Thực Hành Và Trải Nghiệm Chánh Niệm (sati)

Chánh Niệm

  1. Chánh Niệm là bước đầu tiên trong thực hành Thiền của Đạo Phật nguyên thủy.

–  Niệm (sati) có ngữ căn sar = hồi nhớ. Nhưng nghĩa “hồi nhớ” của “sar” tại đây không giống với nghĩa trí nhớ thông thường mà lại gần với nghĩa “chú tâm”. Tiếng Anh dùng chữ Mindfulness để tạm dịch chữ SATI

– Chánh Niệm (samma+sati) =  right mindfulness

Theo Vi Diệu Pháp, Niệm (sati) là một tâm sở, trong 19 tâm sở thiện.

Niệm (sati) là ghi nhớ trực tiếp nên chính xác, khác với Tưởng (saññā) là nhớ lại qua một dấu hiệu (nimitta) nên có thể sai lầm.

Cần phân biệt:

– Đối với Đạo Phật nguyên thủy, Niệm là một “tâm sở” (cetasika) tức là một thuộc tính của tâm, nghĩa là lúc nào Tâm hiện hữu thì Niệm cũng hiện hữu. Tu tập Niệm là làm cho Niệm trở nên rõ ràng, mạnh mẽ và vững chắc hơn.

– “Niệm trong Đạo Phật nguyên thủy” hoàn toàn khác với chữ “Niệm trong Thiền Tông Trung Quốc”. Thiền Tông trung Quốc hiểu “Niệm” như “ý nghĩ” xuất hiện trong tâm trí, do đó Thiền Tông đưa ra phương pháp thực hành “Vô Niệm” với nghĩa là một phương pháp tu tập sao cho không có ý nghĩ (niệm) xuất hiện trong tâm trí hành giả!

Như vậy có sự đối lập nghịch chiều trong pháp tu tập của Đạo Phật nguyên thủy và Thiền Tông Trung Quốc. Một đàng thì tu tập để phát triển “Niệm”, một đàng thì tu tập tiêu diệt Niệm!

  1. Hai bài kinh hướng dẫn sự tu tập Chánh niệm

2a. Kinh Quán Niệm Hơi Thở ( Trung Bộ 118) hướng dẫn sự tu tập niệm, bắt đầu bằng cách giữ Niệm trên hơi thở vào ra, sau đó phát triển Niệm trên cả bốn lãnh vực (Thân, Thọ Tâm, Pháp).

Thân

Thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”.

Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”.

“Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Thọ

“Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Tâm

“Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Pháp

“Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Quán ly tham, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.

“Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Mục đích tu tập của bài kinh Quán Niệm Hơi Thở trên thân , thọ, tâm, pháp, là làm viên mãn bốn lãnh vực và viễn mãn bảy yếu tố giác ngộ (thất giác chi)

2b. Kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthànasutta MN.10) và Đại Niệm Xứ (Mahàsatipatthana sutta DN.22) là sự khai triển, mô tả chi tiết hơn về cách thực hành Niệm trên Bốn Lãnh Vực

Pháp quán niệm hơi thở là pháp luyện tâm (bhavana) căn bản nhất trong Đạo Phật. Phương pháp này không chỉ giúp người tu đạt được Chánh Niệm mà còn có thể tiếp tục giúp phát triển Chánh Niệm thành Thiền Định với một vài kỹ thuật nhất định.

  1. Phân biệt hai loại thiền quán (vipassana)

Phải phân biệt rằng, đối với thiền sinh mới bắt đầu tu tập, thì mục đích quán niệm hơi thở là nhằm vào mục đích đạt được Chánh Niệm.(chứ chưa phải là để đạt Thiền Định)

Xem Kinh Trung Bộ MN 118 Kinh Quán Niệm Hơi Thở (Nhập Tức Xuất Tức Niệm – Ānāpānasati Sutta)

Chú ý, cần phải phân biệt ngay từ đầu rằng

– pháp “thiền quán trên bốn niệm xứ để đạt Chánh Niệm”

hoàn toàn khác với

–  pháp “thiền Quán trên bốn niệm xứ trong giai đoạn cuối cùng của tu tập Đạo Phật”, tức lúc mà hành giả đã có Định và quan sát bốn niệm xứ với năng lực của thiền định!

Bởi lẽ hiện nay người ta hay dùng một cách nhầm lẫn về chữ Thiền Quán (vipassana) đối với hai phương pháp thiền quán khác nhau

  • Một phương pháp Thiền Quán dành cho người mới vào ở giai đoạn đầu của tu tập.
  • Một phương pháp, chỉ dành riêng cho các hành giả đã có năng lực của Định hay Cận định ở cuối đạo lộ tu tập!

Động tác “quán” (contemplation) trong tu tập Chánh Niệm là sự chú tâm theo dõi liên tục (không phán đoán và phê bình) về trạng thái (vốn thay đổi liên tục) của Thân (body), Thọ (perception), Tâm (mind), Pháp (objects of Mind).

Niệm (Sati) là khả năng ghi nhớ (chú tâm) một cách liên tục của tâm trên một trong bốn niệm xứ.

Khi nào gọi là Niệm và khi nào gọi là Chánh Niệm?

– Trong giai đoạn đầu tu tập ta chỉ có Niệm (Sati) vì lúc ban đầu của sự tu tập sự ghi nhớ (chú tâm) được đặt vào các đối tượng mà ta chưa thể phân biệt được tục đế hay chân đế. – – Sau thời gian tu tập và phát triển, khi Niệm gắn vào một trong ba tướng Vô Thường, Khổ, Vô ngã, nghĩa là các đối tượng thuộc chân đế trên đạo lộ giải thoát, thì lúc đó nó được gọi là Chánh Niệm (sammāsati).

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh niệm? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; trên các cảm thọ… trên các tâm… quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh niệm.

Xem kinh Đại Niệm Xứ:

Link: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong22.htm

Này chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên các tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này chư Hiền, như vậy gọi là “chánh niệm”.

Xem kinh Phân Biệt Về Sự Thật:

link: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung141.htm.

  1. Trải nghiệm Chánh Niệm

Rất khó để có thể hình dung trải nghiệm Chánh Niệm là gì? Và sống trong Chánh Niệm là gì? Nếu thiền sinh không được ai đó trình bày trực tiếp trải nghiệm thực sự về Chánh Niệm. Thường các học viên chỉ được vị thày lập đi lập lại rằng Chánh Niệm là “Đừng nghĩ quá khứ, đừng nghĩ tương lai!” là ““Quá khứ, không mong cầu. tương lai không ước vọng!”, chánh niệm là “sống ngay trong hiện tại”, “sống với “thực tại hiện tiền” hoặc “đi đứng nằm ngồi cũng là Chánh Niệm” v.v và v.v…
Tôi nghĩ rằng các cách diễn đạt như vậy là mơ hồ. Thay vào đó các vị thày nên mô tả trực tiếp trải nghiệm thực sự của chính mình về Chánh Niệm!

Niệm là nhận biết, là ghi nhớ các đối tượng của tâm. Đây cũng là trạng thái tập trung của tâm nhưng nhẹ nhàng hơn so với Định là trạng thái tập trung rất mạnh trên một đối tượng “duy nhất” của tâm.
Thực hành Chánh Niệm có thể là:

quan sát nhận biết hơi thở vào ra (quán hơi thở)

hoặc là quan sát cảm giác của từng bộ phận hoặc toàn cơ thể

hoặc là quan sát toàn bộ thân thể, hoặc là toàn bộ các tư thế cơ thể…(quán thân trên thân)

hoặc là quán sự xuất hiện và vận hành và thay đổi của tâm (quán tâm)

hoặc là quán sát các đối tượng của tâm (quán pháp)

Tùy theo mỗi người mà có thể thực hành niệm xứ này nhiều niệm ứ kia ít hoặc ngược lại

Nhưng khi sự thực hành đã thành công thì sự nhận biết của tâm (trên bốn niệm xứ) trở nên mạnh mẽ và rõ ràng.

4a. Tâm tự động bám sát (không rời) vào thân, thọ, tâm hoặc pháp pháp. Lúc này tâm nhận biết các đối tượng (thân, thọ, tâm, pháp) rất rõ ràng, không còn mơ hồ như trạng thái tâm trước đây.

4b. Chính vì tâm nhận biết mạnh mẽ, minh bạch khiến  nó trở thành chủ nhân thực sự của hơi thể, thân thể, cảm giác, và của các đối tượng khác.

Tâm có thể tự mình tách rời và nhìn “bốn lãnh vực” (thân, thọ, tâm, pháp) như những đối tượng ở ngoài nó!

Mỗi động tác, ý tưởng đều được phát hiện và nhận biết ngay khi nó xuất hiện. Ta có cảm giác đi đứng, nằm, ngồi, tư duy đều ở trong vòng kiểm soát của Chánh Niệm, tức một cái tôi có vẻ như tách rời và có khả năng kiểm soát mọi thứ!

4c. Cái Tôi “chủ thể”có cảm giác rằng cái tôi “cơ thể” như một người nào khác, hoặc thậm chí là một người “xa lạ”. Đây là hiện tượng mà một số nhà tâm lý gọi là “hiện tượng phân ly” (disociation). Một người, khi thành công chánh niệm, đều có những trải nghiệm giống nhau về cơ bản. Phần khác biệt là do lúc thực hành nghiêng về quán thân hay quan tâm nhiều hơn. Vì vậy đôi khi có sự mô tả hơi khác nhau. Trong kinh Nikaya có lẽ đoạn sau đây dùng để mô tả sự tách biệt của cái tôi “chủ thể” và cái tôi “không phải là chủ thể”:

“Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm …”

(kinh Tăng Chi, chương 5 pháp, phần Định, (VIII) (28) Năm Chi Phần)

Link: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi05-0106.htm

Đoạn kinh trên mô tả một phần trải nghiệm của một vị có Định, tuy nhiên ngay khi có Chánh Niệm, ta có thể đã tiếp cận loại trải nghiệm này!

Cái ý thức “chủ thể” giờ có thể rời xa khỏi cơ thể phàm phu. Nó đứng ngoài và quan sát cái tôi vốn quen thuộc xưa nay như quan sát một người khác!

Ý thức chủ thể không nằm ở đâu cả. Nó có vẻ như ở bên trên trên …như một người đứng quan sát người ngồi, như người ngồi quan sát người nằm. Bất cứ động tác thân thể hay ý tưởng nào vừa chớm xuất hiện đều được nó nhận biết và nó có thể tác ý bắt ngưng hay cho phép động tác đó, ý tưởng đó tiếp tục xảy ra hay phải chấm dứt!

4d. Như vậy, khi thành công trong Chánh Niệm là ta đã có thể kiểm doát con người bản năng một cách dễ dàng hơn xưa! Tức sự gìn giữ giới trở nên dễ dàng nhờ chủ động!

Với Chánh Niệm, nếu ta nhìn xuống mặt đồng hồ thì có vẻ như kim đồng hồ không quay. Có lẽ sự nhận biết tách bạch và mạnh mẽ và tinh tế đã kéo dài thời gian. Chưa nói đến thiền định, chỉ chánh niệm thôi cũng đã làm thời gian thay đổi. Những vị có năng lực Thiền Định có thể “nhìn thấy” từng sát na tâm là vì thời gian giữa hai tâm bây giờ quá dài để cho sự nhận biết có thể chen vào giữa!

Nói chung, Chánh Niệm là trải nghiệm tâm linh đầu tiên khiến cho con người có một nhận thức khác biệt về đời sống!. Người ngoài Đạo Phật thường gọi trạng thái đó là giác ngộ như Krisnamurti, Echkhart Tolle v.v… Thực sự thì trải nghiệm thiền của Đạo Phật thì rộng lớn và sâu xa hơn nhiều.

5. Chỉ có Chánh Niệm thôi thì chưa đủ!

Vì phải biết cách phát triển Chánh Niệm thì nó mới có thể thành Thiền Định và phải biết dùng năng lực của Thiền Định để thực hiện Thiền Quán. Một người khi đã có năng lực của Thiền Định mới có thể thiền quán đúng cách để phát sinh ra cái gọi là Tuệ giải thoát! Đúng ra là ngay khi ta có Chánh Niệm hoặc Thiền Định thì ta đã có một số Tuệ nhất định rồi!. Nhưng những Tuệ này đối với Phật giáo thì chưa đủ để thực hiện Đại Gác Ngộ tức trải nghiệm được Nibbana.

Tóm lại

Ngay khi thực hành thành công Chánh Niệm, người tu tập đã có những trải nghiệm bất ngờ và mới lạ về bản chất thực của đời sống!

Bởi vì Chánh Niệm có tác dụng mạnh mẽ như vậy và khả năng một người bình thường có thể đạt được Chánh Niệm là không quá khó, cho nên rất nhiều tông phái đã chỉ tập trung ở phương pháp tu tập Chánh Niệm. Các đạo sư (vì những lý do cá nhân) chỉ dừng sự giảng dạy ở việc thực hành Chánh Niệm làm cho nhiều người lầm tưởng tất cả pháp thực hành của Đạo Phật chỉ là Chánh Niệm và quên đi rằng Chánh Niệm chỉ là bước ban đầu trên đạo lộ tu tập.

Đối với Đạo Phật Nguyên thủy, chỉ có Chánh Niệm thôi thì chưa đủ!

Vì Khi đã có Chánh Niệm thì ta chỉ có khả năng Chánh Niệm trong một thời gian nhất định nào đó (dài hoặc ngắn) sau buổi tập. Khi xuất thiền bước vào cuộc sống thường nhật là năng lực Chánh Niệm sa sút rất nhanh. Tùy theo công phu tu tập của từng người mà thời gian giữ được Chánh Niệm sau khi xuất thiền sẽ dài hay ngắn. Tôi e rằng những người ca ngợi cách “sống ngay trong thực tại” như một pháp môn là chưa có trải nghiệm gì về Chánh Niệm! Vì chánh niệm mới là bước đầu của công phu tu tập. Trạng thái này sẽ không giữ được lâu! Ngay cả một vị đắc thiền định cũng có thể bị mất năng lực định vì một biến cố nào đó trong đời!

Tôi tin rằng Chánh Niệm không thể tự dưng chuyển thành Định (Samadhi) và Thiền Định không thể tự dưng phát sinh ra Tuệ Giải thoát! Nếu không nhờ vào một hướng dẫn kỹ thuật đặc biệt đã có ghi chú trong kinh hoặc luận!

Sài Gòn, ngày 09/10/2014

Phạm Doãn


3 phản hồi on “Thực Hành Và Trải Nghiệm Chánh Niệm (sati)”

  1. thuthuy ngothi nói:

    Dạ, cám ơn anh đã e-mail nếu có trải nghiêm thực hành thì mới thông hiểu những gì anh viết,bằng không sẽ không dễ đâu, mà sẽ tưởng tượng ra…cái tâm nó thật kinh khủng khó hiểu..em thì cứ chạy theo hơi thở, rồi lại lan man, ohm santi…

  2. Tummosoft nói:

    Chào BS!

    BS cho em hỏi một vấn đề ạ?

    Pali có phải là một hệ ngôn ngữ có chữ Viết và cách phát âm riêng biệt?

    Việc phát âm giữa Sanskrit và Pali có giống nhau hay không, ví dụ với những từ tương đồng như Buddha…?

    Có thể dùng bộ chữ viết Devanagari để biểu thị một từ ngữ Pali?

    Em xin cám ơn!

  3. Minh Tuệ nói:

    Chánh niệm là biết trực tiếp (direct knowing), đơn giản là aware withouts words (tuệ tri). biết có chữ, có lời trong tâm thì gọi là tưởng tri. Khi chúng ta hành tập , chú tâm đến khoảng trống giữa 2 ý nghĩ (gap between thoughts), đây chính là chánh niệm, pure and simple, còn gọi là thuần niệm. Tiến trình sơ cơ thì đan lẫn giữa sati with words và sati without words, dần dần khoảng cách này sẽ dài ra, rộng ra. Vì vậy, trong kinh Niệm xứ, Đức Phật mới dạy “Vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy vọng hướng tới chánh trí , chánh niệm”.
    Vài hàng chia sẽ ngắn gọn qua kinh nghiệm thiền tập. Hy vọng quý vị hoan hỷ.MT


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s