ĐỊNH NGHĨA CỦA CHÁNH ĐỊNH (Sammā Samādhi)

 

Thế nào là Chánh Đinh?
Đây là vấn đề hiện còn gây tranh cãi rất nhiều trong Đạo Phật nguyên thủy!
Bài viết này nêu ra những chuẩn mốc về trạng thái tâm được gọi là Chánh Định (Sammā Samādhi) dựa trên kinh Nikaya

 

ĐỊNH NGHĨA CỦA CHÁNH ĐỊNH (Sammā Samādhi)

dolphins-dreamdesign-blume-des-lebens-goldene-lichtenergie-224625

I. NĂM ĐẶC TÍNH CUẢ CHÁNH ĐỊNH

Khái niệm Chánh Định (sammasamādhi ) trong Đạo Phật nguyên thủy
được đề cập tới trong bài KINH ĐỊNH trong Tăng Chi Bộ, chương năm pháp

http://www.budsas.org/…/u-kinh…/tangchi05-0106.htm
– Chánh Định có thể nhận biết dựa trên năm yếu tố (đặc tính) như bài kinh Định đã đưa ra:

1. Ðịnh này hiện tại lạc và tương lai có quả dị thục lạc, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
2. Ðịnh này thuộc bậc Thánh, không thuộc vật chất, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
3. Ðịnh này không do người ác thực hiện, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
4. Ðịnh này an tịnh, thù diệu, đem đến khinh an, đạt được nhất tâm, không phải là sự chế ngự gò ép thường xuyên, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
5. “An tịnh, ta nhập định này. An tịnh, ta xuất khỏi định này”, trong mỗi người trí (như vậy) khởi lên.
——–
CHÚ Ý

Bài kinh khẳng định rằng Chánh Định có NHẬP – có XUẤT
– trí (như vậy) khởi lên “An tịnh, ta nhập định này. An tịnh, ta xuất khỏi định này”
– knowledge arises to him internally, I enter this concentration and rise from it mindfully.
– ‘sato kho panāhaṃ imaṃ samāpajjāmi sato vuṭṭhahāmī’ti paccattaññeva ñāṇaṃ uppajjati.

Nói có sách, mách có chứng: (3/278, tính theo PTS):
PALI VĂN:
‘‘katame pañca dhammā uppādetabbā? Pañca ñāṇiko sammāsamādhi – ‘ayaṃ samādhi paccuppannasukho ceva āyatiñca sukhavipāko’ti paccattaṃyeva ñāṇaṃ uppajjati. ‘Ayaṃ samādhi ariyo nirāmiso’ti paccattaññeva ñāṇaṃ uppajjati. ‘Ayaṃ samādhi akāpurisasevito’ti paccattaṃyeva ñāṇaṃ uppajjati. ‘Ayaṃ samādhi santo paṇīto paṭippassaddhaladdho ekodibhāvādhigato, na sasaṅkhāraniggayhavāritagato’ti [na ca sasaṅkhāraniggayha vāritavatoti (sī. syā. kaṃ. pī.), na sasaṅkhāraniggayhavārivāvato (ka.), na sasaṅkhāraniggayhavāriyādhigato (?)] paccattaṃyeva ñāṇaṃ uppajjati. ‘So kho panāhaṃ imaṃ samādhiṃ satova samāpajjāmi sato vuṭṭhahāmī’ti paccattaṃyeva ñāṇaṃ uppajjati. Ime pañca dhammā uppādetabbā.
VIỆT VĂN (HT. Thích Minh Châu)
viii) Thế nào là năm pháp cần được sanh khởi? Năm chánh định trí: “Ðây là định đưa đến hiện tại lạc và lạc quả tương lai”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc bậc Thánh, xuất thế”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc hàng hiền thiện thực hành”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này là thanh lương, thù thắng, hướng đến an tịnh, quy về nhất tâm, không cần nhắc bảo, không bị chống đối, không bị thất bại”, tự mình khởi trí như vậy. “Tôi với chánh niệm nhập định này, và với chánh niệm xuất định này”, tự mình khởi trí như vậy. Ðó là năm pháp cần được sanh khởi. (Trường Bộ 3, Kinh Thập Thượng)

NĂM CHÁNH ĐỊNH TRÍ

Năm đặc tính của ĐỊNH được nhận biết bởi trí khởi lên của chính hành giả cho nên còn được gọi là NĂM CHÁNH ĐỊNH TRÍ

Chương pháp 5 chi – Kho tàng pháp học biên soạn bởi HT Giác Giới:

….
Tức là năm chánh định trí (Pañcañāṇiko sammāsamādhi), loại chánh định được thấu triệt bởi năm phản khán trí (Paccavekkhaṇañāṇa):

1. Tự sanh trí, biết “Đây là Định hiện tại lạc, tương lai quả lạc” (Ayaṃ samādhi paccuppannasukho c’ eva āyatiñca sukhavipāko’ ti paccattaṃyeva ñā-naṃ uppajjati).

2. Tự sanh trí, biết “Đây là Định cao thượng ly vật chất” (Ayaṃ samādhi ariyo nirāmiso’ ti paccat-taṃyeva…).

3. Tự sanh trí, biết “Đây là Định chỉ do bậc kỳ nhân thực nghiệm” (Ayaṃ samādhi akāpurisasevito’ ti paccattaṃyeva…)

4. Tự sanh trí, biết “Đây là Định thanh tịnh, tinh lương, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, không hữu trợ, không bị chống đối, không bị thất bại” (Ayaṃ samādhi santo paṇīto paṭippassaddhaladdho ekodi-bhāvādhigato na ca sasaṅkhāraniggayhavāritavato’ ti paccattaṃyeva…)

5. Tự sanh trí, biết “Ta đang chánh niệm nhập định này, đang chánh niệm xuất định này” (So’ haṃ imaṃ samādhiṃ sato va samāpajjāmi sato vuṭṭhahāmī’ ti paccattaṃyeva ñāṇaṃ uppajjati).

D. III.278

——–

Chú ý:

Chánh Định Trí thứ 4 tự nhận biết “Đây là định thanh tịnh….”.

Đặc tính này của Định còn được gọi là TÂM ĐỊNH TĨNH LẶNG (Paṭipassaddha samādhi).

Tâm Định Tĩnh Lặng chỉ là một đặc tính trong năm đặc tính của Chánh Định.

II. NĂM CHI PHẦN của CHÁNH ĐỊNH

Bài kinh Năm Chi Phần VIII (28) tức là bài kinh tiếp theo bài kinh Định là một trong những bài kinh có định nghĩa Chánh Định kèm theo những giải thích rất chi tiết. Đó là định nghĩa dựa trên năm chi phần của CHÁNH ĐỊNH

(VIII) (28) Kinh Năm Chi Phần
1. – Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
– Này các Tỷ-kheo, như thế nào là sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất với tầm, với tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm hay đệ tử hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước. Cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho dung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
Ðây là sự tu tập thứ nhất về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
5. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước, nước tự dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nuớc ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần tẩm ướt làm cho sung mãn tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
Ðây là sự tu tập thứ hai về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị Tỷ-kheo ấy thấm nhuần với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
7. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay sen trắng, những bông hoa ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ ba về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
9. Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngồi người dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che phủ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân này với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ tư về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được vị Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.
11. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thế nhập với trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ năm về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

Link:
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi05-0106.htm

 

III. TÓM TẮT “NĂM CHI PHẦN” tức “NĂM CHÁNH ĐỊNH CHI”

Thế nào là năm pháp cần được tu tập?

Năm chánh định chi:
– Hỷ biến mãn (pītipharaṇatā)
– lạc biến mãn (sukhapharaṇatā)
– tâm biến mãn (cetopharaṇatā)
– quang biến mãn (ālokapharaṇatā)
– quán sát tướng. (paccavekkhaṇa nimitta)
Ðó là năm pháp cần được tu tập.

Giải thích thêm
Biến mãn : lan tỏa, tràn đầy, thấm đậm (Pali : furanata)
Quang : ánh sáng (āloka)
Quán sát tướng : Dấu hiệu mà tâm đã thấy biết được (Pali: paccavekkhaṇa nimitta)

Chi phần thứ năm của Chánh Định “paccavekkhaṇa nimitta” dịch là quán sát tướng được giải thích “vắn tắt” “khó hiểu” trong Kinh Định (Tăng Chi Bộ) như sau:

“…Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thế nhập với trí tuệ…”

Chi phần thứ 5 hơi khó hiểu, do đó đã có nhiều cách giải thích khác nhau về Quán sát tướng.
Nhưng chi phần thứ 5 « Quan Sát Tướng » này lại là một khái niệm vô cùng quan trọng để hiểu đúng khái niệm CHÁNH ĐỊNH (hiện vẫn còn rất nhiều tranh cãi.)

”Năm Chánh Định Chi” trong Kinh Trường Bộ nằm ở link này:
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong34.htm


Theo các bài kinh nói về Chánh Định
thì sự an tịnh tâm do giới, do cuộc sống độc cư ít giao tiếp, do parami từ kiếp trước, do đã có chánh niệm v.v sẽ dần dần dẫn tâm vào định. Khi có Định thì tâm trong sáng (và cũng có cả ánh sáng cụ thể nữa)
Chứ không phải tập trung vào ánh sáng để có định!
Chánh Định chủ yếu là sự an tịnh tâm bằng tu tập GIỚI, qua thời gian dài, chứ không phải dùng kỹ thuật hay nổ lực để kìm chế cái tâm đang loạn động.!!!
Nói chính xác thì kỹ thuật cũng phải có (khi tâm đã sẵn sàng) như kinh Tứ Niệm Xứ đã hướng dẫn.
Nhưng con đường đi đến Định thì dài lắm, gian khó lắm. Định nằm ở cuối con đường tu tập chứ không phải ở những ngày bắt đầu. Và nhất là chỉ dành cho hàng tu sĩ có nổ lực chân chính chứ không phổ quát cho hàng cư sĩ tại gia!

 

III. VÀI BÀI KINH THAM KHẢO THÊM VỀ CHÁNH-ĐỊNH

1. Kinh Thập Thượng (Trung bộ 34) :

“Thế nào là năm pháp cần được tu tập? Năm chánh định chi: Hỷ biến mãn, lạc biến mãn, tâm biến mãn, quang biến mãn, quán sát tướng. Ðó là năm pháp cần được tu tập”.

“Hỷ biến mãn”, “lạc biến mãn” được nói tới trong các tầng sơ thiền , nhị thiền và tam thiền, “Tâm biến mãn” có thể nghĩ tới Tứ Thiền ((tâm) xả niệm thanh tịnh). “Quang” biến mãn và Quán sát “tướng”, có thể nghĩ tới Quang tướng, Tợ tướng, Đinh tướng, hiện diện khi trong cận định và định, nhưng dễ bị mất mỗi khi tâm nghi ngờ, phóng dật, cả tinh tiến thái quá,… , như mô tả trong kinh Tùy Phiền não (Upakkilesa sutta), Trung Bộ 128:
“Ta nhận thấy hào quang và sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì hào quang biến mất đối với Ta, cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Nghi hoặc khởi lên nơi Ta. Vì có nghi hoặc nên định của Ta bị biến diệt; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta sẽ phải làm thế nào để nghi hoặc không khởi lên nơi Ta nữa”.

2. Tăng chi bộ kinh , Chương VIII – Tám Pháp, (VI) (64)  :

“3. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Nếu Ta có thể tưởng tri ánh sáng có thể thấy được các sắc, có thể giao thiệp với chư Thiên ấy, có thể nói chuyện, có thể thảo luận, như vậy, tri kiến này của Ta được thanh tịnh hơn lên”. Và này các Tỷ-kheo, sau một thời gian Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tưởng tri ánh sáng và thấy được các sắc, và cùng chư Thiên ấy giao thiệp, nói chuyện và thảo luận. Nhưng Ta không biết về các chư Thiên ấy: “Chư Thiên này thuộc về Thiên chúng này, thuộc về Thiên chúng này”.

3. Các bản kinh tương đương trong hệ A-hàm:

a/ Kinh Tùy Phiền não (Trung bộ) có kinh tương đương là kinh Trường Thọ Vương Bốn khởi (Trường A-hàm, phẩm thứ 7, Trường Thọ vương, số 72)

b/ Kinh Tagaya có kinh tương đương là kinh Thiên (Trường A-hàm ( phẩm thứ 7, Trường Thọ vương, số 73)
“hào quang” trong bản kinh Hán viết là “quang minh”, Việt dịch là ánh sáng) .

——–

Sài Gòn 27/05/2014
BS PHẠM DOÃN


15 phản hồi on “ĐỊNH NGHĨA CỦA CHÁNH ĐỊNH (Sammā Samādhi)”

  1. Xin có ý kiến:
    thiền 1: “Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.”
    thiền 2: “vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.”
    thiền 3: “Vị Tỷ-kheo ấy thấm nhuần với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.”
    thiền 4: “này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân này với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
    Cái thấm nhuần toàn thân này sao không thấy các thiền sư Miến Điện đem vào bài giảng ở các sách? Các bạn chú ý điều này đúng không? Thật sự cái chuyện “thấm nhuần” này rất là quan trọng cho nên mới có ví dụ về nó. Tại sao các thiền sư Miến Điện không đem vào bài giảng??????Nó là dấu hiệu chứng đắc quan trọng.
    ————————

    Riêng cái đoạn
    …10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được vị Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.
    11. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thế nhập với trí tuệ.
    Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ năm về Thánh chánh định gồm có năm chi phần….
    => tôi nghĩ, sau khi đạt tứ thiền rồi thì quan sát tướng => chính là thực hiện thiền minh sát hay chăng? Tướng ở đây có nghĩa là “tướng” của thân tâm đang sanh diệt? Quan sát tướng của sự sanh diệt. Chứ hoàn toàn không phải là tợ tướng, học tướng chi hết vì đã đạt Tứ Thiền Rồi.

  2. BS Phạm Doãn nói:

    Trên trang “Tuệ và Giác Ngộ” cũng như trên các diễn đàn Phật học luôn có rất nhiều câu hỏi rất “hot” như:
    – Thế nào là Chánh Định (Sammā Samādhi) mà Đức Phật đã tu tập?
    – Khi nhập vào loại Định này có cần tới Nimitta hay không?
    – Sau khi đạt Chánh Định, Tuệ tự nó phát sinh, vậy là đạt được giải thoát!
    – Hay sau đó, phải cần một quy trình tu tập, để tạo ra các Tuệ cần thiết để thực sự giải thoát?

    Tôi cũng đã lao vào các đề tài này một thời gian rất dài và cứ mỗi đợt nổ lực như vậy thì kết quả cũng là…con số không!

    Có một ngày mệt mỏi nào đó,
    tôi tự rút mình ra khỏi vị trí của một tín đồ “cuồng nhiệt”!
    Tức thì, tâm tôi như đặt một gánh nặng xuống!
    Trí óc rộng rãi sáng sửa hơn!
    và từ lúc đó tôi nhìn thấy Đạo Phật trong mối liên hệ với cội nguồn văn minh Vệ Đà, trong mối tương tác mật thiết với các tôn giáo xung quanh cùng thời, trước đó hay sau đó!
    Thế là, tất cả các câu hỏi, các khúc mắc lần lượt được gỡ bỏ..

    Tôi tin chắc rằng, nếu có ai đó thử đặt cái gánh nặng ràng buộc về tông phái của mình xuống! Bay lên cao hơn, lùi xa hơn chút nữa, thì ở góc nhìn đó mọi vấn đề khó hiểu trong kinh điển có thể giải đáp được!

    • Mai Pham nói:

      Chính xác.Đạo Phật cần một chữ “từ bỏ”không có từ bỏ không thể thoát khỏi khổ đau.nhưng phải thấy khổ,thấy khổ diệt mới từ bỏ được .Vậy nên tôi tháy có câu “một cố gắng cần phải làm để thấy rõ đây là khổ,một cố gắng cần phải làm để thấy rõ đây là khổ diệt”.

  3. Bốn tu tập thiền định:
    Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại. Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chứng đắc tri kiến. Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chánh niệm tỉnh giác. Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ sự tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.

    Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại? Ở đây, này các Hiền giả, có vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, và trú thiền thứ nhất… thiền thứ hai… thiền thứ ba… chứng và trú thiền thứ tư. Này các Hiền giả, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại.

    Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến chứng đắc tri kiến? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo, tác ý quang minh tưởng, an trú tưởng ban ngày, ban ngày thế nào ban đêm như vậy, ban đêm thế nào ban ngày như vậy. Và như vậy với tâm mở rộng không có đóng kín, tạo ra một tâm có hào quang. Này các Hiền giả, như vậy là tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chứng đắc tri kiến.

    Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, hướng đến chánh niệm, tỉnh giác? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo biết được thọ khởi, biết được thọ trú, biết được thọ diệt, biết được tưởng khởi, biết được tưởng trú, biết được tưởng diệt, biết được tầm khởi, biết được tầm trú, biết được tầm diệt. Này các Hiền giả, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chánh niệm tỉnh giác.

    Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo an trú, quán tánh sanh diệt trên Năm Thủ uẩn – Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là hành… Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc. (Kinh Phúng Tụng, Trường Bộ)

    • “Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo an trú, quán tánh sanh diệt trên Năm Thủ uẩn – Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là hành… Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc. ”
      Đoạn Kinh này nói về thiền quán ngũ thủ uẩn (thiền minh sát về 5 thủ uẩn tương đương minh sát về thân thọ tâm pháp).
      Chúng ta nhận thấy giữa thiền “định” và “tuệ” trong Tạng Kinh luôn đi đôi với nhau.

      • Mai Pham nói:

        Các vị đều là những người đọc rất kĩ kinh tạng do thầy Minh Câu dịch,thật là tuyệt vời,song có một điều chưa nhận ra là tướng của tâm mình.khi bạn có ái dục ban phải thấy tướng của nó sâm nhập rộng khập trong thân mình như thế nào ,hãy quan sát nó nó hiện hữu đến từng tế bào trong thân bạn,bạn sẽ thấy là vậy,đối với tham,đối với hân ..cũng vậy.Cái gì thấy trước bạn quan sát trước trong khi quan sát với mong muốn thoát khỏi khổ thọ ấy ,hay cảm thọ ấy,bạn thấy nó tồn tại,tuy vậy bạn chưa có thể thoát ra khỏi nó,tiếp tục quan sát và giữ nguyên tướng ấy cho đến lúc tự nó sẽ diệt mất .Đến đây sẽ cho bạn một kinh nghiệm à,nó sinh là thế,nó diệt là thế. Cho đến lúc ấy đầu mối của con đường sẽ mở ra,bạn có thể tự mình rổi.Chúc ban thành công.

  4. Đoạn Kinh tham khảo:
    Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
    Sau khi trừ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Này Sandaka, nếu một đệ tử chứng được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư, thời ở đây người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống có thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện. (Kinh Trung Bộ 76)

    • Thiền Định, các pháp Thượng nhân không chứng đắc nếu bị dính mắc, bị cuốn hút vào 5 triền cái và 5 dục trưởng dưỡng:
      — Này Thanh niên Bà-la-môn, có năm triền cái này. Thế nào là năm? Tham dục triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo hối triền cái, nghi triền cái. Này Thanh niên Bà-la-môn, như vậy là năm triền cái. Này Thanh niên Bà-la-môn, Bà-la-môn Pokkharasati thuộc dòng họ Upamanna, trú ở rừng Subhaga đã bị trùm che, ngăn chận, bao phủ, và bao trùm bởi năm triền cái này. Vị ấy biết được, thấy được, hay chứng tri được các pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; sự kiện như vậy không xảy ra.
      – Này Thanh niên Bà-la-môn, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn; tiếng do tai nhận thức… hương do mũi nhận thức… vị do lưỡi nhận thức… xúc do thân nhận thức khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Này Thanh niên Bà-la-môn, như vậy là năm dục trưởng dưỡng. Này Thanh niên Bà-la-môn, Bà-la-môn Pokkharasati thuộc dòng họ Upamanna, trú ở rừng Subhaga bị trói buộc, bị đam mê, bị tham trước bởi năm dục trưởng dưỡng này, thụ hưởng chúng mà không thấy sự nguy hiểm, không soi thấu sự thoát ly khỏi chúng. Vị ấy thật sự biết được, hay thấy được, hay chứng được các pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; sự kiện như vậy không xảy ra. (kinh truong bộ số 99)

  5. Srirat Kunpochai (tên việt Phú) nói:

    CHÁNH ĐỊNH (Sammā Samādhi)
    Samma = Đức Phật
    Samadhi = Thiền định
    Trên trần gian này có nhiều đạo , nhiều vị thầy dạy nhiều cách thiền khác nhau theo sự hiểu biết , theo sự khám phá cuả mình , có thể nói là có cả trăm cả ngàn cách thiền … nhưng trong sách kinh Đức Phật chỉ dạy cho phật tử 40 cách thiền , tại sao chỉ có 40 bài học ? bới vì 40 bài học thiền này nếu luyện tập theo đó sẽ an toàn không có tham vọng và cuối cùng có thể luyện đến mức Alahán
    Samma samadhi = Thiền định theo lời dạy cuả Đức Phật

  6. Tummo Soft nói:

    Xin phép BS PhamDoan cho giới thiệu về phần mềm từ điển Phật học chạy trên điện thoại Android.

    Từ điển Phật học Tummo Buddhist đã có phiên bản Android đầu tiên do Tummosoft xuất bản vào đầu tháng 9/2014.

    Phần mềm từ điển Phật học Tummo Buddhist giúp bạn nhanh chóng tra cứu những thông tin về Phật học.

    Chỉ bằng cách nhập một từ khóa để tìm kiếm, Tummo Dictionary sẽ giúp bạn trải nghiệm sâu hơn, tích lũy nhiều hơn kiến thức Phật học nhờ vào các liên kết từ vững bên trong từ điển.

    Ngoài ra, bạn còn có thể tra cứu từ theo danh sách sẵn có.

    Với Tummo Buddhist Android, bạn sẽ mang theo một chiếc từ điển Phật học bỏ túi, tiện tra cứu mỗi khi rảnh rỗi.

    Vẫn sử dụng các nguồn dữ liệu có sẵn trên phiên bản Windows, và có chức năng sẵn sàng download thêm các từ điển đươc liên tục bổ sung từ máy chủ Tummosoft.

    Hãy download Tummosoft từ hệ thống Google Play, Amazon Store.

    – Google Play: https://play.google.com/store/apps/details?id=com.tummosoft.dictionary

    – Website Tummosoft: http://tummosoft.com/2014/09/03/tu-dien-phat-hoc-android/

    • BS Phạm Doãn nói:

      Cám ơn bạn Tummosoft đã chia sẻ phần mềm tự điển này!
      Kính

      • Tummo Soft nói:

        Kính gửi BS Phạm Doãn!

        Em đọc blog của anh đã lâu, thấy anh giỏi tiếng Pali nên mạo muội trình bày vấn đề như thế này.

        Em định làm một phần mềm tự học tiếng Pali nhằm giúp Phật tử chưa biết Pali có thể tiếp cận đến bản gốc của các kinh văn Phật giáo, nhưng tìm hiểu một số giáo trình trên mạng thì em cảm thấy hơi khó thẩm thấu.

        Nếu BS Phạm Doãn rãnh rỗi có thể giúp em biên soạn một cuốn sách giáo khoa học tiếng Pali, và SGK này được trình bày như là một giáo trình ngoại ngữ căn bản. Cụ thể gồm phần từ vựng, cách phát âm, phần âm thanh của từ vựng, các điểm ngữ pháp, cách vận dụng để đọc một đoạn kinh….

        Quan trọng là phần âm thanh, tuy có sách hướng dẫn ghép vần nhưng không có âm thanh chuẩn nên người học rất khó biết mình thực hành có đúng hay không?

        Nam mô a di đà Phật!

        • BS Phạm Doãn nói:

          Pali là ngôn ngữ rất khó. Tôi chỉ biết được một vài chữ Pali mà thôi!
          Người có khả năng dạy Pali ở VN chỉ đếm trên đầu ngón tay!
          Tôi nghĩ, bạn phải biết Pali trước khi làm phần mềm học tiếng Pali.
          Bạn nên liên lạc với các vị thầy dạy Pali ở các chùa Nam Tông, (như chùa Bửu Quang) để xúc tiến công trình.

  7. Mai Pham nói:

    TƯB 5[niệm xứ a] 8.người đầu bếp
    …….
    6) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo, trú,
    quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Dầu vị ấy trú, quán thân trên thân, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận; vị ấy không học được tướng ấy. Dầu vị ấy trú, quán thọ trên các thọ.. quán tâm trên tâm… Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Dầu vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận; vị ấy không học được tướng ấy.
    …….
    7) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy, không được lạc trú ngay trong hiện tại, không được tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy, không học được tướng tâm của mình.

    10) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo, trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán thân trên thân, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận; vị ấy học được tướng ấy. Vị ấy trú, quán thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận; vị ấy học được tướng ấy.

    11) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo ấy, ngay trong hiện tại, chứng được lạc trú, chứng được chánh niệm tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo ấy, học được tướng tâm của mình.

    Kinh Phật Pháp Phật còn nguyên
    Chỉ vì không khéo nên tìm o ra
    Chúng ta là con một nhà
    Đọc kinh cho kỹ thế là hiểu ngay
    Khi nào có pháp trong tay
    Chẳng Ma nào giám đổi thay được Mình!


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s