghĩ cho hành giả Tịnh Độ! Đã là Hành giả Tịnh Độ thì Niệm Phật và Nguyện Vãng Sanh Tây Phương là việc chính yếu! Cho nên, Quý ĐH có nói ra điều gì xin hãy nghĩ đến điều mình nói có đúng đối tượng và có thực sự lợi ích cho người nghe hay không. 3. Điều ĐH BVH nói sẽ rất lợi ích đối với Hành giả Thiền Tông, nhưng đối với Hành giả Tịnh Độ Niệm Phật nguyện Vãng sanh thì làm cho họ phân tâm rồi. 4. ĐH có quyền lựa chọn một pháp môn mà ĐH cảm thấy lợi lạc cho bản thân ĐH và người khác cũng như thế! Họ Tu theo vì họ cảm thấy lợi lạc cho chính mình, nếu họ cảm thấy lợi lạc thì đó là điều tốt và nên hoan hỉ. 5. Ngày xưa lúc Phật thuyết pháp cũng tùy theo đối tượng của chúng sanh mà thuyết pháp phù hợp. Đó là sự uyển chuyển tuyệt vời của Đức Phật. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: 1. Chúng ta thực hành tốt bỏ tham thì tất nhiên sẽ đạt được cái tâm thanh tịnh như vậy. Ví như bạn đi học nấu ăn, bạn không phải cô giáo dạy nấu ăn nhưng nghe cô giáo hướng dẫn, về nhà bạn thực hành đúng những hướng dẫn của cô thì bạn sẽ làm được món ăn ngon như cô giáo bạn làm. Chúng ta là đệ tử Đức Phật, chúng ta thực hành tốt những điều Đức Phật dạy thì hoàn toàn có thể đạt được sự thanh tịnh y như Đức Phật đã đạt được. Điều này có lẽ những bạn không chịu hành pháp thì khó chấp nhận, nhưng là sự thật. Bạn không nên nghĩ mình không thể làm được, bạn hoàn toàn có khả năng làm được. 2. Chúng ta là người châu á nhưng vẫn luôn chú trọng việc giao lưu văn hóa với châu âu, chứ đâu phải thấy người châu âu qua chúng ta, giới thiệu về văn hóa của họ là chúng ta đuổi họ về, bảo họ không tôn trọng văn hóa của mình. Nếu ở đâu cũng ứng xử như vậy thì có lẽ món phở của Việt Nam không thể được nhiều người châu âu yêu thích đến vậy… Bạn QN hoan hỉ, tôi chỉ muốn trao đổi về một cách nhìn khác để các bạn tham khảo thôi chứ không có ý không tôn trọng các bạn tịnh độ. Cùng là một bài thơ nhưng mỗi người đọc có một cảm nhận khác nhau, cùng là một vấn đề, có thể bạn Quỳnh Nga thấy vô ích nhưng bạn khác lại thấy có ích, tùy duyên mà thôi. 3. Nếu bạn thực sự có cơ sở vững chắc để tin vào con đường bạn theo thì dù tôi nói gì bạn cũng không thể phân tâm được. Nếu những gì tôi nói khiến bạn phân tâm thì bạn có còn chắc chắn con đường mà bạn theo là đúng không? Đức Phật đã dạy: “Này các Kālāma, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được Kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì xuất phát từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo Sư của mình. Khi nào tự mình biết rõ như sau: các pháp này là bất thiện, các pháp này có tội; các pháp này bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàma, hãy từ bỏ chúng! Bạn đã tự quán chiếu để biết rõ con đường bạn đi chưa? Nếu bạn đã chắc chắn rồi thì đâu có gì có thể lay chuyển được. Còn nếu bạn thấy còn có khúc mắc thì sao không nghiêm túc xem xét lại? 4. Bạn nói đúng, mọi người đều có quyền chọn pháp môn, và khi một người có quyết tâm tu tập là rất đáng kính trọng. Tuy nhiên không phải vì họ cảm thấy lợi lạc mà ta nhìn họ đi sai cũng mặc kệ, ta phải chia sẻ với họ con đường đúng, chia sẻ với tình thương chan hòa cho tất cả chúng sinh. Chắc hẳn bạn còn nhớ việc Đức Phật và ba anh em ông Ca Diếp? Khi ông ta tu tập, dù theo con đường sai nhưng tất nhiên ông ta cảm thấy rất nhiều lợi lạc ở con đường ông ta đi nên ông ta mới theo. Đức Phật thấy ông ta tu tập sai ngài đã chỉ ra cái sai của ông ta chứ ngài đâu có im lặng. 5. Đức Phật tùy chúng sinh mà thuyết pháp, nhưng tất cả các pháp đều phải hướng người tu tập thực hành để tự giải thoát thì mới là chánh pháp. Về vấn đề này nếu bạn muốn có thể tham khảo thêm ở đây: http://vn.360plus.yahoo.com/buivhai1981/article?mid=153 * Nhánh rẽ Bắc Tông – Giới Định Huệ: Ở đây những hành giả tịnh độ thực sự thấy khổ thấy bức bách và thấy vấn đề sanh tử là một chuyện lớn trong cuộc đời cho nên phải chấp vào Tín Hạnh Nguyện trong kinh A Di Đà mà cầu vãng sanh Tây Phương , tuy chấp như thế nhưng họ vẫn được sự lợi lạc rất lớn do họ niệm Phật nên không niệm Tham Sân Si , cầu sanh Tây Phương thì buông bỏ thế gian ảo mộng này . Tuy trình độ hiểu biết chưa phải là cứu cánh nhưng đối với phàm phu mà được liễu sanh tử thì còn gì bằng. Hành giả tu thiền thì họ thích cái hiểu biết cứu cánh cho rằng tất cả không ngoài tâm, vì họ thích cái lý cứu cánh đó và dụng công trên lý ấy cũng được lợi lạc rất nhiều. Nhưng hãy hiểu cho những phàm phu đầy nghiệp chướng đang sống trong cảnh ngũ dục đầy cám dỗ này đang rất cần một nơi tu học hoàn hảo như Tây Phương Cực Lạc và nhất là mục tiêu giải thoát sanh tử . * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Tôi biết GĐH là người rất có lòng với pháp, thực sự là đáng trân trọng. Tuy nhiên theo bạn thì mong muốn một chỗ tốt đẹp hơn chỗ mình đang sống, có phải tham không? Hành động cầu xin để có tức là phụ thuộc vào tha lực bên ngoài chứ không phải bản thân mình, vậy mà nghĩ là được giải thoát? Đó là trói mình vào thế lực khác, không còn tự do nữa vậy mà cứ tưởng “thoát” vậy có phải là si không? Giống như một người lười biếng không chịu tự lao động kiếm sống, một người giàu có thấy vậy bảo rằng cứ theo anh ta, xin anh ta, anh ta sẽ cho ăn. Người này liền đi theo và xin người giàu có. Từ đó anh ta hoàn toàn lệ thuộc vào người kia, khả năng tự lao động kiếm sống, tự làm chủ bản thân của anh ta ngày càng suy giảm trong khi anh ta lại nghĩ mình được giải thoát. Nếu ta không hành thiền thường xuyên thì khả năng quán chiếu ngày càng suy giảm, tệ hại vô cùng. Đức Phật đã dạy trong kinh Pháp Cú: “Tu thiền trí tuệ sinh Bỏ thiền trí tuệ diệt Được mất khéo phân biệt Biết rõ đường chánh tà Tự nỗ lực theo đà Trí tuệ dần tăng trưởng”. Vậy kinh nào dạy người ta chú trọng cầu xin mà không chú trọng thiền định, tức là dạy người ta bỏ thiền ắt là kinh bất thiện, là ngụy kinh chứ không phải chân kinh của Phật. Vì dạy người ta bỏ thiền sẽ làm cho trí tuệ ngày càng mê mờ, khiến người ta đã vô minh càng thêm vô minh, mà vô minh thì sẽ dẫn đến bất hạnh khổ đau. Việc trao đổi giữa các tư tưởng là hoàn toàn tự nhiên, vậy nhưng nếu bạn thấy tư tưởng người ta không giống bạn, bạn không muốn người ta viết nữa, vậy có phải là đã sân không? Mỗi người đều có quyền và nên tự mình chọn con đường mình đi, nhưng có quyền cấm người khác chỉ ra cái sai lạc trong con đường mình chọn không? Tôi xin dừng trao đổi ở đây. Chúc các bạn an lạc và tinh tấn. Phần III: Tư cách thẩm định kinh. 1. Tất cả mọi người đều có tư cách thẩm định kinh. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Vô Hữu Bất Không: Muốn thẩm định Kinh Điển Bắc Truyền, thì chỉ khi phải là người chính thức bước đi vững chắc trên con đường đạt mười danh hiệu, nguyện là người kế tục tuyên pháp trong tương lai thì mới đủ tư cách. Còn nếu đi trên con đường này, đạp bỏ con đường kia thì hoàn toàn sai nguyên tắc tu học. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Đạo hữu nói về cái tư cách thẩm định Kinh Điển Bắc Truyền như vậy là sai rồi. Theo Đức Phật dạy thì ai học kinh cũng phải tự mình quán chiếu mà thẩm định chứ không nên tin mù quáng. Vì vậy tất cả chúng ta khi học Phật đều phải tư duy quán chiếu, tự mình thẩm định tính xác thực của kinh đang đọc xem đó có phải là chân kinh không chứ không thể mù quáng mà tin. Đạo hữu hãy đọc lại lời dạy của Đức Phật: “Này các Kālāma, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được Kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì xuất phát từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo Sư của mình. Nhưng này các Kàlàma, khi nào tự mình biết rõ như sau: các pháp này là bất thiện, các pháp này có tội; các pháp này bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàma, hãy từ bỏ chúng!” Đức Phật đã dạy chúng ta trong kinh pháp cú, quyển kinh mà bất cứ hệ phái nào cũng phải công nhận là chân kinh rằng: “Tu thiền trí tuệ sinh Bỏ thiền trí tuệ diệt” Vậy kinh nào dạy người ta chú trọng cầu xin mà không chú trọng thiền định, tức là dạy người ta bỏ thiền ắt là kinh bất thiện, là ngụy kinh chứ không phải chân kinh của Phật. Vì dạy người ta bỏ thiền sẽ làm cho trí tuệ ngày càng mê mờ, khiến người ta đã vô minh càng thêm vô minh, mà vô minh thì sẽ dẫn đến bất hạnh khổ đau. Có đạo hữu hỏi việc học Phật nên bắt đầu từ đâu, tôi đã trả lời: Đạo hữu nên tìm hiểu xem mục đích Đức Phật thuyết Pháp là gì, bạn đọc những bài giảng đầu tiên của Đức Phật, như Kinh Chuyển Pháp Luân.(Đây là bài giảng đầu tiên của Đức Phật). Nếu muốn học được hệ thống kinh chân chánh nhất do Đức Phật dạy thì bạn nên học kỹ kinh điển Nguyên Thuỷ. Đây là hệ thống kinh điển mà tất cả các trường phái đều công nhận do chính Đức Phật dạy. Phật giáo từ thời Đức Phật truyền đến chúng ta đã qua rất nhiều đời. Bị ảnh hưởng của chính trị và văn hoá các nước mà nó đi qua nên sinh ra nhiều trường Phái. Có những trường phái rẽ theo lối ngược hẳn với tư tưởng của Đức Phật, vì vậy thường có tranh luận về chân kinh và nguỵ kinh, tức là kinh giả và kinh thật. Với người mới học thì việc xác định chân kinh để đi đúng đường là quan trọng. Để tránh học sai Phật pháp, bạn nên tìm hiểu kỹ xem những kinh điển nào đang bị phê phán là nguỵ kinh (tức kinh giả). Vấn đề này bạn có thể tham khảo trên mạng có rất nhiều. Về vấn đề này bạn có thể tham khảo nhận định của tôi qua link sau: http://vn.360plus.yahoo.com/buivhai1981/article?mid=153 Điều đầu tiên nên tìm hiểu là mục đích thuyết pháp của Đức Phật. Khi đã rõ mục Đức Phật thuyết pháp để làm gì thì chúng ta sẽ nhận ra ngay kinh nào là chân kinh qua nội dung của kinh. Đức Phật thuyết pháp để dạy con người cách làm chủ bản thân, phá tan vô minh để thoát khỏi sự trói buộc của luân hồi. Vậy kinh nào dạy ta cách thực hành để phá vô minh là chân kinh. Kinh nào không dạy phương pháp thực hành mà khuyên người cầu xin là nguỵ kinh. Đức Phật đã dạy: Nhiễm tịnh do ta cả Không ai thanh tịnh ai. Vậy rõ ràng những kinh nào nói cầu xin kẻ khác có thể giúp mình thì kinh đó là nguỵ kinh. Vài lời chia sẻ thực tâm, còn con đường của mỗi người đều do bản thân quyết định. Chúc đạo hữu an lạc và chọn đúng chân kinh mà tu tập, tu tập tinh tấn. 2. Làm sáng rõ chân kinh không phải là đấu đá. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Vô Hữu Bất Không: Lời lẽ của DH trong bài trả lời đó, rõ ràng loại Kinh Điển Bắc Truyền ra khỏi Phật Giáo. Chẳng khác bảo rằng Kinh Điển Bắc Truyền là do người ta chế ra. Trong khi đó các bậc trí tuệ đều đã ra sức tuyên dương mấy ngàn năm nay. Kinh Điển Bắc Truyền hay Nam Truyền đều do các Đệ Tử Đức Phật tập kết lại. Đệ Tử của Đức Phật thì đông vô số kể. Họ sẽ biết nên tập kết thế nào mà không hủy diệt căn duyên tu tập của chúng sanh. Nếu bản thân mình không thể hiểu hay thực hành một kinh điển, hoặc thấy trái nghịch với ý của mình, rồi bảo rằng không do Phật Thuyết thì đó là tại bản thân mình. Đã là anh em một nhà cớ sao lại cứ loại nhau ra, đấu đá lẩn nhau thì biết chừng nào mới tu tập giải thoát. Hy vọng DH hiểu cho diễn đàn chúng ta, hướng đến Nam Truyền hay Bắc Truyền đều là anh em một nhà. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Chào đạo hữu VHBK, vốn cũng không muốn cho đạo hữu phải căng thẳng, nhưng về Pháp tu học thì không thể không luận giải rõ ràng. Tôi muốn hỏi đạo hữu quan niệm thế nào là “bậc trí tuệ”? Trong khi Thượng Toạ Bộ cho rằng Kinh điển của Phật giáo Bắc Tông là nguỵ tạo, không phải lời của Phật thuyết, là tà ma ngoại đạo. Theo đạo hữu thì những vị trong thượng toạ bộ có phải bậc trí không? Còn quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng vậy, đạo hữu tham khảo link sau nhé, bài này do người theo Bắc Tông viết đó. Người viết cũng đã nói rằng không thể bác bỏ lịch sử, và sự thật là có những kinh điển Bắc Tông do người sau chế ra. http://www.chualinhmu.com/phatphap/Phatgiaovandap/08.htm Tôi xin trích một đoạn ngắn, còn thì tự đạo hữu đọc cho rõ: “Vấn đề này là một vấn đề cần lưu tâm khi nghiên cứu dòng văn học Phật giáo Mahāyāna, và các nhà nghiên cứu Phật học Theravāda đã thường gọi những loại kinh điển như vậy là “ngụy tác” (apocrypha). Cách đây không lâu, một vài học giả ra sức nghiên cứu về những kinh điển có thể bị nghi ngờ là do đời sau thêm vào trong hệ thống văn học Phật giáo Trung Quốc và họ cho các Kinh này là Kinh nguỵ tác…”……… Do đó, chúng ta không thể nào phủ nhận lịch sử, và có thể khẳng định lại một lần nữa, việc biên tập Kinh Pháp Hoa ra đời tương đối muộn và chắc chắn là do các nhà tư tưởng Đại Thừa thời bấy giờ biên tập ……..bảo Kinh do Đức Phật dạy sẽ khơi dậy được niềm tin Pháp sâu xa trong tâm người học hỏi và tu tập kinh hơn”. Đức Phật đã dạy rõ trong kinh Kinh Kalama: – Này các người Kâlâma, đương nhiên phải nghi ngờ, đương nhiên phải phân vân. Ðối với điều đang nghi ngờ thì phân vân khởi lên. Này các người Kâlâma, đừng tin vì nghe nói lại, đừng tin vì theo phong tục, đừng tin vì nghe tin đồn, đừng tin vì kinh điển truyền tụng, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì công thức, đừng tin vì có suy tư đầy đủ về những dữ kiện, đừng tin vì có thẩm sát và chấp nhận lý thuyết, đừng tin vì thấy thích hợp, đừng tin vì Sa môn (2) là thầy mình. Nhưng này các người Kâlâma, khi nào các người tự biết rõ: Các pháp này là bất thiện, các pháp này là đáng chê, các pháp này bị người trí chỉ trích các pháp này nếu được thực hiện, chấp nhận thì dẫn đến bất hạnh khổ đau; thời này các người Kâlâma, các người hãy từ bỏ chúng đi. Tôi không đấu đá ai, tôi chỉ nói lên sự thật và hướng cho họ tự tìm hiểu những điều cần biết nhất để tránh tu tập sai, đó chính là mục đích Đức Phật thuyết pháp. Đã biết mục đích thì tất sẽ hiểu đúng. Tôi cũng vẫn tu tập chứ có phải biện luận cùng các vị là không tu tập được đâu. Nếu VHBK thảo luận một chút là gián đoạn tu tập thì nên xem lại cách tu tập. Với tôi thì các vị cùng trao đổi trên diễn đàn, dù ủng hộ hay chế diễu tôi, tôi cũng chỉ xem là chúng sinh, không hề ảnh hưởng tới quá trình tu tập của tôi. Nếu các vị tự tin vào đường lối tu tập của mình thì cứ để họ tìm hiểu một cách vô tư, khách quan và công bằng, sao phải dấu diếm quan điểm của những bậc trí tuệ. Hay các vị cho rằng các vị trong Thượng Toạ Bộ không phải những bậc trí, các nhà nghiên cứu Phật học trên thế giới cũng không có trí chăng? Những người học Phật bằng trí tuệ là không phải bậc trí chăng, chỉ có kiểu tin tưởng mù quáng mà Đức Phật đã nhắc phải tránh là “trí” chăng? Tôi không chỉ trích trực tiếp Tông Phái nào, tôi chỉ nói thật rằng đang có những kinh bị nghi ngờ là giả mạo (Đó tất nhiên là sự thật không thể bác bỏ). Tôi cũng hướng cho vị ấy cách xác định kinh điển thật, còn tất cả là tuỳ vị ấy tự tìm hiểu và nhận định. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Binh: Phật thuyết pháp tùy theo hoàn cảnh (tùy duyên). Không thể áp buộc là phải đúng hay phải sai. Đây là cách suy luận một chiều của Tây phuơng. Thí dụ A và B tranh luận, nếu A sai thì B đúng, và ngược lại. Trong thực tế, có nhiều cái không thể kết luận như vậy được. Thí dụ : đây là bàn tay tôi. Khi tôi nắm lại, tôi nói : đây là nắm tay tôi. Vậy bạn không thể kết luận bàn tay tức là nắm tay. cũng không thể kết luận bàn tay không phải là năm tay. Trường hợp này, bàn tay và nắm tay “Không phải một, không phải khác”. Luận lý của Tây phuơng không áp dụng được trong trường hợp này. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Nói Đức Phật thuyết pháp tuỳ theo hoàn cảnh, tuỳ theo duyên thì phải hiểu như sau. Có một cái nhà an bình, Đức Phật là người đã tự tìm ra con đường đi đến ngôi nhà đó, ngài đã ở trong ngôi nhà an bình rồi. Ngài thương chúng sanh còn lang thang cơ khổ, không biết đường tới nhà liền chỉ ra các con đường dẫn tới ngôi nhà đó. Chúng sanh mỗi người xuất phát từ vị trí khác nhau, địa điểm khác nhau. Vì vậy các con đường Đức Phật chỉ cho chúng sanh cũng khác nhau. Người cách ngôi nhà một con sông thì Đức Phật dạy cách bơi. Người cách ngôi nhà quả núi thì Đức Phật dạy cách leo núi. Với những người cùng đi trên một con đường thì cũng tuỳ căn cơ, ví như người què Đức Phật dạy cách chống gậy, người có xe Phật dạy cách đạp xe .v.v. tựu chung những cách ấy đều không mâu thuẫn với nhau. Chân lý chỉ có một, vì vậy không bao giờ trong cùng một vấn đề lại có hai đáp án cùng đúng được. Cách tính ra đáp án có thể khác nhau, nhưng đáp án chỉ có một. Trong ví dụ của đạo hữu binh. Bàn tay là chỉ bộ phận trên cơ thể người. Nắm tay là chỉ bộ phận đó khi cử động. khi nói nắm tay chúng ta phải hiểu là đang có cử động (Nắm lại). Hai câu có ý nghĩa khác nhau, vì vậy đem ra đối chiếu cách gọi là sai. Giống như hạt gạo và hạt cơm vậy, hạt gạo khi nấu lên thì gọi là hạt cơm. Tôi vừa qua đường link: http://www.chualinhmu.com/phatphap/Phat … dap/08.htm đọc bài viết. Qua bài đó tôi vui mừng thấy các vị tu theo Bắc tông đã thừa nhận kinh Bắc tông là do người Trung Quốc tạo ra. Xin được trích đoạn: “….Do đó, chúng ta không thể nào phủ nhận lịch sử, và có thể khẳng định lại một lần nữa, việc biên tập Kinh Pháp Hoa ra đời tương đối muộn và chắc chắn là do các nhà tư tưởng Đại Thừa thời bấy giờ biên tập. Về phần lợi ích của việc thọ trì Kinh Pháp Hoa hay giá trị thực tiễn của bộ Kinh, không phải mục đích nhắm đến bài viết này, nên người viết không trình bày.…… Đến đây, quý vị lại có thể đặt vấn đề, như vậy câu “như thị ngã văn” trong Kinh điển Đại Thừa, cụ thể như Kinh Pháp Hoa, là ngoa mà lại cho là lời của Tôn giả Ānanda thuật lại, như vậy có trái với giới thứ tư của Đức Phật dạy cho hàng Phật tử không? Đây, xin đưa ra cách lý giải khác mang tính hoà giải khá hay của Thượng Toạ Chơn Thiện, cho người đọc sự thông cảm và thấy tinh thần vì mục đích truyền bá Phật Pháp của các bậc Tổ Sư hơn là vì tên tuổi của mình: “Do vì lời kinh phù hợp với giáo lý truyền thống nên có thể được xem là do Phật thuyết. Chư Tổ không dám nhận lãnh trách nhiệm chuyển bánh xe Pháp. Vả lại, bảo Kinh do Đức Phật dạy sẽ khơi dậy được niềm tin Pháp sâu xa trong tâm người học hỏi và tu tập kinh hơn. Do nhằm xây dựng niềm tin Pháp ấy cho đời, nên Kinh Đại Thừa được chư Tổ kiết tập dưới hình thức Phật thuyết” (Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa, Lời Tựa). Trên đây là một số trích đoạn rất hay, chúng tỏ rằng người viết bài trên thừa nhận kinh Bắc tông do Trung Quốc tạo ra. Nói dối rằng đó là kinh do Phật thuyết chỉ để lừa người tu học (bảo Kinh do Đức Phật dạy sẽ khơi dậy được niềm tin Pháp sâu xa trong tâm người học hỏi và tu tập kinh hơn.) Họ nói rằng “vì lời kinh phù hợp với giáo lý truyền thống nên có thể được xem là do Phật thuyết” nhưng thực ra kinh Bắc Tông đâu có phù hợp với giáo lý truyền thống, vì vậy không thể xem là do Phật thuyết, những lời trên chỉ là nguỵ biện. Dù sao cũng vui mừng nhận thấy có nhiều vị bên Bắc Tông cũng biết nhìn thẳng vào sự thật. Phần IV: Pháp của Thế Tôn dành cho tất cả chúng sinh. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Vô Hữu Bất Không: Pháp của Thế Tôn thì chỉ có Thế Tôn dùng được, chúng ta chỉ là những người học tập theo con đường mà Ngài đã qua. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Pháp của Thế Tôn tất cả chúng sinh đều dùng được, nếu chúng sinh không dùng được, chỉ Thế Tôn dùng được thì ngài thuyết pháp có ích gì? Chúng ta không dùng được thì chúng ta học làm gì? Sao hồ đồ quá vậy ? Ví như con dao, có người tạo ra nó, chỉ lại cho chúng ta, bảo chúng ta dùng nó có tác dụng như thế này, thế này, chúng ta hiểu cách sử dụng dao liền dùng nó trong sinh hoạt, giúp ích cho bản thân. Nếu chúng ta nghe rồi, biết cách dùng dao rồi mà chúng ta không dùng được thì còn nghe làm gì? Ôi, cứ tưởng trẻ con mẫu giáo cũng hiểu, vậy mà …. VO_HUU_BAT_KHONG606 nếu còn minh mẫn có thể nêu ra cho tôi một cái gì đó bạn không thể dùng được mà bạn vẫn học không, nếu có cái thứ quái lạ đó bạn cũng nên nói luôn cho mọi người vì sao cái đó bạn không dùng được, tức là nó không có ích gì cho bạn mà bạn vẫn học? * Nhánh rẽ Bắc Tông – Vô Hữu Bất Không: Chúng sanh mà đạt chỗ chư Phật thì đâu gọi là chúng sanh. Ngài dùng được vì Ngài đã chứng nghiệm chân lý. Chúng ta chưa được như Ngài, nhưng theo con đường mà Ngài đã vạch ra thì sẽ được, tức là chúng ta sẽ là Phật tương lai. Ý VHBK đơn giản là thế. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Vì chúng sanh chưa đạt được chỗ chư Phật, nên Phật mới phải nói pháp để chúng sanh tu tập mà đạt tới. Ví như có một cái nhà an bình, Đức Phật là người đã tự tìm ra con đường đi đến ngôi nhà đó, ngài đã ở trong ngôi nhà an bình rồi. Ngài thương chúng sanh còn lang thang cơ khổ, không biết đường tới nhà liền chỉ ra các con đường dẫn tới ngôi nhà đó. Ngài nói ra con đường vốn là vì những người còn lang thang cơ khổ kia chứ không vì ngài. Bởi ngài đã ở trong ngôi nhà đó rồi, cần chi đi đường nữa Một ví dụ dể hiểu hơn: Giữa vùng bão lũ, mọi người đều phải vật lộn đau khổ để chống lại dòng nước lũ, có một đỉnh núi an bình. Nếu mọi người lên tới đó thì thoát khỏi cơn lũ kia. Đức Phật là người tự mình tìm ra đường lên núi. Ngài đã lên được và bình an ở trên đó. Khi lên ngài chỉ dùng một con đường thôi, nhưng lên đến đỉnh rồi, từ đỉnh núi nhìn xuống ngài thấy có rất nhiều con đường để lên. Người đang vật lộn ở phía bắc thì lên con đường này là gần.. người đang vật lộn ở phía nam thì lên con đường này là gần… Tuỳ vào vị trí của mỗi người ở đâu mà Đức Phật chỉ ra con đường phù hợp cho họ đi. Đức Phật nói con đường vốn để cho người đang quay cuồng trong cơn lũ kia thoát lũ, chứ không phải nói cho ngài, vì ngài đã thoát lũ rồi. Chúng sanh khi dùng Pháp (thực hành pháp) tất nhiên không thể đạt tới chỗ chư Phật ngay, giống như bắt đầu bước chân lên con đường, không thể tới đích ngay nhưng chúng sanh vẫn phải dùng pháp (phải bước đi trên con đường đó thì mới tới đích được). Bạn đã viết: “Chúng ta chưa được như Ngài, nhưng theo con đường mà Ngài đã vạch ra thì sẽ được” tức là bạn cũng công nhận chúng ta đi trên con đường của Đức Phật chỉ ra. Mà chúng ta đi trên con đường đó được có nghĩa là chúng ta sử dụng được nó còn gì. * Nhánh rẽ Bắc Tông – Vô Hữu Bất Không: DH đã nói là: dùng pháp của Thế Tôn, không khéo người ta hiểu lầm là DH đã bằng với Thế Tôn. VHBK chỉ góp ý thôi, không có bài bác ai cả. * Phật Giáo Nguyên Thủy – Bùi Văn Hải: Chúng ta là Phật tử, ai chả dùng pháp của Thế Tôn, đó là đạo hữu hiểu sai nên nói vậy. Dù đạo hữu có bài bác tôi cũng không sao. Tôi không quan tâm việc bài bác hay hưởng ứng. Người học đạo thấy nên nói thì nói, thấy phải thì theo. Miệng lưỡi thế gian vốn không thể quản được, không thể tất cả đều ủng hộ mình, đều như ý mình. “Hãy xem thế gian này Như xe vua lộng lẫy Kẻ ngu ngắm mê mải Người trí chả bận tâm”

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s