Thiền “Phồng-Xẹp” được đại trưởng lão thiền sư Pa-Aak Tawya Sayadaw phân tích và giải thích theo kinh điển PāLI

10403043_242573595939134_1443803351464603138_n

Câu hỏi về chủ đề này được đặt ra trong buổi thuyết pháp của ngài tại Hà Nội cũng như tại Đà Lạt tháng 5/2014 như sau:

“Thay vì quan sát vùng đầu chóp mũi và môi trên thì quan sát (sự phồng xẹp) ở bụng có được không ?”

Trả lời:

Nếu quí vị muốn nói đến việc quan sát phồng xẹp ở bụng, tôi xin hỏi quí vị việc quan sát phồng xẹp ở bụng là đề mục thiền nào trong số tất cả bốn mươi đề mục thiền mà Đức Phật đã chỉ dạy(trong Tam Tạng Kinh Điển)?

Lúc đầu, người ta cho rằng việc quan sát phồng xẹp ở bụng chính là niệm hơi thở ( ān∙āpāna). Tuy nhiên, Trong Thanh Tịnh Đạo (VsM.viii.223), ‘Luận về Niệm Hơi Thở’ (Ān∙Āpāna∙Ssati∙Kathā) đã trích dẫn lời giải thích của ngài Xá Lợi Phất trong ‘Phân Tích Đạo’ về vấn đề này như sau:
“Phuṭṭha∙phuṭṭh∙okāse pana satiṃ thapetvā bhāventass∙eva bhāvanā sampajjati.”
[ Nhưng thiền tập của vị ấy thành tựu (bhāvanā sampajjati) chỉ khi sự tu tập (hơi thở) của vị ấy được cố định với niệm (satiṃ ṭhapetvā) trên sự xúc chạm (phuṭṭha) ngay tại điểm xúc chạm (phuṭṭh∙okāse)].

Vì vậy nếu hành giả muốn thực hành niệm hơi thở (Ān∙Āpāna∙Sati) hành giả cần phải đặt niệm trên hơi thở chỉ ngay tại điểm xúc chạm. Điểm xúc chạm ở đây chính là đầu chóp mũi hay môi trên. Ngay tại vị trí đầu chóp mũi hay môi trên ấy, nếu hành giả quan sát được đối tượng hơi thở ra vào (tại vị trí ấy), vị ấy có thể tiến đạt bậc thiền hơi thở (ān∙āpāna jhāna).
Bụng đâu phải điểm xúc chạm! Vì vậy việc quan sát phồng xẹp tại bụng không phải niệm hơi thở!
Nhưng về sau, người ta lập luận rằng, việc quan sát sự chuyển động phồng xẹp ở bụng chính là thiền niệm tứ đại. Nhưng Đức Phật luôn dạy việc quan sát “Bốn” đại trong thiền tứ đại, chứ không phải “nhất” đại. Cũng vậy khi quan sát sự chuyển động của bụng , họ cho rằng đó là đặc tánh của phong đại (vāyo∙dhātū). Tuy nhiên, đặc tánh của phong đại thật sự là đẩy (+ hỗ trợ hay nâng đỡ) chứ không phải chỉ là sự chuyển động (của bụng).
Như vậy, khi nào hành giả quan sát đặc tánh đẩy thì mới được xem là ghi nhận đặc tánh của phong đại. Nhưng để ghi nhận đặc tánh đẩy của gió, hành giả không phải chỉ chú tâm tại vùng bụng mà thôi, hành giả còn phải chú tâm ghi nhận đặc tánh này trong khắp toàn thân . Sau khi phân biệt được đặc tính đẩy ( cũng như nâng đỡ) của phong đại trong khắp toàn thân, hành giả cần phải chuyển sang phân biệt đặc tính khác nữa (của các đại còn lại). Bởi vì , Đức Phật chỉ dạy thiền Tứ Đại trên đặc tính của bốn đại chủng chứ không phải 1 đại chủng, thiền tứ đại mang ý nghĩa là việc quan sát đặc tính của bốn đại chứ không phải chỉ 1 đại là được. Đây cũng là lý do, nếu hành giả muốn hành thiền tứ đại đúng theo sự chỉ dẫn trong Bộ Pháp Tụ (Dhamma∙Saṅgaṇī), vị ấy cần hiểu rõ về tứ đại.

Thế nào là Tứ Đại ?
(1) Địa đại (pathavī∙dhātu).
(2) Thủy đại (āpo∙dhātu),
(3) Hỏa đại (tejo∙dhātu)
(4) Phong đại (vāyo∙dhātū)
Đức Phật chỉ dạy thiền “tứ” đại chứ không phải thiền “nhất” đại.
Vì vậy khi phân tích:
+ Đặc tính của Địa đại gồm: 1) Cứng, 2)Thô (nhám) , 3) Nặng, 4) Mềm, 5) Mịn, 6) Nhẹ.
+ Đặc tính của Thủy đại : 1) Chảy, 2) Kết dính.
+ Đặc tính của Hỏa đại: 1) Nóng, 2) Lạnh.
+ Đặc tính của Phong đại: 1) Đẩy, 2) Hỗ trợ ( nâng đỡ).
Tất cả có 12 đặc tính. Hành giả cần phải phân biệt tất cả mười hai đặc tính này trong khắp toàn thân, từ đầu đến chân, từ chân lên đầu, lặp đi, lặp lại. Sau khi phân biệt được 12 đặc tính này trong khắp toàn thân. Hành giả có thể chú tâm trên toàn thân để thấy ra các đặc tính của tứ đại liên tục, vào thời điểm có thể phân biệt các đặc tính của tứ đại một cách nhuần nhuyễn, hành giả sẽ chuyển sang ghi nhân được mười hai đặc tính này theo bốn nhóm:
+ Thấy được: 1) Cứng, 2) Thô (nhám) , 3) Nặng, 4) Mềm, 5) Mịn, 6) Nhẹ –> Nhận định đây là địa đại.
+ Thấy được: 1) Chảy, 2) Kết dính –> Nhận định đây là thủy đại.
+ Thấy được: 1) Nóng, 2) Lạnh –> Nhận định đây là hỏa đại.
+ Thấy được: 1) Đẩy, 2) Hỗ trợ (nâng đỡ) –> Nhận định đây là phong đại.
Cứ như vậy, hành giả ghi nhận Địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại hay đất , nước , lửa , gió…Theo cách này (nhận biết theo nhóm các đặc tính), hành giả sẽ định tâm trên đề mục tứ đại. Cứ như vậy, hành giả sẽ liên tục quan sát đề mục tứ đại trong khắp thân mình. Từ đó hành giả sẽ không còn thấy các khái niệm như thân thể của mình, hay cái bụng của mình mà chỉ thấy được các nhóm đặc tính của tứ đại. Nếu hành giả tiếp tục phân biệt tứ đại như vậy một cách đúng theo trình tự hệ thống… Hành giả sẽ tuệ tri được, trong toàn thân này được hợp thành từ các hạt hạ nguyên tử hay còn gọi là rūpa kalāpa, mỗi hạt rūpa kalāpa cơ bản được cấu thành từ 8 loại sắc bất ly ( đất , nước, lửa, gió , màu, mùi, vị , dưỡng chất)… Đây mới được xem là thiền tứ đại. Còn việc chỉ quan sát sự chuyển động phồng xẹp ở bụng như vậy không được đề cập trong lời dạy của Đức Phật.

Pa-Auk Tawya Sayadaw.
(Pháp Quang trích dẫn và dịch lại theohttps://www.youtube.com/watch?v=00y9j2UuVto&hd=1)

Các tài liều cần tham Khảo về thiền Tứ Đại :
1) * ‘Kinh Đại Niệm Xứ’ (Mahā∙Sati∙Paṭṭhāna Sutta), Đức Phật dạy tóm tắt thiền tứ đại
“Lại nữa này các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu quán sát thân này về vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại (pathavī∙dhātu), thủy đại (āpo∙dhātu), hỏa đại (tejo∙dhātu) và phong đại (vāyo∙dhātū’ti).”
2) Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la, Đức Phật dạy chi tiết về thiền tứ đại.
3) Bộ ‘Pháp Tụ’ (Dhamma∙Saṅgaṇī), Đức Phật mô tả sắc theo mười hai đặc tánh.
4) Bộ Phân Tích Đạo (Paṭisambhidāmagga)
5) Bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)

Trong những buổi thuyết pháp tại quốc tế, Ngài Đại Lão Thiền Sư Pa-Auk Sayadaw thường đặt ra một câu hỏi trước thính chúng trước khi thuyết pháp như sau:
Do you have enough faith in the Buddha’s Teachings?
(Qúi vị có đủ tín tâm vào lời dạy của Đức Phật hay không?)
If you have enough faith, you would never get over the Buddha’s Teachings!
(Nếu quí vị có đủ niềm tin, quí vị sẽ không bao giờ vượt qua điều học của Đức Phật!!!)

Việc làm sáng tỏ về phương pháp thiền này là tiêu chí cho sự nhận định chân pháp mà những ai mong muốn hướng đến Thiền Phật Giáo đúng nghĩa cần phải nương theo. Vì pháp hành chân chánh và đáng tin cậy chỉ có thể được triển khai theo đúng nền tảng Pháp Học có Kinh Văn Pāḷi làm y cứ mà thôi!
Và nếu như chúng ta có đủ niềm tin vào lời dạy của Đức Phật, chúng ta sẽ không vượt qua, không thêm, không bỏ bớt những điều học từ Ngài!

Cầu mong cho tất cả chúng sanh có được tri kiến chân chánh đối với Thiền Phật Giáo.

Pháp Quang

Nguồn
Facebook page “Chánh Pháp và Sự Thực”


6 phản hồi on “Thiền “Phồng-Xẹp” được đại trưởng lão thiền sư Pa-Aak Tawya Sayadaw phân tích và giải thích theo kinh điển PāLI”

  1. sao mỗi lần gởi nó không hiện lên vậy? Nếu như có nhiều post giống nhau xin chủ web site này xóa bớt, cảm ơn.

  2. Theo như vậy thì phương pháp ngài thiền Mahasi cần phải xem lại???

    • THAM KHẢO:
      Phương pháp luận của ngài Mahasi về cách thiền minh sát:
      – Câu hỏi 21: việc quan sát sự phồng và xẹp của bụng có phù hợp với lời dạy của Đức Phật không?
      Đối tượng phồng và xẹp của bụng được bao gồm trong các hiện tượng vật lý, và cũng nằm trong sắc uẩn (rūpa-kkhandha). Dưới dạng Mười hai xứ (Xứ – Ayatana – chỗ tâm thức khởi sanh: 1. Nhãn xứ; 2. Nhĩ xứ; 3. Tỷ xứ; 4. Thiệt xứ; 5. Thân xứ; 6. Ý xứ; 7. Sắc xứ; 8. Thinh xứ; 9. Hương xứ; 10. Vị xứ; 11. Xúc xứ; 12. Pháp xứ), nó được kể trong Xúc xứ (photthabba-yatana). Còn về Giới (Dhātu) nó là Xúc giới (Photthabba-dhātu) trong số Mười tám giới (Giới – Dhātu: 1. Nhãn giới; 2. Sắc giới; 3. Nhãn thức giới; 4. Nhĩ giới; 5. Thinh giới; 6. Nhĩ thức giới; 7. Tỷ giới; 8. Hương giới; 9. Tỷ thức giới; 10. Thiệt giới; 11. Vị giới; 12. Thiệt thức giới; 13. Thân giới; 14. Xúc giới; 15 Thân thức giới; 16. Ý giới; 17. Pháp giới; 18. Ý thức giới). Trong Tứ đại, nó được gồm trong phong đại hay yếu tố gió. Dưới dạng Tứ Thánh Đế, nó được nói là Khổ Đế (Dukkha sacca), tức sự thực của khổ. Như vậy, trong nghĩa tối hậu, đối tượng phồng và xẹp của bụng này nằm dưới Sắc uẩn (Rūpa-kkhandha), Xúc xứ (Photthabba yatana), Phong đại (Vāyo Dhātu), và Khổ đế (Dukkha Sacca), được xem như đủ điều kiện làm một đối tượng cho Vipassana (Minh sát) để nhận thức Tam Tướng vô thường, khổ và vô ngã, theo lời dạy của Đức Phật.
      Câu hỏi 26: Việc quan sát sự phồng và xẹp của bụng không đi quá xa tinh thần kinh điển Pāli chứ?
      Ghi nhận sự phồng và xẹp của bụng không đi quá xa tinh thần của kinh điển Pāli. Thực sự có cả ngàn nguồn tham chiếu kinh điển để chứng minh cho điều đó, chẳng hạn như trong Tương Ưng Mười Hai Xứ – Saḷāyatana Samyutta, v.v… Ở đó đề cập rõ ràng rằng không quan sát các hiện tượng đang khởi sanh ở sáu căn môn (6 giác quan), dẫn đến các tâm phiền não, và rằng chỉ khi người hành thiền kinh nghiệm tính chất thực của chúng nhờ quan sát (chúng), họ mới có thể chứng đắc Đạo, Quả, và Niết-bàn. Chỉ một mình bài kinh Mālunkya-putta (Kinh Ma-lun-kya put-ta) cũng có thể làm sáng tỏ điểm này.
      Trong kinh Mālunkya-putta (Kinh Ma-lun-kya put-ta) bạn cũng có thể thấy rõ là những đối tượng người ta không bao giờ gặp sẽ không dẫn đến các tâm phiền não, trong khi những đối tượng người ta gặp có thể đưa đến phiền não. Kinh Niệm Xứ cũng trực tiếp đề cập đến cách làm thế nào để quan sát bốn yếu tố căn bản (tứ đại). Vào sát-na người hành thiền quan sát sự sanh và diệt, yếu tố chiếm ưu thế là yếu tố gió hay phong đại, và tất nhiên sự quan sát yếu tố đó là quán tứ đại (Dhātu-manasikāra). Thay vì dùng những thuật ngữ, ở đây chúng tôi dùng ngôn ngữ hàng ngày để nhận diện đối tượng theo đúng như cách mà Đức Phật đã chỉ dẫn: “khi đi, biết đi” Nhờ quan sát theo cách ấy, bạn nhất định sẽ thấy những đặc tính thực của chúng, như cứng đơ, chuyển động v.v…, đang sanh và diệt từ sát-na này đến sát-na khác khi định và tuệ của bạn đủ thành thục.
      Hơn nữa, điều này còn thực sự hài hoà với Kinh Niệm Xứ, phần quán pháp dưới dạng sáu nội ngoại xứ (Satipaṭṭhāna Sutta āyatanaDhammanupassanā-pabba), vốn đề cập như sau: Biết (tuệ tri) thân, biết hay tuệ tri những cảm giác xúc chạm – kāyañca pajānāti, phoṭṭhabbe ca pajānāti. Ở đây bài kinh đề cập đến cách làm thế nào để biết cảm giác xúc chạm hay Xúc nơi bất cứ phần nào của thân, điểm xúc chạm và các yếu tố vật lý vi tế liên hệ. Do đó, việc quan sát ‘phồng, xẹp’ không đi xa khỏi kinh điển Pāli, mà hoà hợp với chúng. Như vậy, một cách hợp lý chúng ta có thể cho rằng bất kỳ một hoạt động nào của thân ngoại trừ bốn oai nghi (đi, đứng, ngồi, nằm), đều được quan sát hợp với đoạn kinh Pāli: “yathā yathā vā panassa kāyo paṇihito hoti, tathā tathā naṃ pajānāti” (dù cho thân ở trong tư thế nào, tuệ tri hay biết nó là như vậy). Tuy nhiên, nếu một hành giả không thoả mãn với việc quan sát sự sanh và diệt, mà muốn dùng những thuật ngữ được đề cập trực tiếp trong Sati paṭṭhāna, khi thực hành, thì họ sẽ được chỉ dẫn để ghi nhận ‘ngồi, ngồi’ khi đang ngồi; ‘đứng, dứng’ khi đang đứng; hoặc ‘nằm, nằm’ khi đang nằm một cách nhất quán. Song chúng tôi không hướng dẫn người hành thiền quan sát hơi thở sợ rằng nó sẽ trái ngược với Thanh Tịnh Đạo, và Chú giải Kinh Niệm Xứ vốn đề cập đến việc hành thiền quán hay thiền Minh sát chỉ sau khi đã đề khởi một bậc thiền (jhāna) bằng cách quan sát hơi thở ānāpāna. Tuy nhiên, tôi cũng cho phép bất cứ ai quan sát hơi thở, nếu họ xin. Tôi không bao giờ bác bỏ yêu cầu của họ.
      – Câu hỏi 27: Nếu một người quan sát sự ‘phồng, xẹp’ có phải là tu tập định hay thiền chỉ (Samātha) không?
      Sự ‘phồng, xẹp’ được kể trong yếu tố gió hay phong đại gọi là Assasa-passasa, một trong sáu loại gió thuộc phong đại. Thực sự ra, sự ‘phồng, xẹp’ thuộc về bốn loại gió của phong đại là: Aṇga-maṇga-nusari-vāyo (gió đi qua các phần của thân), Assasa-passasa-vāyo (hơi thở vô và hơi thở ra), Kucchisaya-vāyo (gió trong bao tử), và Yam-va-taṃ-va-vāyo (gió thông thường).
      Đối tượng, sự ‘phồng, xẹp’, được kể trong hơi thở vô ra vì nó liên quan chính yếu đến hơi thở, và thể hiện ra như kết quả của việc thở. Tuy vậy, tôi vẫn không có ý muốn nói nó là ānāpāna – niệm hơi thở, vì trong trường hợp của thực hành niệm hơi thở, người hành thiền được hướng dẫn tập trung tâm trên hơi gió đi qua mũi và môi trên theo Vô Ngại Giải Đạo và Thanh Tịnh Đạo, v.v… Vì thế quán ‘phồng, xẹp’ không phải là thực hành niệm hơi thở mặc dù người hành thiền cũng quan sát hơi thở vô ra nếu nó chuyển động trong bụng. Nhưng, khi ấy nó là Dhātu-vavaṭṭthāna (quán trên sự phân tích các giới hay tứ đại), bởi vì bất kỳ đại nào cũng có thể được quan sát để phát triển Vipassanā.
      Source: tham khảo từ trang http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/MinhSatThuc/MinhSatThucTien2.htm

      • – Câu hỏi 15: Bạch ngài, nếu một hành giả ghi nhận ‘phồng và xẹp’, có phải họ sẽ được trông đợi chỉ hay biết duy nhất chính cái bụng đang phồng và xẹp thôi?

        Quả thực đúng như vậy, lúc mới đầu thực hành, hành giả chỉ đơn giản hay biết về chính cái bụng (đang phồng và xẹp) thôi. Không có vấn đề gì trong đó cả. Dĩ nhiên, sự giác ngộ đạo quả magga phala không phải là chuyện trông đợi lúc ban đầu. Ngay cả Tuệ thứ nhất phân biệt giữa danh – sắc (Nāma-rūpa pariccheda-ñāṇa) cũng không thể nào đạt đến. Buổi đầu thực hành, hành giả phải làm việc để tránh các chướng ngại (năm triền cái, đặc biệt là những ý nghĩ lang thang hay phóng tâm) bằng cách ghi nhận chúng thật sít sao. Chỉ khi các triền cái được tránh xa trong một thời gian dài bằng vikkhambhana (Vikkhambhana hay trấn phục là một trong ba cách đoạn trừ phiền não trong tu tập. 1. Trấn phục đoạn trừ (vikkhambhanapahāna), đoạn trừ bằng tâm thiền; 2. Nhất thời đoạn trừ (Tadaṅgapahāna), đoạn trừ bằng cách đối trị; 3. Tuyệt diệt đoạn trừ (Samucchedapahāna), đoạn trừ bằng Đạo Quả) và tâm thoát khỏi chúng, lúc đó hành giả mới bắt đầu kinh nghiệm được hiện tượng thực liên quan đến sự ‘phồng và xẹp’, như là sự cứng, căng, rung động, v.v…, ngoài cái bụng bình thường.

        – Câu hỏi 32: Bạch ngài, vì sao ngài hướng dẫn các thiền sinh ở đây khởi sự công việc thực hành của họ với việc ghi nhận ‘phồng, xẹp’?

        Nếu bạn ghi nhận một đối tượng quá đa dạng, hoặc quá vi tế, sẽ phải mất thời gian để phát triển định, trong khi nếu bạn quan sát một đối tượng rõ rệt và giới hạn thì định có thể được khơi dậy nhanh hơn. Đó là lý do vì sao chúng tôi hướng dẫn các hành giả ở đây bắt đầu công việc thực hành của họ vơi việc quan sát bụng biểu thị đặc tính bằng sự căng cứng, sức ép, rung động, được xem là đồng nhất với vāyo-dhātu hay yếu tố gió.

        http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/MinhSatThuc/MinhSatThucTien1.htm

  3. Tham khảo thêm:
    – Câu hỏi 43: Bạch ngài, liệu chúng con có thể đạt đến Magga (Đạo), Phala (Quả) trong thời buổi này không?
    Tại sao không? Giả sử, nếu bạn có một công thức để bào chế một loại thuốc nào đó, bạn có thể chế thuốc và dùng nó để chữa bệnh của bạn. Theo cách tương tự, lời dạy của Đức Phật, giống như một công thức, có sẵn, và bạn cũng có các Ba-la-mật, vì thế tất cả cái bạn cần làm là đưa nó vào thực hành. Bạn chắc chắn sẽ đạt đến Đạo Quả. Hãy ghi nhớ điều đó trong tâm bạn. Hơn nữa, không có bản kinh Pāli nào nói rằng ngày nay người ta không thể giác ngộ. Thực tế, kinh thậm chí còn nói rằng ngày nay người ta có thể trở thành một bậc A-la-hán với Tam Minh (Te-vijjā) (Alahán Tam Minh (Tevijjo) là bậc thánh lậu tận có được ba minh khi giác ngộ, đó là Túc mạng minh, Sanh tử minh và Lậu tận minh.) Ngay cả Chú giải về Tạng Luật (Vinaya) cũng nói, đến mức tối thiểu ngày nay người ta vẫn có thể trở thành bậc Thánh Anahàm (Anāgāmī), bậc thánh thứ ba trong Tứ quả Thanh văn.
    Nguồn tham khảo đáng tin cậy nhất xin trích dẫn ở đây là: “Ime ca subhadda bhikkhu samma vihareyyum, suñño loko arahantehi assa, “Oh Subhadda” Đức Phật nói: “Bao lâu còn có những vị Tỳ Kheo thực hành một cách chân chánh, thế gian này sẽ không bao giờ rỗng không (vắng bóng) các bậc A-la-hán.” Chúng ta thấy, ngày nay cũng có những người thực hành đúng cách dưới sự hướng dẫn khéo léo của các bậc thiền sư. Vì thế tôi tin chắc, thế gian không rỗng không các bậc thánh nhân kể cả các bậc A-la-hán, ngay cả hiện nay.
    – Câu hỏi 44: Bạch ngài, ngài có thể mô tả kinh nghiệm giác ngộ đạo quả của một người giống như thế nào được không?
    Trạng thái tâm của một người thay đổi một cách phi thường và đột ngột khi họ chứng ngộ Đạo Quả. Người ấy cảm thấy như thể mình vừa mới tái sanh. Đức tin của họ phát triển một cách rõ rệt dẫn đến sự hỷ lạc, ngây ngất và hạnh phúc tột độ. Đôi khi, những trạng thái tâm này xảy ra nhiều đến nỗi họ không thể thể nhập sâu vào đối tượng giống như trước được nữa mặc dù họ vẫn tập trung sự chú ý vào chúng. Hàng giờ hay hàng ngày sau, tuy nhiên, những trạng thái tâm như vậy có khuynh hướng dịu lại, và người ấy có thể tiến triển tốt trở lại trong pháp hành. Đối với một số người, họ có thể cảm thấy rất thanh thản; hoặc rõ ràng không muốn hành; hoặc dường như đã thoả mãn với những gì họ vừa thành tựu, và có lẽ do đó mà họ không có ý định thành tựu cao hơn nữa.
    – Câu hỏi 50: Bạch ngài, ngài có thể mô tả một người mà ngài tin là đã kinh nghiệm Niết-bàn được không?
    Được chứ. Trong số những người đầu tiên thực hành dưới sự hướng dẫn của tôi, người em họ của tôi gọi là U Pho Chon đã gây ấn tượng nhất. Khi ông đạt đến giai đoạn Bhaṇga ñāṇa (Tuệ diệt – cấp độ thứ năm của tuệ Minh sát), ông bắt đầu thấy cây cối hay con người ta thay đổi liên tục. Ông nghĩ chắc có một cái gì đó trục trặc với cái nhìn của mình rồi bởi vì theo ông được học từ một vị thầy thì mọi vật như cây cối, củi gỗ, trụ, đá, thân người v.v…, kéo dài trong một giai đoạn thích hợp, trong khi các hiện tượng vật lý do tâm hay do nghiệp gây ra (Sắc do tâm sanh, và sắc do nghiệp – kamma sanh), sẽ diệt liền sau khi chúng sanh lên. Ngược lại, ở đây ông thấy mọi vật trôi chảy liên tục.
    Vì thế ông đi đến tôi để hỏi chừng xem cái nhìn của ông có gì sai không. Tôi khuyến khích ông rằng không có gì sai với cái nhìn của ông cả, mà đó là Tuệ diệt – bhaṇga ñāṇa, cấp độ thứ năm của tuệ Minh sát, Tuệ này đã giúp ông thấy mọi vật diệt ngay tức thời. Sau một vài ngày, ông đã mô tả thật rõ ràng kinh nghiệm của ông về Niết-bàn, sự diệt của tâm và thân hay danh và sắc.

    – Câu hỏi 51: Bạch ngài, sự mô tả Niết-bàn do những người mà ngài tin đã đạt đến đó là như thế nào?
    Một số mô tả về Niết-bàn do những người, theo tôi tin, đã chứng ngộ thực sự, là như sau:
    Tôi thấy các đối tượng và tâm ghi nhận(hay tâm chánh niệm) đột nhiên ngừng lại.
    Tôi khám phá ra rằng các đối tượng và tâm chánh niệm bị cắt đứt giống như một sợi dây leo bị chặt đứt vậy.
    Tôi thấy các đối tượng và tâm chánh niệm rơi xuống như thể tôi không còn cầm được chúng nữa.
    Tôi thấy các đối tượng và tâm ghi nhận rơi xuống thình lình giống như vất xuống một gánh nặng vậy.
    Tôi cảm thấy như thể tôi đã thoát khỏi các đối tượng và tâm ghi nhận.
    Tôi phát hiện ra rằng các đối tượng và tâm ghi nhận đột nhiên ngừng lại giống như một ngọn nến bị thổi tắt.
    Tôi cảm thấy như thể tôi đã rời khỏi các đối tượng và tâm ghi nhận, giống như thoát ra khỏi bóng tối đi vào ánh sáng vậy.
    Tôi cảm thấy rằng tôi đã thoát khỏi đối tượng và tâm ghi nhận, như thể tôi vừa từ chỗ tối tăm vào nơi sáng sủa.
    Tôi thấy cả đối tượng lẫn tâm ghi nhận chìm xuống như thể chúng bị dìm vào nước vậy.
    Tôi khám phá ra rằng cả đối tượng lẫn tâm ghi nhận đột nhiên dừng lại giống như một vận động viên chạy nước rút bị đẩy lại từ phía trước vậy.
    Tôi thấy cả đối tượng lẫn tâm ghi nhận đột nhiên biến mất.
    – Câu hỏi 52: Bạch ngài, ngài tin là có bao nhiêu người đã được giác ngộ dưới sự hướng dẫn của ngài?
    Tôi tin có cả ngàn người đã đạt đến tuệ phân biệt danh sắc(nāma-rūpa pariccheda ñaṇa) từ kinh nghiệm cá nhân của họ, nhờ thực hành nghiêm túc như đã chỉ dẫn, và đề khởi được định mạnh mẽ, trong vòng một tuần lễ. Và cũng có cả ngàn người đã kinh nghiệm được tâm và thân (danh – sắc) tương tác lẫn nhau và thay đổi không ngừng, đó là, nhân và quả, là trạng thái vô thường, khổ và vô ngã của các hiện tượng. Và cũng có cả ngàn người được tin là đã hoàn tất sự chứng ngộ Đạo Quả sau khi họ phát triển tuệ Minh sát thành thục nhờ quan sát tâm và thân từ sát-na này đến sát-na khác.
    http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/MinhSatThuc/MinhSatThucTien1.htm

    • Như trên đây, chúng ta thấy ngài Mahasi tiết lộ về sự chứng đắc của thiền minh sát do ngài dạy.
      Bạn nào biết ai, hoặc bạn theo phương pháp Pa auk mà chứng đắc tuệ giác, xin chia sẽ về điều này? Nếu như phương pháp Pa Auk mà 100% đúng thì ôi thôi Đạo Phật Rất Khó để đắc đạo quả
      Tôi thấy rất bối rối trước những lời dạy không giống nhau giữ Pa Auk, Mahasi và nhiều trường phái khác. Cái nào đúng, cái nào sai chỉ có người nào chứng đắc và thực tâm chia sẽ mới giá trị tham khảo.
      Rõ ràng là 2 phương pháp theo Mahasi và Pa Auk khác nhau! Các bạn thấy có đúng như vậy không?

      Còn một điều nữa hiện nay là các trung tâm thiền Việt Nam cũng lấy phòng xẹp làm đối tượng quán. Ở VN hình như chỉ có thiền viện nguyên thủy là có dạy theo Pa Auk. Khi đọc sách Pa Auk, Tôi cảm thấy rất khó hiểu và trừu tượng, không biết khi thực hành theo có đạt được như mô tả trong sách ấy không
      Mong sao có một vị Pháp sư đã chứng đắc Đạo Quả thật sự, chỉ dạy lại cho chúng sinh, chúng sinh đang khao khát có một vị pháp sư đã chứng đắc hướng dẫn các thiền sinh thực hành.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s