Các Tiến Trình Tâm Cận Tử

Tác giả Ledi Sayadaw

Con người luôn luôn bận rộn với những ý nghĩ tốt và xấu cũng như với những dự định làm điều thiện và ác thế này thế kia. Trong khi mãi còn bận toan tính như vậy, thì tử thần tới vỗ vai và thế là họ phải bỏ lại đằng sau mọi của cải, sở hữu, và những người thân yêu để ra đi khỏi cõi đời này vĩnh viễn.

Bởi thế chúng ta phải hiểu rõ tầm quan trọng của thời gian liền trước cái chết (thời cận tử) và làm thế nào để đương đầu với cái chết sắp đến một cách bình tĩnh và lợi ích nhất.

Bốn Nguyên Nhân Của Sự Chết

Cái chết xảy ra do bốn nguyên nhân, là (1) thọ mạng đã mãn, (2) nghiệp lực chấm dứt, (3) sự kết hợp của hai nguyên nhân trên, và (4) cái chết phi thời do một nghiệp lực (là đoạn nghiệp – upacchedakakamma) – làm gián đoạn. Một tỷ dụ thích hợp cho bốn nguyên nhân của sự chết này là sự tắt của một ngọn đèn dầu. Ngọn đèn có thể tắt do bốn nguyên nhân là (1) dầu cạn, (2) tim lụn, (3) sự kết hợp của cả hai: dầu cạn và tim lụn, và (4) nguyên nhân bên ngoài như một cơn gió thình lình thổi tắt hay người nào đó cố ý thổi tắt.

1 . Thọ mạng đã mãn

Mỗi cõi sống có một thọ mạng khác nhau. Trong cõi nhân loại này thọ mạng thay đổi tuỳ theo kiếp tăng hay kiếp giảm (kappa). Nếu thế gian ở trong thời kỳ kiếp đang tăng dần, thọ mạng con người cũng tăng theo cho đến vô lượng, trong khi ở chu kỳ thế gian đang giảm, thọ mạng của con người cũng giảm dần xuống tới mức chỉ còn mười năm (tuổi). Khi Đức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian này tuổi thọ tối đa được nói là một trăm tuổi. Ngày nay mức đó chỉ vào khoảng bảy mươi lăm. Những người với nghiệp bình thường không thể vượt quá mức tối đa này; chỉ những người sinh ra với năng lực của thiện nghiệp đặc biệt mới có thể sống vượt qua mức bảy mươi lăm. Tuổi thọ của họ có thể quy cho thiện nghiệp quá khứ và các loại thuốc bổ như thuốc trường sinh bất lão – rasāyana, chẳng hạn.

Trong thời kỳ Đức Phật Gotama (Cồđàm), Tôn Giả Maha Cadiếp (Mahākassapa), Tôn Giả Anan (Anandā) và Bà Visakha, thí chủ của ngôi Chùa Đông Phương Tự, đã sống đến 120 tuổi; Tôn Giả Bakula sống đến 160 tuổi. Các vị này đã tạo những thiện nghiệp cực kỳ cao thượng trong những kiếp quá khứ. Người bình thường, không có những thiện nghiệp đặc biệt như vậy, sẽ không sống hơn thọ mạng 75 tuổi của họ. Cái chết ở độ tuổi này được gọi là “thọ mạng bình thường đã mãn”, cũng như dầu hết làm tắt ngọn đèn mặc dù tim (bấc đèn) vẫn còn vậy.

2 . Chết do nghiệp lực chấm dứt

Nghiệp lực đưa đến đời sống của một người sẽ hỗ trợ cho cuộc sống từ giai đoạn thụ thai trở đi cho đến ngày năng lực (nghiệp ấy) chấm dứt. Cũng có những nghiệp thuộc loại khác tăng cường thêm cho nghiệp hỗ trợ sự sống chính và khi những nghiệp lực này cạn kiệt, người ta sẽ chết mặc dù thọ mạng của họ vẫn chưa mãn. Vì thế nếu nghiệp lực chấm dứt ở tuổi 50, người đó sẽ chết ở tuổi đó mặc dù thọ mạng của họ là 75. Điều này cũng tương tự như ngọn đèn tắt do tim lụn cho dù dầu trong đèn vẫn còn.

3 . Cái chết do cả hai yếu tố trên

Một số chúng sinh chết do thọ mạng và nghiệp lực cạn kiệt, cũng giống như ngọn đèn tắt do cả dầu lẫn tim đều cạn đồng thời. Do đó, có những người sống đến 75 tuổi nếu như họ có sự hỗ trợ của nghiệp lực cho đến tuổi đó. Ba loại chết kể trên gọi là chết đúng thời (kāla-maṇa).

4 . Chết phi thời

Upacchedaka có nghĩa là chết phi thời hay cái chết không bình thường. Một số chúng sinh đúng ra vẫn tiếp tục sống vì thọ mạng và nghiệp lực của họ cho phép được sống như vậy. Song nếu những ác nghiệp họ đã làm trong quá khứ bất ngờ trổ quả, thời những ác báo của nghiệp khiến cho họ phải chết một cái chết phi thời. Cái chết này cũng tựa như sự tắt của ngọn đèn do một ngọn gió thổi qua dù tim và dầu vẫn còn, hoặc do một người nào đó cố tình thổi tắt. Một cái chết như vậy thường được gọi là chết do đoạn nghiệp – upacchedaka-kamma, tức là sự gián đoạn do quả của ác nghiệp cực mạnh xen vào.

Tôn Giả Mục Kiền Liên (Mahā Moggallāna), trong một tiền kiếp đã phạm tội giết mẹ. Ác nghiệp này của Ngài đã có cơ hội trổ quả trong kiếp chót làm Mahā Moggallāna; bởi thế ngài phải chịu sự tấn công của năm trăm tên cướp trước khi đúng thời ngài nhập vô dư Niết-bàn (parinibbāna). Vua Tầnbàsala (Bimbisara), một trong những kiếp trước đã đi giày vào trong chánh điện. Do nghiệp xấu này, ngài phải chết đau đớn do những vết thương chính con ngài rạch trên lòng bàn chân trong kiếp hiện tại. Hoàng hậu Samagoati (Sāmāvatī) và các tỳ nữ của bà, trong một kiếp quá khứ đã châm lửa vào một đống cỏ khô, vô tình trong đó có một vị Phật Độc Giác đang nhập định (Diệt thọ tưởng định) (samapatti). Khi cỏ cháy hết, họ mới khám phá ra rằng mình đã thiêu sống một vị Phật Độc Giác. Để che đậy hành vi tội lỗi ấy (vì họ nghĩ lầm rằng họ đã đốt cháy đức Phật Độc Giác, mà thực ra ngài không thể bị lửa cháy hoặc bị tổn hại gì lúc đang nhập định), họ đã chất thêm củi vào vị Phật Độc giác và châm lửa đốt rồi bỏ đi, nghĩ rằng “Bây giờ thì ngài sẽ cháy ra tro.” Sau khi xuất thiền vào cuối ngày thứ bảy, Đức Phật Độc Giác đứng dậy và ra đi, không bị tổn hại gì cả. Ác nghiệp đó đã tìm được cơ hội để cho quả và vì thế họ phải chết một cái chết phi thời do bị thiêu sống cho đến chết. Đây là những trường hợp trong đó một nghiệp bất thiện mạnh mẽ đã gây ra cái chết phi thời.

Một số cực ác nghiệp có thể tạo ra quả báo tức thời. Ác ma Dūsī (Māra) ném đá vào đầu vị thánh đệ tử của đức Phật Kassapa. Dạ xoa Nanda đánh một búa vào cái đầu mới cạo của Tôn Giả Xá lợi -Phất. Đức Bồ tát Khantivādī khi làm đạo sĩ đã bị giết theo lệnh của đức vua Kalābu. Tất cả những người này – Dūsī, Nanda, và vua Kalābu – do cực ác nghiệp họ làm, đã bị đất nuốt chửng (đất rút) trong kiếp hiện tại của họ. Như vậy, chính những hành vi tàn ác sẽ tạo ra những ác quả tức thời. Cũng tương tự, những người xúc phạm hay xỉ nhục các bậc cha mẹ, người lớn tuổi và giới đức, chắc chắn phải gánh chịu những ác quả của bất thiện nghiệp họ đã làm và chết những cái chết phi thời gọi là akālamaraṇa (phi thời tử) trước khi thọ mạng của họ chấm dứt.

Những Trường Hợp Chết Phi Thời

Dòng tương tục danh – sắc, hay tâm và thân, của mỗi chúng sinh được đi kèm bởi những nghiệp lực xấu của quá khứ. Những nghiệp lực xấu này tự nó không thể cho quả đủ nghiêm trọng để giết chết người đó. Nhưng khi người làm điều sai trái ấy không có sự hiểu biết về cách tự phòng hộ bản thân, không lưu tâm đến sức khoẻ và sự sống hàng ngày của mình, những nghiệp lực ấy sẽ tìm được cơ hội đem đến sự nguy hại hay cái chết cho họ. Nếu trong quá khứ, một người đã từng bỏ đói, hành hạ, đánh đập, thiêu cháy, nhận chìm hoặc tra tấn người khác, thời do những ác nghiệp ấy họ sẽ gặp phải số phận tương tự. Những ai đã từng hành hạ người khác trong quá khứ phải gánh chịu những chứng bệnh mãn tính như hen suyễn, phong cùi, v.v… và phải sống cho đến hết thọ mạng bất hạnh và khốn khổ của mình, sau đó mới chết do những chứng bệnh ấy. Dễ duôi trong những thói quen của cuộc sống sẽ mời gọi những ác nghiệp quá khứ đến cho quả. Các bậc hiền trí ngày xưa đã để lại nhiều câu châm ngôn đáng ghi nhớ: “Cuộc sống được bảo đảm nhờ biết nhìn xa thấy trước và có trí tuệ. Tai hoạ xảy ra chỉ do một phút thiếu suy nghĩ; lắm khi chỉ vì một miếng ăn tồi tàn mà làm hại cả đời người. Kẻ ngu đi vào hang hùm chắc chắn là phải chuốc lấy hoạ, không phải nhờ vào vận may mà có thể tránh được. Chớ tin nghiệp tốt của mình mà nhảy vào lửa, nghiệp ấy sẽ không cứu bạn khỏi bị cháy đâu!”

Những gì mà các bậc hiền trí ngày xưa muốn nói ở đây là: “Mỗi người ai cũng có một kho chứa những nghiệp lực bất thiện trong quá khứ; nếu những nghiệp ác này không quá mạnh, chúng không thể có được cơ hội để tự trở thành quả. Chúng chỉ có cơ hội cho quả khi người ta dễ duôi (sống cẩu thả), không chú tâm chánh niệm và bất cẩn trong lối sống của họ. Do đó, nếu một người sống cẩu thả và xem thường sức khoẻ của mình, không biết lo xa và dự phòng trước để chăm sóc bản thân mình, thì ngay cả những ác nghiệp nhỏ cũng sẽ có cơ hội để cho quả và cái chết cũng sẽ rất gần đối với một người như vậy (ngay cả trước khi thọ mạng và nghiệp lực của họ chấm dứt)” Đây là lời khuyên của các bậc hiền trí cho các thế hệ sau.

Tóm lại, trong số bốn loại chết kể trên, loại sau cùng (chết phi thời) ngày nay rất phổ biến vì hầu hết mọi người đều sống một cách liều lĩnh, khinh suất. Cẩu thả trong lối sống là nguyên nhân chính của những cái chết phi thời. Những ai muốn sống cho đến hết thọ mạng của mình cần phải giữ gìn cuộc sống với chánh niệm và trí tuệ.

Tầm Quan Trọng Của Phút Giây Cuối Cùng

Khi một người sắp chết do bất kỳ nhân nào trong bốn nhân đã nói, điều quan trọng là họ phải có được những tốc hành tâm thiện (javana-cittas) khoảng nửa giờ trước khi chết. Nếu những thiện tư duy này thắng thế cho đến hơi thở cuối cùng, người ấy chắc chắn sẽ tái sinh trong những cõi an vui. Nếu họ có những tốc hành tâm bất thiện trước lúc chết, chắc chắn họ sẽ phải tái sinh vào bốn ác đạo. Do đó, vòng cuối cùng đối với con ngựa đua quan trọng thế nào, thì những sát-na cuối cùng đối với một người muốn có một tái sinh tốt cũng quan trọng như vậy. Một người có được những tư duy tốt hay xấu trước lúc lâm chung tuỳ thuộc vào loại đối tượng hiện khởi đến tâm họ.

Ba Loại Đối Tượng

Ngay trước lúc chết, người ta sẽ thấy một trong ba đối tượng, đó là, kamma (nghiệp), kamma nimitta (nghiệp tướng) và gati-nimitta (thú tướng). Ở đây nghiệp có nghĩa là những việc làm tốt hoặc xấu (nói khác hơn, những tư hay chủ ý – cetanā – thiện hoặc ác) họ đã làm trong quá khứ. Nghiệp tướng – Kamma nimitta là những vật dụng hay công cụ họ đã dùng trong việc thực hiện những việc làm thiện hay ác ấy. Thú tướng – gati nimitta là viễn ảnh về cảnh giới hay nơi họ sẽ tái sinh vào đó.

Nghiệp Xuất Hiện Như Đối Tượng Như Thế Nào

Khi các nghiệp quá khứ hay hành động mà người ta đã thực hiện chỉ một vài giây trước, hoặc chỉ nửa giờ hay một giờ trước, hoặc có khi những nghiệp đã thực hiện nhiều kiếp trước, hoặc nhiều đại kiếp trước, có cơ hội cho quả tái sinh trong kiếp sống kế, chúng sẽ xuất hiện ngay đến tâm của người sắp chết. Liên quan đến sự xuất hiện của nghiệp, cần nói rõ ở đây là, nếu nghiệp ấy là nghiệp bố thí hoặc giữ giới, nó sẽ xuất hiện bằng cách nhớ lại hoặc bằng cách tự hiện khởi ngay lúc đó giống như trong một giấc mơ vậy. Vì thế có hai cách xuất hiện của thiện nghiệp. Còn đối với các nghiệp bất thiện, nếu nghiệp ấy là sát sinh, thì sự xuất hiện của nghiệp là được nhớ lại hay do nó tự hiện khởi như thể việc sát sinh ấy đang được làm ngay lúc đó. Như vậy cũng có hai cách xuất hiện của bất thiện nghiệp. Đối với các nghiệp thiện và bất thiện khác sự xuất hiện cũng cần được hiểu theo cách như vậy.

Nghiệp Tướng Xuất Hiện Như Thế Nào

Ai từng sát sinh sẽ thấy những vũ khí họ đã sử dụng: gươm, dao, lưới (cá), mũi tên, gậy gộc, v.v… như cảnh cận tử. Một người đồ tể được bảo là sẽ thấy những hình ảnh có tính cách tiên tri của một đống xương bò. Ai từng làm những việc vô đạo đức như trộm cắp, tà dâm v.v…, sẽ thấy những cảnh tượng tương xứng với ác nghiệp của họ. Ai từng làm những việc thiện như xây Chùa, tạo Tháp sẽ thấy những cảnh Chùa Chiền, Bảo tháp ngay trước lúc chết. Hoặc họ có thể thấy những vật mà họ đã bố thí, cúng dường kết hợp với thiện sự xây Chùa tạo Tháp của họ, như Y, Bát, hương hoa, đèn nến v.v… Đối với những người đã từng giữ giới hoặc hành thiền sẽ thấy những hình ảnh như xâu chuỗi, áo quần sạch sẽ, thiền đường, những cánh rừng nơi hành giả thường tới hành thiền v.v… Những ai từng làm việc phục vụ, cung kính khác cũng sẽ thấy những hình ảnh tương xứng.

Thú Tướng Xuất Hiện Như Thế Nào

Vào thời cận tử, những dấu hiệu như điềm báo trước sẽ xuất hiện để cho biết đời sống kế tiếp của một người. Nếu một người sẽ tái sinh Thiên giới, những Thiên nữ, Thiên cung, và Thiên viên v.v… sẽ xuất hiện trước mắt (tâm) người ấy. Nếu một người sẽ tái sinh trong cõi nhân loại, màu đỏ của thành vách thai bào của người mẹ tương lai sẽ xuất hiện với họ. Nếu địa ngục là số phận của họ, thời họ sẽ thấy những con chó đen (hắc khuyển), lửa địa ngục, hay những người cai quản địa ngục. Người sắp trở thành ngạ quỷ (petas) sẽ thấy những khu rừng lớn, núi non, sông nước, bờ biển nơi họ sẽ cư trú.

Sự Biểu Lộ Trên Gương Mặt

Sự biểu lộ trên gương mặt của người sắp chết sẽ chỉ ra cho thấy lần sanh kế của họ. Nếu gương mặt họ trong sáng và hân hoan, chắc chắn họ sẽ tái sinh trong những cảnh giới cao (như Chư Thiên v.v…). Một gương mặt u ám, buồn rầu hay nghiêm khắc cho thấy sự tái sinh của họ sẽ là các cảnh giới thấp. Tuy nhiên, cũng có trường hợp họ sẽ mỉm cười trong trạng thái mê mẩn đối với các dục lạc quá khứ. Những nụ cười ấy không thể xem như dấu hiệu tốt.

Sự Biểu Hiện Qua Lời Thì Thào

Đôi khi người sắp chết thì thào hay nói khe khẽ những lời gì đó không rõ rệt một cách vô ý thức. Xưa có một ông già, Cha của Trưởng lão Sona, bậc Alahán, từng là thợ săn lúc còn trai trẻ, về già ông xuất gia làm Tỳ Khưu trong Chùa của chính con ông. Khi sắp chết, trong cảnh cận tử, ông thấy những con chó đen cứ rượt đuổi theo ông. Ông kêu lên liên tục “Này con ơi! Hãy đuổi lũ chó đi cho cha.”

Ngài Sona biết rằng cha mình đang thấy những điềm xấu và chắc chắn sẽ sinh vào địa ngục. Nhờ các vị sư trong chùa tìm kiếm những bông hoa tức thời đem ra rải chúng trên nền Tháp (thờ Xá Lợi), ngài khiêng cha cùng với giường đến bên Tháp và nói với ông, “Này Sư Phụ, hãy hoan hỷ lên. Con đã cúng dường hoa nhân danh Sư Phụ đó.” Người cha hồi tỉnh và trong lúc đang cúng dường hoa với sự chú tâm vào Đức Phật thì bất tỉnh trở lại. Trong cảnh cận tử bây giờ ông thấy các Thiên nữ (nàng tiên trên trời) và vì thế ông thì thào, “Này con, hãy mời họ ngồi; các kế mẫu của con đang đến kìa.” Lúc đó người con nghĩ, “Bây giờ những dấu hiệu của cảnh giới Chư Thiên đã xuất hiện.” Vị sư già chết và được sinh lên Thiên giới.

Các Loại Thú Tướng (Gati-nimitta)

Khác Có một số người lúc sắp chết chợt thấy những cảnh thực về lần tái sinh kế của họ. Vào thời Đức Phật Gotama (tức Đức Phật Thích Ca của chúng ta), Revati vợ của một người đàn ông giàu có tên Nandiya, là người đàn bà rất kiêu căng tự phụ. Bà không có đức tin nơi đức Phật và thường hay phỉ báng các vị Tỳ Khưu; ngược lại chồng bà là một thiện nam rất mộ đạo. Sau khi chết ông trở thành một vị Chư Thiên. Khi Revati sắp chết, hai giám ngục từ địa ngục tới lôi bà lên thiên giới và chỉ cho bà thấy cuộc sống huy hoàng mà Nandiya (chồng bà) đang hưởng thụ. Rồi chúng lại kéo bà xuống địa ngục để trừng phạt bà về thái độ độc ác trên nhân thế.

Cũng trong thời Đức Phật, một thiện nam đáng kính tên Dhammika (Thăm-mí-ká) quy y nơi Tam bảo. Ông hướng dẫn một nhóm thiện tín sống cuộc đời đạo đức. Khi giờ chết đến gần, ông lắng nghe bài kinh các vị Tỳ Khưu tụng bên giường bệnh của ông, và thấy sáu cỗ Thiên xa (xe từ cõi trời xuống) đang chờ ở trên đầu để đưa ông về Thiên giới (devaloka). Ông cũng thấy và nghe các vị Chư Thiên tranh nhau xem ai sẽ là người đưa ông lên Thiên Xa của họ. Chẳng bao lâu ông chết và được Thiên Xa của cõi Trời Tusita (Đẩu Suất) chở lên Thiên giới, nơi đây ông trở thành một vị Chư Thiên (deva).

Đối với những người bị đất nuốt chửng (đất nứt) do những ác nghiệp nghiêm trọng (ngũ nghịch đại tội), họ sẽ cảm thọ trực tiếp cái nóng của lửa địa ngục Atỳ (Avicī) ngay trong hiện tại. Như vậy, bây giờ chúng ta đã thấy thú tướng (gati-nimitta) xuất hiện theo những cách khác nhau. Trong thời đại của chúng ta cũng vậy, có số người lúc lâm chung nghe được tiếng nhạc (trời) và ngửi được mùi hương thơm ngào ngạt, có khi những người đứng kế bên cũng nghe và ngửi thấy nữa. Những gati-nimitta này cùng với nghiệp (kamma) và nghiệp tướng (kamma nimitta) thường xuất hiện như những ảo ảnh do sức mạnh của nghiệp quá khứ tìm được cơ hội cho quả.

Giúp Cho Cảnh Tốt Xuất Hiện

Khi một người bị bệnh đang dần dần chết một cái chết tự nhiên, các vị thầy tổ, bạn bè và thân quyến của họ có thể giúp cho những đối tượng tốt xuất hiện trong thị lực của người sắp lâm chung ấy. Khi biết chắc rằng người bệnh không thể hồi phục được, họ sẽ dọn dẹp phòng và khu vực quanh đó cho thật sạch sẽ và cúng dường hương hoa lên Đức Phật (bàn thờ Phật). Ban đêm, toàn bộ căn phòng phải được thắp sáng. Họ sẽ khuyên người sắp chết hình dung đến cảnh hương hoa, đèn nến đã được cúng dường đến Đức Phật nhân danh họ và yêu cầu người ấy hoan hỷ với thiện sự này. Họ cũng sẽ đọc những bài kinh Paritta (kinh Bảo-hộ) lúc mà tâm người bệnh vẫn có thể nghĩ đến những đối tượng thiêng liêng. Người thân không nên cảm thấy thất vọng và người săn sóc họ cũng không nên để lộ vẻ u sầu. Việc đọc kinh và cúng dường hương hoa không chỉ làm vào giây phút cuối cùng trước khi người ấy chết, mà phải được thực hiện trước đó nhiều ngày. Chỉ như vậy người sắp chết mới được thấm nhuần trong những ý nghĩ về thiện nghiệp cúng dường Đức Phật và giáo pháp, ngửi được mùi hương ngào ngạt của những bông hoa, nghe được những âm thanh của pháp bảo, hay những lời dạy của Đức Phật trong vài ngày.

Như vậy, khi giây phút lìa đời đến gần, vào lúc người bệnh đang nhìn thấy ánh sáng và hoa quả cúng dường trước đức Phật, ngửi mùi hương trầm ngào ngạt, nghe những lời pháp bảo, thì tử tâm sẽ phát sinh trước khi những đối tượng này biến mất. Vì lẽ đó những tư duy thiện của giây phút cuối cùng này thuộc về thiện nghiệp, người chết chắc chắn sẽ tái sinh vào những cảnh giới tốt. Bởi thế các vị thầy tổ, bạn bè và thân quyến phải có trách nhiệm giúp cho những đối tượng thiện xuất hiện đến tâm người sắp chết trong lúc họ vẫn còn khả năng hướng tâm mình vào những đối tượng này. Hãy nhớ việc Trưởng lão Sona đã giúp cho những dấu hiệu xấu của cha mình biến mất và làm cho những tướng tốt xuất hiện đến tâm ông như thế nào, để giúp cho người sắp chết có được những lợi ích đúng như vậy.

Tâm Tái Sinh Xuất Hiện Như Thế Nào

Liền sau tử tâm (thuộc kiếp trước) chấm dứt, tâm tái sinh khởi lên trong kiếp sống mới. Hai tâm này liên quan lẫn nhau. Giữa tử tâm và tâm tái sinh không có khoảng cách (gián đoạn) nào cả. Một người vừa lìa đời ở cõi nhân loại ngay lập tức sẽ tái sinh trong một cảnh giới nào đó, có thể là địa ngục hay thiên giới. Ngay sau khi chết, tâm tái sinh xuất hiện và đưa đến sự hình thành của một chúng sinh mới, một kiếp sống mới.

Hai Tà Kiến

Chúng ta phải rất thận trọng, bởi nếu không chúng ta sẽ quan niệm về sự chết và tái sinh trong ánh sáng của hai tà kiến là thường kiến (sassata-diṭṭhi) và đoạn kiến (uccheda-diṭṭhi). Tin rằng có một linh hồn cư trú trong thể xác, và chính linh hồn này chuyển di sang một thân mới để trở thành một chúng sinh khác là thường kiến (sassata: cho rằng linh hồn là vĩnh hằng + diṭṭhi: tà kiến). Tin rằng mọi danh (nāma) và sắc (rūpa) của kiếp trước (kể cả những gì họ nghĩ là linh hồn) không hề có sự tiếp tục trong kiếp sống mới, khi một người chết mọi chuyện trong kiếp trước kể như chấm dứt (đi đến sự huỷ diệt hoàn toàn), và có lẽ một chúng sinh mới có thể do thượng đế tạo ra, là đoạn kiến (uccheda: cuối cùng của một đời người tất cả danh và sắc trong kiếp đó hoàn toàn huỷ diệt; không có sự liên tục nào cả + diṭṭhi: tà kiến)

Chánh Kiến

Đối với người phải tái sinh trong một kiếp sống mới, ba yếu tố – vô minh (avijjā), tham ái (taṅhā), và nghiệp (kamma) được xem là quan trọng nhất. Khi cái chết tới gần, vô minh che đậy những khuyết điểm của các uẩn danh và sắc trong kiếp sống kế. Tham ái lúc này khao khát đối với kiếp sống ấy. Mặc dù những dấu hiệu (tướng trạng) xấu xa và đáng sợ của kiếp sống kế xuất hiện, tham ái nghĩ rằng nó sẽ được một cuộc sống không có những điều xấu xa, đáng sợ ấy. Như vậy, do không thấy khuyết điểm (của các uẩn) vì vô minh đã che đậy nó, tham ái có khuynh hướng hướng đến và chấp thủ cuộc sống mới. Trong kiếp sống mới đó, do sức mạnh của nghiệp, danh và sắc vốn gọi là tái sinh sẽ được thiết lập đầu tiên.

Như vậy, vì danh và sắc, vào sát na tục sinh trong một kiếp sống mới, phát sinh như kết quả của vô minh, tham ái và nghiệp trong kiếp sống trước, đoạn kiến cho rằng “những người mới sinh (do sự sáng tạo của Thượng đế, v.v…) không có sự liên quan nào với kiếp sống trước”, là không đúng; và thường kiến cho rằng “linh hồn từ kiếp trước đầu thai vào kiếp sống mới” cũng không đúng nốt. Nói gì đến danh và sắc trong kiếp sống trước đầu thai vào kiếp sống mới, ngay cả trong một đời người, danh và sắc sanh ở một nơi, cũng đã không di chuyển sang một nơi khác rồi, vì chúng diệt liền sau khi sanh vậy. Cho nên những gì được gọi là “linh hồn thường hằng” về cơ bản là phi hữu (non-existent: phi hữu, không có hay không tồn tại)

Bởi thế, chúng ta phải rất cẩn thận không nên để bị dẫn dắt đi lầm đường bởi hai tà kiến này. Chúng ta phải hiểu rằng trong một kiếp sống mới, sự thụ thai, sự hình thành của danh và sắc, là kết quả của vô minh, tham ái, và nghiệp của kiếp trước. Đây là chánh kiến duy nhất. Khi chúng ta hét lớn trong vùng phụ cận của một ngọn núi, chúng ta sẽ nghe thấy một tiếng vang. Tiếng vang này không phải là âm thanh ban đầu do chúng ta tạo ra, song nó cũng không độc lập với âm thanh đầu tiên ấy. Khi một cây đèn được mồi từ ngọn lửa của cây đèn thứ nhất, ngọn lửa mới không phải là ngọn lửa của cây đèn thứ nhất; song nó cũng không độc lập với ngọn lửa của cây đèn ấy. Cũng vậy, kiếp sống mới không phải là sự đầu thai của kiếp sống cũ; song nó cũng không độc lập với kiếp sống cũ. Hãy nhớ rằng nếu nghiệp quá khứ là bất thiện, kiếp sống hiện tại cũng sẽ là bất thiện như vậy. Có thể nói, những kinh nghiệm tốt và xấu trong kiếp hiện tại được giải thích bởi hai yếu tố: những hành động (nghiệp) đã làm trong quá khứ, và sự hiểu biết hay kiến thức và nỗ lực chuyên cần trong kiếp hiện tại.

Kết luận

Khi chúng ta nói “một người chết” không có nghĩa rằng đối với người đó thế là hết không còn gì nữa; việc quan trọng là người ấy có được tái sinh trong một kiếp sống tốt đẹp hay không, vì chính để được tái sinh trong một kiếp sống mới mà người ta chết vậy. Và để sửa soạn cho mình có được một tâm trạng tốt ngay trước cái chết – điều chỉ có được khi người ta chết ít đau đớn, ốm đau nhẹ nhàng đến mức có thể, và nhất là phải có những người bạn lành biết làm cách nào để trợ giúp chúng ta vào lúc lâm chung – điều tốt hơn và lợi ích hơn cả vẫn là chúng ta biết chuẩn bị trước cho kiếp sống tương lai, thay vì chờ đến giây phút cuối cùng. Chúng ta phải có một cuộc sống đạo đức, và chuẩn bị cho ngày chết của mình sao cho có được một tái sinh tốt đẹp trong vòng luân hồi này cho đến khi chứng đắc Niết-bàn.

Theo: Chánh kiến và nghiệp

Chuyền ngữ sang tiếng Việt: Tỳ kheo Pháp Thông

Advertisements

Bảy Tùy Miên (Anusayas)

THERAVĀDA
ABHIDHAMMAPIṬAKA – TẠNG DIỆU PHÁP

YAMAKA
BỘ
SONG ĐỐI

TẬP HAI

Dịch giả:
Ðại Trưởng Lão TỊNH SỰ
SANTAKICCA M
ahā Thera

VII. TÙY MIÊN SONG (ANUSAYAYAMAKAṂ)

Bảy TÙY MIÊN là:

  1. Dục ái tùy miên (kāmarāgānusaya)
  2. Phẫn nộ tùy miên (Patighānusaya)
  3. Ngã mạn tùy miên (Mānānusaya)
  4. Tà kiến tùy miên (Ditthā-nusaya)
  5. Hoài nghi tùy miên (Vicikichānusaya)
  6. Hữu ái tùy miên (Bhavarāgā-nusaya)
  7. Vô minh tùy miên (Avijjānusaya).

[1221] DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?

“Trong hai thọ thuộc dục giới(1) thì dục giới tùy miên ngủ ngầm ở đấy”.

PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?

“Phẫn nộ tùy miên ngủ ngầm ở chổ là thọ khổ”(2)

NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?

“Ngã mạn tùy miên ngủ ngầm ở chổ là trong hai thọ(3) thuộc dục giới, sắc giới và vô sắc giới”.

TÀ KIẾN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?

Tà kiến tùy miên ngủ ngầm ở chổ là trong tất cả pháp liên quan thân kiến(4) (Sabbasakkāyapariyapannadhamma).

HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?

“Hoài nghi tùy miên ngủ ngầm ở chổ là trong tất cả pháp liên quan thân kiến(5) “.

HỮU ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?

“Hữu ái(6) tùy miên ngủ ngầm ở chổ là sắc giới và vô sắc giới”.

VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU?

“Vô minh tùy miên ngủ ngầm ở chổ là trong tất cả pháp liên quan thân kiến”.

PHẦN TÙY MIÊN (ANUSAYAVĀRA)

[1222] DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ngã mạn tùy miên ngủ ngầm nơi bậc Bất Lai nhưng dục ái tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi vị ấy. Chỉ đối với ba hạng người(1) là mạn tùy miên còn ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

Ðối với hai hạng người(2) dục ái tùy miên cũng ngủ ngầm nhưng Tà kiến tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi người ấy. Còn đối với hạng phàm phu thì dục ái tùy miên cũng ngủ ngầm và tà kiến tùy miên cũng ngủ ngầm”.

HAY LÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

Ðối với hai hạng người dục ái tùy miên ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi người ấy(3). Còn đối với hạng phàm phu dục ái tùy miên ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với vị A Na Hàm thì hữu ái tùy miên còn ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi vị ấy. Còn đối với ba hạng người(1) thì hữu ái tùy miên còn ngủ ngầm và dục ái tùy miên còn ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Vị bất lai vô minh tùy miên còn ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi vị ấy. Với ba hạng người(1), vô minh tùy miên còn ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

[1223] PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ NGÃ NGẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ NGÃ NGẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Vị bất lai ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi vị ấy. Với ba hạng người ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN … trùng … HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Với hai hạng người(2), phẫn nộ tùy miên còn ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi vị ấy. Ðối với phàm phu thì phẫn nộ tùy miên còn ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN … trùng… VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Vị bất lai vô minh tùy miên còn ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi vị ấy. Với ba hạng người(1) thì vô minh tùy miên còn ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên vẫn còn ngủ ngầm”.

[1224] NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN … trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với ba hạng người(2) ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nhưng nơi người ấy. Còn đối với hạng phàm phu thì ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN … trùng… VÔ MINH TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

[1225] TÀ KIẾN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

TÀ KIẾN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM … trùng… VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với ba hạng người(1), vô minh tùy miên còn ngủ ngầm nhưng tà kiến tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi người ấy, còn đối với hạng phàm phu thì vô minh tùy miên còn ngủ ngầm và tà kiến tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

[1226] HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN … trùng… VÔ MINH TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với ba hạng người, vô minh tùy miên còn ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi người ấy, với hạng phàm phu thì vô minh tùy miên và hoài nghi tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

[1227] HỮU ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

[1228] DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với bậc bất lai ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng còn nơi vị ấy. Với ba hạng người(1) thì ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm, dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN … trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Với hai hạng người(2), dục ái tùy miên còn ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên còn ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi người ấy. Ðối với phàm phu thì dục ái tùy miên còn ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng còn ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN… trùng… VÔ MINH TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM PHẪN NỘ TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

Bậc bất lai vô minh tùy miên còn ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi người ấy. Với ba hạng người(1), vô minh tùy miên còn ngủ ngầm và dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

[1229] DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ NGẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN … trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Với hai hạng người(2) dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên ngã ngạn tùy miên còn ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng còn ngủ ngầm, nơi người ấy. Với hạng phàm phu thì dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN … trùng… VÔ MINH TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với bậc bất lai vô minh tùy miên ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi vị ấy. Với ba hạng người(1), vô minh tùy miên còn ngủ ngầm và dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên ngã mạn tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

[1230] DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN … trùng… VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN CÒN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với bậc bất lai vô minh tùy miên ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên tà kiến tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi vị ấy. Với hai hạng người(2), vô minh tùy miên dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên và ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm nhưng tà kiến tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi người ấy, với hạng phàm phu thì vô minh tùy miên còn ngủ ngầm và dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

[1231] DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN…VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Với bậc bất lai thì vô minh tùy miên và ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên tà kiến tùy miên cũng ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi người ấy. Với hai hạng người(1), thì vô minh tùy miên dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên ngã mạn tùy miên còn ngủ ngầm nhưng tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi người ấy, với hạng phàm phu thì vô minh tùy miên còn ngủ ngầm và dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên, ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

[1232] DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN, HOÀI NGHI TÙY MIÊN VÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN, HOÀI NGHI TÙY MIÊN VÀ HỮU ÁI TÙY ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM NƠI NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Với bậc bất lai, vô minh tùy miên và ngã mạn tùy miên và hữu ái tùy miên còn ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi vị ấy. Với hai hạng người, thì vô minh tùy miên, dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên, ngã mạn tùy miên và hữu ái tùy miên còn ngủ ngầm nhưng tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên chẳng còn ngủ ngầm nơi người ấy, với hạng phàm phu thì vô minh tùy miên còn ngủ ngầm và dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên, ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên, hữu ái tùy miên cũng còn ngủ ngầm”.

[1233] DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN CŨNG NGẦM Ở NƠI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải! ”

HAY LÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN CŨNG NGỦ NGẦM Ỡ NƠI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải! ”

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ẤY ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ngã mạn tùy miên ngủ ngầm ở chỗ là trong sắc giới và vô sắc nhưng dục ái tùy miên chẳng ngủ ngầm ở nơi ấy; còn trong hai thọ dục giới thì ở đấy ngã mạn tùy miên ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN … trùng … HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong thọ khổ, trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy hoài nghi tùy miên ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng ngủ ngầm nơi ấy. Còn trong hai thọ thuộc dục giới thì nơi ấy hoài nghi tùy miên ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải!”

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải ”

DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong thọ khổ, trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy vô minh tùy miên ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng ngủ ngầm ở đấy; còn trong hai thọ thuộc dục giới thì vô minh tùy miên ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng ngủ ngầm ở đấy”.

[1234] PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải!”

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải”.

PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN… trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong hai thọ dục giới, trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy hoài nghi tùy miên ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng ngủ ngầm ở đấy; còn trong hai thọ khổ thì ở đấy hoài nghi tùy miên ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên cũng ngủ ngầm”.

PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải”

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải”

PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong hai thọ dục giới, trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy vô minh tùy miên ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng ngủ ngầm ở đấy; còn trong hai thọ khổ thì ở đấy vô minh tùy miên ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên cũng ngủ ngầm”.

[1235] NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN … trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong thọ khổ, ở đấy hoài nghi tùy miên ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó; còn trong hai tho dục giới, trong sắc giới, trong vô sắc giới, thì ở đấy hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm và ngã mạn tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong hai tho dục giới, ở đấy ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó; còn trong sắc giới, trong vô sắc giới, thì ở đấy ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm và hữu ái tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong thọ khổ, ở đấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó; còn trong hai thọ thuộc dục giới, trong sắc giới, trong vô sắc giới, thì ở đấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm và ngã mạn tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

[1236] TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong ba thọ thuộc dục giới, ở đấy tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong sắc giới, trong vô sắc giới, thì ở đấy tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm và hữu ái tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

[1237] HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong ba thọ dục giới, ở đấy hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó, còn trong sắc giới, trong vô sắc giới, thì ở đấy hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm và hữu ái tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

[1238] HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong ba thọ dục giới, ở đấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đấy; còn trong sắc giới, trong vô sắc giới, thì ở đấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm và hữu ái tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

[1239] DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ D DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới ở đấy ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đấy, còn trong hai thọ dục giới, ở đấy ngã mạn tùy miên và dục ái tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đấy. Còn trong hai thọ khổ, thì ở đấy phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm mà dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đấy”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN… trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng đang ngủ ngầm ở đấy, còn trong hai thọ dục giới, ở đấy hoài nghi tùy miên và dục ái tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó. Trong thọ khổ, ở đấy hoài nghi tùy miên và phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÓ PHẢI CHĂNG?

“Không phải”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÓ PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÓ PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó; trong hai thọ dục giới, ở đấy vô minh tùy miên và dục ái tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó; còn trong thọ khổ thì ở đấy vô minh tùy miên và phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó”.

[1240] DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở CÕI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN … trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy hoài nghi tùy miên, ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó, trong hai thọ dục giới, ở đấy hoài nghi tùy miên, dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang phải ngủ ngầm ở đó, trong thọ khổ, ở đấy hoài nghi tùy miên và phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đấy”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy hữu ái tùy miên, ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó, trong hai thọ dục giới, ở đấy hữu ái tùy miên và ngã mạn tùy miên, đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó, trong thọ khổ, ở đấy phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên, dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÓ PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy vô minh tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó, trong hai thọ dục giới, ở đấy vô minh tùy miên, dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó, trong thọ khổ ở đây vô minh tùy miên và phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó”.

[1241] DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy hoài nghi tùy miên, ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó, trong hai thọ dục giới, ở đấy hoài nghi tùy miên, dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang phải ngủ ngầm ở đó, trong thọ khổ, ở đấy hoài nghi tùy miên, phẫn nộ tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đấy”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy hữu ái tùy miên, ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó, trong hai thọ dục giới, ở đấy dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đấy, trong thọ khổ, ở đấy phẫn nộ tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên, dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở NƠI ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÓ PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy vô minh tùy miên và ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó, trong hai thọ dục giới, ở đấy vô minh tùy miên, dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó, trong thọ khổ ở đây vô minh tùy miên và phẫn nộ tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó”.

[1242] DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy hữu ái tùy miên, ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó. Trong hai thọ dục giới, ở đấy dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên, hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang phải ngủ ngầm ở đó; trong khổ thọ, ở đấy phẫn nộ tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên, dục ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đấy”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÓ PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy vô minh tùy miên, ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó. Trong hai thọ dục giới, ở đấy vô minh tùy miên, dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đấy; trong khổ thọ, ở đấy vô minh tùy miên, phẫn nộ tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó”.

[1243] DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN, HOÀI NGHI TÙY MIÊN VÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN, HOÀI NGHI TÙY MIÊN VÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy vô minh tùy miên và ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên, hoài nghi tùy miên và hữu ái tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó. Trong hai thọ dục giới, ở đấy vô minh tùy miên, dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên và hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó. Trong thọ khổ ở đây vô minh tùy miên và phẫn nộ tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên, hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó”.

[1244] DỤC ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGUỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải!”

HAY LÀ PHẦN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải!”

DỤC ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGUỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với bậc bất lai trong hai thọ dục giới, sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy ngã man tùy miên đang ngủ ngầm tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ầy ở cõi ấy. Ðối với ba hạng người(1) trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với ba hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới thì với người ấy ở cõi ấy ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGUỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN …. trùng …. HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với hai hạng người(2) trong hai thọ dục giới, với người ấy ở cõi ấy dục ái tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Còn đối với phàm phu trong hai thọ dục giới, với người ấy ở cõi ấy dục tùy miên đang ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng đang ngủ ngầm”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với phàm phu trong khổ thọ, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng phàm phu ấy mà trong thọ dục giới thì với người ấy ỡ cõi ấy hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGUỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải!”

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải!”

DỤC ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGUỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với bậc bất lai trong hai thọ dục giới, sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với ba hạng người(1) trong khổ thọ, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với ba hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, thì với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

[1245] PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải!”

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải!”

PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN…. trùng…. HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với hai hạng người(1)trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với hạng phàm phu trong hai khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với hạng phàm phu trong hai thọ dục giới, sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng phàm phu ấy mà trong khổ thọ, thì với người ấy ỡ cõi ấy hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải!”

PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với bậc bất lai trong ba thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với ba hạng người(1) trong hai thọ dục giới, sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với ba hạng người ấy mà trong khổ thọ, thì với người ấy ỡ cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

[1246] NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN … trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với ba hạng người(2) trong hai thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với phàm phu trong hai thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, thì với người ấy ở cõi ngã mạn tùy miên và hoài nghi tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với phàm phu trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng phàm phu ấy mà trong hai thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, thì với người ấy ở cõi ấy hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm và ngã mạn tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với bốn hạng người(3) trong hai thọ dục giới, với người ấy ở cõi ấy ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng những hạng người ấy mà trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm và hữu ái tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với bốn hạng người(1) trong thọ khổ, với người ấy ở cõi vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với các hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi vô minh tùy miên đang ngủ ngầm và ngã mạn tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

[1247] TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”. … trùng…

[1248] HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với hạng phàm phu trong ba thọ dục giới, với người ấy ở cõi ấy hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng phàm phu ấy mà trong sắc giới và vô sắc giới, thì với người ấy ở cõi hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm và hữu ái tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với ba hạng người(2) trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy hữu ái tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với hạng phàm phu trong sắc giới và vô sắc giới, thì với người ấy ở cõi ấy hữu ái tùy miên đang ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với ba hạng người(1) trong ba thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với hạng phàm phu trong ba thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, thì với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

[1249] HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với bốn hạng người(2) trong ba thọ dục giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với những hạng người ấy mà trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm và hữu ái tùy miên cũng đang ngủ ngầm”.

[1250] DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có!”.

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với bậc bất lai, trong hai thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với ba hạng người(1) trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng chính những hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, thì với người ấy ỡ cõi ấy ngã mạn tùy miên và dục ái tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN…. trùng…. HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với phàm phu, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng chính hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, với người ấy ỡ cõi ấy hoài nghi tùy miên và dục ái tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy cũng chính hạng người ấy, mà trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy hoài nghi tùy miên và phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không phải!”

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với bậc bất lai trong ba thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với ba hạng người(1) trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với các hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên và dục ái tùy miên đang ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy, cũng với các hạng người ấy mà trong thọ khổ, với người ấy ỡ cõi ấy vô minh tùy miên và phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy”.

[1251] DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO CÕI NÀO THÌ THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN … trùng … HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI PHẢI CHĂNG?

“Không có!”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với hạng phàm phu trong sắc giới và vô sắc giới với người ấy ở cõi hoài nghi tùy miên, và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên đang chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, với người ấy ở cõi ấy hoài nghi tùy miên, dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong khổ thọ, thì với người ấy ở cõi ấy hoài nghi tùy miên và phẫn nộ đang ngủ ngầm, nhưng dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không Phải!”

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có!”

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI PHẢI CHĂNG?

“Không có!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với vị bất lai trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên và ngã mạn tùy niên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với ba hạng người, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với những hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, với người ấy ở cõi vô minh tùy miên, dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy; cũng với những hạng người ấy mà trong khổ thọ, thì với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên và phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy”.

[1252] DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO CÕI NÀO THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có!”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với hạng phàm phu trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy hoài nghi tùy miên, ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, với người ấy ở cõi ấy hoài nghi tùy miên, dục ái tùy miên, ngã mạn và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy hoài nghi tùy miên, phẫn nộ tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO CÕI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có!”

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với ba hạng người(1) trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi hữu ái tùy miên, ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên và tà kiến tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy; đối với hạng phàm phu trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy hữu ái tùy miên, ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN CŨNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với vật bất lai trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên, ngã mạn tùy miên, và tà kiến tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên và tà kiến tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với hai hạng người(1) trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên tà kiến tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với những hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, với người ấy ở cõi vô minh tùy miên, dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên và tà kiến tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với những hạng người ấy mà trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên và phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và tà kiến tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với hạng phàm phu trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên, ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên, dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên, phẫn nộ tùy miên và tà kiến tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy”.

[1253] DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có!”

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với ba hạng người(1) trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy hữu ái tùy miên, ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Với hạng phàm phu trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy hữu ái tùy miên, ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với vật bất lai trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên, ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên, hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy; cũng với hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi vô minh tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với hai hạng người(2) trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi vô minh tùy miên, ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng những hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên, dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẩn nộ tùy miên tà kiến tùy miên hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong khổ thọ, với người ấy ở cõi vô minh tùy miên, phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với phàm phu trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi vô minh tùy miên, nhã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẩn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới, với người ấy ở cõi vô minh tùy miên, dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy; cũng với hạng người ấy mà trong khổ thọ, với người ấy ở cõi vô minh tùy miên, phẫn nộ tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy”.

[1254] DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN, HOÀI NGHI TÙY MIÊN HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Không có!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO Ở CÕI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN, TÀ KIẾN TÙY MIÊN, HOÀI NGHI TÙY MIÊN VÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY Ở CÕI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với vật bất lai trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên, ngã mạn tùy miên,và hữu ái tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên, tà kiến tùy miên, và hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy; cũng với hai hạng người ấy mà trong hai thọ dục với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên, tà kiến tùy miên, hoài nghi tùy miên và hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên, ngã mạn tùy miên tà kiến tùy miên, hoài nghi tùy miên và hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với hai hạng người(1) trong sắc giới và vô sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên, ngã mạn tùy miên và hữu ái tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, phẫn nộ tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với các hạng người ấy mà trong hai thọ dục giới với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên, dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên tà kiến tùy miên, hoài nghi tùy miên và hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Ðối với phàm phu trong sắc giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên, ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên, hoài nghi tùy miên và hữu ái tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy cõi ấy. Cũng với các hạng người ấy mà trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên và phẫn nộ tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên, hoài nghi tùy miên và hữu ái tùy miên, chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong thọ dục giới, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên, dục ái tùy miên, ngã mạn tùy miên, tà kiến tùy miên, và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên, hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy. Cũng với hạng người ấy mà trong khổ thọ, với người ấy ở cõi ấy vô minh tùy miên, phẫn nộ tùy miên, tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và, ngã mạn tùy miên và hữu ái tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm cho người ấy ở cõi ấy”.

DỨT PHẦN THUẬN TÙNG (Anulomaṃ niṭṭhitaṃ)

[1255] DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN CŨNG KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với vị bất lai dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải không ngủ ngầm cho người. Còn đối với bậc Ứng Cúng (A-La-Hán) thì dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm và ngã mạn tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN… trùng…ḤOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

“Ðối với hai hạng người(1) hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho người ấy. Có hai hạng người(2) hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN… trùng….VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với vị bất lai, dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng vô minh tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho người ấy. Còn đối với vị Ứng Cúng thì dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm và vô minh tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

[1256] PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Ðối với vị bất lai phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho vị ấy. Còn với vị Ứng Cúng thì phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm và ngã mạn tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN… trùng…. HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Có hai hạng người(1) hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho người ấy. Có hai hạng người(2) hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO HỮU ÁI TÙY MIÊN… trùng … VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Với vi bất lai phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng vô minh tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho vị ấy; còn với Ứng Cúng thì phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm và vô minh tùy minh cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

[1257] NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN… trùng … HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Có ba hạng người(3) hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho người ấy. Còn với vị Ứng Cúng thì hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm và ngã mạn tùy miên cũng không đang ngủ ngầm “.

NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN… trùng … VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

[1258] TÀ KIẾN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”… trùng…

[1259] HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN TÙY MIÊN…. trùng….VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Có ba hạng người(1)hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng vô minh tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho người ấy. Còn với vị Ứng Cúng thì hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm và vô minh tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

[1260] HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

[1261] DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Với vị Bất lai, dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho vị ấy. Còn với vị Ứng Cúng thì dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm mà ngã mạn tùy miên cũng không đang ngủ ngầm “.

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN… trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Có hai hạng người(1) hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho người ấy; cũng có hai hạng người(2) mà hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm, dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên cũng không đang ngủ ngầm “.

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN… trùng… VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Với vị Bất lai dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng vô minh tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho vị ấy. Còn với bậc Ứng Cúng thì dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm mà vô minh tùy miên cũng không đang ngủ ngầm “.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

[1262] DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN… trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Có hai hạng người(1) hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho người ấy. Ðối với vị Bất lai thì hoài nghi tùy miên dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho người ấy. Còn với vị Ứng Cúng hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm mà dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên ngã mạn tùy miên cũng không đang ngủ ngầm “.

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN… trùng… VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

[1263] DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN… trùng… VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Có hai hạng người(1) hoài nghi tùy miên và tà kiến tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải không ngủ ngầm cho người ấy. Với vị Bất lai thì hoài nghi tùy miên dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm cho vị ấy. Còn với vị Ứng Cúng hoài nghi tùy miên không đang ngủ ngầm mà dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên ngã mạn tùy miên và tà kiến tùy miên cũng không đang ngủ ngầm” … trùng…

[1264] DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN… trùng… VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

[1265] DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN HOÀI NGHI TÙY MIÊN VÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN HOÀI NGHI TÙY MIÊN VÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

[1266] DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong khổ thọ, ở đấy dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong sắc giới, trong vô sắc giới và trong pháp phi hệ thuộc(1), ở đấy dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI NÀO THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM CHO NGƯỜI ẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong hai thọ dục giới, ở đấy phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đấy. Còn trong sắc giới, trong vô sắc giới và trong pháp phi hệ thuộc, ở đấy phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới và vô sắc giới, ở đấy dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong khổ thọ và trong pháp phi hệ thuộc thì ở đấy dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm và ngã mạn tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN… trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong khổ thọ, trong sắc giới và vô sắc giới, ở đấy dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc ở đấy dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÓ PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới và vô sắc giới, ở đấy dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đấy. Còn trong khổ thọ và trong pháp phi hệ thuộc, ở đấy dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm và hữu ái tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong hai thọ dục giới, ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong khổ thọ và trong pháp phi hệ thuộc ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong khổ thọ, trong sắc giới và vô sắc giới, ở đấy dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng vô minh tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc, ở đấy dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm và vô minh tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

[1267] PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong hai thọ dục giới, sắc giới và vô sắc giới, ở đấy phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc thì ở đấy phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm và ngã mạn tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong khổ thọ, ở đấy ngã mạn tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc thì ở đó ngã mạn tùy miên không đang ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN… trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong hai thọ dục giới, sắc giới và vô sắc giới, ở đấy phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc thì ở đấy phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới, trong vô sắc giới, ở đấy phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong hai thọ dục giới trong pháp phi hệ thuộc, ở đấy phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm và hữu ái tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong khổ thọ, ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong hai thọ dục giới, trong pháp phi hệ thuộc, thì ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm và phẫn nộ tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong hai thọ dục giới, sắc giới và vô sắc giới, ở đấy phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng vô minh tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc thì ở đấy phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm và vô minh tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

[1268] NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN … trùng … HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong thọ khổ, ở đấy ngã mạn tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc thì ở đấy ngã mạn tùy miên không đang ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÓ PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÓ PHẢI CHĂNG?

“Trong hai thọ dục giới, ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong khổ thọ, trong pháp phi hệ thuộc, ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm và ngã mạn tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong khổ thọ, ở đấy ngã mạn tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng vô minh tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc, thì ở đấy ngã mạn tùy miên không đang ngủ ngầm và vô minh tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

[1269] TÀ KIẾN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”… trùng…

[1270] HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong hai thọ dục giới, ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc, ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm và hoài nghi tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

[1271] HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong hai thọ dục giới, ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng vô minh tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc, thì ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm và vô minh tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

[1272] DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới và vô sắc giới, ở đấy dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng ngã mạn tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc, ở đấy dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm và ngã mạn tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong khổ thọ, ở đấy ngã mạn tùy miên và dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc, thì ở đấy ngã mạn tùy miên không đang ngủ ngầm mà dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN… trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới và vô sắc giới, ở đấy dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng hoài nghi tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc thì ở đấy dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm mà hoài nghi tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới và vô sắc giới, ở đấy dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng hữu ái tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc, ở đấy dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm và hữu ái tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong khổ thọ, ở đấy hữu ái tùy miên và dục ái tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Trong hai thọ dục giới, thì ở đấy hữu ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc, thì ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm và dục ái tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong sắc giới và vô sắc giới, ở đấy dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng vô minh tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc, thì ở đấy dục ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm và vô minh tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

[1273] DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN, NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ TÀ KIẾN TÙY MIÊN … trùng… HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN VÀ PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”

DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong khổ thọ, ở đấy hữu ái tùy miên dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Trong hai thọ dục giới, ở đấy hữu ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc, thì ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm mà dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên và ngã mạn tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”.

DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi”.

HAY LÀ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN VÀ NGÃ MẠN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

[1274] DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN VÀ TÀ KIẾN TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”… trùng…

[1275] DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN, PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN VÀ HOÀI NGHI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Trong khổ thọ, ở đấy hữu ái tùy miên dục ái tùy miên và ngã mạn tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng phẫn nộ tùy miên tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên chẳng phải đang ngủ ngầm ở đó. Trong hai thọ dục giới ở đấy hữu ái tùy miên và phẫn nộ tùy miên không đang ngủ ngầm nhưng dục ái tùy miên ngã mạn tùy miên tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên chẳng phải không đang ngủ ngầm ở đó. Còn trong pháp phi hệ thuộc, ở đấy hữu ái tùy miên không đang ngủ ngầm mà dục ái tùy miên phẫn nộ tùy miên ngã mạn tùy miên tà kiến tùy miên và hoài nghi tùy miên cũng không đang ngủ ngầm”…. trùng…

[1276] DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN HOÀI NGHI TÙY MIÊN VÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ VÔ MINH TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”

HAY LÀ VÔ MINH MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐÂU THÌ DỤC ÁI TÙY MIÊN PHẪN NỘ TÙY MIÊN NGÃ MẠN TÙY MIÊN TÀ KIẾN TÙY MIÊN HOÀI NGHI TÙY MIÊN VÀ HỮU ÁI TÙY MIÊN KHÔNG ÐANG NGỦ NGẦM Ở ÐẤY PHẢI CHĂNG?

“Phải rồi!”


(1) Tức là thọ hỷ và thọ xã trong tâm tham thuộc cõi dục.

(2) Thọ khổ ở đây tức là thọ ưu trong tâm sân.

(3) Hai thọ ở đây là thọ hỷ và thọ xã trong cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc, mạn tùy miên sanh theo đó.

(4) Pháp liên quan thân kiến là những quan niệm về nhân sinh quan, tà kiến có thể theo đó phát sinh.

(5) Quan niệm về thân kiến cũng là cơ sở phát sanh hoài nghi được.

(6) Hữu ái là tham trong cảnh thiền, chính cõi sắc và vô sắc hoặc thiền sắc và thiền vô sắc là cảnh sanh hữu ái.

(1) Ba hạng người mà mạn tùy miên và dục ái tùy miên còn ngũ ngầm là phàm phu, bậc Tu Ðà Hoàn và bậc Tư Ðà Hàm.

(2) Hai hạng người mà dục ái tùy miên còn ngũ ngầm nhưng tà kiến tùy miên không còn ngũ ngầm là bậc Tu Ðà Hoàn và bậc Tư Ðà Hàm.

(3) Hai hạng người còn dục ái mà không còn hoài nghi là vị dự lưu và vị nhất lai.

(1) Ba hạng người là phàm phu, bậc dự lưu và bậc nhất lai.

(2) Hai hạng người là vị dự lưu và vị nhất lai.

(1) Ba hạng người ở đây là ba bậc Quả hữu học.

(2) Ba hạng người mà ngã mạn còn nhưng dứt hoài nghi, đó là bậc dự lưu, bậc nhất lai và bậc bất lai.

(1) Ba hạng người ở đây là ba bậc Quả hữu học.

(1) Ba hạng người còn vô minh, ngã mạn, dục ái, phẫn nộ đó là phàm phu và hai bậc Quả thấp.

(2) Hai hạng người còn dục ái và phẩn nộ, ngã mạn mà dứt hoài nghi đó là hai bậc Quả thấp.

(1) Ba hạng người còn vô minh, ngã mạn, dục ái và phẩn nộ đó là phàm phu là hai Bậc Quả thấp.

(2) Hai hạng người còn dục ái, phẩn nộ và ngã mạn nhưng dứt tà kiến và hoài nghi đó là hai Bậc quả thấp.

(1) Hai hạng người còn vô minh, dục ái, phẩn nộ, ngã mạn nhưng dứt tà kiến và hoài nghi, đó là hai bậc Quả thấp

(1) Ba hạng người ở đây chỉ cho phàm phu và hai thánh quả thấp.

(2) Hai hạng người ở đây chỉ cho hai thánh quả thấp.

(1) Ba hạng người ở đây cũng chỉ cho phàm phu và hai Quả thấp.

(1) Hai hạng người ở đây tức là hai hạng Thánh Quả thấp.

(1) Ba hạng người ở đây là phàm phu và hai thánh Quả thấp.

(2) Ba hạng người ở đây là ba thánh Quả hữu học.

(3) Bốn hạng người ở đây là phàm phu và ba Quả hữu học.

(1) Bốn hạng người ở đây là phàm phu và ba Quả hữu học.

(2) Ba hạng người ở đây là Bậc Quả hữu học.

(1) Ba hạng người ở đây là Bậc Quả hữu học.

(2) Bốn hạng người ở đây là phàm phu và ba Quả hữu học.

(1) Ba hạng người ở đây là phàm phu và hai thánh Quả thấp.

(1) Ba hạng người ở đây là ba thánh Quả hữu học.

(1) Ba hạng người ở đây là phàm phu và hai thánh Quả thấp.

(1) Hai hạng người ở đây là hai Quả thấp.

(1) Ba hạng người ở đây là ba Quả hữu học.

(2) Hai hạng người ở đây là hai Quả thấp.

(1) Hai hạng người ở đây là hai Quả thấp.

(1) Hai hạng người ở đây là hai quả thấp.

(2) Hai hạng người ở đây là hai hạng người là quả cao.

(1) Hai hạng người ở đây là hai quả thấp.

(2) Hai hạng người ở đây là hai hạng người là quả cao.

(3) Ba hạng ở đây là ba quả hữu học.

(1) Ba hạng ở đây là ba quả hữu học.

(1) Hai hạng người ở đây là hai quả thấp.

(2) Hai hạng người ở đây là hai hạng người là quả cao.

(1) Hai hạng người ở đây là hai quả thấp.

(1) Hai hạng người ở đây là hai quả thấp.

(1) Pháp phi hệ thuộc (apariyāpanna) tức là pháp không liên hệ trong luân hồi tam giới. Tức là Pháp siêu thế : đạo quả và Níp Bàn.

Nguồn : Budsas.org


Phân tích về các Cõi-Giới

Trích từ: Đường vào Thắng pháp

Tỳ khưu Chánh Minh

Cõi

(Bhūmi).

 

198 – Hỏi. Cõi là gì? Có bao nhiêu cõi?

Đáp. Chữ bhūmi xuất nguyên từ ngữ căn bhū nghĩa là “nổi lên”.

Bhūmi là nơi có chúng sinh sinh sống. Như có Pāli giải thích:

“Bhavanti sattā etthāti bhūmi: Chúng sinh hiện khởi nơi nào, nơi đó gọi là cõi”.

Nói gọn có ba cõi là: Cõi Dục giới, cõi  Sắc giới và  cõi Vô sắc giới.

Nếu phân tích rộng thì có 31 cõi: Dục giới có 11 cõi, Sắc giới có 16 cõi, Vô sắc giới có 4 cõi.

199 – Hỏi. Hãy kể ra 11 cõi Dục?

Đáp. Mười một cõi Dục là: 4 cõi khổ + cõi người + 6 cõi trời Dục.

Có Pāli như sau: Tāsu, nirayo, tiracchānayoni, pettivisayo, asurakāyo apāyabhūmi catubidhā hoti:

Có bốn cõi “bất hạnh (apāya)” là: Địa ngục, thú (tiracchāna), ma đói (peta) và “thần quỷ (asura)”.

Manussā, cātummahārājikā, tāvatiṃsā, yāmā, tusitā, nimmānarati, paranimmitavasavattī c’āti kāmasugatibūmi sattavidhā hoti:

“Có 7 cõi vui Dục giới (kāmasugatibhūmi) là: Cõi người (manussa), cõi Tứ đại vương(catummahārājā), cõi Ba mươi ba (tāvatiṃsa), cõ iDạma (yāmā), cõi Hóa lạc thiên (nimmānarati), cõi Tha hóa tự tại (paranimmitavasavattī) ” [25].

200 – Hỏi. Vì sao gọi là”cõi bất hạnh”( apāyabhūmi).

Đáp. Apāyabhūmi = apa (lìa bỏ, tách rời) + aya (công đức, công hạnh – kusalakamma) + bhūmi.

Pāli giải thích chữ aya (vacanattha) như sau:

“Tividhasampattiyo ayanti gacchanti pavattanti etenāti = ayo:

“Thành tựu được hạnh phúc nhân, thiên và Nípbàn, gọi là aya (công đức).

Ayati vaḍḍhātīti = ayo: Sự an lạc, gọi là aya (hạnh phúc).

Ayitabbo sāditabboti = ayo: Sự an lạc đáng hài lòng, gọi là aya.

Ayato apagato = apāyo: Lìa bỏ sự đi đến hạnh phúc, gọi là “bất hạnh – apāya”.

Apāyo eva būmi = apāyabhūmi: Nơi chúng sinh sống không có hạnh phúc, gọi là cõi bất hạnh[26].

Cõi bất hạnh (apāyabhūmi) là chỉ chung cho bốn cõi khổ.

Chúng sinh sống trong bốn cõi này, tuy có tâm thiện khởi lên, nhưng rất khó.

Ngay cả chúng sinh cõi nhân loại tuy tâm thiện khởi lên dễ dàng, nhưng phần nhiều lại có khuynh hướng tạo ác nghiệp, còn nói chi đến chúng sinh đang sống nơi khổ cảnh. Đức Phật có dạy:

“Sududdasaṃ sunipuṇaṃ; yatthakāmanipātinaṃ

Cittaṃ rakkhetha medhavī; cittaṃ guttaṃ sukhāvahaṃ

“Khó nắm giữ, khinh động; theo các dục quay cuồng.

Lành thay, điều phục tâm; tâm điều an lạc đến” (HT. TMC dịch)[27].

Hay:

“Abhittharetha kayāne; pāpā cittaṃ nivāraye.

Dandhaṃ hi karoto puññaṃ; pāpasmiṃ ramati mano.

“Hãy gấp làm điều lành; ngăn tâm làm điều ác.

Ai chậm làm điều lành, ý ưa thích việc ác” (HT. TMC dịch)[28].

Một từ khác chỉ cho 4 cõi bất hạnh này là duggati.

Duggati theo nghĩa đen là “đi đến khổ”.

Có Pāli giải thích từ duggatibhūmi (cõi khổ) như sau:

*-Du (xấu, bất hạnh)+ gati (đi đến, nơi đến) + bhūmi = duggatibhūmi.

Dukkhassa gati paṭisaraṇanti = duggati:

Đi đến nơi khổ đề nương tựa, gọi là “khổ cảnh”.

*- Dukkhena gantabbāti = duggati:

Đã đi đến nơi khổ, gọi là “khổ cảnh”.

Có 3 trường hợp gọi là “đi đến khổ cảnh”:

Āgāriyapaṭipatti = duggati:

Đời sống ác hạnh của người cư sĩ, gọi là “đi đến khổ”.

Tức là người cư sĩ không giữ gìn 5 giới, hay tạo ác nghiệp do mãnh lực của phiền não.

– Anagāriyapaṭipatti = duggati:

“Đời sống tà vạy của người xuất gia, gọi là “đi đến khổ”.

Tức là bậc xuất gia nuôi mạng không chân chính, nuôi mạng theo 21 cách sống tà mạng được ghi trong tạng Luật, hay là người phá hoại niềm tin của Phật tử.

– Gatiduggati. Chỉ cho 4 cõi bất hạnh[29].

201 – Hỏi. Cõi địa ngục (nirayabhūmi) ra sao?

Đáp. Chữ niraya phân tích thành: Ni (không có) + aya (an lạc).

Niraya (địa ngục) là nơi chúng sinh sống hoàn toàn không có sự an lạc, luôn bị sự khổ thiêu đốt thân tâm.

Chúng sinh sống trong địa ngục là loại chúng sinh hóa sinh, do đó cõi địa ngục cũng là sắc tế.

Theo bộ Sớ giải Người và cõi thì chúng sinh sống trong địa ngục có 3 hạng: Hạng tội nhân, hạng quỷ sứ (nirāyapāla) và Diêm vương (yamarāja).

*- Hạng tội nhân: Là những chúng sinh tạo ác nghiệp, khi mệnh chung phải sinh ra tại chính cảnh giới ấy.

*- Hạng quỷ sứ (nirayapāla). Đây là những chúng sinh không phải sinh ra tại cảnh giới địa ngục, vì tâm tục sinh của họ không phải là tâm Quan sát thọ xả quả bất thiện, mà là quả của tâm đại thiện thấp.

Hạng chúng sinh này là chư thiên tùy chúng của Tứ Đại vương, là những Rakkhasa (Lasát).

Trong địa ngục có những con kên kên, quạ, diều hâu … đó chính là những Dạxoa có thân hình kỳ dị, chứ trong địa ngục không có súc sinh.

*- Diêm vương (yamarāja). Chính là vua của hạng ngạ quỷ vemānika, khi thì sống an lạc như chư thiên cõi Ba mươi ba, khi thì phải chịu khổ trong cảnh giới địa ngục.

Bồtát cũng có lần tái sinh làm Diêm vương  [30].

Theo Sớ giải Tăng chi kinh, pháp 3 chi (Tikaṅguttara – atthakathā); Diêm vươnglà người lạc vô nhân cũng có, là người nhị nhân cũng có, là người tam nhân cũng có.

Khi còn là phàm nhân thì thọ hưởng như đã nói; khi chứng được Thánh quả thì không còn xuống địa ngục nữa, chỉ thọ hưởng quả an lạc như chư thiên mà thôi.

Cõi địa ngục bao gồm 8 đại địa ngục, nằm sâu trong lòng địa cầu, mỗi đại địa ngục cách nhau 15 ngàn do tuần (yojana), nằm chồng lên nhau theo thứ tự, mỗi đại địa ngục có 32 tiểu địa ngục hay “đa khổ địa ngục (ussada)”.

Diêm chúa là người cai quản tiểu địa ngục, mỗi đại địa ngục có 8 vị Diêm chúa, như vậy có tất cả là 256 Diêm chúa (xin xem  thêm Chú giải người và cõi do Đại Đức Thiện Phúc dịch, hay Chúng sinh và sinh thú do Đại Đức Giác Nguyên dịch).

2o2 – Hỏi. Do nhân nào tái sinh làm quỷ sứ (nirayapāla)?

Đáp. Đây là hạng chúng sinh khi là người, thích hành hạ chúng sinh khác, nhưng cũng biết tạo phước lành.

Nhờ phước lành ấy giúp họ sinh vào cõi Tứ đại vương, nhưng loại phước lành này có khuynh hướng (nikantitaṅhā) thích hành hạ người khác.

Chính bản tính hung dữ ấy khiến các Lasát (rakkhita) này xuống địa ngục hành hạ tội nhân để tiêu khiển, các quỷ sứ hành hạ tội nhân không biết chán, tội nhân càng nhiều đau khổ họ càng thích thú.

203 – Hỏi.  Hãy giải thích về cảnh giới thú (tiracchānabhūmi).

Đáp. Có Pāli giải thích từ tiracchāna như sau:

*- Tiro añjantīti = tiracchāna: Đi ngang hàng, gọi là thú”

Câu giải tự trên đây có 2 ý:

– Nhân loại hay các chúng sinh khác, khi đi thường đầu cao hơn thân mình và đầu ngẫng lên cao. Còn những chúng sinh nào, khi đi đầu cúi xuống ngang với thân mình, gọi là thú.

– Khi đã sinh vào sinh chủng này, cho dù là Bồtát Chánh giác cũng không có đủ trí để chứng đắc Đạo – quả. Thánh trí đã bị ngăn lại, chí đến thiền định cũng không chứng đắc, nên gọi là “ngang hàng”.

Loài thú rất đa dạng với nhiều hình thức và tên gọi khác nhau, nhưng tựu trung gom vào 4 loại:

*- Loài không chân (apadatiracchāna). Như cá, rắn, trùn (giun)… Cao nhất trong loài không chân là loài rồng (nāga).

Bồtát cũng có những kiếp làm Long vương, như Long vương Bhūridatta khi Ngài thực hành trì giới Balamật[31].

*- Loài hai chân (dvipadatiracchāna): Như chim, gà, vịt…

Những loài này tuy có 2 chân như người, nhưng khi đi đầu chúi xuống, thân không đứng thẳng  gần như ngang hàng với đầu, nên xếp vào loài thú.

Cao nhất trong loài thú 2 chân là chim Kim xí điểu (garuda – Đại bàng).

*- Loài bốn chân (catuppadatiracchāna): Như, nai, cọp… Cao nhất trong loài bốn chân là sư tử và voi.

Bồtát cũng có lúc làm voi như voi Chaddanta có hiếu với mẹ, hay làm sư tử chúa…[32]

*- Loài nhiều chân (bahuppadatiracchāna): Như rết, châu chấu…

Loài thú có hai loại: Loại thấy được bằng mắt và loại quá nhỏ đến nổi mắt thường không thấy được.

Loài thú dưới nước nhiều hơn loài thú sống trên cạn.

Chỗ trú của loài thú ở khắp nơi, nhưng không lên đến cõi Tứ đại vương, tuổi thọ của chúng bất định.

204 – Hỏi. Hãy giải thích về cảnh giới “ma đói” (petabhūmi)?

Đáp.  Chữ Peta là hợp từ của pa + ita.

Theo nghĩa của ngữ nguyên thì peta là “những chúng sinh đã chết” hay “những chúng sinh không có hạnh phúc”[33].

Chúng sinh “ma đói – peta” thuộc hạng hóa sinh, nên thân xác họ là sắc tế, mắt thường không thể thấy được.

Chỗ ở của hạng chúnng sinh này thì bất định, chúng ở cùng khắp như  rừng, núi, đảo, ven biển, vực thẳm, ở quanh nhà…

Trong dãy Hy mã lạp sơn, có khu rừng tên là Vijjhaṭavī, là thành phố của 12 loại ngạ quỷ[34]; chúa của nhóm ngạ quỷ là loài ngạ quỷ Mahiddha.

Trong bộ Lokapaññatti (Thế gian chế định) có ghi nhận:

Yattha petanagare petamahiddhiko sabbapetānam issoyādhipaccaṃ karoti:

“Bất luận nơi nào là thành phố ngạ quỷ, ngạ quỷ Mahiddhika là chúa của tất cả ngạ quỷ ở nơi ấy”.

Nói gọn thì có bốn hạng ngạ quỷ:

*-Paradattupajīkapeta: Ngạ quỷ sống bằng thực phẩm của người khác.

*- Khuppipāsikapeta: Ngạ quỷ luôn luôn đói khát.

*- Nijjhāmataṅhikapeta: Ngạ quyên thường xuyên bị lửa đốt.

*- Kāḷakañcikapeta: Atula ngạ quỷ .

Bồtát khi được Đức Chánh giác thọ ký, chỉ có thể sinh làm ngạ quỷ Paradattupajīkapeta, không sinh vào 3 hạng ngạ quỷ kia.

Tuổi thọ của ngạ quỷ bất định, tùy thuộc vào ác quả nặng hay nhẹ tuổi thọ lâu dài hay ngắn hạn.

205 – Hỏi. Hãy giải thích về cõi “Atula” (asurabhūmi).

Đáp. Có Pāli định nghĩa về asura (atula) như sau:

“- Na suranti issariyakilaadihi na dibbhantīti = asurā:

“Chúng sinh nào không sáng chói về quyền lực, không hân hoan, gọi là Atula”.

– “Asurānaṃ kāyo = asurakāyo: Tập hợp những Atula, gọi là nhóm Atula”[35].

“Sáng chói”,  ở đây không mang ý nghĩa “hào quang sáng chói”, mà chỉ cho cuộc sống cơ cực. Như những người nghèo khổ, do kiếp trước có tâm bỏn xẻn không tạo phước bố thí, kiếp này may mắn sinh làm người nhưng nghèo khổ, cuộc sống vất vả.

Không hân hoan”, cho dù những người này có được vật thực để nuôi mạng sống, nhưng là loại vật thực kem cõi, đời sống luôn ưu tư về “chen cơm manh áo”, tâm trí không có sự hân hoan vui thích như những người có phước khác. Đức Phật có dạy:

Người ví như  chúng sinh địa ngục. Là hạng người phạm quốc luật, bị giam cầm trong ngục…

Người ví như loài thú. Là hạng nô lệ.

Người ví như ngạ quỷ. Là hạng hành khất, cô lão… thường bị đói khát.

Người ví như Atula. Là hạng người vất vả trong cuộc sống.

Người ví như người. Là hạng người tâm trí hân hoan, vui thích trong cuộc sống.

Người như chư thiên. Như vua, quan, Hoàng hậu…

Cảnh giới khổ Atula, ám chỉ cho nhóm Kāḷakañcikapeta (có giải thích ở trên). Chỗ ở của nhóm Atula (asurakāyo) này bất định.

Atula ngạ quỷ (petti asura) có 3 loại là:

– Kāḷakañcikapeta-asura. Là nhóm asura ngạ quỷ được trính bày ở trên.

– Vemānikapeta-asura.

– Āyuvaddhikapeti-asura. Là loại Atula trang bị vũ khí để tìm đánh nhau.

Tuổi thọ nhóm Atula này bất định tùy theo ác nghiệp nặng nhẹ mà tuổi thọ dài ngắn khác nhau. Có Pāli  như sau:

“Tesu catummaṃ apāyānaṃ manussāṃ vinipātikāsurānañ ca āyuppamāāgaṇanāya niyamo natthi:

“Không có cố định tuổi thọ đối với những chúng sinh trong khổ cảnh, Atula đọa lạc và người”[36].

206 – Hỏi. Hãy giải thích 7 cõi vui Dục giới?

Đáp. Bảy cõi vui Dục giới là:

1- Cõi người (manussabhūmi).

Cõi người bao gồm những chúng sinh sống ở bốn châu là: Nam thiện bộ châu (Jampūdīpa), Bắc cưu lư châu (Uttarakurudīpa). Đông thắng thần châu (Pubbavidehadīpa) và Tây ngưu hóa châu (Aparagoyānadīpa).

Nhưng chữ Manussa (nhân loại) thường chỉ cho người ở Nam thiện bộ châu.

Có Pāli giải thích manussa như sau:

Mano ussannaṃ etesanti = mamussa:

“Có tâm chói sáng và dũng cảm, gọi là manussa (người)”.

Người Nam thiện bộ châu có tâm dũng cảm với 2 tính cách: Thiện và ác.

Về thiện. Người Nam thiện bộ châu khi tu tiến,  có khả năng thành tựu được Chánh đẳng giác, Bích chi, Thượng thủ thinh văn, Đại thinh văn, bậc Alahán thường, thành tựu Thiền định, Thắng trí hay có bậc Chuyển luân vương xuất hiện.

Về ác. Có thể phạm vào 5 tội đại nghịch : Giết cha, giết mẹ, giết vị Thánh Alahán, làm chảy máu Phật và chia rẻ Tăng chúng.

Người ba châu kia không có được tâm dũng mãnh cả tốt lẫn xấu như người Nam thiện bộ châu.

Tuổi thọ người Nam thiện bộ châu bất định, có khi sống rất lâu, có khi sống rất ngắn.

Như trong thời Đức Phật Vipassī, chúng sinh có tuổi thọ là 80.000 tuổi; trong thời Đức Phật Sikhī, tuổi thọ loài người là 70.000 tuổi, trong thời Đức Phật của chúng ta, tuổi thọ loài người là 100 tuổi[37].

Người Đông thắng thần châu có tuổi thọ ổn định là 700 năm; người Tây ngưu hóa châu có tuổi thọ ổn định là 500 năm; người Bắc cưu lư châu có tuổi thọ ổn định là 1000 năm.

2- Cõi Tứ đại vương (Catummahārājabhūmi).

Cõi này có bốn vị chúa mỗi vị hộ trì một châu:

*- Thiên vương Dhataraṭṭha (Trì quốc thiên vương), ở hướng Đông, cai quản nhóm Hương thần (gandhabba – Cànthátbà), hộ trì Đông Thắng thần châu.

*- Thiên vương Viruḷhaka (Tăng trưởng thiên vương), ở hướng Nam, cai quản nhóm Kumbhaṇḍa (Thế quỷ – Cưubàntrà, là hạng chư thiên có bụng to), hộ trì Nam thiện Bộ châu.

*- Thiên vương Virūpakkha (Quảng mục thiên vương), ở hướng Tây, cai quản loài rồng, hộ trì Tây ngưu hóa châu.

*- Thiên vương Kuvera hay Vessavana (Đa văn thiên vương), ở hướng Bắc, cai quản nhóm Dạxoa (yakkha), hộ trì Bắc Cưu lư châu.

Một ngày đêm ở cõi Tứ đại vương bằng 100 năm cõi nhân loại.

Chư thiên cõi Tứ đại vương có tuổi thọ là 500 năm, tính theo nhân loại là 9 triệu năm[38].

Cõi Tứ Đại vương ở nửa núi Tudi (Sineru), cách xa cõi nhân loại là 42 ngàn do tuần, cách xa cõi Đao lợi là 42 ngàn do tuần.

3- Cõi Ba mươi ba (Tāvatiṃsabhūmi).

Cõi này có 33 vị thiên chủ, đứng đầu là vua Trời Đế Thích (sakka). Cõi Ba mươi ba cách xa cõi Tứ Đại vương là 42 ngàn do tuần.

Từ cõi này trở lên là khoảng hư không; chư thiên cõi Ba mươi ba có 2 hạng là:

*- Địa cư thiên (bhummaṭṭhadevatā). Là những vị chư thiên có thiên cung trên mặt đất.

*- Không cư thiên (ākāsaṭṭhadevatā). Là những vị chư thiên có thiên cung lơ lửng giữa hư không.

Kể từ cõi này trở lên chỉ có một hạng chư thiên là “không cư thiên”.

Một ngày đêm cõi Ba mươi ba bằng 100 năm cõi nhân loại, tuổi thọ chư thiên cõi Ba mươi ba là 1.000 năm, tính theo nhân loại là 36 triệu năm (sđd).

4- Cõi Dạma (Yāmābhūmi).

Chữ yāma xuất nguyên từ ngữ căn YAṂ, nghĩa là “tiêu diệt”.

Yāma là “tiêu diệt nóng bức, khó chịu”.

Cõi này dành cho những người làm việc lành với tâm mát mẻ; chư thiên ở cõi này không có sự nóng bức.

Vị chúa cõi này có tên là Suyāma hay Yāma

Cõi Dạma cách cõi Ba mươi ba là 42 ngàn do tuần; một ngày đêm trên cõi này tương đương với 200 năm cõi nhân loại. Tuổi thọ chư thiên cõi Dạma là 2.000 năm, tương đương với 144 triệu năm cõi nhân loại (sđd).

5- Cõi Đẩu-suất (Tusitabhūmi).

Cõi này dành cho những người tạo phước thiện balamật (pāramī). Bồtát Chánh đẳng giác, Bồtát Bích chi (paccekabodhisatta) Bồtát Thượng thủ thinh văn, kiếp áp chót thường tái sinh về cõi này.

Chúa cõi này có tên là Santusiya, cõi này cách cõi Dạma là 42 ngàn do tuần, một ngày đêm cõi này bằng 400 năm cõi người; tuổi thọ chư thiên cõi này là 4.000 tuổi, tương đương với 516 triệu năm cõi nhân loại (sđd).

6- Cõi Hóa lạc (Nimmānarati).

Đây là quả của sự tu tập thiền tịnh còn non kém, nhưng cũng đạt đến chi hỷ của thiền.

Chúa cõi này có tên là Sunimmita, cõi này cách cõi Đẩu-suất là 42 ngàn do tuần.

Một ngày đêm ở cõi này bằng 800 năm cõi người, tuổi thọ chư thiên ở cõi này là 8.000 tuổi, tương đương với 2064 triệu năm cõi nhân loại (sđd).

7- Cõi Tha hóa tự tại (paranimmitavasavatti).

Đây là quả phước của sự tu tập thiền chỉ đạt đến cận định.

Chúa cõi này có tên là Paranimmita, cõi này cách cõi Hóa lạc 42 ngàn do tuần.

Một ngày đêm ở cõi này bằng 1.600 năm cõi nhân loại; tuổi thọ chư thiên ở cõi này là 1600 năm, tương đương với 8256 triệu năm cõi nhân loại (sđd).

207 – Hỏi. Cõi Sắc giới (rūpavacarabhūmi) ra sao?

Đáp. Cõi Sắc giới là chỗ nương trú của các vị Phạm thiên. Như Pāli  giải thích:

-“Rūpabrahmanaṃ avacarā bhūmi =  rūpavacarabhūmi:

“Nơi Phạm thiên nương trú, gọi là cõi Sắc giới”.

Phạm thiên là “người thành tựu ân đức thù diệu, như ân đức thiền…”

Có câu giải thích về Phạm thiên (brahmana) như sau:

“Brūhanti vaḍḍhanti adhipanītehi jhānādiguṇehīti = brahmāno:

“Những vị chứng đạt, phát triển các pháp tính ưu việt như ân đức thiền.., gọi là Phạm thiên”.

Nói cách khác, vị chứng đạt được thiền định, không bị hoại thiền, sau khi mệnh chung tái sinh về một cảnh giới tương ứng với tầng thiền chứng đạt, vị ấy được gọi là Phạm thiên.

208 – Hỏi. Có bao nhiêu cõi Sắc giới? Hãy kể ra.

Đáp. Có tất cả là 16 cõi Sắc giới, như sau:

*- Tầng Sơ thiền có 3 cõi là: Cõi Phạm chúng thiên (Brahmapārisajjabhūmi), cõi Phạm phụ thiên (Brahmapurohitabhūmi) và cõi Đại phạm thiên (Mahābrahmābhūmi).

Có Pāli như sau: Brahmapārisajjā, brahmapurohitā, mahābrahmanā c’āti pathamajjhābabhūmi:

“Cõi Sơ thiền là: Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại phạm thiên”[39].

*- Tầng Nhị thiền có 3 cõi là: Cõi Thiểu quang thiên (Parittābhābhūmi), cõi Vô lượng quang thiên (Appamāṇābhābhūmi) và cõi Quang âm thiên (Ābhassarābhūmi).

Có Pāli như sau: Parittābhā, appamāṇābhā, ābhassarā c’āti dutiyajjhānabhūmi:

“Cõi Nhị thiền là: Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên và Quang âm thiên” (sđd).

*- Tầng Tam thiền có 3 cõi là: Cõi Thiểu tịnh thiên (Parittasubhābhūmi), cõi Vô lượng tịnh thiên (Appamāṇasubhābhūmi) và cõi Biến tịnh thiên (Subhākiṇṇābhūmi).

Có Pāli như sau:

“Parittasubhā, appamāṇasubhā, subhakiṇnā c’āti tatiyajjhānabhūmi:

“Cõi Tam thiền là: Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên và Biến tịnh thiên.”(sđd)”.

*- Tầng Tứ thiền có 7 cõi là: Cõi Quảng quả (Vehappalābhūmi), cõi Vô tưởng (Asaññasattabhūmi) và 5 cõi Tịnh cư (Suddhāvāsa). Có Pāli như sau:

-“Vehapphalā, asaññasattā, suddhāvāsā c’āti catutthajjhaanabhūmī’ti:

“Cõi Tứ thiền là: Quảng quả, Vô tưởng và Tịnh cư” (sđd).

Năm cõi Tịnh cư là nơi dành cho bậc Thánh Anahàm và bậc thánh Alahán.

Phàm nhân hay bậc Thánh Sơ quả, Nhị quả không thể tái sinh về nơi này, nên 5 cõi này còn được gọi là Thánh cư (ariyavāsa).

Đó là: Cõi Vô phiền (Avihābhūmi), cõi Vô nhiệt (Atappābhūmi), cõi Thiện kiến (Sudassābhūmi, cõi Thiện hiện (Sudassī bhūmi) và cõi Sắc cứu cánh (Akaniṭṭhabhūmi).

Có Pāli như sau: “Avihā, atappā, sudassī, sudassā, akaniṭṭhā c’āti suddhāvāsabhūmi pañcavidhā hoti:

Cõi Tịnh cư có năm là: Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến và Sắc cứu cánh”.

“Puthujjhanā na labbhanti suddhāvāsesu sabbattā. Sotāpannā ca sakadāgāmino cāpi puggalā:

“Phàm nhân, bậc Dự lưu, bậc Nhất lai không sinh vào Tịnh cư thiên trong mọi trường hợp”(sđd).

209 – Hỏi. Ba cõi tầng Sơ thiền ra sao?

Đáp.Tầng Sơ thiền có 3 cõi là:

*- Cõi Phạm chúng thiên (Brahmapārisajjabhūmi).

Có Pāli như sau:Parisati bhavā = pārisajjā:

Trong nhóm đồ chúng, gọi là pārisajjā.

Tức là hạng Phạm thiên thông thường, không có quyền lực gì đáng kể.

Gọi là Phạm chúng thiên, nghĩa là Phạm thiên tùy tùng của Đại Phạm thiên. Ví như “dân chúng” trong một nước.

“Brahmānaṃ pārisajjā = brahmapārisajjā: Phạm thiên đồ chúng, gọi là “Phạm chúng thiên”.

Tên gọi “Phạm chúng thiên” là do nương theo chỗ trú của các Phạm thiên mà định danh như thế.

Như các Ngài dẫn ra:

“Brahmapārisajjānaṃ nibbātāti = brahmapārisajjā:

“Chỗ trú của Phạm thiên đồ chúng, gọi là Phạm chúng thiên”.

Vị Thánh Anahàm không đắc thiền, khi mệnh chung sinh về cõi này, do mãnh lực diệt trừ được tham dục và sân hận.

*- Cõi Phạm phụ thiên (Brahmapurohitabhūmi).

“Pure ucce tīhāne chanti tiṭṭhantīti = purohitā:

Người phụ giúp, có chức vụ cao, gọi làcố vấn”.

Hay: Brahmānaṃ purohita = brahmapurohitā:

“ Phạm thiên cố vấn, gọi là Phạm phụ thiên”.

Các vị Phạm phụ thiên ví như các quan đại thần trong quốc độ.

Chỗ nương trú của các Phạm phụ thiên, gọi là cõi Phạm phụ thiên.

Như có Pāli sau: Brahmapurohitānaṃ nibbattāti = brahmapurohitā:

“Chỗ trú của Phạm thiên cố vấn, gọi là Phạm phụ thiên.

*- Cõi Đại Phạm thiên (mahābrahmābhūmi).

“Mahanto brahmā = mahābrahmā: “Phạm thiên lớn nhất, gọi là Đại phạm thiên.”

Đại Phạm thiên là vị cai quản cõi Sơ thiền, giống như vua của một nước.

Khi vũ trụ này mới hình thành, vị Phạm thiên sinh ra trước nhất trong tầng Sơ thiền, vị ấy được gọi là Đại Phạm thiên[40].

Như vậy, Đại Phạm thiên chỉ có một vị, điều này được tìm thấy qua đoạn Phật ngôn trong bộ Tương ưng kinh, phẫm ương ưng Phạm thiên (brahmasaṃyutta) như sau:

“Tatra sudaṃ bhikkhave brahmā (mahābrahmā) ca brahmaparisā ca brahmapārisajjā ca ujjhāyanti khīyanti…”

Theo đoạn Pāli trên, từ chỉ vị Đại Phạm thiên dùng số ít, còn từ chỉ Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên thì dùng số nhiều[41].

Có 3 hạng Đại Phạm thiên:

*- Đại Phạm thiên có hào quang chói sáng cả 1.000 vũ trụ (cakkavāla), gọi là Sahassabrahma.

*- Đại Phạm thiên có hào quang chói sáng cả 2.000 vũ trụ, gọi là Dvisahassabrahma.

*- Đại Phạm thiên có hào quang chói sáng cả 3.000 vũ trụ, gọi là tisahassabrahma.

Tuy gọi là 3 cõi Sơ thiền, thật ra ba cõi này nằm ngang hàng nhau, cách cõi Tha hóa tự tại 5.508.000 do tuần.

Các Phạm thiên có những phạm cung xinh đẹp (Kinh Phạm Võng), nằm lơ lửng, trôi nổi giữa hư không, nền bằng 7 loại ngọc báu, có vườn hoa, ao hồ…

Trong tầng Sơ thiền ấy có ranh giới để phân chia khu vực của 3 bậc Phạm thiên trong tầng ấy.

Các Phạm thiên tầng Sơ thiền tục sinh bằng tâm quả Sơ thiền Sắc giới.

Tuổi thọ của Phạm Chúng thiên là một phần ba kiếp trái đất, tuổi thọ của Phạm phụ thiên là nửa kiếp trái đất, tuổi thọ vị Đại Phạm thiên là một kiếp trái đất.

Đây là tính kể từ vũ trụ hình thành cho đến khi vũ trụ bị hoại, nếu vị Phạm thiên sinh lên vào lúc tuổi thọ trái đất là một nửa thì tuổi thọ ngắn lại. Vì khi vũ trụ bị hoại thì cả tầng Sơ thiền cũng bị hoại theo.

Có Pāli như sau: Tesu brahmapārisajjānaṃ devānaṃ kappassa[42] tatiyo bhāgo āyuppamāṇaṃ:

“Ở các cảnh giới này, thọ mạng của các chư thiên Phạm chúng thiên là một phần ba kiếp trái đất (kappa)”.

“Brahmapurohitānaṃ upaddakappo, mahābrahmānaṃ eko kappo:

Phạm phụ thiên là nửa kiếp, Đại Phạm thiên là 1 kiếp”[43].

210 – Hỏi. Ba cõi tầng Nhị thiền ra sao?

Đáp. Tương tự như tầng Sơ thiền, tầng Nhị thiền cũng có 3 cõi và tên gọi do nương theo chỗ ngụ và tính chất của các vị Phạm thiên ấy.

*- Cõi Thiểu quang thiên (Parittasubhābhūmi).

Là những vị Phạm thiên có hào quang tỏa ra ít hơn so với những Phạm thiên cao hơn.

Có Pāli giải thích như sau:

Parittā ābhā etesanti = parittābhā:

Hào quang ít hơn, gọi là parittābhā (thiểu quang)”.

Parittābhāvaṃ nibbattāti = parittābhā:

Trú xứ của các Phạm thiên ít hào quang, gọi là Thiểu quang thiên.

Các Phạm thiên này giống dân chúng  trong “xứ nhị thiền”.

*- Cõi Vô lượng quang thiên (appamāṇābhūmi).

Là những vị Phạm thiên có hào quang tỏa ra nhiều vô số.

Có Pāli giải thích như sau:

Appamāṇā ābhā etesanti = appamāṇābhā:

“Hào quang nhiều vô số, gọi là vô lượng quang.

Appamāṇābhānaṃ nibbattāti = appamāṇābhā:

Trú xứ của Phạm thiên có hào quang tỏa ra vô số, gọi là cõi Vô lượng quang thiên.

Các vị Phạm thiên ở cõi này ví như các quan đại thần trong xứ “Nhị thiền”.

*- Quang âm thiên (ābhassarābhūmi).

Là những Phạm thiên có hào quang tỏa ra từ thân rất xinh đẹp.

Có Pāli giải thích như sau:

Sarati nissaratīti = sarā:

Hào quang có chỗ chiếu ra, gọi là sarā (tia sáng).”

Ābhāsarā etesanti = ābhassarā:

Phạm thiên có hào quang từ thân xẹt ra, gọi là “Quang âm ”.

Ābhassarā nibbattāti = ābhāsarā:

Trú xứ của các Phạm thiên Quang âm, gọi là Quang âm thiên.

Các Phạm thiên Thiểu quang có vai trò như Phạm chúng thiên tầng Sơ thiền.

Các Phạm thiên Vô lượng quang có vai trò như các Phạm phụ thiên ở tầng Sơ thiền.

Các Phạm thiên Quan âm có vai trò như Đại phạm thiên ở tầng Sơ thiền.

Theo kinh Khởi thế nhân bổn (Aggañña suttanta) trong Trường bộ kinh, thủy tổ loài người chính là những vị Phạm thiên cõi Quang âm này.

Các vị Phạm thiên Quang âm, có tâm tràn đầy hỷ lạc sung mãn rất tinh khiết, nên tạo ra sắc tâm tinh khiết, chính do sắc tâm này làm duyên cho sắc thời tiết sinh lên rồi hiển lộ thành hào quang rất xinh đẹp.

Các Phạm thiên ở tầng Nhị thiền tục sinh bằng tâm quả Nhị thiền Sắc giới và tâm quả Tam thiền Sắc giới.

Với tâm quả Nhị thiền Sắc giới làm việc, các vị Phạm thiên này là Phạm thiên Thiểu quang, hay Phạm thiên Vô lượng quang.

Với tâm quả Tam thiền Sắc giới làm việc tục sinh, các vị Phạm thiên này là Quang âm phạm thiên

Tầng Nhị thiền cách xa tầng Sơ thiền 5. 508.000 do tuần, cấu trúc tầng Nhị thiền giống như tầng Sơ thiền nhưng chói sáng hơn.

Tuổi thọ các vị Phạm thiên tầng Nhị thiền như sau:

– Tuổi thọ các vị Phạm thiên Thiểu quang thiên là 2 kiếp trái đất.

– Tuổi thọ các vị Phạm thiên Vô lượng quang là 4 kiếp trái đất.

– Tuổi thọ các vị Phạm thiên Quang âm là 8 kiếp trái đất.

Có pāli như sau:

Parittābhānaṃ dve kappāni; appamāṇābhānaṃ  cattāri kappāni; ābhassarānaṃ aṭṭha kappāni:

“Thiểu quang thiên có (tuổi thọ) 2 kiếp trái đất; Vô lượng quang thiên là 4 kiếp trái đất; Quang âm thiên là 8 kiếp trái đất” (sđd).

Sự hoại vũ trụ được ghi nhận là: 7 lần hoại do lửa có một lần hoại do nước.Khi vũ trụ bị hoại do nước sẽ hủy diệt hết cõi Nhị thiền.

Do đó số lượng tuổi thọ các vị Phạm thiên Quang âm là 8 kiếp trái đất.

Nhưng nếu các vị ấy sinh sau hơn thì tuổi thọ không đến 8 kiếp trái đất.

211 – Hỏi. Ba cõi tầng Tam thiền ra sao?

Đáp. Tương tự như tầng Sơ hay Nhị thiền, tầng Tam thiền cũng có ba cõi là:

*- Cõi Thiểu tịnh thiên (parittasubhābhūmi).

Là trú xứ của những vị Phạm thiên có hào quang kém xinh đẹp nhất trong tầng Tam thiền.

Tuy các Phạm thiên ở tầng Sơ thiền, Nhị thiền đều có hào quang chói sáng, nhưng không được xinh đẹp so với hào quang của những Phạm thiên tầng Tam thiền.

Có Pāli  giải thích như sau:

Parittā subhā etesanti = parittashubhā:

Hào quang kém xinh đẹp, gọi là thiểu tịnh.

Parittasubhānaṃ nibbattāti = parittasubhā:

Trú xứ của những Phạm thiên có hào quang kém xinh đẹp, gọi là Thiểu quang thiên”.

*- Cõi Vô lượng tịnh thiên (appamāṇasubhābhūmi).

Là trú xứ của những Phạm thiên có hào quang vô cùng xinh đẹp.

Có Pāli giải thích như sau:

Appamāṇā subhā etesanti = appamāṇasubhā:

Hào quang vô cùng xinh đẹp, gọi là vô lượng tịnh.

Appamāṇasubhānaṃ nibbattāti = appamāṇasubhā:

“Trú xứ của những vị Phạm thiên có hào quang vô cùng xinh đẹp, gọi là Vô lượng tịnh thiên.”

*- Cõi Biến tịnh thiên (subhakiṇṇābhūmi).

Là cõi của những vị Phạm thiên có hào quang rất xinh đẹp bọc quanh thân. Có Pāli giải thích như sau:

Subhāti ākiṇnāti = subhakiṇṇā (subhakiṇhā):

“Có hào quang xinh đẹp khắp châu thân, gọi là biến tịnh.

Subhakiṇṇānaṃ nibbattāti = subhakiṇṇā:

“-Trú xứ của các vị Phạm thiên Biến tịnh, gọi là Biến tịnh thiên.

Các phạm thiên Thiểu tịnh có vai trò như các Phạm chúng thiên.

Các phạm thiên Vô lượng tịnh có vai trò như các Phạm phụ thiên.

Các phạm thiên Biến tịnh có vai trò như Đại phạm thiên.

Tầng Tam thiền cách tầng Nhị thiền là 5.508.000 do tuần, cấu trúc giống như tầng Nhị thiền nhưng xinh đẹp hơn.

Các Phạm thiên tầng tam thiền tục sinh bằng tâm quả Tứ thiền Sắc giới. Tuổi thọ các vị Phạm thiên ở tầng này như sau:

– Phạm thiên Thiểu tịnh có tuổi thọ là 16 kiếp trái đất.

– Phạm thiên Vô lượng tịnh có tuổi thọ là 32 kiếp trái đất.

– Phạm thiên Biến tịnh có tuổi thọ là 64 kiếp trái đất.

Có Pāli như sau:

Parittasubhāṇaṃ soḷasa kappāni; appamāṇasubhānaṃ dvattiṃsa kappāni; subhakiṇhānaṃ catusaṭṭhi kappāni:

“Thiểu tịnh thiên có (tuổi thọ) là 16 kiếp trái đất; Vô lượng tịnh thiên là 32 kiếp trái đất; Biến tịnh thiên là 64 kiếp trái đất” (sđd).

Sở dĩ có số 64 kiếp trái đất là vì: Sau 7 lần vũ trụ bị hoại do nước, đến một lần hoại do gió; bấy giờ tầng Tam thiền cũng bị hoại theo.

Cách lý giải tương tự như trên.

212 – Hỏi. Bảy cõi tầng Tứ thiền ra sao?

Đáp. Tầng Tứ thiền có hai lãnh vực: Hữu tưởng và Vô tưởng.

Cõi Vô tưởng là nơi trú của những vị Phạm thiên không có tâm.

Trong lãnh vực hữu tưởng có cõi Quảng quả có cả phàm nhân lẫn bậc thánh.

Riêng 5 cõi Tịnh cư chỉ dành riêng cho bậc Thánh Anahàm và Thánh Alahán.

Tức là bậc Anahàm chứng đắc được ngũ thiền Sắc giới, có được một quyền (indriya) vượt trội so với 4 quyền kia, sẽ sinh về cõi tương ứng với quyền vượt trội. Tại một trong 5 cõi này vị Thánh chứng đắc Alahán rồi viên tịch.

Nếu 5 quyền ngang nhau thì vị ấy sinh về cõi Quảng quả và vị Thánh hữu học ấy sẽ viên tịch tại chính cõi này.

213 – Hỏi. Cõi Quảng quả và cõi Vô tưởng ra sao?

Đáp.*- Cõi Quảng quả (vehapphalabhūmi).

Là nơi trú của những vị Phạm thiên có quả phước vô cùng rộng lớn.

Sở dĩ gọi là Quảng quả vì không bị tiêu hoại bởi lửa, nước, gió như các tầng thiền bên dưới.

Trong các tâm thiền, tâm thiền xả thọ là tâm thiền thù thắng bất động so với các tâm thiền thọ hỷ, nên có quả phước vô cùng rộng lớn.

Có Pāli giải thích như sau:

Vipulaṃ phalaṃ etesanti = vehapphalā:

Có quả (phước) rộng lớn, gọi là quảng quả.

Vehapphalānaṃ nibbatīti = vehapphalā:

Trú xứ của Phạm thiên Quảng quả, gọi là Quảng quả thiên”.

Các Phạm thiên cõi Quảng quả tục sinh bằng tâm quả Ngũ thiền Sắc giới, có tuổi thọ là 500 kiếp trái đất.

Trong cõi Quảng quả có cả phàm nhân lẫn bậc Thánh.

* – Cõi Vô tưởng (asaññasattabhūmi).

Là cõi của những Phạm thiên không có tâm thức.

Có Pāli giải thích như sau:

Natthi saññā etesanti = asaññā:

Không có tưởng, gọi là vô tưởng.

Natthi saññāmukhena cattāro arūpakkhandhā etesanti = asaññā:

“Không có tưởng trong bốn vô sắc uẩn, gọi là vô tưởng”.

Asaññasattānaṃ  nibbattāti = asaññāsattā:

“Trú xứ của Phạm thiên Vô tưởng, gọi là cõi Vô tưởng”.

Tuy các Phạm thiên này không có tâm thức nhưng vẫn được gọi là “chúng sinh – satta”, vì có sắc Mạng quyền.

Các Phạm thiên này tục sinh bằng nhóm sắc Mạng quyền[44].

Đời sống các Phạm thiên Vô tưởng là 500 kiếp địa cầu.

Có Pāli như sau: Vehapphalānaṃ asaññasattānañ ca pañcakappasatāni:

“Phạm thiên cõi Quảng quả và cõi Vô tưởng có (tuổi htọ) là 500 kiếp trái đất”(sđd).

Hai cõi này nằm ngang nhau, Phạm thiên cõi Quảng quả có thể thấy Phạm thiên Vô tưởng, khác với các Phạm thiên ở 3 tầng thiềp thấp, các Phạm thiên thấp không thể thấy Phạm thiên bậc cao dù nằm ngang nhau. Như Phạm chúng thiên không thể thấy Phạm phụ thiên… chỉ có thể thấy được Phạm thiên bậc cao khi vị ấy hóa thân thô tướng.

214 – Hỏi. Năm cõi Tịnh cư (suddhāvāsā) ra sao?

Đáp. *- Năm cõi Tịnh cư.

Là cõi dành riêng cho Bậc Thánh Anahàm và Thánh Alahán.

Có Pāli như sau:

– Suddhānaṃ anāgāmi arahantānameva āvāsāti = suddhavāsā:

“Trú xứ thanh tịnh của bậc Anahàm và Alahán, gọi là tịnh cư”.

Không như những cõi của tầng thiền bên dưới nằng ngang nhau, các cõi Tịnh cư nằm xếp chồng lên nhau từ thấp đến cao.

1 – Cõi Vô phiền (avihābhūmi).

Vị Thánh Anahàm có tín quyền mạnh (saddhindrya), chứng đạt Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh vể cõi này.

Gọi là cõi Vô phiền, vì các Phạm thiên Anahàm ở cõi này sống hết tuổi thọ của mình, không như những cõi Tịnh cư cao hơn.

Ở cõi Tịnh cư cao hơn, các Phạm thiên Anahàm không sống hết tuổi thọ có được nơi cõi ấy.

Đồng thời những thiên sản mà các Ngài có được cũng không hề bị tổn giảm bất cứ loại nào.

Các Giáo thọ sư có giải thích như sau:

Appakena kālena attano ṭhānaṃ na vijjahantīti = avihā

“Không lìa bỏ trú xứ của mình dù chỉ khoảnh khắc, gọi là Vô phiền.

Nghĩa là “không chết trước tuổi thọ có được trong cõi ấy”.

Hay “Attano sampattiyā na hāyantīti = avihā:

“Giữ nguyên sự thành đạt của mình, không bị hư hoại, gọi là vô phiền”.

Avihānaṃ nibbattāti = avihā:

“Trú xứ của Phạm thiên “không thất thoát”, gọi là Vô phiền thiên.

2- Cõi Vô nhiệt (atappābhūmi).

Vị Thánh Anahàm có tấn quyền (viriyindriya) vượt trội, chứng đạt Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.

Gọi là “Vô nhiệt” vì các Ngài không có sự “nóng bức” ở nội tâm.

Nguyên nhân là do “các Ngài thường xuyên nhập “Quả định  – phalasamādhi”, nên các phiền não trong nội tâm khó có cơ hội dấy lên, nội tâm của các Ngài luôn an tịnh mát mẻ.

Có Pāli như sau:

Na tappantīti = atappā : Không có nóng bức, gọi là vô nhiệt”.

Atappānaṃ nibbattāti = atappā:

Trú xứ của các Phạm thiên không có nóng bức, gọi là Vô nhiệt thiên”.

*- Cõi Thiện kiến (sudassābhūmi).

Vị Thánh Anahàm có niệm quyền (satindriya) mạnh, chứng đạt Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.

Gọi là “Thiện kiến” vì khi người khác nhìn thấy các vị Phạm thiên ở đây, đều phát sinh tâm hoan hỷ, do vì thân tướng của các Ngài rất xinh đẹp.

Có Pāli giải thích như sau:

Sukhena dissantīti = suddassā:

Nhìn thấy phát sinh an lạc, gọi là thiện kiến.

Và: “Parisuddhehi pasādadibbadhammapaññā cakkhūhi sam pannattā suṭṭhu passantīti = sudassā:

“Thấy mọi vật rất rõ ràng, do có nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn và tuệ nhãn thanh tịnh, gọi là thiện kiến”.

Nghĩa là các vị Phạm thiên ở cõi này có đủ bốn loại nhãn là: Mắt thịt (nhục nhãn), mắt chư thiên (thiên nhãn), mắt pháp (pháp nhãn) và mắt trí tuệ (tuệ nhãn), nên nhìn thấy mọi vật rất dễ dàng.

Sudassānaṃ nibbattāti = sudassā:

“Chỗ ở của Phạm thiên Thiện kiến, gọi là cõi Thiện kiến”.

*- Cõi Thiện hiện (sudassībhūmi).

Vị Thánh Anahàm có định quyền (samādhindriya) mạnh, chứng đắc Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.

Gọi là cõi Thiện hiện vì các vị Phạm thiên ở đây khéo thấy trọn vẹn mọi vật hơn các Phạm thiên cõi Thiện hiện.

Các Phạm thiên ở cõi này tuy vẫn có 4 loại nhãn như Phạm thiên cõi Thiện hiện, nhưng  ba loại nhãn: Nhục nhãn, thiên nhãn và pháp nhãn thì vượt trội hơn, còn Pháp nhãn thì ngang nhau.

Có Pāli giải thích như sau:

Sukhena passantīti = sudassī:

“Nhìn thấy mọi vật dễ dàng, gọi là Thiện hiện”.

Sudassīnaṃ nibbattāti = sudassī:

“Chỗ trú của Phạm thiên Thiện hiện, gọi là Thiện hiện thiên”.

*- Cõi Sắc cứu cánh (akaniṭṭhābhūmi).

Vị Thánh Anahàm có tuệ quyền (paññidriya) mạnh, chứng đắc Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.

Gọi là cõi Sắc Cứu cánh, vì đây là trú xứ của các vị Phạm thiên có ân đức Giới – định – tuệ cao nhất so với bất cứ vị Phạm thiên nào trong cõi Sắc, kể cả 4 cõi Tịnh cư thấp.

Vị Phạm thiên Anahàm cõi Sắc Cứu cánh sẽ viên tịch ngay chính chỗ ấy, tức là trong kiếp Phạm thiên ở Sắc cứu cánh vị ấy sẽ chứng quả Alahán.

Nơi cõi Sắc Cứu cánh có Bảo tháp Cūḷamanī tôn trí bộ vương phục cùng tóc của Bồtát Siddhattha (Sĩ-đạt-ta).

Khi Bồtát xuất gia, Đại Phạm thiên Ghaṭikāra từ cõi Sắc Cứu cánh xuống, dâng cho Bồtát 8 món y cụ của bậc xuất gia và mang bộ vương phục cùng tóc cắt bỏ của Bồtát mang về tôn trí trong Bảo tháp Cūḷamanī, Bảo tháp này cao 12 do tuần.

Có Pāli  giải thích như sau:

Natthi kaṇiṭṭho etesanti = akaniṭṭhā:

“Không có nhỏ nhoi, dù chút ít, akaniṭṭhā”.

Natthi rūpīnaṃ sattānaṃ majjhe kenaci guṇena kaniṭṭhabhāvo etesanti = akaniṭthā:

“Ân đức pháp tánh không nhỏ nhoi, dù chút ít so với những chúng sinh bình thường, gọi là akaniṭṭhā (sắc Cứu cánh)”.

Akaniṭṭhānaṃ  nibbattāti = akaniṭṭhā:

“Trú xứ của Phạm thiên Sắc cứu cánh, gọi là Sắc Cứu cánh thiên.

Tuổi thọ các Phạm thiên cõi Tịnh cư.

Các Phạm thiên cõi Tịnh cư đều tục sinh bằng tâm quả Ngũ thiền Sắc giới.

– Chư Phạm thiên cõ Vô phiền có tuổi thọ là 1.000 kiếp trái đất.

– Chư Phạm thiên cõi Vô nhiệt có tuổi thọ là 2.000 kiếp trái đất.

– Chư Phạm thiên cõi Thiện kiến có tuổi thọ là 4.000 kiếp trái đất.

– Chư Phạm thiên cõi Thiện hiện có tuổi thọ là 8.000 kiếp trái đất.

– Chư Phạm thiên cõi Sắc Cứu cánh có tuổi thọ là 16.000 kiếp trái đất.

Có Pāli như sau:

– Avihānaṃ kappasahassāni:(Cõi) Vô phiền là 1.ooo kiếp trái đất.

– Atappānaṃ dve kappasahassāni:(Cõi) Vô nhiệt là 2.000 kiếp trái đất.

Sudassānaṃ cattāri kappasahassāni: (Cõi) Thiện kiến là 4.000 kiếp trái đất.

– Sudassīnaṃ aṭṭhakappasahassāni: (Cõi) Thiện hiện là 8.000 kiếp trái đất.

– Akaniṭṭhānaṃ soḷasa kappasahassāni āyupamāṇaṃ: (Cõi) Sắc Cứu cánh là 16.000 kiếp trái đất”[45]

215 – Hỏi. Bốn cõi Vô sắc ra sao?

Đáp. Bốn cõi Vô sắc tuy gọi là cõi, nhưng không hiện rõ bất luận với dạng thức nào, vì chỉ khoảng “chân không” bao la.

Vị Phạm thiên Vô sắc chỉ có bốn danh uẩn: Thọ, tưởng, hành và thức uẩn.

Các Ngài không có sắc pháp, nên chỗ trú của các Ngài cũng không có sắc pháp.

Sở dĩ gọi là cõi, vì có “lời nói sai” rằng: “Chúng sinh có danh, nhưng không có sắc thì không gọi là cõi”.

Để xóa bỏ quan điểm sai lầm này, Ngài Anuruddha nêu lên “cõi Không vô biên xứ (Ākāsānañcāyatanabhūmi)…”.

Lại có quan điểm sai lầm khác là: “Vị Phạm thiên Vô sắc cũng có thiên cung, ao hồ …”.

Thật ra, các Phạm thiên Vô sắc là những vị tu tiến thiền chỉ tịnh (samādhijhāna), có ý lìa bỏ sắc pháp, do mãnh lực thiền khi mệnh chung vị ấy tái sinh trở thành chúng sinh vô sắc[46], Thiên cung, ao hồ, vườn tược … là sắc pháp, làm sao có thể có trên cõi Vô sắc.

Lại nữa, nếu có thiên cung, ao hồ… thì làm sao gọi là “cõi Vô sắc” được.

Có Pāli như sau:

Arūpabrahmānaṃ avacarā bhūmi = arūpavacarabhūmi:

“Cõi lui tới của Phạm thiên Vô sắc, gọi là cõi Vô sắc .”

Vô sắc giới có bốn cõi là:

*- Cõi Không vô biên xứ (ākāsānañcāyatanabhūmi).

Là trú xứ của vị Phạm thiên thành tựu thiền Vô sắc với đề mục “không vô biên xứ”, khi mệnh chung sinh về cõi này.

Vị Phạm thiênKhông vô biên xứ tục sinh bằng tâm quả Không vô biên xứ.

*- Cõi Thức vô biên xứ (viññāṇañcāyatanabhūmi).

Là trú xứ của vị Phạm thiên thành tựu thiền vô sắc với đề mục “thức vô biên xứ”, khi mệnh chung tái sinh về cõi này.

Vị Phạm thiên cõi Thức vô biên xứ tục sinh bằng tâm quả Thức vô biên xứ.

*- Cõi Vô sở hữu xứ (ākiñcāyatanabhūmi).

Là trú xứ của vị Phậm thiên thành tựu thiền vô sắc với đề mục “Vô sở hữu xứ”. Khi mệnh chung, tái sinh về cõi này.

Vị Phạm thiên Vô sở hữu xứ tục sinh bằng tâm quả Vô sở hữu xứ.

*- Cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ (nevasaññānāsaññāyatana bhūmi).

Là trú xứ của vị Phạm thiên thành tựu thiền Vô sắc với đề mục “phi tưởng phi phi tưởng xứ”, khi mệnh chung tái sinh về cõi này,

Vị Phạm thiên phi tưởng phi phi tưởng xứ tục sinh bằng tâm quả phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Tuổi thọ của các vị Phạm thiên ấy như sau:

– Phạm thiên cõi Không vô biến xứ có tuổi thọ là 20.000 kiếp trái đất.

– Phạm thiên cõi Thức vô biên xứ có tuổi thọ là 40.000 kiếp trái đất.

– Phạm thiên cõi Vô sở hữu xứ có tuổi thọ là 60.000 kiếp trái đất.

– Phạm thiên cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ có tuổi thọ là 84.000 kiếp trái đất.

Như có Pāli sau:

“Tesu pama ākāsānañcāyatanūpagānaṃ devānaṃ vīsati kappasahassaani āyuppamāṇaṃ:

Trong các cảnh giới này, tuổi thọ những vị Không bô biên xứ là 20.000 kiếp trái đất.

Viññānañcāyatanūpagānaṃ devānaṃ cattāḷisakappasahassāni:

Các vị Thức vô biên xứ là 40.000 kiếp trái đất.

Ākiñcaññāyatanūpaganaṃ devānaṃ saṭṭhikappasahassasāni.

Các vị Vô sở hữu xứ là 60.000 kiếp trái đất.

Nevasañānāsaññāyatanūpagānaṃ devānaṃ caturāsītikappasahassāni āyuppamānaṃ:

Các vị Phi tưởng phi tưởng xứ là 84.000 kiếp trái đất” (sđd).

Phụ chú.

– Khoảng cách từ Địa ngục Vô gián đến cõi nhân loại là 120 ngàn do tuần.

– Nhân loại cách cõi Tha hóa tự tại là 252 ngàn do tuần.

– Nhân loại cách cõi Phi tưởng phi tưởng xứ là 71 triệu 856 ngàn do tuần.

-Địa ngục Vô gián cách cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ là 71 triệu 876 ngàn do tần.

216 – Hỏi. Người được phân bố theo cõi như thế nào? Có bao nhiêu hạng người tính theo cõi?

Đáp. Người được phân bố theo cõi như sau.

*- Bốn cõi khổ, mỗi cõi chỉ có 1 hạng người khổ => có 4 hạng người khổ.

*- Cõi nhân loại  và cõi  Tứ đại vương, mỗi cõi  có 11 hạng người (trừ người khổ) => 22 hạng người.

*- Năm cõi trời Dục giới (từ cõi Ba mươi ba đến cõi Tha hóa tự tại), mỗi cõi có 10 hạng người (trừ người khổ và người lạc vô nhân) =>  5 cõi x 1o hạng người = 55 hạng người.

*- Ba cỏi Sơ thiền, ba cõi Nhị thiền, ba cõi Tam thiền và cõi Quảng quả; mỗi cõi có 9 hạng người (trừ người khổ, người lạc vô nhân và người nhị nhân) =>  10 cõi x 9 hạng người = 90 hạng người.

* Cõi Vô tưởng, chỉ có người Lạc vô nhân.

*- Năm cõi Tịnh cư, mỗi cõi có ba hạng người: Người Tam quả, người Tứ đạo và người Tứ quả => 5 cõi x 3 hạng người = 15 hạng người.

*- Bốn cõi Vô sắc, mỗi cõi có 8 hạng người là: Phàm Tam nhân, 3 người Đạo (trừ người Sơ đạo) và 4 người Quả => 4 cõi x 8 hạng người = 32 hạng người. Như vậy tổng cộng có 218 hạng người (tính theo cõi).

217 – Hỏi. Mỗi cõi có được bao nhiêu tâm?  

Đáp. *- Bốn cõi khổ mỗi cõi có được 37 tâm.

*- Bảy cõi vui Dục giới, mỗi cõi có 112 tâm là: 54 tâm Dục giới +18 tâm thiền hiệp thế[47] + 40 tâm Siêu thế.

*- Ba cõi Sơ thiền Sắc giới, mỗi cõi có 97 tâm là: Tâm quả Sơ thiền (tâm hữu phần) + 38 tâm Dục giới[48] + 18 tâm thiền Đáo đại hiệp thế + 40 tâm Siêu thế.

*- Ba cõi Nhị thiền, mỗi cõi có 93 tâm là: Tâm quả Nhị thiền (tâm hữu phần) + tâm quả Tam thiền + 38 tâm Dục giới + 18 đổng lực Đáo đại + 35 tâm Siêu thế (trừ 4 tâm Đạo Sơ thiền và tâm Tứ quả Sơ thiền)[49].

*- Ba cõi Tam thiền, mỗi cõi có 82 tâm là: Tâm quả Tứ thiền (hữu phần) + 38 tâm Dục giới + 18 đổng lực Đáo đại + 25 tâm Siêu thế  [50].

*- Cõi Quảng quả có được 77 tâm là: Tâm quả Ngũ thiền (tâm hữu phần) + 38 tâm Dục giới + 18 đổng lực Đáo đại + 20 tâm Siêu thế[51].

*- Cõi Vô tưởng không có tâm nào cả.

*- Năm Cõi Tịnh cư, mỗi cõi có được 55 tâm là: Tâm quả Ngũ thiền (tâm hữu phần) +33 tâm Dục giới[52] + 18 tâm đổng lực Đáo đại+ tâm Tam quả Ngũ thiền + tâm Tứ đạo ngũ thiền và tâm Tứ quả Ngũ thiền.

*- Cõi Không vô biên xứ có được 43 tâm là: Tâm quả Không vô biên xứ (tâm hữu phần), 10 tâm bất thiện (trừ 2 tâm sân) + tâm Hướng ý môn + 8 đại thiện + 8 Đại tố + 8 tâm đổng lực thiền Vô sắc +7 tâm Siêu thế Ngũ thiền (trừ tâm Sơ Đạo ngũ thiền).

*- Cõi Thức vô biên xứ có được 41 tâm là: Lấy 43 tâm ở cõi Không vô biên xứ trừ đi 3 tâm Không vô biên xứ,  rồi cộng thêm tâm quả Thức vô biên xứ ( tâm hữu phần).

* –  Cõi Vô sở hữu xứ có được 39 tâm là: Lấy 41 tâm ở cõi Thức vô biên xứ trừ đi 3 tâm thức vô biên xứ , rồi cộng thêm tâm quả Vô sở hữu xứ (tâm hữu phần).

*- Cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ có được 37 tâm là: Lấy 39 tâm ở cõi Vô sở hữu xứ trừ đi ba tâm Vô sở hữu xứ, rồi cộng thêm tâm quả Phi tưởng phi phi tưởng xứ (tâm hữu phần).

218 – Hỏi. Tâm sinh được trong mấy cõi?

Đáp. *- Bốn tâm quả Vô sắc, mỗi tâm chỉ cho trong một cõi.

*-Tâm quả Sơ thiền chỉ có trong 3 cõi Sơ thiền.

*- Tâm quả Nhị thiền, tâm quả tam thiền chỉ có trong cõi Nhị thiền.

*- Tâm quả Tứ thiền chỉ có trong cõi tam thiền.

*- Tâm quả Ngũ thiền có trong 6 cõi: Cõi Quảng quả và 5 cõi Tịnh cư.

*- Tâm Đạo và tâm Quả Siêu thế không thiền[53]  chỉ có trong 7 cõi vui Dục giới.

*- Ba đôi thức (tỷ, thiệt, thân thức) + 2 tâm sân có trong 11 cõi Dục giới.

*- Bốn tâm Đạo Sơ thiền + tâm Tứ quả Sơ thiền có trong 10 cõi là : 7 cõi vui Dục giới + 3 cõi Sơ thiền.

*- Bốn tâm Đạo Nhị thiền + 4 tâm Đạo Tam thiền + tâm Tứ quả Nhị thiền + tâm Tứ quả Tam thiền, có trong 13 cõi là: 7 cõi vui Dục giới + 3 cõi Nhị thiền + 3 cõi Tam thiền.

*- Bốn tâm Đạo Tứ thiền + tâm Tứ quả Tứ thiền, có trong 16 cõi là: & cõi vui Dục giới + 3 cõi Sơ thiền + 3 cõi Nhị thiền + 3 cõi Tam thiền.

*- Tâm Sơ đạo Ngũ thiền, có trong 17 cõi là: 7 cõi vui Dục giới + 10 cõi Sắc giới phàm hữu tưởng (3 cõi Sơ thiền + 3 cõi Nhị thiền + 3 cõi Tam thiền = cõi Quảng quả).

*- Năm tâm Sơ quả ngũ thiền, 5 tâm Nhị quả ngũ thiền , tâm Nhị đạo ngũ thiền , tâm Tam Đạo ngũ thiền, có trong 21 cõi là: 7 cõi vui Dục giới + 10 cõi Sắc giới phàm hữu tâm + 4 cõi Vô sắc.

*- Năm tâm thiền thiện Sắc giới, năm tâm thiền Duy tác Sắc giới, tâm Sinh tiếu, có trong 22 cõi vui ngũ uẩn là: 7 cõi vui Dục giới+ 15 cõi Sắc giới hữu tưởng.

*- Tâm thiện Không vô biên xứ, tâm Duy tác Không vô biên xứ, có trong 23 cõi là : 22 cõi vui ngũ uần + cõi Không vô biên xứ.

*- Tâm thiện Thức vô biên xứ, tâm Duy tác Thức vô biên xứ, có trong 24 cõi là: 22 cõi vui ngũ uẩn + cõi Không vô biên xứ + cõi Thức vô biên xứ.

*- Tâm thiện Vô sở hữu xứ, tâm Duy tác Vô sở hữu xứ, có trong 25 cõi là: 22 cõi vui ngũ uần + cõi Không vô biên xứ, cõi Thức Vô biên xứ, cõi Vô sở hữu xứ.

*- Tâm thiện Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tâm duy tác phi tưởng phi phi tưiởng xứ, có trong 26 cõi là: 22 cõi vui ngũ uẩn + 4 cõi Vô sắc.

*- Bốn tâm tham hợp tà kiến + tâm si hợp hoài nghi, có trong 25 cõi phàm hữu tâm là: 31 cõi trử (5 cõi Tịnh cư + cõi Vô tưởng).

*- Bốn tâm ly tà + tâm si hợp phóng dật, có trong, tâm Hướng ý môn, 8 tâm đại thiện, có trong 30 cõi hữu tâm.

*- Hai tâm nhãn thức, 2 tâm nhĩ thức, tâm Hướng ngũ môn, 2 tâm Tiếp thu, 3 tâm Quan sát, có trong 26 cõi ngũ uẩn = 11 cõi Dục giới + 15 cõi Sắc giới hữu tưởng.

*- Tám tâm đại tố, 5 tâm Tam quả Siêu thế (có thiền), 2 đổng lực Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tâm Tứ đạo ngũ thiền, tâm Tứ quả ngũ thiền, có trong 26 cõi vui hữu tâm = 7 cõi vui Dục giới + 15 cõi Sắc giới hữu tưởng + 4 cõi Vô sắc.

219 –  Hỏi. Các bậc Thánh Hữu học đối với các cõi như thế nào?

Đáp. Theo quy luật, bậc Thánh Hữu học không bao giờ tái sinh vào cõi thấp hơn cõi mà vị ấy đang sống, vị Thánh hữu học chỉ tái sinh lại ngay chính cõi ấy hoặc cõi cao hơn.

Vị Thánh hữu học ở cõi Dục, chứng đắc thiền chỉ tịnh (samādhi), xem như trở thành bậc Bất lai, vì các Ngài không còn trở lại cõi Dục cho dù vị ấy là Thánh Sơ quả.

Đối với các cõi vui phàm thì như vậy, riêng bậc Thánh ở cõi 4 Tịnh cư thấp không còn tái sinh lại chính cõi cũ, mà tái sinh lên cõi cao hơn theo từng cấp, như vị Thánh Anahàm cõi Vô phiền, khi mệnh chung sẽ tái sinh lên cõi Vô nhiệt… cho đến cõi Sắc Cứu cánh thì kiếp ấy sẽ viên tịch ngay tại cõi ấy.

220 – Hỏi. Các vị Thánh hữu học nơi cõi Quảng quả và cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ thì như thế nào?

Đáp. Trong 31 cõi, có 3 cõi được gọi “kết thúc (bhavagga)” đối với bậc Thánh hữu học, đó là cõi Quảng quả, cõi Sắc Cứu cánh và cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Vị Thánh Anahàm chắc chắn sẽ viên tịch ở cõi Sắc Cứu cánh trong kiếp ấy.

Riêng vị Thánh hữu học ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng, nếu chưa chứng quả Alahán thì chỉ tái sinh lại cõi ấy cho đến khi viên tịch.

Vị Thánh hữu học ở cõi Quảng quả cũng như thế ấy, cho dù vị ấy có chứng thiền Vô sắc giới, khi mệnh chung vẫn phải tái sinh lại cõi Quảng quả, cho đến khi vị ấy viên tịch.

Nguồn:

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-chanhminh/dvtp13.htm


Phân Tích về Người

Trích từ;

Đường vào Thắng pháp

Tỳ khưu Chánh Minh


Phân tích Người


(Puggalabheda).

 

180 – Hỏi. Người được hiểu như thế nào?

Đáp.  Puggala xuất nguyên từ ngữ căn Pun + gala.

Ngữ căn pun theo một số địa phương ngữ có nghĩa là “địa ngục”.

Ngài Buddhaghosa trong sách Thanh Tịnh Đạo cũng giải thích: “Pun ti vuccati nirayo, tasmiṃ galantīti puggalā: Địa ngục gọi là Pun, thêm gala, gọi là người”[1].

“Người” là danh từ gọi chung cho  “danh sắc được sinh lên do  nghiệp chi phối”, đồng thời “mang tính chỉ định”. Như Đức Thế Tôn thuyết:

“Sace panāyaṃ, bhikkhave, puggalo …: Này các Tỳkhưu, nếu người nào[2]

Puggala (người) được hiểu theo hai khía cạnh: Chế định và chân đế.

Theo nghĩa chế định (sammutisacca); người được hiểu là nhân loại (đồng nghĩa với manussa), là chúng sinh trung bình, không cao cấp cũng không thấp kém.

Những chúng sinh ở dạng cao được định danh là chư Thiên, Phạm thiên, những chúng sinh ở dạng thấp kém được định danh là “ma đói” (peta), thú, địa ngục, Atula (asura).

Theo nghĩa chân đế (paramatthasacca); người được hiểu là “danh sắc” hoặc “năm uẩn”.

Tức là theo Tạng Thắng Pháp “người” được nói đến theo pháp thực tính.

Tùy theo tâm tục sinh (paṭisandhiviññāṇa), người được phân ra 4 hạng: Người khổ, người lạc vô nhân, người nhị nhân, người tam nhân. Từ người Tam nhân phát sinh 8 Thánh.

Nói cách khác, có bốn hạng phàm nhân là: Người khổ, người lạc vô nhân, người nhị nhân.

*- Bốn người đạo là: Người Sơ đạo, người Nhị Đạo, người Tam Đạo, người Tứ đạo.

*- Bốn người quả là: Người Sơ quả, người Nhị quả, người Tam quả và người Tứ quả.

 

181 – Hỏi. Thế nào  là người khổ?

Đáp. Người khổ là hạng người không thể có sự tiến hóa.

Lại nữa, trong đời sống bình nhật luôn chịu những nổi khổ nhiều hơn là được hưởng sự an lạc.

Như chúng sinh cõi địa ngục đêm ngày luôn bị hành hạ, tra tấn bởi quỷ sứ (nirayapāla)…

Chúng sinh “ma đói” luôn bị thiêu đốt, bị khổ thân đêm ngày, nhẹ nhất là “bị đói khát” suốt kiếp sống.

Chúng sinh là loài thú, phải vất vả tìm sự sống, luôn sống trong lo sợ vì bị những tai họa do loài thú khác hay do loài người sát hại, ngay cả khi ở trong tổ ấm, trong hang, trong bọng cây cũng luôn bị đe dọa đến sự sinh tồn …

Hay chúng sinh là Atula (asura).

Sở dĩ gọi là “người khổ”, vì;

– Những chúng sinh này sinh vào bốn cõi khổ là: Cõi địa ngục (nirayabhūmi), cõi súc sinh (tiracchānabhūmi), cõi ma đói (petabhūmi) và cõi Atula (asurabhūmi).

– Không có sự tiến hóa; ngay cả sự phát sinh tâm thiện cũng rất khó khăn, còn nói gì đến sự chứng đắc Thiền định hay Nípbàn.

Như có Pāli sau đây:

“Tāsu, nirayo, tiracchānayoni, pettivisayo, asurakāyo apāyabhūmi catubidhā hoti:

Có bốn cõi “bất hạnh (apāya)” là: Địa ngục, súc sinh, ma đói và Atula (thần quỷ)[3].

Nói rõ hơn: Người khổ có bốn hạng là: Chúng sinh địa ngục, chúng sinh súc sinh, chúng sinh ma đói và chúng sinh Atula.

182 – Hỏi. Người khổ tục sinh bằng tâm gì? Trong đời sống bình nhật có bao nhiêu tâm khởi lên cho người khổ?

Người khổ tục sinh bằng tâm Quan sát xả thọ quả bất thiện.

Đây là quả khác thời kỳ (vipāka) của nghiệp bất thiện.

Nói cách khác, đó là quả của 11 tâm bất thiện (tâm si hợp Phóng dật không cho tâm quả làm việc tục sinh, nhưng trong đời sống bình nhật, tâm Si hợp phóng dật vẫn cho đủ 7 loại tâm quả bất thiện).

Mười một tâm bất thiện này, mỗi tâm tạo ra được 7 tâm quả bất thiện, trong đó tâm Quan sát thọ xả quả bất thiện có sức mạnh hơn cả nên làm việc tục sinh, cho tái sinh vào 1 trong bốn cõi khổ.

Có Pāli như sau: Ettha akusalakammaṃ uddhaccarahitaṃ apāyabhūmiyaṃ paṭisandhi janeti:

Ở đây, trừ tâm Si hợp phóng dật, các bất thiện nghiệp còn lại khiến tái sinh (paṭisandhi) vào cõi bất hạnh.

-“Pavattiyaṃ pana sabbampi dvādasavidhaṃ sattākusalapākāni sabbathā pi kāmaloke rūpaloke ca yatthārahaṃ vipaccati:

“Nhưng tất cả 12 bất thiện nghiệp phát sinh 7 tâm. Những tâm này có thể khởi tâm  ở Dục giới và ở Sắc giới, trong sự diễn tiến của tâm, tùy theo trường hợp” (HT. TMC dịch)[4].

Nên hiểu đoạn Pāli trên như sau: Trong đời sống bình nhật 12 tâm bất thiện, mỗi tâm cho 7 tâm quả bất thiện.

Bảy tâm quả bất thiện này có đầy đủ trong cõi Dục giới, còn cõi Sắc giới không hề có 3 tâm quả bất thiện là: Tỷ thức quả bất thiện, Thiệt thức quả bất thiện và Thân thức quả bất thiện.

Trong đời sống bình nhật, người khổ có được 37 tâm là: 29 tâm vô tịnh hảo (trừ tâm Sinh tiếu) + 8 tâm đại thiện.

Như có Pāli sau: Duggatiyaṃ pana ñāṇavippayuttāni ca mahāvipātāni na labbhati:

“Chúng sinh ở khổ cảnh, tâm Đại quả không hợp với trí cũng không có”[5].

182 – Hỏi. Vì sao trên cõi Sắc giới lại phát sinh Nhãn thức  quả bất thiện và Nhĩ thức quả bất thiện?

Đáp. Ở Phạm thiên giới không hề có cảnh sắc xấu, cũng không hề có ấm thanh xấu; nhưng lại có Nhãn thức quả bất thiện hay Nhĩ thức quả bất thiện, là do các vị Phạm thiên cõi Sắc giới chứng đạt được các Thắng trí (abhiññāṇa), như Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông.

Với Thiên nhãn thông thì các sắc thô hay tế, thù thắng hay thấp kém,  bên trong hay bên ngoài, xa hay gần; đều nhìn thấy được. Khi thấy những sắc xấu, tất nhiên Nhãn thức quả bất thiên sinh lên.

Vớ Thiên nhĩ thông, các  âm thanh thô hay tế, thù thắng hay hạ liệt, bên trong hay bên ngoài, xa hay gần, đều nghe được. Nghe được âm thanh xấu, tất nhiên Nhĩ thức quả bất thiện sinh lên.

184 – Hỏi. Có phải chúng sinh Asura đều là người khổ không?

Đáp. Atula (asura) có nhiều loại, tựu trung  có ba hạng: Deva asura (Atula thiên), peta asura (Atula ngạ quỷ) và niraya – asura (Atula địa ngục).

*- Atula chư thiên, là những chúng sinh có nhiều uy lực, sống ở đáy biển dưới chân núi Sinera (Tudi), hằng năm thường đánh nhau với chư thiên cõi Ba mươi ba (Tāvatiṃsa).

Vào ngày mùng 8 của mỗi nửa tháng[6], các Đại thần của Tứ đại vương (Catutha mahārāja) đi tuần du bốn châu[7], để ghi chép những người tạo nhiều thiện nghiệp như “hiếu kinh cha mẹ, cung kỉnh các Samôn, Bàlamôn, hành trì Bát quan giới…”[8]

Ngày 14 mỗi nửa tháng thì Hoàng tử của Tứ đại vương đi tuần du,  và ngày 15 mỗi nửa tháng Tứ đại vương đi tuần du.

Nếu nhân loại ít người làm việc lành, vào ngày hội chư thiên ở cõi Ba mươi ba, Tứ Đại vương báo lên vua Trời Đế Thích.

Vua Trời không hoan hỷ, nói rằng: “Thật vậy, thiên chúng bị tổn giảm, chúng Atula được sung mãn”.

Nếu nhân loại nhiều người làm việc lành, vua Trời hoan hỷ: “Thật vậy, thiên chúng sẽ sung mãn, chúng Atula bị tổn giảm” (sđd).

Có tất cả 6 nhóm Atula thiên, mỗi nhóm được gọi theo tên của chúa Atula là[9]:

– Nhóm Vepacitti – asura: Chúa của nhóm Atula này là Vepacitti[10].

– Nhóm Subati – asura: Chúa của nhóm Atula này là Subati.

– Nhóm Rāhu – asura: Chúa của nhóm Atula này là Rāhu[11].

– Nhóm Pahārāda – asura: Chúa của nhóm Atula này là Pahārāda[12].

– Nhóm Samparatī – asura: Chúa của nhóm Atula này là Samparatī.

– Nhóm Vinipātika – asura: Chúa của nhóm Atula này là Vinipātika.

Trong 6 nhóm trên[13], năm nhóm đầu chống lại chư thiên cõi Ba mươi ba.

Tuy gọi là Atula chứ kỳ thật họ là những vị chư thiên, sở dĩ  gọi là Atula vì “đời sống của họ không chói sáng, không đầy đủ lạc thú như những chư thiên”.

Đời sống của họ thường hay nóng nảy trong tâm; nam Atula rất xấu, trái lại nữ Atula rất xinh đẹp.

Chính vị thiên hậu thứ tư của vua Trời Đế Thích là con gái Atula vương Vepacitti, có tên là Sujātā[14].

Nhóm Vinipātika (Atula đọa lạc) có chỗ ở bất định, sống phiêu bạt ở rừng núi, cây cối nơi địa cầu, nhóm này được xem là tùy chúng của chư thiên ở Địa cầu, do đó nhóm này cũng được xếp vào Atula chư thiên.

*- Atula ngạ quỷ. Nhóm này được phân ra ba hạng:

Kāḷakañcikapeta: Hạng ngạ quỷ có thân hình mềm nhảo và đen.

Vemānikapeta: Hạng ngạ quỷ ban đêm hưởng lạc như chư thiên cõi Đạo lợi, ban ngày khổ như ngạ quỷ. Diêm chúa cũng thuộc hạng Atula này.

Đây là hậu quả của việc “vừa làm thiện xong lại tạo ác ngay” hay “vừa làm ác lại tạo thiện nghiệp ngay”.

– Āvudhikapeta (Khí giới ngạ quỷ). Hạng Atula này trang bị vũ khí trên người, chúng đi tìm nhau để  đánh.

*- Atula địa ngục. Chỉ cho chúng sinh trong địa ngục không gian (lokantarika).

Nhóm Atula ngạ quỷ và Atula địa ngục được gọi là người khổ, riêng nhóm Vemānikapeta thì bất định.

185 –  Hỏi. Nguyên nhân nào tái sinh vào cảnh giới Atula?  [15].

Đáp. Trong thế gian, có hạng người có quyền thế, có danh vọng, có nhiều tài sản… nhưng là người kém trí hiểu biết về nhân quả, có tâm không tốt.

Đối với người có giới hạnh, là bậc hiền trí đáng được tán thán, nhưng họ không tán thán, trái còn phỉ báng hay dùng quyền lực của mình để bức hại người đáng cung kỉnh, đáng tán thán.

Đối với kẻ ác giới không đáng tán thán, họ lại tán thán, giúp đở cho những người ấy.

Hoặc có hạng người tạo thiện nghiệp trong lúc tâm không hài lòng, như bố thí trong lúc “tâm khó chịu”, hay trì giới, tu thiền một cách miễn cưởng, hoặc cung kỉnh lơ là …

Sau khi mệnh chung phải tái sinh vào cảnh giới Asura.

186 – Hỏi.Thế nào là người lạc vô nhân?

Đáp. Gọi là lạc vì tục sinh bằng tâm quả thiện, nhưng tâm quả thiện này không có nhân tương ưng, nên gọi là vô nhân.

Người lạc vô nhân và người khổ được gọi chung là “người vô nhân”. Vì tâm tục sinh của hai hạng người này không có nhân tương ưng (hetu saṃpayttaṃ).

Do nương theo tâm tục sinh này nên định danh là “người lạc vô nhân”.

Mặt khác, người lạc vô nhân là người có dị tật bẩm sinh.

187 – Hỏi. Người lạc vô nhân tục sinh bởi tâm nào? Trong đời sống bình nhật, người lạc vô nhân có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Người lạc vô nhân là người tục sinh bởi tâm Quan sát thọ xả quả thiện.

Trong đời sống bình nhật, người lạc vô nhân có được 41 tâm là: 37 tâm như người khổ + 4  tâm đại quả  [16] không có trí.

188 – Hỏi. Vì sao người lạc có thêm được bốn tâm đại quả ly trí?

Đáp. Trước tiên nên hiểu về cách cho quả của các tâm đại thiện như sau:

– Tâm đại thiện hợp trí có đầy đủ 3 sự “cố ý”[17]. Mỗi tâm tạo ra được 16 tâm quả = 8 tâm quả vô nhân + 8 tâm đại quả.

– Tâm đại thiện hợp trí thiếu 1 trong ba sự cố ý và tâm đại thiện ly trí đầy đủ 3 sự cố ý. Mỗi tâm cho được 12 tâm đại quả (trừ 4 đại quả hợp trí).

– Tâm thiện ly trí thiếu một trong ba “cố ý”, mỗi tâm cho được 8 tâm quả thiện vô nhân.

Một số Giáo thọ sư như Đại Đức Mahādhammarakkhita ở chùa Moravapi xứ Tích Lan[18], cho rằng: “Những tâm Đại thiện vô trợ (asaṅkhārika) không thể cho tâm Đại quả hữu trợ, những tâm đại thiện hữu trợ (sasaṅkhārika) không thể cho tâm Đại quả vô trợ.

Như vậy mỗi tâm Đại thiện có trí đủ tam Tư chỉ cho 12 tâm đại quả.

Tức là: 2 tâm đại thiện có trí vô trợ, đủ 3 sự “cố ý”, cho 12 tâm đại quả = 8 tâm quả thiện vô nhân + 4 tâm đại quả vô trợ.

– 2 tâm đại thiện có trí hữu trợ, đủ ba sự “cố ý”, cho 12 tâm đại quả = 8 tâm quả thiện vô nhân + 4 đại quả hữu trợ.

Người lạc vô nhân tục sinh bằng tâm Quan sát thọ xả quả thiện; trong đời sống bình nhật chính tâm này làm việc hữu phần. Bốn tâm Đại quả ly trí gần với tâm Quan sát thọ xả quả thiện vì sinh ra tử “thiện ly trí”[19]

Khi cảnh có sức mạnh, bấy giờ một trong 4 Đại quả ly trí có thể sinh lên làm phận sự Na cảnh.

Trái lại, tâm hữu phần của người khổ là tâm Quan sát xả thọ quả bất thiện, nên người khổ không thể sinh khởi 4 tâm Đại quả ly trí để làm việc Na cảnh.

189 – Hỏi.Người lạc vô nhân có bao nhiêu hạng?

Đáp. Có 11 hạng người được gọi là người lạc vô nhân[20]. Đó là:

1- Người mù bẩm sinh (jaccandha). Khi sinh ra không có thần kinh nhãn, gọi là người mù bẩm sinh.

Nếu phân tích thì:

– Đối với chúng sinh thai sinh (gabbhaseyyaka)[21]. Kể từ khi tục sinh cho đến 11 tuần lễ (gần 3 tháng) sau, không có sắc thần kinh Nhãn sinh lên, gọi là “mù bẩm sinh”.

– Đối với chúng sinh hóa sinh (opapātika) và thấp sinh (samsedaja), ngay giây phút tục sinh không có sắc thần kinh Nhãn sinh lên, gọi là “mù bẩm sinh”.

Đó thật sự là “người lạc vô nhân”, trong kiếp sống người này không thể chứng đắc thiền định hay đạo quả.

*- Có hạng thai sinh, tục sinh bằng tâm quả Dục giới tam nhân, nhưng sau 3 tháng do một ác nghiệp chen vào trả quả, khiến bị mù mắt.

Cũng là hạng người “mù bẩm sinh”, nhưng vẫn có khả năng chứng thiền hay Đạo quả, tuy nhiên xác xuất này rất thấp.

2- Người điếc bẩm sinh (jaccabadhiraka). Là người khi sinh ra không có thần kinh Nhĩ, cách hiểu tương tự như người “mù bẩm sinh”.

3- Người không có thần kinh mũi bẩm sinh (jaccāghānaka). Là người khi sinh ra không có thần kinh mũi, cách hiểu tương tự như 2 hạng trên.

4- Người đần độn bẩm sinh (jaccajaḷaka). Là người khi sinh ra, đã ngớ ngẫn, chẳng có chút thông minh, thậm chí không thể đếm được từ 1 đến 10.

5- Người câm bẩm sinh (jaccamūgaka). Là người khi sinh ra đã bị câm.

6- Người điên bẩm sinh (jaccummattaka).

7- Người vô tính (paṇdaka). Là người không có bộ phận sinh dục nam hay sinh dục nữ.

8- Người lưỡng tính (ubhatobyañjanaka). Là người không có bộ phận sinh dục cố định.

Khi nam tính mạnh thì bộ phận sinh dục nam xuất hiện, khi nữ tính mạnh thì bộ phận sinh dục nữ hiển lộ.

Đây là kết quả của nghiệp tà dâm trong quá khứ.

Có hai loại người lưỡng tính: Nam lưỡng tính và nữ lưỡng tính.

Nam lưỡng tính, có thân hình như người nam, nhưng khi gặp người nam dục cảm phát sinh thì bộ phận sinh dục nữ xuất hiện.

Nữ lưỡng tính, có thân hình như người nữ, nhưng khi gặp nữ nhân phát sinh dục cảm thì bộ phận sinh dục nam xuất hiện.

Người nữ lưỡng tính có thể làm cho nữ nhân khác mang thai hoặc chính họ cũng mang thai.

Người nam lưỡng tính chỉ có thể làm cho người nữ khác mang thai, riêng họ thì không.

9- Người trung tính (napuṃsakapaṇḍaka). Tương tự như người vô tính[22], hay là “người Vô tưởng”.

10- Người cà lăm bẩm sinh (mammaka).

11- Người phi hảo lạc Atula (vinipātikāsura). Là hạng Atula sống theo núi non, rừng rậm, sông rạch … nhưng có thân hình quái dị.

Đời sống những chúng sinh này không khác với ngạ quỷ là mấy.

190 – Hỏi. Vì sao người Vô tưởng được xem là người lạc vô nhân?

Đáp. Bậc chứng đắc Ngũ thiền Sắc giới, nhưng chán nản tâm thức, cho rằng “vì có tâm thức mới có khổ”. Vị ấy nguyện “kiếp sau đừng có tâm thức”, do thiền lực nên sau khi mệnh chung, tái sinh về cõi Vô tưởng.

Làm việc tái sinh này là bọn sắc Mạng quyền.

Sắc Mạng quyền là sắc pháp, không có nhân tương ưng nên gọi là “vô nhân”.

Vì tái sinh vào cõi Vô tưởng, nên gọi là “lạc”; vì có sắc mạng quyền nên gọi là “người”.

191 – Hỏi. Thế nào là người nhị nhân(duhetuka)?Trong đời sống bình nhật người nhị nhân có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Người nhị nhân là người tục sinh bằng một trong 4 tâm đại quả ly trí, đó là loại tâm quả có 2 nhân là nhân vô tham và nhân vô sân.

Do nương theo tâm tục sinh nên định danh là người nhị nhân; nói cách khác “người nhị nhân là người không có trí bẩm sinh trong cơ tánh (ám chỉ trong tâm hữu phần).

Trong đời sống bình nhật, người nhị nhân có được 41 tâm như người lạc vô nhân.

192 –  Hỏi. Thế nào là người tam nhân?

Đáp. Người tam nhân là người tục sinh bằng tâm quả có ba nhân là : Nhân vô tham, vô sân và vô si. Do nương theo tâm tục sinh nên định danh là người tam nhân (tihetuka).

Có 13 tâm làm việc tục sinh để trở thành người tam nhân, đó là: 4 tâm đại quả có trí + 9 tâm quả Đáo đại.

Người tam nhân là người có khả năng chứng đắc thiền định hay Đạ0, Quả Siêu thế trong kiếp sống ấy.

Bốn hạng người: Người khổ, người lạc vô nhân, người nhị nhân và người tam nhân, gọi chung là phàm nhân.

Trong đó ba hạng người trước, trong kiếp sống ấy không thể chứng được thiền định hay Đạo quả Siêu thế, vì sao? Vì ba hạng người này không có “trí bẩm sinh trong cơ tánh”.

Có Pāli như sau: Duhetukām’ahetukāmañca pan’ ettha kiriyājavanāni c’eva appanājavanāni ca na labhanti:

“Ở đây, đối với người nhị nhân và người vô nhân, đổng lực duy tác và đổng lực an chỉ (appanā)[23] không hề có”[24].

193 – Hỏi. Trong đời sống bình nhật, người tam nhân có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Trong đời sống bình nhật:

Người tam nhân cõi dục. Là người tục sinh bằng một trong 4 tâm đại quả có trí.

Cơ bản người tam nhân này có được 45 tâm là: 41 tâm như người nhị nhân + 4 tâm đại quả có trí. Nếu chứng đắc thiền định thì tính thêm.

Người tam nhân cõi Sắc giới hữu tưởng. Là người tục sinh bằng một trong 5 tâm quả Sắc giới.

Cơ bản trong đời sống bình nhật có được 30 tâm là: Tâm quả Sắc giới hữu phần + 1o tâm bất thiện (trừ 2 tâm sân) + 2 tâm nhãn thức + 2 tâm nhĩ thức + 2 tâm Tiếp thu + 3 tâm Quan sát + 2 tâm Hướng môn + 8 tâm Đại thiện. Nếu đắc thiền thì tính thêm.

Người tam nhân cõi Vô sắc giới. Là người tục sinh bằng một trong bốn tâm quả Vô sắc giới.

Trong đời sống bình nhật, cơ bản có được 20 tâm là: 1 tâm quả Vô sắc giới (tâm hữu phần) +10 tâm bất thiện (trừ 2 tâm sân) + tâm Hướng ý môn + 8 tâm Đại thiện. Nếu đắc thiền tính thêm, cụ thể là:

*- Người tam nhân cõi Không vô biên xứ, có khả năng chứng đạt bốn từng thiền, như vậy có 24 tâm = 20 tâm cơ bản + 4 tâm thiện Vô sắc giới.

*- Người tam nhân cõi Thức vô biên xứ, có khả năng chứng đạt ba tầng thiền Vô sắc giới là: Thiền Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ, như vậy có được 23 tâm = 20 tâm cơ bản + 3 tâm Thiện Vô sắc giới.

*- Người tam nhân cõi Vô sở hữu xứ, có khả năng chứng đạt 2 tầng thiền Vô sắc là thiền Vô sở hữu xứ và thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ, như vậy có 22 tâm = 20 tâm cơ bản + 2 tâm Thiện Vô sắc giới.

*- Người tam nhân cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chỉ có khả năng chứng đạt thiền Phi tương phi phi tưởng xứ, nên có được 21 tâm.

Nên nhớ: Đối với cõi Vô sắc, cõi cao không chứng thiền bậc thấp.

194 – Hỏi. Thế nào là người Đạo? Có bao nhiêu người đạo?

Đáp. Người Đạo là người chứng đắc Nípbàn đang sát trừ phiền não.

Nói cách khác, người đạo chỉ cho tâm Đạo siêu thế. Người đạo sống chỉ một sátna tâm.

Có tất cả bốn người Đạo là : Người Sơ Đạo, người Nhị Đạo, người Tam Đạo, người Tứ Đạo.

194 – Hỏi. Thế nào là người quả? Có bao nhiêu người Quả?

Đáp. Người Quả là người là người “đã sát trừ được phiền não”.

Có bốn hạng người quả là:

Người Sơ quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ nhất, sát trừ 2 loại phiền não tà kiến và hoài nghi, hay đã diệt trừ được 3 sợi giây trói buộc (saṃyojana) là: Thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ.

Người Sơ quả được tính từ sátna Sơ quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm đắc Sơ đạo cho đến sátna tâm Tiến bậc (vodanā) trong lộ chứng Nhị đạo.

Cho dù trải qua nhiều kiếp sống, nhiều kiếp trái đất vẫn được xem là người Sơ quả.

Người Nhị Quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ hai, đã làm giảm nhiều 2 phiền não là sân và tham dục.

Người Nhị quả được tính kể từ tâm Nhị quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm đắc Nhị Đạo cho đến khi xuất hiện sátna tâm Tiến bậc trong lộ tâm đắc Tam Đạo.

Người Tam Quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ ba, đã sát trừ được 3 phiền não: Tà kiến, hoài nghi, sân, hay đã trừ diệt được năm sợi dây trói buộc vào cõi thấp (là dục giới) là: Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, sân và tham dục.

Người Tam Quả được tính kể từ sátna Tam Quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm chứng đắc Tam Đạo cho đến khi xuất hiện tâm Tiến bậc trong lộ tâm chứng đắc Tứ Đạo.

Người Tứ quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ tư, sát trừ mọi phiềrn não, mọi ô nhiễm (āsava – lậu hoặc).

Người Tứ Quả ám chỉ bậc thánh Alahán, Đức Độc Giác Phật và Đức Phật Chánh Giác.

Người Tứ quả được kể từ sátna Tứ quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm chứng đắc Tứ Đạo cho đến khi Ngài viên tịch (parinibbāna).

196 – Hỏi. Trong đời sống bình nhật, người Quả có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Trong đời sống bình nhật:

1- Người Sơ quả.

*- Người Sơ quả ở 7 cõi vui Dục giới.

Có được 41 tâm là: Lấy 45 tâm phàm tam nhân cơ bản trừ đi (4 tâm tham hợp với tà kiến + tâm si hợp hoài nghi) + tâm Sơ quả.

Nếu đắc thiền thì tính thêm.

*- Người Sơ quả ở cõi Sắc giới hữu tưởng.

Có được 26 tâm là: Lấy 30 tâm cơ bản của phàm tam nhân trừ đi (4 tâm tham hợp với tà kiến + tâm si hợp hoài nghi) + tâm Sơ quả. Nếu đắc thiền thì tính thêm.

*- Người Sơ quả cõi Vô sắc. Có được 16 tâm là: Lấy 20 tâm cơ bản của phàm tam nhân trừ đi 5 tâm bị sát trừ + tâm Sơ quả.

2- Người Nhị quả. Tương tự như người Sơ quả.

3- Người Tam quả. Lấy 41 tâm của người Sơ quả ở 7 cõi vui Dục giới trừ đi (2 tâm sân + tâm Sơ quả)+ tâm Tam quả = 39 tâm. Nếu đắc thiền thì tính thêm.

Cần phân tích theo cõi như đã giải ở phần người Sơ quả.

4- Người Tứ quả. Lấy 39 tâm của người Tam quả trừ đi (5 tâm bất thiện còn lại + tâm Tam quả) + tâm Tứ Quả + tâm Sinh tiếu = 35 tâm.

Nếu đắc thiền thì tính thêm và cần phân tích theo cõi.

197 – Hỏi. Mười hai hạng người được phân bố theo cõi như thế nào?

Đáp. Người khổ có trong bốn cõi khổ.

*- Người lạc vô nhân có trong ba cõi: Người, Tứ đại vương và cõi Vô tường.

*- Người nhị nhân có trong 7 cõi vui Dục giới.

*- Người tam nhân có trong 21 cõi là: 7 cõi vui Dục giới, 3 cõi Sơ thiền, 3 cõi nhị thiến, 3 cõi tam thiền, cõi Quảng quả và 4 cõi Vô sắc giới.

*- Người Sơ đạo có trong 17 cõi là: Lấy 21 cõi của phàm tam nhân trừ thêm 4 cõi Vô sắc. Vì muốn chứng đắc Sơ đạo phải nương sắc pháp để minh quán.

*- Người nhị đạo và người Tam Đạo có trong 21 cõi như phàm tam nhân.

*- Người Tứ đạo có trong 26 cõi, là thêm 5 cõi tịnh cư (Suddhavāsā).

*- Người Sơ quả, người Nhị quả có trong 21 cõi như phàm tam nhân.

*- Người Tam quả và người Tứ quả có trong 26 cõi như người Tứ đạo.

Dứt 12 hạng người.

 

Nguồn: http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-chanhminh/dvtp13.htm