– Tuệ tri & Tưởng tri & Thắng tri

Khi đọc kinh Nikaya, ta cần phải nắm rõ một số từ chuyên môn rất dễ lầm lẫn với nhau.

Dưới đây là một số từ rất quan trọng cần phải phân biệt:

BIẾT = Tri (to Know, knowledge). Tiếng Pali : jānāti

TRI GIÁC = Tưởng tri (to percept, Perception). Tiếng Pali: sañjānāti
– Là khả năng tổ chức, nhận ra, rồi diễn dịch các thông tin từ cảm giác, nhằm mục đích tạo ra các biểu hiện ở tâm trí, qua một quá trình dẫn truyền, do các thụ thể cảm giác chuyển đổi tín hiệu từ môi trường bên ngoài thành các tín hiệu thần kinh được mã hóa. (dịch từ Wiki)
– Đối với một đối tượng (ví dụ các hình kèm theo), tri giác có thể nhận thức một cách khác biệt tùy lúc hoặc tùy theo chủ thể. Vì thế Phật học gọi Tri-Giác là “Tưởng-Tri” (sañjānāti)

TƯỞNG TRI - Perception - sañjānāti

TƯỞNG TRI – Perception – sañjānāti

.

NHẬN THỨC, Thức (to be conscious of, consciousness). Tiếng Pali vijānāti

– Link tham khảo: http://en.wikipedia.org/wiki/Consciousness

TUỆ TRI (insight, wisdom). Tiếng Pali: Pajānāti

– Link tham khảo: http://en.wikipedia.org/wiki/Insight

– Link tham khảo: http://en.wikipedia.org/wiki/Wisdom

TUỆ TRI NHƯ THỰC, Như thực rõ biết (seeing as it is). Tiếng Pali: yathābhūtaṃ pajānāti

THẮNG TRI (abhijānāti) động từ
THẮNG TRÍ (abhiññā) danh từ
——-
Thắng tri (abhijānāti): biết qua một khả năng đặc biệt của thiền định gọi là thắng trí (abhiññā).
– Khi một người đắc định sắc giới (rūpajjhāna) hoặc vô sắc giới (arūpajjhāna) có khả năng nhận thức giác quan cũng như ý thức vi tế hơn nhận thức của tâm dục giới, ví dụ như khả năng thấy xuyên qua tường, nghe rõ những âm thanh tai thường không nghe được hoặc hiểu được tiếng nói lạ theo ngôn ngữ của những loài khác v.v… Những khả năng đó có thể hỗ trợ cho thiền tuệ, nhất là khi vị ấy thấy rõ diễn biến của sự thay đổi cực kỳ vi tế trong hiện tượng vật lý hoặc tâm lý mà “mắt” thường không thể nào thấy được.
Nguồn:
http://www.trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/ThienPhatGiao/index.htm

Vài ví dụ

1. Tất cả phàm phu đều có: Tưởng tri (perception) + thức tri (consciousness) và tuệ tri (wisdom, insight)
2. Người tu tập thành công thiền định sẽ có Thắng Tri và có khả năng: “Tuệ-tri như thực” (yathābhūtaṃ pajānāti). “Tuệ tri như thực” khác hoàn toàn với “tuệ tri”
3. Người tu tập Tuệ-quán (tu Tuệ quán khác với tu “quán”)
– sử dụng khả năng “tuệ tri như thực”(seeing as it is) để thấu hiểu tất cả các pháp.
– Kết quả của Tuệ Quán là các “Tuệ giác ngộ”.
– Theo Thanh tịnh đạo có16 tuệ hay trí chủ yếu tạo ra giác ngộ.
– Theo Phân tích đạo có tất cả 73 tuệ (trí) được cho là lần lượt đóng góp vào sự giác ngộ (nếu tính từ phàm đến thánh).

4. Kinh Pháp môn căn bản (Trung bộ MN 001) cho thấy tu tập chỉ là tu tập để biến Tưởng Tri của phàm phu thành Thắng Tri của các bậc thánh. Các bậc thánh tuy đều có Thắng Tri nhưng quả vị cao thấp khác nhau còn tùy vào việc có đoạn trừ “lậu-hoặc” (ô nhiễm tâm) hoàn toàn hay chưa hoàn toàn.

Một số thông tin

LIÊN QUAN ĐẾN TỪ “BIẾT” (JĀNĀTI)

Tác giả: Tỳ khưu Indacanda

LƯU Ý QUAN TRỌNG: Những điều trình bày ở dưới đây ghi lại từ sự hiểu biết của cá nhân, theo trí nhớ, chỉ trình bày khái quát, mong rằng người đọc nên cẩn thận lúc tham khảo và sử dụng.

jānāti = tri, biết. Danh từ liên quan có thể ghi là ñāṇaṃ = trí. ĐỘNG TỪ “BIẾT” ĐƯỢC HIỂU THEO NGHĨA THÔNG THƯỜNG CỦA TIẾNG VIỆT: Tôi biết cái đó.

pajānāti = tuệ tri, nhận biết. Danh từ là paññā = tuệ. CŨNG LÀ BIẾT, NHƯNG TRONG CÁI BIẾT NÀY CÓ MỘT SỰ HƯỚNG ĐẾN, CÓ MỘT SỰ NỖ LỰC, với sự thêm vào của tiếp đầu ngữ pa).

(Hai từ trí và tuệ ở trên chỉ thấy được sử dụng ở ngữ cảnh khác có tầm quan trọng hơn).

vijānāti = (từ của HT. MC ?), nhận thức. Danh từ là viññāṇaṃ = thức. BIẾT VỚI SỰ PHÂN BIỆT RẠCH RÒI, BIẾT CÁI NÀY VÀ CÁI KHÁC, tiếp đầu ngữ vi có thể hiểu là tách ra, chia chẽ.

sañjānāti = tưởng tri, nhận biết (của tưởng). Danh từ là saññā = tưởng. BIẾT DO TỰ MÌNH, tiếp đầu ngữ saṃ có nghĩa là: do bản thân, của bản thân, tự mình.

parijānāti = liễu tri, biết toàn diện. BIẾT TRỌN VẸN, BIẾT ĐẦY ĐỦ, tiếp đầu ngữ pari có nghĩa là vòng tròn, bao quanh lại.

abhijānāti = thắng tri, biết rõ. BIẾT MỘT CÁCH ĐẶC BIỆT, MỘT CÁCH QUAN TRỌNG, tiếp đầu ngữ abhi là ở trên, thượng.

paṭijānāti = cho biết, hứa hẹn, bằng lòng, to acknowledge, agree to, approve, promise, consent (ghi theo tự điển). LÀM CHO ĐỐI TƯỢNG KIA NHẬN BIẾT, tiếp đầu ngữ paṭi có nghĩa là nghịch lại, đối đầu, ví dụ gacchati là đi, paṭigacchati là đi ngược chiều.

——————-

yathābhūtaṃ pajānāti = như thật tuệ tri, nhận biết đúng theo thực thể. Cả cụm từ này mới là “seeing as it is,” as it is = yathābhūtaṃ.

CÁC TỪ TUỆ, THỨC, TƯỞNG

Theo BUDDHIST DICTIONARY
(what-Buddha-said.net)

TUỆ

– Paññā: ‘understanding, knowledge, understanding, insight’, comprises a very wide field. The specific Buddhist knowledge or understanding, however, as part of the Noble 8-fold path magga to deliverance, is insight vipassanā, i.e. that intuitive knowledge which brings about the 4 stages of Nobility and the realization of Nibbāna see: ariya-puggala and which consists in the penetration of the impermanency anicca, misery dukkha see: sacca and impersonality anattā of all forms of existence. Further details, see: under tilakkhana.
With regard to the condition of its arising one distinguishes 3 kinds of knowledge knowledge based on thinking cintā-mayā-paññā knowledge based on learning suta-mayā-paññā knowledge based on mental development bhāvanā -mayā-paññā D. 33.
‘Based on thinking’ is that knowledge which one has accquired through one’s own thinking, without having learnt it from others. ‘Based on learning’ is that knowledge which one has heard from others and thus acquired through learning. ‘Based on mental development’ is that knowledge which one has acquired through mental development in this or that way, and which has reached the stage of full concentration; appanā Vis.M XIV.
Wisdom is one of the 5 mental abilities see: bala one of the 3 kinds of training sikkhā, and one of the perfections see: pāramī For further details, see: vipassanā and the detailed exposition in Vis.M XIV, 1-32.

THỨC

– Viññāna: ‘consciousness’, is one of the 5 groups of existence aggregates or clusters;khandha, one of the 4 nutriments āhāra, the 3rd link of the dependent origination paticcasamuppāda, the 5th in the sixfold division of elements dhātu.

TƯỞNG

– Saññā:

1. ‘perception’, is one of the 5 groups of existence khandha, and one of the 7 mental properties cetasika that are inseparably bound up with all consciousness see: cetanā It is sixfold as perception of the 5 physical sense-objects and of mental objects. It is the awareness of an object’s distinctive marks,one perceives blue, yellow, etc.,; S. XXII, 79. If, in repeated perception of an object, these marks are recognized, saññā functions as ‘memory’ see: Abh. St., p. 68f..
2. saññā stands sometimes for consciousness in its entirety, e.g. in n’eva-saññā-n’āsaññāyatana ‘the realm of neither-perception-nor-non-perception’; further, in asaññā-satta ‘unconscious beings’. In both cases reference is not to ‘perception’ alone, but also to all other constituents of consciousness. Cf. D. 9.
3. saññā may also refer to the ‘ideas’, which are objects of meditation, e.g. in a group of 7 ideas, of impermanence anicca-s etc. A. VII, 46; of 10: impurity asubha-s etc. A. X, 56, and another set of 10 in A. X. 60; or to wrong notions, as in nicca, subha-s the notion of permanence, beauty, etc.



Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s