Tìm hiểu khái niệm về Thiên Cung (Vimāna)

 ***

I. Thiên Cung theo từ điển Pāli-Anh của Rys David

Vimāna (danh từ trung tính), nghĩa Pāli là cung điện hoặc cỗ xe do ngựa hoặc súc vật kéo giống như trong Mahabharata và các Sử thi khác tiếng Sanskrit. Nghĩa đen bao hàm một không gian nào đó, sự đo lường. Định nghĩa của chú giải sư Dhammapala ám chỉ đến sự không thể đo lường được. Vimana cũng có nghĩa là cung điện vua chúa, vĩ đại và đáng kính ngưỡng. Chú giải Chuyện Thiên Cung trang 160, Vimāna được dùng với nghĩa là cung điện thần bí, một loại thiên đường (paradise, elysium),

dravida vimana

Vimana = Cung điện

Tổng quát

a) Vimana là khái niệm lạ thường, xuất hiện rất muộn trong các phần lạ thường về sau của kinh tạng, dựa trên mê tin của quần chúng (các chuyện Thiên Cung, Ngạ Quỷ, Thánh Nhân ký sự, Tiền Thân Đức Phật và các chuyện thần tiên tương tự). Nó cho thấy dấu vết rõ ràng từ ảnh hưởng của các nền văn minh Hellenic, Babylonian và chúng cũng dựa vào các chuyện kể của các thương lái đường biển. Ngoài ra vimāna còn biểu hiện cho cỗ xe kéo mà kinh Veda gọi là Ratha tức cổ xe của chư thiên vận hành bằng ý chí.

6

Cỗ xe của cõi trời

b) Vimāna ở chỗ xa xôi của thế giới (trong  kinh gọi là các đảo của những người được hưởng phước báu) tương tự như thiên đàng trong Homer’s Odyssey. G Chapman dịch :”vùng đất bất tử ở tận cùng thế giới, cực lạc sống theo luật của thần Rhaamanthuc. Nơi mà con người sống suốt đời thảnh thơi, nơi mùa đông không chút khó chịu, không có tuyết và mưa rào, chỉ có làn gió ấm thoảng đầy tràn hương thơm.”

c) Trong các tôn giáo phổ thông, văn học “nói về thế giới bên kia” luôn có tác động mạnh mẽ. Điều đó khiến Chuyện Thiên Cung, Ngạ Quỷ, Tiền Thân Đức Phật trở thành các ví dụ cho thuyết quả báo và là các ví dụ thần bí sinh động khiến một trí óc bình thường sẽ cảm thấy hấp dẫn hơn bất cứ cuốn kinh nào. Từ quan điểm này, ta phải sử dụng phán đoán mỗi khi đọc.

Sự mô tả các Vimāna thể hiện bằng các từ ngữ phức tạp. Những cung điện (vương quốc nhỏ) được làm bằng vàng, pha lê hay ngọc báu. Các cột có đỉnh bằng đá quí, mái lợp sáng chói có chóp bằng 700 hoặc 1800 đỉnh nhọn hoặc không đếm xuể. Xung quanh các tòa nhà cao là các khu vườn đẹp đẽ, lối đi lấp lánh với bụi vàng, đầy những cây “cho điều ước” thỏa mãn mọi ham muốn. Có nhiều loại cây trong vương quốc chĩu nặng hoa trái, đong đưa nhẹ nhàng trong gió. Hồ sen có nước mát để tắm. Tiếng hót của chim chóc hòa với tiếng chập chỏa và tiếng sáo của các thần âm nhạc. Các trinh nữ thiên thần biểu diễn múa, ánh sáng từ cơ thể tiên nữ phát sáng tràn đầy không gian. An bình và hạnh phúc khắp nơi, vui thú của cung điện như thế không thể diễn đạt bằng lời. Thiên đàng này kéo dài nhiều kiếp và dễ hình dung nhất.

Cư dân của các thiên cung luôn là những người hạnh phúc, gọi là chư thiên, tức những người đạt đến trạng thái cao đẹp nhờ phước báu. Trong Chuyện Thiên Cung 172, có những chư thiên trước đây là a tu la được gọi là pubbadevata, tức những linh hồn đi qua trạng thái ngạ quỷ trước khi thành chư thiên. Chuyện nửa trừng phạt, nửa hưởng thụ, được nhấn mạnh dựa trên tính cách của từng nghiệp riêng. Những chư thiên “hỗn hợp”, tức nửa được hưởng phước nửa bị ác báo, được biểu hiện qua những từ như “thiên cung ngạ quỷ” (vimānapeta). Chư thiên xuất hiện với vẻ ngoài như những người đẹp đẻ, mặc áo bằng vàng hay bạc. Mức rực sáng của chư thiên được ví như ánh trăng hay ngôi sao buổi sáng.

Nguồn gốc của Thiên Cung: Một thiên Cung xuất hiện trong thế giới khác ngay khoảnh khắc một người làm việc thiện (hoặc qua suốt cuộc đời của một người) và chờ đợi chủ nhân của nó bước vào. Khi mô tả thiên cung của Long Vương, thiên cung được cho là không có nguyên nhân do thời tiết hay tự thân, cũng không phải nó tự xuất hiện hay do các chư thiên ban tặng. Một người có được thiên cung là do tâm trong sạch và do việc làm phước báu. Lúc bước vào thiên đàng của thiên cung tương tự như lúc từ trạng thái hấp hối chuyển qua trạng thái hoan lạc thần tiên, và có thể sánh với việc thức tỉnh sau giấc ngủ hay sau một cơn ngất.

Nơi chốn của các thiên cung: Thiên cung chính là trạng thái thiên đàng của từng cá nhân. Bởi vậy, thiên cung không thể được xác định ở một nơi chốn xác định. Chúng có thể ở bất cứ nơi đâu (trong thế giới này hay ngoài thế giới này). Nhưng có một vài nơi mà thiên cung thường được thiết lập nhiều hơn các chỗ khác. Thiên cung được thấy nhiều ở nơi gần nước, như đại dương và các hồ lớn, nơi không có đường đi, tận cùng thế giới, nơi hoang dã. Và thiên cung rất thường được xây dựng giữa không trung. Thiên cung có thể di chuyển tức khắc bằng ý chí, đến bất cứ nơi nào, tùy theo năng lực đặc biệt của chủ nhân của nó. Khả năng dị chuyển này được phối hợp với năng lực chuyển động cực nhanh (có thể so với tốc độ của tâm – mano java). Một chiếc kiệu vàng lơ lửng giữa không trung được ghi trong chú giải Chuyện Thiên Cung. Nhưng cung điện của Dạ Xoa Alavaka thì ở trên mặt đất và được gia cố vững chắc. Loại thiên cung bay có thể được mô tả như là chiếc nghế, con voi, chiếc tàu, cái giường, cái võng. Thiên cung có thể ở một thế giới khác như khu vườn của Indra hay cái cây trong vườn của Indra, hay trong thế giới của các chư thiên nhạc sĩ. Sau nữa, cùng với giáo lý về phước báu, các linh hồn được sanh lên cảnh giới chư thiên đặc biệt tốt đẹp, thiên cung và nơi trú của họ là tầng trời Ba Mươi Ba Tāvatiŋsa hay ở trời Đâu Suất Tusita. Thiên cung Đâu suất có thể dùng thay cho thành phố Đâu Xuất Tusita pura

Kích thước của thiên cung có thể nhỏ hoặc là cực lớn, nhưng nói chung có cấu trúc hài hòa về mọi hướng, hoặc theo một hằng số tỉ lệ nhất định. Con số tần suất lớn nhất là 12, 16, 30, 700 liên hệ với yojana (đơn vị đo chiều dài theo Vệ Đà). Con số 12 và 16 được sử dụng trong chiều dài, chiều rộng, chiều cao, chu vi, trong khi con số 700 luôn chỉ áp dụng cho chiều cao và số các tháp nhỏ (turrets)

Thiên Cung của mặt trời và mặt trăng: Một ý tưởng kỳ dị (của thời sau) là ở mặt trời và mặt trăng cũng có những thiên cung. Chỉ có vài hàng trong các sách hậu kinh điển đề cập đến điều này. Ý tưởng các thiên thể là những thiên cung (các cỗ xe vĩ đại, hình bán cầu mở, thực ra là của Đạo Jain)

Các danh từ khác cùng nghĩa với Vimāna và các hình thái đặc biệt khác: Có nhiều cách diễn đạt khác để chỉ chung cho Vimāna, như Ratha, Nagara, Pura, Pāsāda, Dibba, Vara. Thiên Cung (Vimāna) được phân loại thành “thiên cung của chư thiên” hoặc tuyệt hảo hơn nữa là “thiên cung của Phạm Thiên”, đó là nơi chốn thần bí nhất, thiên đường cao siêu nhất. Còn gọi là cung điện của Phạm Thiên, trú xứ của Phạm thiên, hay vắn tắt chỉ gọi là Phạm thiên (Brahmā). Cao hơn tất cả, gọi theo triết gia La Mã là thiên đàng của sự thiện tột cùng (summum bonum). [1]

Ngoài các kinh Chuyện Tiền Thân Đức Phật, Chuyện Thiên Cung thuộc Tiểu Bộ, Sử liệu xá Lợi Răng Phật (Datha-vansa) viết bằng tiếng Pali vào khoảng năm 1200,. Trong bốn bộ kinh Nikaya còn lại chỉ có thấy chữ Vimāna trong kinh Tăng Chi và kinh Trường Bộ. [2]

II. Thiên Cung (Vimāna) theo tập kinh Vimānavatthupāli)

Vimānavatthupāli, một tập kinh của Tiểu Bộ, được dịch là Chuyện Thiên Cung

Gồm có bảy phẩm (vagga) được sắp xếp thành hai phần theo giới tính: Itthivimānaṃ – Thiên Cung Nữ Giới gồm 4 phẩm đầu và Purisa-vimānaṃ – Thiên Cung Nam Giới gồm 3 phẩm còn lại. Các phẩm được liệt kê chi tiết như sau:

1. Pīṭhavaggo – Phẩm Chiếc Ghế có 17 câu chuyện (vatthu),

2. Cittalatāvaggo – Phẩm Cittalatā có 11 câu chuyện,

3. Pāricchattakavaggo – Phẩm Pāricchattaka có 10 câu chuyện,

4. Mañjeṭṭhakavaggo – Phẩm Mañjeṭṭhaka có 12 câu chuyện,

5. Mahārathavaggo – Phẩm Cỗ Xe Lớn có 14 câu chuyện,

6. Pāyāsivaggo – Phẩm Pāyāsi có 10 câu chuyện,

7. Sunikkhittavaggo – Phẩm Khéo Đặt Xuống có 11 câu chuyện.

Tổng cộng có 85 câu chuyện liên quan đến 123 Thiên cung. Sở dĩ như thế bởi vì một số câu chuyện đề cập nhiều hơn một Thiên cung, cụ thể là: Guttilavimānaṃ – Thiên Cung của Guttila (3. 5) đề cập đến 36 Thiên cung và Caturitthivimānaṃ- Thiên Cung của Bốn Phụ Nữ (4. 7) đề cập đến 4 Thiên cung. Số lượng các kệ ngôn ở văn bản Pali-Sinhala được ghi nhận là 1291, trong khi đó Chú Giải xác định là 1500 kệ ngôn (VvA., 4).  

Qua văn bản Vimānavatthupāḷi – Chuyện Thiên Cung, khái niệm về từ vimāna đã được mô tả chi tiết. Vimāna không chỉ đơn độc một gian nhà hay một tòa lâu đài mà còn bao gồm nhiều công trình xây dựng về nhà cửa, vườn hoa, rừng cây, hồ nước, và còn có cả các loài thú nuôi như ngựa, voi cùng với các cầm thú thiên nhiên như thiên nga, ngỗng đỏ, v.v… Ngoài ra cũng có câu chuyện mô tả vimāna chỉ là một chiếc ghế hay một chiếc thuyền, hay một cỗ xe xinh đẹp có khả năng du hành trong không trung.  

Về nội dung, Vimānavatthupāḷi – Chuyện Thiên Cung có chủ đề là nghiệp thiện và quả thành tựu của các nghiệp thiện ấy. Các nghiệp thiện được đề cập ở đây chủ yếu không ngoài Thập Thiện Nghiệp gồm có bố thí, trì giới, v.v… Nội dung của các câu chuyện được trình bày một cách sinh động thông qua hình thức vấn đáp. Nhân vật đưa ra các câu hỏi này đã được xác định ở Chánh Tạng, đa phần là của ngài Moggallāna, một số khác do đích thân đức Thế Tôn hỏi, một số khác do trưởng lão VaṅgīsaThiên Chủ Sakka. Các câu trả lời là do chính các vị Thiên nhân cai quản các Thiên cung đã nói lên.

Đặc biệt, ở câu chuyện Thiên Cung của Người Nữ Bố Thí Bọt Nước Cơm, Chúa Trời Sakka đã không hỏi trực tiếp vị Thiên nhân mà đã hỏi trưởng lão Mahākassapa để tìm hiểu về cảnh giới tái sanh của người đàn bà nghèo khổ đã bố thí bọt nước cơm đến ngài (2. 3). Ở một số câu chuyện, còn có các kệ ngôn của các vị Trưởng Lão đã tham gia cuộc kết tập thêm vào để giải thích hoặc kết luận sự việc 

Cũng cần nói thêm là ở những câu chuyện không ghi rõ tác giả của câu hỏi thì Chú Giải đã bổ sung điều này: Đức Phật (2. 5), trưởng lão Vaṅgīsa (1. 16, 4. 3), trưởng lão Nārada (3. 8), trưởng lão Anuruddha (4. 6), trưởng lão Mahākaccāna (5. 13). Ở phần kết thúc của mỗi câu chuyện, Chú Giải còn cho biết rằng sự việc đã được trình lên đức Phật, và Ngài đã dùng chính nội dung câu chuyện ấy làm đề tài để giáo huấn.[3]

Sự giao tiếp của loài người địa cầu và người từ các các cõi thiên

Tập kinh Vimanavatthupali cho thấy có sự giao tiếp cụ thể và trực tiếp của các cư dân đến từ các cõi trời khác với con người trên địa cầu với. Theo chuyện Thiên Cung, sự giao tiếp này được mô tả giữa Đức Phật các trưởng lão. Các thiên nhân trong Vimanavatthupali đến từ cõi trời Ba Mươi Ba (tam thập tam thiên – Tāvatiṃsa) mà vị vua cai quản là Sakka, còn có tên gọi là Vāsava  [4]

Ngoài các trường hợp kể về các thiên cung cố định thấy giữa không trung, trên mặt nước hay trên mặt đất. Tập kinh còn cho thấy các thiên nhân, ở một số các cõi trời, di chuyển từ nơi này đến nơi kia trong vũ trụ, không phải bằng thần thông của tự thân, mà bằng các “thiên cung bay”, vận hành bằng ý chí với tốc độ của tâm. 

III. Vimāna trong văn học Sanskrit

Vimāna  Sanskrit विमान là một từ với nhiều nghĩa khác biệt từ nghĩa “ngôi đền,cung điện” cho đến “các loại máy bay trong huyền thoại” được mô tả trong các bộ sử thi Ấn Độ bằng tiếng Sanskrit.

 Vi-mānacó nghĩa đen là “đo lường, đi ngang qua” hay “được đo lường

Cung điện của một vị vua hay một đế chế tối thượng

Nơi thờ phượng trong đền thờ Rama hay các đền khác.

Một ngôi đền, thánh địa có hình dạng đặc biệt

Những gì có nghĩa là cung điện của thần thánh

Những gì có nghĩa là Pushpaka hay Dandumonara, máy bay (cung điện bay) của vua Ravana của Lanka

Những gì thuộc về cỗ xe của các vị thần, những loại xe tự vận hành bay trong không trung (đôi khi là một ngai cố định để ngồi, đôi khi có thể tự vận hành mang theo người ngồi bay lên không trung, đôi khi Vimana được mô tả giống như một căn nhà hay cung điện và có một loại được cho là cao bảy tầng)

Những gì thuộc về bánh xe hay phương tiện vận chuyển ( như xe để đẩy – bier)

Trong Y học, Vimana ám chỉ ngành khoa học về đo đạc đúng hay tỉ lệ đúng về thể dịch của cơ thể, của thuốc và liệu pháp v.v…

Trong ngôn ngữ Ấn Độ hiện đại, vimānahayvimāncó nghĩa là máy bay. Ví dụ, địa danh Vimanapura, ngoại ô của Bangalore, gần sân bay và có nghĩa là “thành phố máy bay”[5]

Vimāna theo các Sử thi Ấn Độ

Một đoạn trong trường thi Ramayana [6.121.9-11]đã được dịch sang tiếng Anh [6]. Vua Vibhishana của xứ Lanka nói với Rama:

– Ôi ngài Rama với quyền năng vô đối! Cỗ xe di chuyển trên trời, chiếu sáng như mặt trời, di chuyển như ý muốn, thật tuyệt vời, có tên gọi là Pushpaka của Kubera [7], người huynh đệ của ta,  từng bị Ravana mạnh mẽ chiếm đoạt sau trận chiến khuất phục Kubera. Chúc ngài sự thịnh vượng! Nó vẫn ở sẵn đây để tùy ngài sử dụng. Cổ xe di chuyển trên trời này, nhìn giống một đám mây, đậu sẵn nơi đây và nó sẽ đưa ngài đến Ayodha chẳng khó khăn gì.”

Ghi nhận trong đoạn kinh Sanskrit này: “Cổ xe di chuyển trên trời, chiếu sáng như mặt trời, di chuyển như ý muốn” cũng có mô tả giống hệt như các “thiên cung bay” trong chuyện Thiên Cung của văn học Pāli. 

Mô tả về Thiên Cung Pushpak (Pushpak Vimāna)

Pushpak ban đầu nhằm thiết kế cho Kubera (thần của giàu có) nhưng sau đó bị người anh khác mẹ Ravanan cướp đoạt cùng với thành phổ đảo của xứ Lanka. Có rất nhiều đoạn văn trong sử thi Ramayana nói về chất lượng tuyệt hảo của phương tiện bay này. Cùng thử xem ba đoạn trích sau đây để thấy Pushpak được mô tả chẳng khác một phi thuyền không gian lớn: 

1)  Cỗ xe đó được trang hoàng bằng vàng, càng xe cột với các con la có mặt quái dị, phủ bởi các nút bằng đá quý có thể điều khiển theo ước muốn của người điều khiển. Ngồi trong cỗ xe như thế này, cái mà tất cả đều bằng vàng, khi du hành với một âm thanh của sấm sét để chúc mừng cùng Ravana người anh em của Kubera, cùng với chúa tể của quỷ, du hành hướng về chúa tể của các sông, các suối, đại dương [8].

(Chú ý cách mô tả khi Pushka khởi động để du hành thì kèm theo âm thanh sấm sét như để chào mừng! Mô tả này rất giống như âm thanh của phi thuyền của con người khi khởi động!)

 2) Khi nghe vua khỉ Sugreeva cùng với bầy khỉ vui sướng trèo lên xe bay Pushka tuyệt vời đó. Vibhishan cùng với đoàn tùy tùng đã cùng bước lên xe [9]

3) Khi tất cả họ đều đã bước lên, chiếc xe bay tuyệt hảo đó của Kubera, đã bay vào bầu trời sau khi được lệnh truyền thích hợp của Rama.[10]

Pushpaka, được gọi là Dandu Monara trong tiếng Sinhala: (දඩුමොණරය), có nghĩa là con công bay hay con công gỗ, một vật thể bay chế tạo bởi vua Ravana. Ấn Độ giáo tin rằng vua Rabana đã dùng Pushpaka để bắt cóc hoàng hậu Sita của Rama. Theo sử thi Ramayana, Pushpaka hạ cánh tại sân bay Werangatota, khoảng 10 km cách Mahivangana. vùng đồi núi Nuwara Eliya thuộc miền trung Sri Lanka [11]

pushpaka3a

Pushpak Vimana

Hình ảnh của Pushpak theo Pahari miniature painting [12]

Có đến hàng trăm “thiên cung bay được ghi chép trong  Rig Veda và các sử thi Ấn Độ. Hầu hết những tài liệu này chưa được dịch sang tiếng Anh từ văn bản tiếng Phạn cổ. Ngoài ra còn có rất nhiều tranh ảnh tôn giáo tại Ấn Độ mô tả về các loại “thiên cung bay” (xem trang tài liệu hình ảnh 02 [13])

7 Drawings of flying machines from old Indian scripture

Hình vẽ Thiên Cung “bay” trong các cổ thư Ấn Độ

Một tương hợp lạ lùng là ngay trong tranh ảnh của các tôn giáo Abrahamic, như tranh tại các nhà thờ Thiên Chúa Giáo, cũng có mô tả các vật thể trên bầu trời giống như “thiên cung bay” và giống như UFO thời nay!

The Madonna with Saint Giovannino

“The Madonna with Saint Giovannino”

Bên trên là một phần bức tranh “The Madonna with Saint Giovannino” vẽ bởi Domenico Ghirlandaio vào thế kỷ 15. Tranh diễn tả hình Đức mẹ Maria đang nhìn xuống, trong khi ở hậu cảnh là các hình ảnh giống như các vật thể bay không xác định (UFO) của ngày nay! và bên góc phải còn có một người, đang lấy tay che nắng, để quan sát các vật thể bay trên bầu trời!

Vaimānika Shāstra

Khoảng đầu thế kỷ 20,xuất hiện một bản “kinh” tên là Vaimānika Shāstra [14], được cho là của một tu sĩ Ấn Độ tên là Pandit Subbaraya Shastry, mô tả về sơ đồ và cách thiết kế Vimana. Văn bản này được G.R. Josyer khám phá vào năm 1952. Được dịch sang tiếng Hindi 1959 và tiếng Anh vào 1973. Tuy nhiên, viện nghiên cứu cơ khi và hàng không của Ấn Đô cho là các thiết kế bay trong tài liệu này được mô tả quá sơ sài và không phù hợp với sự hiểu biết về khoa học hàng không và không gian hiện đại

Vaimanika_Shastra_Shakuna_illustration

Vaimanika_Shastra_Shakuna_illustration

 IV. Giải thích về Thiên Cung bay

Khảo sát các ý nghĩa khác nhau của từ Vimāna (Thiên Cung), ta thấy từ này được dùng trong kinh điển với ý nghĩa chính là một nơi trú ngụ, nơi cư trú để sinh sống, an hưởng. Nơi cư trú có thẻ rất nhỏ như cái ghế, ngọn cây, con voi, chiếc thuyền, cỗ xe v.v… hoặc như một bảo tháp, cung điện lớn, hoặc lớn hơn nữa như một thiên thể, mặt trời, mặt trăng và trái đất!

Thiên Cung khi được mô tả như ngôi đền hay cung điện, một chỗ trú ngụ “cố định”, thì khái niệm này rất dễ được đa số người hiểu và chấp nhận. Nhưng khi Thiên Cung được kinh điển diễn tả như là các vật thể “bay”, được vận hành bằng ý chí, với tốc độ tâm, điều này đã làm một số người nghi hoặc. Lý do là trong kinh Phật, ta thấy Đức Phật và các A La Hán để tử đi đến các cõi thiên bằng thần thông, mà không cần dùng đến một vật thể bay nào cả. Ví dụ trong Hạ thứ bảy:

“Đức Phật ngự lên cung trời Tam Thập Tam Thiên, để an cư nhập hạ suốt 3 tháng trong mùa mưa, thuyết giảng Abhidhammapiṭaka (Tạng Vi Diệu Pháp) gồm có 7 bộ lớn: Bộ Dhammasaṅgaṇī, bộ Vibhaṅga, bộ Dhatukathā, bộ Puggalapaññatti, bộ Kathāvatthu, bộ Yamakabộ Paṭṭhāna để tế độ Phật Mẫu (kiếp hiện tại là một thiên nam Santussita hóa sinh ở cõi trời Đẩu Suất Đà Thiên), chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu, cùng vô số chư thiên, phạm thiên chứng đắc thành bậc Thánh thấp hoặc cao tùy theo ba-la-mật của họ.” [15]

Hoặc trong kinh Trường Bộ, Đức Phật nói đến các vị Tỳ khưu, có biến hóa thần thông, có thể di chuyển qua mọi chướng ngại, bay trên hư không, đi đến được các cõi Phạm Thiên

4. Này Kevaddha, thế nào là biến hóa thần thông? Này Kevaddha, ở đời có Tỷ-kheo chứng được các thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết- già đi trên hư không như con chim; với hai bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng; những vật có đại oai thần lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Có người tín thành thấy Tỷ-kheo ấy chứng hiện các thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân: hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng; những vật có đại oai thần lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. [16]

Như vậy, việc chư thiên không tự thân di chuyển mà phải di chuyển bằng các loại “Thiên Cung Bay” như mô tả trong Chuyện Thiên Cung của văn học Pāli hoặc  trong văn học Sanskrit quả là rất lạ và rất khó hiểu!

Thử giải thích:

– Do khái niệm “chư thiên” đôi khi bị hiểu lầm là các vị ở cõi cao hơn cõi người, tất cả đều có năng lực thần thông. Thực ra, trừ các vị Phạm Thiên cõi Sắc, chư thiên cõi Dục có năng lực giới hạn! Vì thế chư thiên cõi dục có thể không đủ thần thông để đi xa mà phải cần đến các phương tiện bay như Chuyện Thiên Cung đã đề cập đến. Thứ hai, theo kinh điển, loài người ở Nam Thiên Bộ Châu (trái đất) và cũng có những người ở các châu khác như Bắc Cu lô Châu, Đông Thắng Thần Châu và Tây Ngưu Hóa Châu. Nếu những người ở châu khác muốn đến trái đất, ắt cũng phải sử dụng một loại phương tiện bay nào đó! Vì theo kinh điển, họ cũng chỉ là loài người. Vậy “thiên cung bay” (flying vimāna) có thể được hiểu như là một phương tiện di chuyển của loài người ở châu khác, hoặc của chư thiên cõi dục

–  Với cách hiểu như vậy, khi đọc các mô tả về thiên cung bay từ các văn bản Pāli hay Sanskrit, người đọc phải hình dung đó là một cỗ máy, một máy bay hay một tàu không gian, được tạo ra từ một nền văn minh rất cao, ở những thế giới khác với trái đất này! Cách hiểu này thực ra đôi khi không dễ dàng đối với một số người ! Nhưng phải biết, sự tồn tại các cõi giới khác nhau đã được Đạo Phật cũng như các tôn giáo Ấn Độ đề cập đến từ rất lâu trong quá khứ.

VI. Sự khác biệt về vũ trụ quan

Hiện nay, còn rất nhiều người tin rằng trong vũ trụ với vô số thiên hà và các hành tinh này chỉ có loài người là loài duy nhất tồn tại và loài người là sinh vật thông minh nhất trong vũ trụ to lớn này. Điều này ngược với quan điểm về các cõi giới (planes of existence) trong vũ trụ của văn minh Vệ Đà nói chung và vũ trụ quan Đạo Phật nói riêng [17].  Kinh điển Đạo Phật mô tả vũ trụ có ba cõi giới (tam giới).

– Cõi Dục là cõi xuất hiện dưới dạng vật chất, gồm các loài địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, con người và sáu loại chư thiên cõi dục (lục dục thiên).

– Cõi Sắc, cũng còn là cõi vật chất, là nơi các Phạm Thiên cư trú.

– Cõi Vô Sắc, hoàn toàn không cấu tạo bởi vật chất, là nơi các chư thiên cao siêu hơn cư trú.

Tại sao có rất nhiều người còn nghi ngờ hoặc không tin rằng có các loài sinh vật nào khác trong vũ trụ này? Có lẽ điều này do con người bình thường không thể tri giác được các thế giới của Chư Thiên (Deva) và Ngạ Quỷ (Peta).

 Giới hạn của giác quan

Con người chỉ tri giác được trong năm giác quan của mình và đây chính là một giới hạn

Người có năng lực thiền định, có siêu giác quan có thể tri giác về các thế giới khác. Ví dụ trong kinh Trường Bộ DN 3, kinh A Ma Trú (Ambattha)

“Đoạn 21: Lúc bấy giờ, thần Dạ xoa Vajirapàni đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói đứng trên đầu của thanh niên Ambattha với ý định: “Nếu Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba, một câu hỏi hợp lý mà thanh niên Ambattha không trả lời, thời ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh”. Chỉ có Thế Tôn và thanh niên Ambattha mới thấy thần Dạ xoa Vajirapàni. Thanh niên Ambattha thấy vị thần ấy liền sợ hãi, hoảng hốt, lông dựng ngược, chỉ tìm sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ tìm sự hỗ trợ nơi Thế Tôn, liền cúi rạp mình xuống và bạch Thế Tôn…”

Như vậy trong cùng một không gian, Đức Phật và thanh niên Amattha ở một thế giới này và Dạ Xoa Vajirapāni ở một thế giới khác! Chỉ có Đức Phật và Ambattha mới có thể thấy Dạ Xoa.

Ngoài ra, đối với đối tượng được nhìn, thì tùy theo đối tượng ấy có thể hoặc có muốn xuất hiện trước người nhìn hay không hay không? Nói cách khác đối tượng từ thế giới khác có khả năng hay có muốn hiển lộ trong thực tại của thế giới loài người hay không?

Trong chuyện Thiên CungMaṭṭakuṇḍalī, một đoàn thương buôn đói khát, đi lạc giữa sa mạc, bỗng gặp một thiên cung. Lời đối thoại với chủ nhân thiên cung như sau:

“…Xin ngài hãy nói tên (của ngài) là gì, có phải ngài là Dạ-xoa?”

  “Tôi chính là Dạ-xoa tên Serissaka, sống ở sa mạc, là người canh giữ đầm cát. Tôi hộ trì khu vực này, là người thực thi mệnh lệnh của đức Vua Vessavaṇa.”

Trong trường hợp này Dạ Xoa cố ý xuất hiện trong thế giới loài người.

Thế giới đa chiều

Các thế giới đa chiều (multiverse worlds) hay các thế giới song song (parallel worlds): có nghĩa là trong một không gian xác định của địa cầu này cùng một lúc tồn tại nhiều thế giới khác, mà con người không biết, không thấy, không cảm nhận được.

Có đoạn kinh nói rằng một gia đình bị hỏa hoạn chết, sau đó tái sinh trong các cõi giới khác nhau. Có người tái sinh thành người, có người tái sanh thành ngạ quỷ, có người tái sanh thành chư thiên, nhưng vì nghiệp duyên, tất cả lại cư trú tại cùng một chỗ. Đây có thể là ví dụ về thế giới song song!

Khái niệm về vũ trụ song song đã được đề cập tới bới William Jame vào năm 1859. Sau đó được xây dựng thành một học thuyết vật lý “many worlds interpretation” (MWI) bởi Hugh Everett một nhà vật lý người Mỹ (1930-1982). Khái niệm về chiều (dimensions) của các thực tại (realities) đang được khoa học phổ biến. Thế giới mà con người bình thường có thể cảm nhận được là không gian ba chiều (3D – three dimensions). Hiện tại đã có giả thuyết về thực tại 4D, 5D, thậm chí đến thực tại 21 D!

Multiverse level

Multiverse level

VI. Giả thuyết về mối liên hệ giữa các Thiên Cung bay và các vật thể bay không xác định (UFO)

 Thiên Cung (Vimāna) có phải là Vật thể bay không xác định (UFO)?

 Con người trên trái đất đã nhìn thấy các vật thể bay trong không trung, với đường bay và quỹ đạo lạ thường, không giống với hoạt động của các loại máy bay do loài người chế tạo. Nhờ phương tiện truyền thông phổ biến, các máy chụp hình, máy quay phim đã ghi lại vô số các vật thể bay không xác định. Những người làm việc có nhiệm vụ quan sát bầu trời như nhân viên kiểm soát không lưu, các phi công, các phi hành gia vũ trụ, các sĩ quan không quân, hải quân v.v…đã sưu tập rất nhiều hình ảnh, tài liệu về các vật thể bay không xác định (UFO: undefied flying object).

Mexique__Ovni_UFO_en_formation_film__Mexico_26_janvier_2013__124014

UFO en Mexico_26_janvier_2013

Trong thế kỷ 20 trước đây, các vật thể bay không xác định (UFO) không được các chính phủ trên thế giới xác nhận, ngược lại còn bị bác bỏ và cấm phổ biến (vì một lý do nào đó, mà ta hi vọng sẽ biết trong một ngày rất gần). Sang thế kỷ 21 này, một số các nhà nghiên cứu, nhà khoa học nghiên cứu UFO và người ngoài hành tinh (Aliens) đang tập trung nổ lực hình thành các phong trào [18] để buộc dư luận thế giới nói chung, và các chính phủ nói riêng, phải công bố các bằng chứng về sự thực có rất nhiều vật thể bay đã xuất hiện trên địa cầu, thậm chí có thể còn có các mối liên hệ bí mật giữa người ngoài hành tinh (Extraterrestrial Organism) với một số chính phủ!

Vậy có thê nào các vậy thể bay không xác định UFO chính là các thiên cung Vimāna được mô tả trong kinh điển và các sinh vật gọi là Aliens hay ET organisms chính là các loài người khác hoặc chư thiên cư trú gần với địa cầu?

VII. Người ngoài hành tinh (ET) có thể là ai?

Loài người từ các Châu khác

Theo Đạo Phật, loài người cư ngụ tại tất cả bốn châu. Người địa cầu chúng ta cư ngụ về phía Nam (của vũ trụ?) gọi là Nam Thiên Bộ Châu. Còn lại là Bắc Cu lô Châu, Đông Thắng Thần Châu và Tây Ngưu Hóa Châu. Như vậy, còn có những chủng người khác phát triển các nền văn minh riêng của họ ở tại các “châu” khác. Nếu sự hiện hữu của bốn Châu là đúng, thì người của các “Châu” khác có thể đi đến địa cầu bằng những vật thể bay. Vì cũng là người “nhân loại”, cùng sống trong một thế giới có không gian 3D nên ta có thể nhìn thấy họ!

Các chư thiên cõi Dục

Các chư thiên A Tu La (Asura) hoặc các chư thiên thuộc bốn Đại Thiên Vương (Catamāharajika) hoặc các chư thiên cao hơn nữa của trời Đao Lợi (Tettimsā) tất cả cũng có khả năng xuất hiện tại thế giới địa cầu, nếu như họ muốn. Các ví dụ nằm trong Chuyện Thiên Cung như đã đề cập ở phần trên. Người có năng lực thiền định hoặc có siêu giác quan có thể nhìn thấy chư thiên. Đối với người bình thường (không có siêu giác quan), thì chỉ có thể thấy chư thiên khi chư thiên có ý muốn xuất hiện.

Theo kinh điển thì chư thiên cõi Dục là những người có phước báu, có đời sống hạnh phúc hơn, có tuổi thọ cao hơn, tuy nhiên cũng tùy theo loại chư thiên, mà có người tốt hay có người xấu. Trong cõi Dục Giới, giữa các chư thiên (do còn dục) nên cũng có xung đột lẫn nhau. Theo truyền thuyết A Tu La ở cõi thiên là loài hiếu chiến hơn cả. Trong các bộ sử-thi thì từng có rất nhiều các trận chiến đã xảy ra trên cõi trời!

11 Vimana_god_war_2

Tranh vẽ trận chiến giữa các chư thiên trên không trung


Các Phạm Thiên

Phạm Thiên (Brāhma) có rất nhiều đẳng cấp ở các tầng trời khác nhau thuộc cõi Sắc Giới. Đây là cõi “rất xa” với với địa cầu. Kinh Nikaya có thuật lại nhiều lần Phạm Thiên đã xuất hiện tại thế gian để nói chuyện với Đức Phật. Như vậy cũng có khả năng các Phạm Thiên vẫn đến trái đất nếu có mục đích nào đó! Phạm Thiên là các vị có năng lực thiền định, nên phải suy luận rằng: Các Pham Thiên, nếu muốn ,sẽ di chuyển bằng thần thông dễ dàng chứ không cần đến các phương tiện bay như chư thiên các cõi thấp hơn! Theo kinh Phạm Võng, Trường Bộ DN 01, Nguồn gốc loài người là do Quang Âm Thiên (còn gọi Biến Quang Thiên – Ābhassara) từ cõi Nhị Thiền của Phạm Thiên đến di trú tại địa cầu, sau đó thoái hóa dần!

VIII. Vài suy nghĩ

Bài viết ngắn này nhằm mục đích nêu lên bằng chứng về tính hiện thực của khái niệm “Thiên Cung-Vimāna” trong kinh điển đạo Phật, dù rằng đã từ lâu có nhiều người còn nghi hoặc! Hai nữa là để thử giải thích lại khái niệm “Thiên Cung-Vimāna” (vốn có màu sắc thần bí) theo quan điểm và cách nhận thức của thời hiện đại.

Nếu các vật thể bay không xác định – UFO chính là các Thiên Cung Bay, thì chúng đã được loài người ở địa cầu ghi nhận từ rất lâu, trong các bộ Sử thi, trong Đạo Phật và trong kinh điển của các tôn giáo ở Ấn Độ. Trong thời đại khoa học tiến bộ ngày nay, với các phương tiện như vệ tinh, máy bay, máy chụp hình, quay phim. các UFO cũng đã được nhìn thấy với vô số người chứng và vật chứng. Tuy nhiên vì một lý do nào đó, các chứng cứ không được các chính phủ xác nhận.

Không hiểu vì một thôi thúc gì, từ đầu năm 2013, trên thế giới đã xuất hiện phong trào đòi các chính phủ phải xác nhận về sự hiện diện của UFO và Aliens [18]. Hiện đã có khoảng hơn mười quốc gia (trong đó có Canada) đang cho phép công bố các chứng cớ về sự hiện diện của UFO và Aliens [19].

Nều sự kiện người ngoài hành tinh đã đến trái đất bằng các “phương tiện bay” được xác nhận, thì điều này chắc chắn sẽ làm thay đổi vũ trụ quan của loài người. Con người sẽ nhận ra Địa cầu không phải là trung tâm của vũ trụ. Thế giới ta đang sống không phải là thế giới duy nhất có sự sống có ý thức. Đồng thời con người sẽ nhận ra đẳng cấp thực sự của mình trong sự tương quan với các con người trong các thế giới khác.. Một số các học thuyết khoa học (ví dụ thuyết tiến hóa) và một số triết lý tôn giáo sẽ phải có đổ vỡ và sẽ phải chuyển biến rất lớn từ tận cùng nền tảng.  Tất cả nhận thức mới sẽ khiến tâm thức con người thay đổi. Điều này dẫn đến sự hình thành một nền văn minh mới hơn và cao hơn! Phải chăng đây chính là sự thay đổi cần thiết cho trái đất vào lúc này!

Sài Gòn 21-06-2013

BS PHẠM DOÃN

CHÚ THÍCH:

[1] Đoạn viết về ý nghĩa chữ Vimāna ở đây được lược dịch theo từ điển Pāli- English của Pāli Text Society

http://dsalsrv02.uchicago.edu/cgi-bin/philologic/getobject.pl?p.3:100.pali

[2]  Ngoài Vimānavatthupāli thuộc Tiểu Bộ Kinh, trong bốn bộ Nikaya còn lại, chỉ thấy chữ Vimāna xuất hiện trong:

Tăng Chi Bộ Kinh, chương bốn pháp, phẩm bánh xe, kinh Sư Tử (bản dịch của Thích Minh Châu)
 Này các Tỷ-kheo, có chư Thiên tuổi thọ dài, có dung sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống lâu trong các lâu đài to lớn.

Pāli: Yepi te, bhikkhave, devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā uccesu vimānesu ciraṭṭhitikā,

Trường Bộ kinh DN1, kinh Phạm Võng, tụng phẩm 2, đoạn 3 và 4 (bản dịch của Thích Minh Châu)

3. Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, Phạm cung được hiện ra, nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một hữu tình, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, mạng chung từ Quang Âm thiên, sanh qua Phạm cung trống rỗng ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời gian khá dài.

4. Vị này, tại chỗ ấy, sau khi sống lâu một mình như vậy, khởi ý chán nản, không hoan hỷ và có kỳ vọng: “Mong sao có các loài hữu tình khác, cũng đến tại chỗ này!” Lúc bấy giờ, các loài hữu tình khác, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, bị mệnh chung và từ thân Quang Âm thiên, sanh qua Phạm cung để làm bạn với vị hữu tình kia. Những loại hữu tình ở đấy cũng do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy, trong một thời gian khá dài.

Pāli: ‘‘Hoti kho so, bhikkhave, samayo, yaṃ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṃ loko vivaṭṭati. Vivaṭṭamāne loke suññaṃ brahmavimānaṃ pātubhavati. Atha kho aññataro satto āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā suññaṃ brahmavimānaṃ upapajjati. So tattha hoti manomayo pītibhakkho sayaṃpabho antalikkhacaro subhaṭṭhāyī, ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭhati. 41. ‘‘Tassa tattha ekakassa dīgharattaṃ nivusitattā anabhirati paritassanā upapajjati – ‘aho vata aññepi sattā itthattaṃ āgaccheyyu’nti. Atha aññepi sattā āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā brahmavimānaṃ upapajjanti tassa sattassa sahabyataṃ  [2]

[3] Chuyên Thiên Cung (bản dịch của Tỳ Khưu Indacanda http://www.paliviet.info/VHoc/30a/Vv_00.htm

[4] Thiên cung Sudhammā của Chúa Trời Sakka thuộc cõi trời Đạo Lợi

Sakka còn được gọi là Indra trong Ấn Độ giáo. Tuy nhiên có lý thuyết cho rằng Sakka và Indra là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Hơn nữa mô tả về Indra trong Ấn Giáo cũng khác với mô tả về Sakka trong Đạo Phật.

Wiki: The name Śakra “powerful” as an epithet of Indra is found in several verses of the Rigveda. In Buddhist texts, Śakra’s myth and character are very different from those of the Vedic Indra[dubious ]. According to G.P. Malalasekara, “Sakka and Indra are independent conceptions. None of the personal characteristics of Sakka resemble those of Indra. Some epithets are identical but are evidently borrowed, though they are differently

http://en.wikipedia.org/wiki/%C5%9Aakra_%28Buddhism%29

Cư dân của cõi trời Đao Lợi tức cõi trời ba mươi ba (Tettimsā) có chiều cao 1500 feet và thọ mạng 1000 năm (mà mỗi ngày nơi đây bằng 100 năm địa cầu).  Ở cõi Trời Ba Mươi Ba, một ngày đêm tương đương 100 năm ở cõi người, một tháng có 30 ngày, một năm có 12 tháng. Như vậy, “một ngàn năm thuộc cõi Trời” này bằng 3 koṭi và 60 trăm ngàn năm ở cõi người; tổng cộng là 36 triệu năm.

[5]  Vimana ( http://en.wikipedia.org/wiki/Vimana)

[6]   “O Rama of unequalled prowess! The aerial car shining like the sun, which moves as one pleases, wonderful and excellent, named Pushpaka of Kubera my brother was robbed by the mighty Ravana after conquering Kubera in battle. May prosperity attend you! It is retained there for your sake. The yonder aerial car, looking like a cloud, stands here and by which transport, you can reach Ayodhya without any trouble.”

Sử thi Ramayana (http://www.valmikiramayan.net/yuddha/sarga121/yuddha_121_prose.htm)

[7]  Pushpaka Vimana

 http://en.wikipedia.org/wiki/Pushpaka_Vimana#Ramayana

[8] Sanskrit:

 कांचनम्रथम्आस्थायकामगम्रत्नभूषितम्|

पिशाचवदनैःयुक्तम्खरैःकनकभूषणैः || ३५
मेघप्रतिमनादेनतेनधनदअनुजः |
राक्षसाधिपतिःश्रीमान्ययौनदनदीपतिम् || ३५

English: That chariot which is decorated with golden ornaments, yoked with monster-faced mules that have gem studded trappings is ride-able by the wish of the rider, and sitting in such a chariot which is wholly golden and which rides with a sound like the pealing of thunder, that celebrated Ravan, the brother of Kuber and the lord of demons, traveled towards the lord of rivers and rivulets, namely the ocean.

(the 121st chapter in Yuddha Kanda of Valmiki Ramayana, the First Epic poem of India.

http://www.valmikiramayan.net/yuddha/sarga121/yuddha_121_prose.htm)

[9] Sanskrit:
ततह्पुष्पकंदिव्यंसुग्रीवःसहवानरैः || १२२२४
आरुरोहमुदायुक्तःसमात्यश्चविभीषणः|

Engkish: Thereupon, that Sugreeva along with the monkeys gladly ascended that wonderful Pushpaka, the aerial car. Vibhishan together with his counselors also ascended it.

(the 122nd chapter in Yuddha Kanda of Valmiki Ramayana
http://www.valmikiramayan.net/yuddha/sarga122/yuddha_122_prose.htm
)

[10] Sanskrit:

तेष्वारूढेषुसर्वेषुकौबेरम्परमासनम् || १२२२५
राघवेणाभ्यनुज्ञातमुत्पपातविहायसम्|

English: When all of them ascended, that excellent aerial car, belonging to Kuber, flew into the sky, after having been duly authorized by Rama.

(the 122nd chapter in Yuddha Kanda of Valmiki Ramayana
http://www.valmikiramayan.net/yuddha/sarga122/yuddha_122_prose.htm

[11] Dandu Monara:  http://en.wikipedia.org/wiki/Dandu_Monara

[12] Chú thích của ảnh:
Rama leaves Lanka in the Pushpaka Vimana
Ramayana – Pahari School, Himachal Pradesh, c. 1650 . Binney Collection

[13] Tài liệu hình ảnh về Thiên Cung Bay và UFO

(https://bsphamdoan.wordpress.com/mot-so-hinh-anh-tai-lieu/tai-lieu-02/)

[14] Vaimānika Shāstra: (http://en.wikipedia.org/wiki/Vaim%C4%81nika_Sh%C4%81stra)

[15] Nền Tảng Phật Giáo – Quyển 1Tỳ khưu hộ pháp

http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/TamBao/TamBao3.htm

[16] Trường Bộ, DN 11, kinh Kiên Cố (Kevattha sutta)

[17] Người và Cõi (Puggala Bheda bhūmi)

https://bsphamdoan.wordpress.com/2013/06/18/nguoi-va-coi-puggala-bheda-bhumi/

[18] Bộ phim tài liệu Sirius nói về nổ lực của Bs Steven Greer, nhằm công bố các tài liệu, nhân chứng, vật chứng, về UFO và Alien

Toàn bộ phim SIRIUS 8 phần – Có phụ đề Việt ngữ
(Download rất nhanh – down phần nào, xem được phần đó)
http://www.mediafire.com/?a7rhdm67284c6

[19] Cựu bộ trưởng quốc phòng Canada (thập niên 60) Paul Hellyer(http://en.wikipedia.org/wiki/Paul_Hellyer) vừa công bố xác nhận
– sự hiện diện của người ngoài hành tinh (ET).
– Tiết lộ rằng có 2 gười ET đã cộng tác với chính phủ Mỹ

Video mới nhất về cuộc họp với chủ tọa của dân biểu quốc hội Merryl Hand Cook:
http://www.youtube.com/watch?v=BQEqhx5L-48&feature=em-subs_digest&list=TLKx2SvVQyFjA
Muốn xem phụ đề tiếng Anh:Click vào ô cc , ở thanh ngang bên dưới cửa sổ Youtube,
Chọn automatic Engglish caption
.
Phụ đề Tiếng Anh này là “dịch âm thanh ra chữ”
nên nếu người nói phát âm sai, thì bản dịch bằng chữ
sẽ không đúng!

 

 

Advertisements

NGƯỜI VÀ CÕI (PUGGALA BHEDA BHŪMI)

***

NGUỒN  TRÍCH: Tự Học Vi Diệu Pháp (Tập 3)

Tác giả: Đại Đức THIỆN MINH & Cư Sĩ NGUYỄN ĐỨC TÀI

Biên soạn dựa theo tác phẩm, dịch phẩm, tài liệu, tư liệu, chú giải của cố Đại trưởng lão ân sư TỊNH SỰ MAHĀTHERO SAṄTAKICCO

***
 

NGƯỜI VÀ CÕI (PUGGALA BHEDA BHŪMI)

 

I. ĐỊNH NGHĨA

PHẦN 1: NGƯỜI (PUGGALA)

Puggala hay Puggalo dịch là Người. Người còn gọi là chúng sanh, loài hữu tình, loài có Tâm thức, loài có Thức tánh. Đây là nói theo Chế định. Còn nói theo Siêu lý thì Người là chỉ Danh uẩn và Sắc uẩn, hay là chỉ bày cho Tâm quả hiệp thế, Sắc tâm quả, Sắc nghiệp tái tục … luân chuyển trong Tam giới.

Hay nói cách khác, tất cả chúng sanh trong Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, bởi vì trình độ hiểu biết, căn cơ khác nhau, do đi theo nghiệp riêng của mình vì hành vi tạo tác trước đó, để lại Dị thục quả tức Dị Thục Quả Duyên mà sanh tử. Vì vậy sự đi tái tục này, hay tục sinh, hoặc tái sinh cho luôn đến gọi là đầu thai đều do Nghiệp tạo, Tâm tái tục, quí tiết sanh, vật thực khởi. Những ý nghĩa này hiện bày thì được gọi là Người, Chúng sanh … thực ra là sự tiếp nối sanh diệt của Danh uẩn và Sắc uẩn.

NGƯỜI: Chỉ chung cho 12 hạng Người, nghĩa là trong đó có sự chế định, thứ trạng và sắp sếp theo thứ tự – từ hạng thấp nhất và khổ nhất là Người khổ, lên đến Người hay hạng Bậc Thanh Tịnh – An vui thuộc Tứ Đạo và Tứ Quả:

MƯỜI HAI (12) HẠNG NGƯỜI như sau:

1.   Là Người Khổ Vô Nhơn (Ahetuka puggala).

2.    Là Người Lạc Vô Nhơn (Sugati ahetukapuggala).

3.   Là Người Nhị Nhơn         (Davihetukapuggala).

4.   Là Người Tam Nhơn        (Tihetukapuggala).

5.    Là Người Đạo Nhập Lưu (Sotāpattimaggapuggala).

6.    Là Người Quả Nhập Lưu (Sotāpattiphalapuggala).

7.   Là Người Đạo Nhất Lai   (Sakadāgāmimaggapuggala).

8.   Là Người Quả Nhất Lai   (Sakadāgāmiphalapuggala).

9.     Là Người Đạo Bất Lai    (Anāgāmimaggapuggala).

10.    Là Người Quả Bất Lai   (Anāgāmiphalapuggala).

11.    Là Người Đạo Vô Sanh             (Arahattamaggapuggala).

12.    Là Người Quả Vô Sanh             (Arahattaphalapuggala)

1.    Người Khổ Vô Nhơn (Ahetuka puggala):

Đây là chỉ cho hạng Người tái tục bằng Tâm Thẩm tấn xả thọ quả bất thiện, hạng người này nương sanh ở 4 cõi khổ thú, có hiện tượng như là: Địa Ngục hay Âm Ngục, tức là phần âm mất tự do, nếu nặng thấy nơi trong đất, phía dưới có chỗ hình phạt v.v…. Hay Vạn vật, Bàng sanh, Ngạ Quỉ (quỷ đói khát, quỷ dữ), Atula (Atula địa, Atula nhân và Atula thiên). Người Khổ Vô nhân kêu tắt gọi là người Khổ cũng không phải thiếu nghĩa, vì người khổ toàn là vô nhân, không có người khổ hữu nhân, cho nên có thể gọi gọn là Người Khổ.

Hay nói cách khác, sự hiện bày của tâm quả hiệp thế sắc nghiệp mà qua các trạng thái hiện tượng như: Vạn vật – phi cầm, tẩu thú v.v… Đây gọi người bàng sanh, cho đến quỷ đói hay ngạ quỷ, hoặc atula – quỷ dữ và điạ ngục là những trạng thái nêu bày chúng sanh nương ở đây mất tự do, và nặng thì phải chịu hình phạt theo nhiều cách khốc liệt v.v…

Như vậy, người khổ là người thường bị khổ đau, là chúng sanh thiếu hạnh phúc, phân ra làm 4 dạng người: Người Địa Ngục, Người Bàng Sanh, Người ngạ Quỷ và Người Atula.

2.    Người Lạc Vô Nhơn (Sugati ahetukapuggala):

Người lạc vô nhơn tức là những người tái tục bằng Tâm thẩm tấn quả thiện vô nhân nương sanh, nương ở cõi nhân loại và chư thiên Tứ thiên vương bậc thấp. Hay nói theo một cách khác người lạc vô nhân là những người có nhiều hạnh phúc hơn những người khổ, chúng sanh này không đến nổi chịu nhiều khổ hình, đau khổ. Có một điều là hạng người này không thể chứng Thiền hay Đạo Quả được bởi không có nhân vô tham, vô sân và vô si. Gọi người Lạc do hưởng Quả Thiện nhưng thiếu nhân tương ưng tức không có 3 nhân thiện câu sanh lúc tái tục, vì trong lúc tái tục bằng Tâm Quả Thiện Vô Nhân. Người Lạc được phân ra 3 trường hợp:

  •     Trường hợp thứ nhất ở cõi Nhân loại thuộc về thai sanh.
  •     Trường hợp thứ hai ở cõi Tứ thiên vương là hóa sanh.
  •     Trường hợp thứ ba cõi Vô tưởng cũng hóa sanh, nhưng lúc tái tục bằng Sắc mạng quyền cùng sắc nghiệp, sắc quí tiết, sắc vật thực và các sắc câu sanh khác, chớ không có Tâm sanh. Mặc dù gọi là Người Lạc nhưng có một điều là trước khi tái tục Bậc này phải Đắc Ngũ Thiền, vì nhàm chán có cái Tâm, nên nguyện Tâm không sanh, lúc tử do phước nghiệp thiền đặng tái tục sanh về cõi Vô tưởng thiên tức thuộc cõi nhất uẩn: Chỉ có Sắc uẩn mà thôi.

3.    Người Nhị Nhơn (Davihetukapuggala) hoặc (Duhetukapuggala):

Là những người tái tục bằng 4 thứ Tâm Quả bất tương ưng trí (không có trí hợp). Nghĩa là lúc tái tục không có Nhân vô si (chỉ có Nhân: vô tham và vô sân), do đó người Nhị nhân cũng không thể Đắc Thiền hay Đạo Quả được. Như vậy, người nhị nhân là người có thân thể đầy đủ như người tam nhân nhưng kém phần trí tuệ, bởi lúc tái tục, do sát na tâm tái tục không có nhân vô si (trí) nương sanh. Những người này nương sống, nương nhờ, nương ở 7 cõi vui dục giới.

Lưu ý:

3 hạng người vừa kể trên: Người khổ, người lạc, người nhị nhân gọi là “phàm phu vô phần” (Abhabba puthujana) tức là những hạng người này không có phần Đắc Đạo – Quả, Thiền trong đời sống hiện tại. Nếu có tu tiến thì chỉ trợ cho kiếp sau, hoặc kiếp sau sau.

4.    Người Tam Nhơn (Tihetukapuggala):

Là chúng sanh tái tục bằng 1 trong 13 thứ Tâm Quả tam nhân, trong đó phân ra:

  • Người Dục giới Tam nhân thì tái tục bằng 4 thứ tâm đại quả tương ưng.
  • Người Sắc giới Tam nhân tái tục bằng tâm quả sắc giới.
  • Người Vô sắc giới Tam nhân tái tục bằng tâm quả vô sắc giới.

Đây là hạng người đặng nhiều cách, trong đó nếu thường thực hành Thập Phúc Hành Tông (Thập Thiện), thì đặng như sang trọng, tướng tốt, có đầy đủ trí tuệ, bậc này tu tiến có thể chứng quả trong kiếp hiện tại nếu đầy đủ pháp độ và pháp quán hoặc đắc thiền.

Hay nói cách khác, những hạng chúng sanh nào mà có tâm lực mạnh mẽ và trong sáng, sáng suốt do hành vi tạo tác thường quen nết trí, chúng sanh đó trong quá khứ được 3 nhân thiện tương ưng theo lối thường cận y duyên, nghĩa là đã tích lũy trải dài nhiều đời, lắm kiếp thực hành nhân sanh trí (40 nhân sanh Trí Tuệ). Những người này lúc tái tục với đầy đủ Quả Thiện hữu nhân nhất là nhân Vô Si (tức sở hữu Trí Tuệ câu sanh lúc tái tục) sẽ giúp hổ trợ, đồng thời nếu thuận duyên tu thiền và phát triển nền móng của trí tuệ đó, thúc đẩy tiến tu đến Đạo Quả siêu thế. Còn nếu đời thường thức thì vị này là bậc thông minh đĩnh ngộ, sáng dạ, bác học …

Người Tam Nhân nương theo 3 cõi có những trường hợp như sau:

  • Trường hợp thứ nhất: Người Tam nhân Đắc Thiền Sắc (tùy theo bậc) đồng thời không bị hoại thiền trong đời sống hiện tại (bình nhật) và khi tái tục sẽ bằng 1 trong 5 thứ Tâm Quả Sắc Giới đặng sanh về 1 trong 5 cõi Thiền Sắc Giới. Riêng hoại thiền trước tử, tức cận tử (gần kề chết) mà đứt Thiền, e khó lòng có dịp mà tu tiến đề mục để đắc lại thiền sắc giới.
  • Trường hợp thứ hai: Người Tam Nhân Đắc Thiền Vô Sắc tại Cõi Vui Dục Giới, không hoại Thiền trong đời sống bình nhật kiếp hiện tại ngay lúc cận tử – tái tục bằng 1 trong 4 Tâm Quả Vô Sắc … Nếu đứt Thiền gần cận tử, hoặc chểng mảng sau khi đứt Thiền mà không tu tiến lại đề mục, thì khó mà sanh về cõi Vô Sắc do đắc Thiền Vô Sắc trước đó đã hoại…

5.    Người Đạo Nhập Lưu (Sotāpattimaggapuggala):

Người Đạo nhập lưu hay còn gọi là Người Sơ Đạo tức là Tâm Sơ Đạo đang sanh, đang còn (trong 3 sát na tiểu). Hoặc là người đang đoạn tận phiền não tỏ ngộ Níp Bàn lần đầu tiên. Đây là bậc có sát na Sơ Đạo đang sanh cũng là đồng thời đang diệt trừ: Thân Kiến, Hoài Nghi và Giới Cấm Thủ, tức diệt hẳn 2 pháp bản thể bất thiện là: Sở hữu Hoài nghi và sở hữu Tà kiến cùng với pháp câu sanh tuyệt.

Hay nói cách khác, người Sơ Đạo, hay người Đạo Dự Lưu, hoặc Bậc Tu Đà Hườn Đạo là bậc nhập vào dòng Thánh vức lần đầu tiên, mà sát na đó (sát na Sơ Đạo đang sanh và đang còn) với chức năng đoạn diệt phiền não, thấy đặng cảnh Níp Bàn lần đầu tiên, làm suy yếu các pháp bất thiện còn lại, tận diệt chủng tử sanh vào khổ thú, đoạn dứt chủng tử đời thứ 8 cõi vui dục giới.

6.    Người Quả Nhập Lưu (Sotāpattiphalapuggala):

Người Quả nhập lưu tức là Bậc đã chứng đắc Đạo nhập lưu, người mà thành tựu khi trạng thái Tâm Đắc Đạo sanh lần đầu tiên. Bậc này còn gọi là Sơ Quả, Quả Dự Lưu, Tu Đà Hườn Quả.

Người Sơ Quả là Bậc được tính từ Tâm Sơ Quả phát sanh lần thứ nhất cho đến sát na diệt của tâm dũ tịnh sanh trong lộ Đắc Nhị Đạo.

7.    Người Đạo Nhất Lai (Sakadāgāmimaggapuggala):

Là Bậc chỉ trở lại cõi nhân loại hoặc cõi chư thiên 1 lần mà thôi, vì đang diệt chủng tử (Bīja) đời thứ hai cõi dục giới vui, hay Tâm Đạo này sanh khởi lần thứ 2 sau khi đã chứng Sơ Quả, nên cũng được gọi là người Nhị Đạo. Lúc sát na này đang sanh đang còn thì làm nhẹ thêm hai phiền não kế Tham Dục và Sân, đồng thời làm suy yếu thêm lần nữa các phiền não bất thiện còn lại. Hay là trong lộ Đắc Nhị Đạo thì người Nhị Đạo sanh trong 3 sát na (tiểu) của Tâm Nhị Đạo đang sanh.

8.    Người Quả Nhất Lai (Sakadāgāmiphalapuggala):

Đây là Bậc Thánh thứ hai, mà Bậc này được tính từ khi Tâm Nhị Quả phát sanh lần thứ nhất cho đến sát na diệt của Tâm Dũ Tịnh sanh trong lộ đắc Tam Đạo. Hay là Bậc này gọi người Nhị Quả tức người đã chứng đắc Nhị Đạo. Bậc này gọi Quả Nhất Lai bởi vì chỉ sanh lại Cõi Dục Giới Vui một lần mà thôi (tức là một kiếp Nhân loại hoặc một kiếp Chư Thiên).

9.    Người Đạo Bất Lai (Anāgāmimaggapuggala).

Là Bậc Thánh đang sát trừ hay đang đoạn tận hai phiền não tham Dục và Sân mà người Nhị Quả đã làm giảm nhẹ trước đây. Bậc này cũng còn gọi là Người Tam Đạo đắc trong 3 sát na. Còn trên phương diện phiền não và các nghiệp quả luân hồi thì vị này đoạn tận chủng tử tái tục Cõi Dục Giới, nghĩa là nếu không đắc tiếp Tứ Đạo Quả và cũng không có Thiền thì vị ấy sau khi tử, sẽ tái tục đặng về Cõi sơ Thiền do thích hợp và phù hợp cơ tánh Bậc Bất Lai Đạo hết phiền não Sân đặng sanh về Cõi Vô Sân (Sắc Giới …). Nếu Vị này có Thiền thì tùy theo Bậc mà sanh về Cõi Thiền đó, như: Sơ, Nhị, Tam, Tứ, Ngũ Thiền. Đồng thời, vị này đang làm giảm thêm nữa các Pháp bất Thiện còn lại.

10. Người Quả Bất Lai (Anāgāmiphalapuggala).

Là Bậc Thánh thành tựu từ Tam Đạo Bất Lai, hay là gọi người Tam Quả vì được tính từ khi Tâm Tam Quả phát sanh lần thứ nhất cho đến sát na diệt của Tâm Dũ Tịnh sanh trong lộ đắc Tứ Đạo. Người Quả Bất Lai hay người Tam Quả là người đã đắc chứng Tam Đạo. Xét về tam luân hồi thì vị này, bậc ấy nếu không đắc tiếp La Hán Đạo – Quả thì sẽ sanh về các Cõi tùy theo trường hợp, như sau:

Thánh Tam Quả không Thiền như đã trình bày trong người Tam Đạo tức sẽ sanh về Cõi Sơ Thiền.

Nếu Đắc từ Nhị, Tam và Tứ Thiền thì sẽ sanh về các cõi tương ứng ấy.

Còn nếu Bậc Thánh ấy đắc Ngũ Thiền thì dựa trên năm Quyền để làm Căn Nguyên tái tục về Cõi Thánh Cư (Ngũ Tịnh Cư), trong đó như là:

  • Nếu Vị Tam Quả có Tín Quyền mạnh thì tái tục Cõi Vô Phiền Thiên.
  • Nếu Vị Tam Quả có Tấn Quyền mạnh thì tái tục Cõi Vô Nhiệt Thiên.
  • Nếu Vị Tam Quả có Niệm Quyền mạnh thì tái tục cõi Thiện Kiến Thiên.
  • Nếu Vị Tam Quả có Định Quyền mạnh thì tái tục Cõi Thiện Hiện Thiên.
  • Nếu Vị Tam Quả có Tuệ Quyền mạnh thì tái tục Cõi Sắc Cứu Cánh Thiên.

11. Người Đạo Vô Sanh (Arahattamaggapuggala):

Là Người đang tuyệt trừ tất cả chủng tử tái tục (Vô sanh), hay Bậc Thánh đang đoạn tận các phiền não còn lại như Sắc ái, Vô Sắc ái, Ngã mạn, Điệu cử và Vô minh, đồng thời Bậc Thánh ấy đang tỏ ngộ Níp Bàn lần thứ tư, đang chấm dứt và bẻ gãy bánh xe sanh tử luân hồi, chủng tử luân hồi, đoạn trừ tam luân hồi, diệt tận tất cả Pháp bất thiện còn lại. Người Tứ Đạo đồng nghĩa với Người Đạo Vô sanh, Tâm Tứ Đạo chỉ phát sanh một lần trong 3 sát na tiểu.

12. Người Quả Vô Sanh (Arahattaphalapuggala):

Là Bậc từ khi Tâm Tứ Quả phát sanh lần thứ nhất cho đến sát na diệt của Tâm Tử – Níp Bàn, Bậc Thánh này loại Vô Sanh, tức là sau cái sát na diệt của Tâm Tử, Bậc đó sẽ Níp Bàn luôn và không còn sanh nữa, vì vậy gọi là Bậc Thánh Vô Sanh.

Hay nói cách khác, gọi Bậc Thánh Quả vô sanh hay người Quả Vô Sanh, là Bậc đắc Đạo và Quả này rồi không còn tái tục nữa. Tìm hiểu thêm về nghĩa của Thánh Vô Sanh theo 3 cách:

1)   Bất Sanh: Cũng như Vô sanh (nghĩa là không có sự sanh đẻ ra tức không có sự tái tục nữa).

2)   Ứng Cúng: Là ám chỉ hết phiền não hoàn toàn, đáng làm ruộng Phước cho chúng sanh cúng dường.

3)   Sát Tặc: Tức là sát trừ và đoạn tận tuyệt hết giặc phiền não v.v…

Tâm mà hợp với Đạo Đế vô sanh, nên gọi là Tâm Đạo Vô sanh. Thành tựu từ Tâm Đạo Vô Sanh gọi là Tâm Quả Vô sanh.

 

PHẦN 2: CÕI (BHŪMI) 

CÕI: Được dịch từ Phạn ngữ Pāli “Bhūmi” có nghĩa là – Thuộc về chỗ hay phương diện: Nương sanh, nương ở, nương sống hay nương còn.

Theo Pāli có chú giải như sau:

Bhavanti sattā etthati = Bhūmi: Là chỗ nương nơi đó, đặng sanh ra và nương ở v.v… . Chỗ ấy gọi là Cõi.

Bhūmi nói theo Gati (Sự đi, sự đi của nghiệp, sự đi qua cảnh giới khác, tái sanh, tái tục, tục sanh, đầu thai …) có 4 loại:

  • Gati gati: Cõi là nơi tái tục của chúng sanh.
  • Nibbattigati: Sự tái tục.
  • Ajjhāsayagati: Tức nói căn tánh đang diễn tiến đến Cảnh giới hay cố ý mà cơ tánh đang tái tục đến nơi đó (Cõi).
  • Vibhavagati: Sự hiện khởi của Pháp quả hay sanh khởi của thành quả, tài sản.

Từ Gati nơi đây là Gati gati, như trong Paṇṇāsa aṭṭhakathā.

Có chú giải như sau:

Sukatadukatakammavasena gantabbāti = Gati: Nghĩa là Cõi là nơi, chốn cho chúng sanh tái tục đến, mà chúng sanh ấy đi theo mãnh lực của nghiệp đã tạo. Gọi là Gati.

Như vậy:

Chúng ta thấy giữa chữ Bhūmi và Gati có sự tương đồng về nghĩa lý trên phương diện nơi, chốn, chỗ, mà chúng sanh nương và tiến hành với khổ, hoặc tốt đẹp. Tức là do nơi nương đó có trạng thái hứng chịu khổ (do tạo ác nghiệp, mãnh lực của phiền não đẩy đi, nghiệp chuyển tiếp, quả trổ sanh thì chúng sanh ấy phải tiến hành với khổ, gọi là Khổ Cảnh (Cõi Khổ Thú). Ngược lại, nếu chúng sanh tạo các thiện lành thì được tiến hành nơi tái tục tốt đẹp, gọi là Nhàn Cảnh (các Cõi vui).

Cũng theo Paṇṇāsa aṭṭhakathā có 2 câu chú giải như sau:

1)   Dukkhena gantabāti = Duggati: Cõi, nơi chốn, nơi ở, nhờ nương mà chúng sanh (đi theo quả luân hồi) phải tiến hành hình phạt khổ.

2)   Sudārāgati = Surati (cũng là) nơi tiến hành, nơi tái tục của chúng sanh nhưng đặng phần tốt đẹp, hưởng quả lành nhiều. Hoặc là chúng sanh đã hành thiện nghiệp (đi theo quả luân hồi) đến Cảnh Giới: Cõi, nơi tái sanh có phần hưởng an vui nhiều hơn.

Trên phương diện nói về Cõi được phân ra 3, 4 hoặc 9, nhưng khi nói rộng thì có đến 31 Cõi. Theo một vài đoạn Kinh khác là phần kinh tàu có thêm 2 Cõi nữa là Phước Sanh Thiên và Phước Ái Thiên, nhưng phần chánh tạng Pāli vẫn gồm chung 2 Cõi ấy vào cõi Quảng Quả Thiên.

Chúng ta tìm hiểu cách phân chia về Cõi theo 3, 4 hoặc 9 hay rộng 31 Cõi, như sau:

A.   CÕI PHÂN THEO 3 cũng gọi là TAM GIỚI:

1 là Cõi Dục Giới        (Kāmāvacarabhūmi).

2 là Cõi Sắc Giới         (Rūpāvacarabhūmi).

3 là Cõi Vô Sắc Giới   (Arūpāvacarabhūmi).

1)   Cõi Dục Giới (Kāmāvacarabhūmi):

Là nơi chúng sanh phần lớn hưởng Cảnh Ngũ Dục (Sắc Dục, Thinh Dục, Khí Dục, Vị Dục, Xúc Dục).

Có những câu Pāli chú giải như sau:

Kammasahacarati sugati = Kammasugati.

Kammasahacarati Dukkhe = Kammadukkha.

Nghĩa là, nhàn Cảnh mà câu hành với Ái Dục và Khổ Cảnh câu hành với Ái Dục gọi là Cõi Dục Giới. Phần Cõi này phân chia đặng thành 11 Cõi khác nhau:

4 Cõi Khổ Thú: Địa Ngục, Bàng Sanh, Ngạ Quỉ và Atula.

1 Cõi Nhân Loại: Nam Thiện Bộ Châu, Bắc Cu Lô Châu (Bắc Câu Lưu Châu), Đông Thắng Thần Châu và Tây Ngưu Hóa Châu.

6 Cõi Trời Vui Dục Giới: Tứ Thiên Vương, Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Đâu Xuất Thiên, Hóa Lạc Thiên và Tha Hóa Tự Tại Thiên.

2)   Cõi Sắc Giới (Rūpāvacarabhūmi):

Là Cõi còn hình Sắc nhưng không phải nhiều sắc thô như cõi trời Dục và chúng sanh trong Cõi này sự sống bằng Pháp hỷ quả của Thiền định, chớ không thọ hưởng ngũ dục lạc như cõi trời Dục giới. Cõi trời Sắc giới được phân thành 16 Cõi dựa theo 4 tầng Thiền:

a.    Tầng thứ nhất gọi là tầng Sơ Thiền có 3 Cõi: Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên và Đại Phạm Thiên.

b.    Tầng thứ hai gọi là tầng Nhị Tam Thiền có 3 Cõi: Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên và Biến Quang Thiên.

c.    Tầng thứ ba gọi là tầng Tứ Thiền có 3 Cõi: Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên và Biến Tịnh Thiên.

d.    Tầng thứ tư gọi là tầng Ngũ Thiền có 7 Cõi: Vô Tưởng Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Kiến Thiên, Thiện Hiện Thiên và Sắc Cứu Cánh Thiên.

Các vị Trời sống trong 16 Cõi như trên gọi là Chư Phạm Thiên Sắc giới (Brahmadeva) nghĩa là người tu tiến các đề mục Chỉ Tịnh (Pháp chỉ) khi đặng hay đắc Thiền tùy theo bậc mà sanh về các Cõi này. Hay nói cách khác, những Bậc tu tiến, Chư Thiên phát triển Pháp thù thắng đặc biệt như Thiền … . Vì vậy, những vị ấy được gọi là Phạm Thiên sắc. Hoặc có sự tăng trưởng Đạo Pháp qua việc là tu tiến rồi thành tựu: Tịnh Giới, Tịnh Tâm, Tịnh Kiến đồng với Thiền Chứng và đạt được Thắng Trí cùng với Phạm Trú Pháp, nên cũng sanh đặng về Cõi sắc giới.

Như vậy, với sự phát triển như Thiền còn đề mục hình tướng, hình sắc mà chứng đắc được thiền … . Cho nên mới gọi là Phạm Thiên Sắc Giới.

3)   Cõi Vô Sắc (Arūpāvacarabhūmi):

Là nơi chốn mà chúng sanh nương sanh nương ở không có hình sắc, chỉ có Tâm thức mà thôi. Hay là chỉ có Danh Uẩn mà không có Sắc Uẩn. Do các Bậc này tu tiến đề mục Thiền không có Sắc Tướng. Các vị Phạm Thiên Vô Sắc khi đã sanh lên Cõi này là do mãnh lực Tu Tiến Ly Tham, Ly Hỷ trong Sắc, nghĩa là các vị này đã đạt được thành tựu do tu đề mục Thiền không có sắc, tức đề mục vô hình tướng, nên mãnh lực ấy thúc đẩy đặng sanh về Cõi Vô Sắc, đây cũng gọi là Phạm Thiên Vô Sắc.

Theo Pāli có chú giải như sau:

Arūpassa bharoti = Arūpaṃ: Cõi nào là nơi phát sanh Thức Vô Sắc và phiền não Vô Sắc thì nơi đó gọi là Cõi Vô Sắc.

Cõi Vô Sắc có 4: Không Vô Biên Xứ Thiên, Thức Vô Biên Xứ Thiên, Vô Sở Hữu Xứ Thiên và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên.

B.   CÕI PHÂN THEO 4:

1 là Cõi Khổ Thú        (Apāyabhūmi) có 04 cõi.

2 là Cõi Dục Lạc         (Kāmasugatibhūmi)     có 07 cõi.

3 là Cõi Sắc Giới (Rūpāvacarabhūmi)            có 16 cõi.

4 là Cõi Vô sắc Giới (Arūpāvacarabhūmi) có 04 cõi.

C.   CÕI PHÂN THEO 9 (Cửu Hữu – Bhāva):

1 là Cõi Dục Giới (Kāmāvacarabhūmi) có 11 cõi.

2 là Cõi Sắc Giới (Rūpāvacarabhūmi)            có 16 cõi.

3 là Cõi Vô Sắc Giới (Arūpāvacarabhūmi) có 04 cõi.

4 là Cõi Ngũ Uẩn        (khandhapañcakabhūmi) có 26 cõi.

tức là Cõi Dục Giới và Sắc Giới Hữu Tưởng.

5 là Cõi Nhất Uẩn tức là Cõi Vô Tưởng (Khandha ekabhūmi) có 01 cõi.

6 là Cõi Tứ Uẩn tức là những Cõi Vô Sắc (Khandhacātukabhūmi) có 04 cõi.

7 là Cõi Hữu Tưởng, tức là 29 Cõi (trừ Vô Tưởng và PTPPT) có 29 cõi.

8 là Cõi Vô Tưởng (Asaññasattabhūmi) có 01 cõi.

9 là Cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng (Nevasaññānāsaññayatanabhūmi) có 01 cõi.

D.   CÕI PHÂN THEO dạng chúng sanh nương sanh, nương ở (sattavāsa) CÓ 9:

1.         Là Thân Dị Tưởng Dị (Sattā nānattakāyanānattasaññino) như là nhân loại cũng có hạng chư Thiên và Ngạ Quỷ.

2.         Là Thân Dị Tưởng Đồng (Sattā nānattakāyekattasaññino) như là Sơ Thiền Phạm Thiên tư tưởng giống nhau mà Thân khác nhau.

3.         Là Thân Đồng Tưởng Dị (Sattā ekattakāyanānattasaññino) như là Chư Thiên Quang Minh ở Cõi Tứ Thiên Vương (ābhassāra).

4.         Là Thân Đồng Tưởng Đồng (Sattā ekattakāyekattasaññino) như là chư Thiên Mỹ Lệ (Subhakiṇha) ở Cõi Tam Thiên.

5.         Là Vô Tưởng Vô Thọ (Sattā asaññino appaṭisaṃvedino), tức là chúng sanh Cõi Trời Vô Tưởng  (Asaññasatta).

6.         Là Không Vô Biên Xứ (Sattā ākāsānañcāyatanūpagā), tức là chúng sanh Cõi trời Vô Sắc Không Vô Biên Xứ.

7.         Là Thức Vô Biên Xứ (Sattā viññāṇañcāyatanūpagā), tức là chúng sanh Cõi Trời Thức Vô Biên Xứ.

8.         Là Vô Sở Hữu Xứ (Sattā ākiñcaññayatanūpagā), tức là chúng sanh Cõi trời Vô Sở Hữu Xứ.

9.         Là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (Sattā nevasaññānāsaññāyatanūpagā), tức là chúng sanh Cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.

E.   CÕI PHÂN THEO 31 (rộng):

1 là Địa Ngục hay Âm Ngục (Nirayo).

2 là Bàng Sanh                                    (Tiracchāna).

3 là Ngạ Quỉ hay Quỉ Khổ      (Peta).

4 là Atula                                            (Āsurā).

5 là Nhân Loại                                    (Manussā).

6 là Tứ Thiên Vương              (Catamāharajika).

7 là Đạo Lợi Thiên                  (Tettimsā).

8 là Da Ma Thiên                    (Yāmā).

9 là Đấu Xuất Thiên                (Tusitā).

10 là Hóa Lạc Thiên                (Nimmānaratī).

11 là Tha Hóa Tự Tại Thiên    (Paranimmitavasavatti).

12 là Phạm Chúng Thiên         (Brahma parisajjā).

13 là Phạm Phụ Thiên                (Brahmapurohita).

14 là Đại Phạm Thiên              (Mahābrahmā).

15 là Thiểu Quang Thiên         (Parittābhā).

16 là Vô Lượng Quang Thiên (Appamānābhā).

17 là Biến Quang Thiên (Quang Âm Thiên) (Ābhassārā).

18 là Thiểu Tịnh Thiên            (Parittasubhā).

19 là Vô Lượng Tịnh Thiên    (Appamānasubhā).

20 là Biến Tịnh Thiên              (Subhakiṇhā).

21 là Quảng Quả Thiên                       (Vehapphalā).

22 là Vô Tưởng Thiên                         (Asaññasattā).

23 là Vô Phiền Thiên              (Avihā).

24 là Vô Nhiệt Thiên              (Atappā).

25 là Thiện Kiến Thiên                        (Sudassā).

26 là Thiện Hiện Thiên                        (Sadassī).

27 là Sắc Cứu Cánh Thiên      (Akānitthā).

28 là Không Vô Biên Xứ Thiên          (Akāsānañcāyatana).

29 là Thức Vô Biên Xứ Thiên            (Viññānañcāyatana).

30 là Vô Sở Hữu Xứ Thiên    (Akincaññāyatana).

31 là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên (Nevasaññānāsaññayatana).

Mô tả chi tiết:

1)   Cõi Địa Ngục hay Âm Ngục (Nirayobhūmi):

Là nơi chốn, chỗ ở, nương sanh, nương nhờ, mà không bao giờ có sự hạnh phúc an vui, bất hạnh, lại phải chịu sự khổ não vô cùng vô tận, liên tục không gián đoạn rất kinh hãi khủng khiếp. Đây là nơi mà kẻ tạo nghiệp ác do lòng “Tham Dục Ác, Sân Hận Ác, Si Mê Ác” thúc đẩy những hành động:

– Cướp bóc của Tam Bảo,

– Phỉ báng Phật, Thánh Tăng, chỉ trích Giáo Pháp,

– Giết hại Cha Mẹ,

– Dùng cách chia rời tăng chúng v.v… .

Những kẻ ấy sẽ bị thiêu đốt trong địa ngục vô số kiếp, đây là đại trọng tội. Ngoài ra còn các Cảnh khổ, hình phạt khác cũng thuộc về Địa Ngục.

Theo Pāli có chú giải như sau:

Natthi ayo etthati = Nirayo: Sự an vui không có nơi đây, nên gọi là Địa Ngục.

2)   Cõi Bàng Sanh (Tiracchānabhūmi):

Là Cảnh giới của loài Thú, chúng không đi thẳng lưng như người, mà thuộc những loài đi lưng nằm ngang, nên gọi là Bàng Sanh. Hạng chúng sanh này cũng đau khổ quá nhiều do tạo nghiệp ác vì trước kia “giết hại lẫn nhau”. Hay nói cách khác, chúng sanh mà gọi là bàng sanh có thân hình đầu đuôi ngang nhau (khi đi).

Theo Pāli chú giải như vầy:

Tiraccañlantīti = Tiracchāna: Những loại đi lưng nằm ngang nên gọi là Bàng Sanh tức là: Phi cầm, tẩu thú, kình ngư, vi trùng v.v… .

3)   Cõi Ngạ Quỉ hay Quỉ Khổ hoặc Quỉ đói (Petabhūmi):

Là Cảnh giới của những chúng sanh hằng chịu đau khổ bằng “sự đói khát”. Nghĩa là hạng chúng sanh này lấy sự đói khát làm sự sống, tức kiếp sống luôn luôn trong trạng thái đói và khát rất khổ sở, đây là hình phạt của nghiệp ác trước kia là thiếu nhân bố thí do Tâm quá bỏn xẻn. Cảnh giới Ngạ Quỉ không có riêng biệt, bởi chúng sống trong rừng, bụi cây, hay những chỗ nhấp nhô, mô đất v.v … . Ngạ Quỉ có nhiều hình thù xấu xí dị tướng, xấu xa đáng ghê sợ. Nhưng mắt người không thể thấy được. Theo trong kinh tạng có 24 hạng Ngạ Quỉ, Ngạ Quỉ có hạng cũng có thể hưởng được Phước báo của Thân quyến khi được hồi hướng đến họ, và cũng có loại không hưởng được. Nhắc lại nguyên nhân sanh làm Ngạ Quỉ vì tiền kiếp không bao giờ họ làm việc bố thí và các điều Phúc Hành Tông khác, bởi họ có Thường Cận Y là Tâm quá lận sắt tức quá bỏn sẻn.

Theo Pāli có chú giải như sau:

Cukhasamussayato pākatthaṃ entīti = Peta: Vì xa lìa tất cả sự vui, nên gọi là Quỉ Khổ hay Ngạ Quỉ tức Quỉ đói.

4)   Cõi Atula (Āsurābhūmi):

Là Cảnh giới của những người Tâm tánh hung dữ. Đây là những hạng chúng sanh không có hạnh Phúc, không có hào quang, bất hạnh lấp đầy, tức là không có cơ hội tiến hóa sáng suốt, chẳng mấy gì tự do nên gọi là Atula sa đọa. Có nơi còn gọi là Thần Quỉ Dữ. Atula có 3 hạng: Địa Atula, Nhân Atula, Thiên Atula.

  • Địa Atula là: Hạng quỉ dữ về phần thấp, đây chỉ những Quỉ hung ác.
  • Nhân Atula là: Hạng Atula sa đọa hay bị đọa đày, có khi là những vị dũng cảm, chiến sĩ trung can chết nơi trận mạc, chiến trường, cũng gọi là Thần.
  • Thiên Atula: Đây chỉ hạng Atula hay chống đối với Chư Thiên ở Cõi Đạo Lợi, hạng Atula này có nhân Pháp Bố Thí, nên gọi là Thiên Atula.

Theo Pāli có chú giải như sau:

Na suganti essariyakīḷādihi na dibbantīti = Āsurā: Những hạng không tiến hóa sáng suốt, chẳng mấy gì tự do, cho nên gọi là Atula (Tàu dịch là Thần Quỉ Dữ).

5)   Cõi Nhân Loại (Manussābhūmi):

Đây là Cảnh Giới của 4 dạng người nương, ở 4 nơi như: Nam Thiện Bộ Châu, Bắc Cu Lô Châu (Bắc Câu Lưu Châu), Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu.

Theo phần chú giải của Paramatthajotika mahā abhidhammatthasaṅgaha ṭikā, paṇṇāsa aṭṭhakathā có giải thích như sau:

Tính theo vị trí của bốn châu là lấy trung tâm điểm của đỉnh Tu Di Sơn (Sineru). Tu Di sơn thành tựu với bảy loại ngọc báu. Còn bốn mặt hay bốn hướng của núi Tu Di:

– Hướng đông là bạc.

– Hướng bắc là vàng.

– Hướng tây là ngọc pha lê.

– Hướng nam là ngọc bích.

Chính vì thế màu nước trong bốn đại dương của bốn đại châu là màu xanh da trời, màu lá cây do xuất phát từ ánh sáng nơi triền núi của núi tu di, tức là do ánh sáng của vật báu nơi hướng núi Tu Di ấy, khiến ảnh hưởng màu đến đại châu đó:

1 là Nam Thiện Bộ Châu (Jambūdīpa):

Nam Thiện Bộ Châu nằm theo hướng nam của núi Tu Di, triền núi là Ngọc bích – nên màu nước đại dương là màu xanh lục (xanh lá cây), bầu trời là màu xanh dương. Người Nam Thiện Bộ Châu có ba đặc điểm thù thắng hơn người Bắc Cu lô châu và chư thiên Đạo Lợi là:

a.         Dũng cảm (Surabhāva): Nghĩa là có tâm dũng cảm trong việc hành thí (xả thí, trì giới và tu tiến).

b.         Chánh niệm (Satimanta): Nghĩa là có niệm vững chắc.

c.         Sống đời phạm hạnh (Brahmacariyavāsa): Nghĩa là người nhân loại Nam Thiện có cuộc sống thực hiện phạm hạnh được, hay là xuất gia được (xuất gia hình thức và xuất gia tâm lý, tức chí nguyện vượt thoát tam giới).

Nhân loại Nam Thiện Bộ Châu về thọ mạng được tính từ mười đến vô số tuổi (tức 1 và 140 số không – tuổi).

Về hình dạng khuôn mặt thì người Nam Thiện Bộ Châu (Diêm Phù Đề) có hình dáng như bánh xe bò hay quả trứng.

2 là Bắc Cu Lô Châu (Bắc câu lưu châu – Uttarakurudīpa):

Bắc Cu Lô Châu nơi ấy màu nước trong đại dương là màu xanh lục (xanh lá cây), bầu trời có màu vàng vì triền núi hướng bắc của Tu Di sơn (Sineru) bằng vàng. Người Bắc Cu Lô Châu có ba đặc điểm thù thắng hơn người Nhân loại và chư thiên đạo lợi là:

a.         Không chấp vàng bạc là của mình.

b.         Không luyến tiếc chấp vợ con hoặc chồng của ta.

c.         Có thọ mạng đến một ngàn (1000) năm tuổi.

Người Bắc Cu Lô Châu thường có giới tự nhiên tức là tự gìn giữ năm giới một cách tốt đẹp mà không nguyện thọ.

Về hình dạng khuôn mặt thì người Bắc Cu Lô Châu có dạng hình tứ giác.

3 là Đông Thắng Thần Châu (Pubbavidehadīpa):

Màu nước đại dương của Đông thắng là màu xanh dương (màu bầu trời), màu lá cây là màu trắng vì triền núi hướng đông Tu Di sơn bằng bạc. Nhân loại Đông Thắng tuổi thọ trung bình là 700 tuổi cho đến vô số tuổi.

Về hình dạng khuôn mặt thì người Đông Thắng Thần Châu có hình dạng trăng tròn.

4 là Tây Ngưu Hóa Châu (Aparagoyānadīpa):

Châu Tây Ngưu có màu nước đại dương là màu xanh dương (màu bầu trời), màu lá cây có màu ngọc pha lê, vì châu này ở hướng Tây của núi Tu Di (Sineru) là màu ngọc pha lê. Nhân loại Tây Ngưu tuổi thọ trung bình là một ngàn cho đến vô số tuổi.

Về hình dạng khuôn mặt thì người Tây Ngưu Hóa Châu có hình dạng như trăng hình bán nguyệt.

Theo chú giải của Paramatthajotika mahā abhidhammatthasaṅgaha ṭikā, paṇṇāsa aṭṭhakathā có giải thích như sau:

Người ở Châu nào thì có khuôn mặt dạng Châu ấy.

Lưu Ý:

Nói về người nhân loại nương sanh, nương nhờ, nương ở Nam Thiện Bộ Châu (Jambūdīpa) thường được gọi là Cõi Nhân Loại. Bởi Châu này khi mà người nương có những trạng thái đặc biệt như: Tâm mở mang và dũng cảm.

Nên biết Nam Thiện Bộ Châu là một trong bốn Châu cũng thuộc về cõi nhân loại, mà chúng sanh nương sống, nương nhờ ở châu này thì gọi là người Nam Thiện Bộ Châu, bởi vì người nương ở đây do dị thục nhân thiện – bất thiện đã tạo nên đặng cảnh giới có hạnh phúc, lẫn khổ não hay là nơi nương của chúng sanh mà vừa an lạc, vừa bất hạnh. Châu thuộc cõi này (nhân loại) là nơi dễ phát triển thiện lành và đồng thời cũng làm lui sụt bởi các hành động ác xấu. Tuy nhiên, về sự phát huy đến cách sáng chói của Trí Tuệ, giải thoát, thì chính người nương Châu Nam Thiện cõi Nhân loại là nơi làm dịp cho việc đó.

Theo truyền thuyết và truyền thống của Ấn Độ thời cổ, thì danh từ Manussānaṃ là vị Đạo Sĩ, người khởi đầu của loài người. Nhưng trong giáo lý của Đức Phật, thì Manussānaṃ là loại chúng sanh thông minh có sự tiến hóa. Ở điều này, nói theo Tâm Tái Tục thì khi sanh nương Cõi Nhân Loại Nam Thiện Châu phải bằng các thứ Tâm như:

  • Tâm Thẩm Tấn Quả Thiện Vô Nhân, tái tục bằng tâm này được gọi là Người Lạc Vô Nhân, tức là không có nhân tương ưng phối hợp khi tái tục, được tính vào sát na sanh của tâm ban đầu của kiếp sống đó.
  • Tâm Đại Quả bất tương ưng Trí, tái tục bằng tâm này được gọi là Người Nhị Nhân, tức là vào sát na của tâm tái tục chỉ có hai nhân tương ưng: Nhân vô tham và vô sân.
  • Tâm Đại Quả Tương Ưng Trí, tái tục bằng tâm này được gọi là Người Tam Nhân, tức là có đầy đủ ba nhân tương ưng thiện: Vô tham, vô sân, vô si câu sanh chung với sát na sanh của tâm tái tục.

Như vậy, chúng ta thấy tính chất rõ ràng của chúng sanh – sanh tử luân hồi khi nương sanh, nương ở, nương nhờ cõi Nhân Loại thì phải có Tâm tái tục là Quả Thiện như vừa kể trên, chớ chẳng phải huyền tượng – mơ hồ về khởi thủy của loài người. Bởi chúng sanh luân hồi theo Tam Luân là: Phiền Não, Nghiệp và Quả luân hồi, nếu sanh lại Cõi Nhân Loại, tức loài người thì ắt phải tạo các nhân Thiện mới đặng quả lành.

Đặc biệt nói riêng về người Nhân loại nương sanh, nương ở Nam Thiện Bộ Châu, có nhiều ý nghĩa như sau:

– Ý nghĩa thứ nhất (Manussā): Vì có Tâm mở mang và dũng cảm.

Ở đây nên nhận định trạng thái tâm của người Nam Thiện Bộ Châu có phần khác hơn 3 Châu kia, vì do dị thục nhân thiện, bất thiện đan xen nên dị thục quả cũng trổ sanh tương đồng như thế, tức là trong đời sống bình nhật người Nam Thiện Bộ Châu thường sử dụng sự dũng cảm, sự vượt trội về cả hai mặt là phần thiện và phần ác.

Như chúng ta thấy:

  • Về phần thiện: Những người nương ở Châu này thuộc Cõi Nhân Loại có nhiều điều kiện, khả năng tu tiến Tam phước, Thiền Định hay đặng quả Chuyển luân vương, cho đến đắc Thánh hữu học, Thinh văn, Đại thinh văn, Chí thượng thinh văn, Độc Giác và Chánh Đẳng Giác.
  • Về phần ác: Trái ngược với phần trên cũng chính ở Châu này, người Nhân loại bởi do nghiệp bất thiện và sự lấn áp của phiền não luân hồi nên hành xử các đại trọng tội như giết cha, giết mẹ, giết Alahán, làm Phật chảy máu và chia rẻ tăng chúng, cùng với các trọng tội khác, mà 3 Châu còn lại thì không có những hành vi như vậy.

Theo Pāli có chú giải như sau:

Mano ussannaṃ etesanti = Manussā: Vì có Tâm mở mang và dũng cảm nên gọi là Nhân Loại Nam Thiện Bộ Châu.

– Ý nghĩa thứ hai (Manuso): Vì hiểu biết – điều nên làm và không nên làm.

Ở đây nguyên nhân người Nam Thiện Bộ Châu thường có sự hiểu biết thích hợp theo trạng thái tự nhiên (Dhammajāti) mà không cần có sự chỉ dẫn như khi thấy cây Xoài nghĩ biết ngay sanh từ hột Xoài. Thấy cây Sầu riêng cũng nghĩ biết ngay sanh từ giống Sầu riêng v.v… Hay là cây Xoài sanh ra từ hột Xoài chứ không phải sanh ra từ hột Sầu riêng và ngược lại … .

Các pháp hữu vi hoặc những trạng thái trong thế gian này, loài người nương Nam Thiện Bộ Châu thường nhận ra những nguyên nhân sai biệt, khi gặp những sự vật hoặc sự việc thường dùng sự suy xét đơn giản hay cao siêu cũng tìm hiểu theo từng nguyên do, nguyên nhân mà phát sanh sự việc từ vật ấy – việc đó.

Theo Pāli có chú giải như sau:

Kāraṇāranaṃ manatijanātīti = Manusso: Vì hiểu biết – điều nên làm hay không nên làm. Hoặc có sự suy xét, tìm hiểu theo từng nguyên nhân sai biệt từ vật ấy, việc kia, nên đặng gọi Người Nam Thiện Bộ Châu.

– Ý nghĩa thứ ba (Manussaṃ): Vì hiểu biết – những điều lợi ích và không lợi ích. Trước trình bày những điều lợi ích

Ý nghĩa sự lợi ích, tức là do nhận định hai loại lợi ích – lợi ích hiệp thế và lợi ích siêu thế:

  • Lợi ích hiệp thế đây là lợi ích còn sanh tử, bởi bản chất pháp bám thủ danh lợi, địa vị, khen tặng (tán thán) an lạc mà còn nhốt để trong lao (Tam Giới), hoặc luôn đến tài sản nhân loại, tài sản chư thiên, tài sản phạm thiên.
  • Lợi ích siêu thế đây là lợi ích thoát tục, không còn ràng buộc, vượt thoát ngoài Tam Giới – Không còn khổ sanh, khổ già, khổ bệnh, khổ tử, khổ địa ngục, khổ Ngạ quỉ, khổ bàng sanh, khổ Atula. Sự nhận định bởi tri kiến sáng suốt đạt tri pháp, mà những Bậc phàm nhân Minh triết sáng suốt đã nhận ra và quyết chí tu tiến để vượt thoát khỏi hiệp thế hoặc là các Bậc Thánh 4 Đạo 4 Quả đang và đã tỏ ngộ, tỏ rõ chân lợi ích siêu thế.

Kế đến, nói về phần không lợi ích:

Người Nam Thiện Bộ Châu có sự hiểu biết rằng: Trong thời bình nhật dùng thân, khẩu, ý như vầy sẽ tốt – đặng quả lành. Dùng thân, khẩu, ý như vầy không tốt – ắt gặp quả xấu, như là giết người sẽ bị tù tội, trộm cắp sẽ bị giam cầm, nói dối sẽ bị khinh khi v.v… .

Theo Pāli có chú giải như sau:

Atthānatthaṃ manati jānati = Manusso: Người Nam Thiện Bộ Châu gọi là Manussa, vì hiểu biết điều lợi ích và không lợi ích.

– Ý nghĩa thứ tư (Manussa): Vì hiểu biết – điều thiện, điều bất thiện.

Ở đây ý nghĩa của sự hiểu biết nên hiểu như vầy là sự hiểu biết thường thức hay hiểu biết cao siêu, bởi thường chúng sanh có tam thân hành là: Thân hành, khẩu hành và ý hành. Ba hành này được chúng sanh nương ở Nam Thiện Bộ Châu nhận ra có lợi ích hoặc không có lợi ích, nghĩa là nói theo Thực Tính Pháp (Dhammasabhāva) là trạng thái thiện hay trạng thái bất thiện. Vì người nương ở Châu này nhận hiểu ra rằng: Thân hành, khẩu hành, ý hành câu sanh, tương ưng với Tín, Giới, Thí, Tu tiến là thiện cho quả lành, còn thân hành, khẩu hành, ý hành câu kéo hòa trộn liên hệ với mười ác hạnh (sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời hung dữ, nói nhãm nhí, Tham ác, sân ác, tà kiến ác) là bất thiện – cho quả dữ.

Theo Pāli có chú giải như sau:

Kusalākusalaṃ manati jānātīti = Manusso: Người Nam Thiện Bộ Châu gọi là Manussa vì hiểu biết điều thiện, điều bất thiện.

Như Vậy:

Những ý nghĩa vừa nêu trên, trình bày cho chúng ta thấy Người trong ba châu kia (Bắc Cưu, Đông Thắng, Tây Ngưu) cho đến chư thiên lẫn Phạm thiên, mặc dù có sự hiểu biết trong điều thiện và bất thiện nhưng ít hơn, không so sánh bằng Người Nam thiện bộ châu. Bởi lẽ, người ở Châu Nam thiện này gọi là Manussa do có cách nhận định vì hiểu biết:

Nhân thích hợp và không thích hợp.

Điều lợi ích và không lợi ích.

Điều thiện và điều bất thiện.

Như trong Tăng Chi Bộ Kinh (Navakanipāta aṅguttara), Đức Thế Tôn có giảng dạy rằng: “Tīhi bhikkhave thānehi jambudīpakā manussa vittarakuruke manusse adhigaṇhanti deve ca tāvatiṃ se katamebi tīhi tihānehi? Sūrā ca catimanto ca idha brahmacariyavaso cāti”

Nghĩa là:

“Này chư Phích Khú – (Bikkhu) ! Những người ở Châu Nam Thiện thuộc cõi Nhân loại thù thắng hơn những người ở Bắc Cu Lô Châu và chư thiên Đạo lợi với ba điều. Thế nào là ba? Tức là sự dũng cảm, có chánh niệm vững và sống đời phạm hạnh được.”

Sang phần trình bày về sáu cõi Trời Dục Giới

Cõi Trời hay cõi trời dục, hoặc còn gọi là cõi Chư Thiên dục giới là những chúng sanh khi nương sanh nương ở được hưởng ngũ dục lạc, thiên phước.

  • Dục giới: Là nơi chốn hay cảnh giới còn sắc dục, thinh dục, khí dục, vị dục, xúc dục, tức là còn phần vật chất phàm tục v.v… .
  • Cõi Trời Dục giới là nơi mà chúng sanh khi nương ở đây, được gọi là chư thiên và đặng hưởng đầy đủ dục lạc vật chất thiên giới.
  • “Chư thiên” hay “Deva” có chín nghĩa và ba loại như sau:

Chữ “Thiên” hay là chữ “Trời”, có chín nghĩa (Cửu nghĩa Thiên) như sau:

1) Thiên có nghĩa là chơi (Kilr).

2) Thiên có nghĩa là hy vọng thắng (Vijignsa).

3) Thiên có nghĩa là nói năng văn chương (Yavahāra).

4) Thiên có nghĩa là thạnh mậu tốt (Jut).

5) Thiên có nghĩa là khen ngợi (Thuti).

6) Thiên có nghĩa là người thương cảm kẻ khác (Kanti).

7) Thiên có nghĩa là đường đi, sự đi (Gati).

8) Thiên có nghĩa là đủ sức (Satti).

9) Thiên có nghĩa là tự chủ (Tā).

Lại nữa, Chư Thiên (Deva) có ba loại:

1.    Chế định chư thiên (Sammutideva):

Đây là chỉ cho danh nghĩa đức vua, hoàng hậu, thái tử, công chúa.

2.    Chư thiên và Phạm thiên (Upattideva):

Là ám chỉ chung cho các vị trời ở cõi lục dục thiên và chư phạm thiên ở sắc giới, vô sắc giới.

3.    Tịnh chư thiên (Visuddhideva) hay còn gọi là Thanh tịnh chư thiên:

Đây là chỉ đến các bậc thật sự thanh tịnh đã đoạn tận phiền não, trừ tuyệt lậu hoặc, tức là các bậc Alahán.

Lục Dục Thiên đó là:

6)   Cõi Tứ Thiên Vương (Catamāharajikabhūmi):

Là nơi nương hay Cảnh Giới của Chư Thiên, dưới quyền cai quản của bốn (4) vị Thiên Vương. Đây là Cõi Trời Dục Giới Vui thấp nhất mà có bốn vị Thiên Vương rất lớn chủ quản. Bốn vị Thiên Vương ấy là:

1.   Trì Quốc Thiên Vương (Dhataraṭṭha), ở hướng đông núi Tu Di (Sineru), là Đức cai quản Càn Thát Bà (Gandhabba).

2.   Tăng Trưởng Thiên Vương (Viruḷhaka), ở hướng Nam núi Tu Di (Sineru), là Đức cai quản nhóm Chư Thiên bụng to (Kumbhaṇḍa).

3.   Quãng Mục Thiên Vương (Virūpakkha), ở hướng tây núi Tu Di (Sineru), là Đức cai quản loài rồng (Nāga).

4.   Đa Văn Thiên Vương (Kuvera, Vessuvaṇṇa), ở hướng bắc núi Tu Di (Sineru), là Đức cai quản nhóm Dạ Xoa (Yakkha).

Có những Pāli chú giải như sau:

  • Attāro harajāno = Catumāharajaṃ: Cõi có bốn vị chư thiên rất lớn chủ trị, nên gọi là Tứ Thiên Vương.
  • Lokaṃ pālentīti = Lokapālā cattāro mahārājāno: Chư thiên mà có oai lực hộ trì nhân loại, nên gọi là Chư thiên hộ thế và chính là các đức Tứ Đại Thiên Vương.

Lưu ý:

Những chúng sanh nào nương sanh nương ở cõi Tứ Thiên Vương được gọi là chư thiên tùy tùng, các vị ở đây dưới quyền lực của Tứ Đại Thiên Vương. Trong Sammohavinodāni aṭṭhakathā có giải rằng – Những vị chư thiên tùy tùng của bốn vị vua thiên vương (Cātumahārajika) là:

1.    Chư Thiên ngự ở núi (Pabbataṭṭhadevatā).

2.    Chư thiên ngự trên hư không (Ākāsaṭṭhadevatā).

3.    Chư thiên ở nơi say mê dục lạc, quên dùng vật thực rồi chết (Khiḍḍāpadosikadevatā).

4.    Chư thiên do sự sân hận đến chỗ chết (Manopadosikadevatā).

5.    Chư thiên làm mưa (Sītavalāhakadevatā).

6.    Chư thiên làm trời nóng (Uṇhavakāhakadevatā).

7.    Chư thiên trú trong mặt trăng (Candimadevaputtadevatā).

8.    Chư thiên trú trong mặt trời (Suriyadevaputtadevatā). Vấn đề này trong Kinh hôm – Kinh mai – Morafaritta – được Ngài Đại Ngài Trưởng Lảo Tịnh Sự có đề cập và nói lên ý nghĩa về niềm tin các vị chư thiên trú trong mặt trời, bằng lối văn lục bát như sau:

Mặt trời ánh sáng như vàng

Chiếu trong thế giới khắp tràng bốn châu.

Tự do soi cả đâu đâu

Là tròng con mắt hoàn cầu sanh linh.

Cho nên tôi mới nghiêng mình

Cúi đầu cung kỉnh tỏ trình ơn cao.

Các ngài luân chuyển cùng nhau

Thay phiên trị nhật vị nào ngày nay.

Chúng tôi ở dưới quyền nầy

Xin nhờ ủng hộ trọn ngày an vui.

Làm cho ác độc phai phui

Mặc dù oan trái mưu thù cũng hư.

Thiền tăng đạo sỉ các sư

Tu hành đắc phép hoặc cư xa gần.

Từ bi soi đến kẻ cần

Biết nay tôi kỉnh tự thân yêu cầu.

Xin nhờ quyền lực phép mầu

Ngăn ngừa những các nạn sầu ngày nay.

Phạm thiên tiên chúng các ngài

Thọ tôi kỉnh lạy hiện nay xin tường.

Bảo tồn khỏi sự bất lương

Trọn ngày cho đặng tránh đường họa tai.

Cúi đầu lạy cả Như Lai

Các hàng Bồ tát chư ngài Thánh Tăng.

Với cùng Pháp Bảo siêu thăng

Sớm mai nhớ tụng để ngăn các điều.

Nói theo nhóm thì chư thiên tùy tùng ở cõi Tứ Thiên Vương được chia thành ba nhóm:

1. Nhóm chư thiên ở địa cầu.

2. Nhóm chư thiên ở trên cây.

3. Nhóm chư thiên ngự nơi hư không.

Ngoài ra chư thiên ở cõi này, còn nương ngụ các nơi khác như sông, núi, biển, dưới đất, nhà, đền, tháp, miếu v.v… .

Riêng bốn vị thiên vương và một số chư thiên ngụ ở quanh khoảng giữa núi Tu Di (Sineru), có thiên cung riêng. Còn Chư Thiên địa cầu mà không có thiên cung riêng, trường hợp vị ấy nương ngụ ở nhà, núi, chùa chiền … thì cũng được coi nơi ấy là cung điện của mình. Tóm lại phần này có rất nhiều dạng chư thiên hạng có thiên cung và hạng không có thiên cung, hoặc hạng có thiên cung ở trên cây hay hạng ở trên cây mà không có thiên cung v.v… .

Điều cần biết thêm: Những hạng chư thiên nương ở cõi Tứ Đại Thiên Vương cũng có dạng Tâm hung dữ, phần này có bốn loại:

1.    Dạ xoa nam, dạ xoa nữ (Yakkho, Yakkhinī).

2.    Càn thát bà – nam, càn thát bà – nữ (Gandhabbo, gandhabbī).

3.    Cưu bàn trà – nam, Cưu bàn trà – nữ (Kumbhaṇḍo, kumbhaṇḍī).

4.    Long vương – nam, long vương – nữ (Nāgo, nāgī).

Như vậy:

Cõi mà có bốn vị chư thiên rất lớn cai quản các vị chư thiên khác (tùy tùng chư thiên) như: Chư thiên ở địa cầu, ở trên cây, ngự nơi hư không hoặc chư thiên dạ xoa, chư thiên càn thát bà, chư thiên cưu bàn trà, chư thiên long vương, thì nơi đó gọi là cõi Tứ Đại Thiên Vương. Về thời gian:

–     Một ngày một đêm ở cõi này bằng năm mươi (50) năm cõi người (Người Nam Thiện Bộ Châu).

–     Thọ mạng thiên đến năm trăm (500) tuổi, tức bằng chín triệu (9.000.000) năm cõi nhân loại Nam Thiện.

7)   Cõi Đạo Lợi Thiên (Tāvatimsabhūmi, Tettimsābhūmi):

Đây là Cảnh Giới của Chư Thiên hay chỗ nương của ba mươi ba (33) vị trời làm chủ, mà trong đó Đức Đế Thích là đứng đầu. Do đó, cõi này còn được gọi là cõi Tam Thập Tam Thiên, tức ba mươi ba (33) vị kể luôn Đức Đế Thích SAKKA làm vua. Tục gọi cõi này là cõi Ngọc Hoàng Thượng Đế. Thật ra cõi Đạo Lợi Thiên là nơi nương sanh, nương ở, nương nhờ do phần phước của chàng thanh niên Magha hướng dẫn 32 vị thanh niên khác làm những công việc từ thiện, phục vụ cho người bị thiên tai, đắp đường, làm cầu v.v… cũng vì phước ấy, sau khi chết được sanh về cõi này và đồng cai quản cõi ấy (Nhân Thiện Quả Lành).

Có Pāli chú giải như sau:

  • Sakkañca dānaṃ dadātīti = Sakko: Gọi Trời Đế Thích bởi hạnh đứng đầu là bố thí với tâm cung kính.
  • Asure jetuṃ sakkunātīti = Sakko: Gọi vua trời Đế Thích do bởi năng lực và khả năng chiến thắng Atula dữ (Asura).
  • Tettimsājanānibbattanti etthāti = Tettimsā: Cõi mà có 33 vị sanh lên làm vua, nên gọi là Tam Thập Tam Thiên (Đạo Lợi Thiên) là cõi trời 33 vị vua, tục gọi là cõi Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Người muốn trở thành Đức Đế Thích – vị cai trị lớn nhất ở Đạo Lợi Thiên, ngoài những việc thiện lành đã nêu trên còn cần phải thực hành hội đủ bảy Pháp như sau:

một.     Nuôi dưỡng cha mẹ.

hai.        Tôn kính bậc trưởng thượng trong gia tộc.

ba.         Nói lời cam ngôn, dịu ngọt, êm dịu … .

bốn.      Không nói lời đâm thọc, hai lưỡi (lưỡng ngữ – ly gián ngữ v.v…).

năm.     Không bỏn xẻn, tức là: Không bỏn xẻn chỗ ở, giồng giống, lợi lộc, sắc đẹp, pháp.

sáu.       Có sự chân thật tức là ngăn hay trừ vọng ngữ, tránh khẩu ác, thoái lui, thoái thoát ác ngữ, không làm khẩu nghiệp ác và có năm ân đức bậc hiền triết: Tín, niệm, tàm, úy, thiểu dục.

bảy.      Chế ngự được Tâm sân hận (lòng từ, tức có chánh niệm tỉnh táo và Tâm mát mẽ).

Như vậy:

Đạo lợi Thiên là nơi hưởng phúc của chư thiên, mà trong đó có ba mươi ba vị chủ trị. Khi xưa Đức Phật giảng Vô Tỷ Pháp Tạng (Abhidhammapiṭaka) cũng tại cõi này, cho chư thiên nghe trong hạ thứ bảy (tính từ lúc Đức Bồ Tát đắc thành quả Phật). Về thời gian:

– Thọ mạng thiên cõi Đạo Lợi là một ngàn năm tuổi, tức tính theo thời gian nhân loại là ba mươi sáu triệu (36.000.000) năm tuổi.

– Một ngày một đêm cõi Đạo lợi bằng một trăm (100) năm cõi nhân loại Nam Thiện Bộ Châu.

8)   Cõi Dạ Ma Thiên (Yāmābhūmi):

Cõi Dạ Ma là âm từ chữ Pāli “Yāmābhūmi” (Da Ma), là cảnh giới hay chỗ nương nhờ của Chư Thiên được nhiều sự an vui, xa những phần khổ thông thường. Hay là Cảnh giới của các vị trời Da Ma, nơi mà sự khổ đau thông thường không có và có sự vui sướng theo phúc thiện đã tạo.

Được Pāli chú giải như sau:

  • Yāmānaṃ nivāsā = Yāmā: Có sự vui sướng theo Tiên, xa lìa khó khăn, nên gọi là Da Ma (Yāmā).
  • Dukkhato yātā apagatāti = Yāmā: Chúng sanh nương ở cõi này vì đã viễn ly sự nóng bức (phần tâm thông thường), nên gọi là chư thiên Da ma.
  • Dibbasukhaṃ yātā payātā sampattati = Yāmā: Có nghĩa là chúng sanh nào sanh về đây, thì vị tiên nhân ấy đạt đến thiên lạc đặng nhiều an vui, xa phần khổ thông thường.

Như vậy:

Dạ ma thiên là nơi mà các vị chư thiên sống sung sướng hỷ lạc, có phần tiêu sự khổ đau thông thường. Về thời gian:

– Thọ mạng thiên cõi Da ma là hai ngàn năm tuổi, tức tính theo thời gian nhân loại là bốn mươi bốn triệu (44.000.000) năm tuổi.

– Một ngày một đêm cõi Dama bằng hai trăm (200) năm cõi nhân loại Nam Thiện Bộ Châu.

9)   Cõi Đấu Xuất Thiên (Tusitābhūmi):

Cõi Đấu Xuất Thiên là nơi nương của các vị trời thọ hưởng quả phúc nhất là quả phúc của Ba La Mật (Pārāmī), điều đặc biệt là các vị Bồ Tát áp chót tức trước khi đắc thành Chánh Đẳng Giác thì các vị ấy tái tục lên đây để chờ dịp hay cơ hội đầy đủ căn duyên liền tái tục kiếp chót tại cõi Nhơn Loại (Nam Thiện Bộ Châu) để hành và thành tựu chứng quả Phật Toàn Giác.

Hay nói cách khác, đây là Cõi Chư Thiên sống sung sướng hỷ lạc và đồng thời là chỗ nương hay cảnh giới thuận lợi cho các vị bồ tát sắp đắc thành Phật Quả. Theo Chú giải thì hiện nay Đức Bồ Tát Mettaya hiện đang ở Cõi Trời này.

Được Pāli chú giải như sau:

  • Tusitanaṃ nivāsā = Tusitā: Nơi mà chư thiên đều hưởng sự vui mừng tự tài sản, điềm lành, nên âm trại là Đấu Xuất hoặc Đẩu xuất hay có khi gọi là Đâu xuất thiên.
  • Niccaṃ tusanti ettha nibbattā devati = Tusitā: Gọi Đâu xuất thiên vì các chư thiên ở cõi này hưởng phước thường có sự tươi vui – hỷ lạc, tức là mang lại sự hân hoan về các thiên sản, điềm lành, nên gọi là Đấu xuất thiên.

Như vậy:

Đấu xuất thiên cũng được gọi là cõi thù thắng bởi chư vị Bồ tát và các vị Bồ tát kiếp chót đều tái tục về đây để chờ dịp tái sanh về Nhân loại Nam thiện chứng đắc Đạo Quả nhất là Đức Bồ Tát kiếp chót sẽ thành Chánh Đẳng Chánh Giác cũng từ thọ hưởng thiên lạc nơi cõi Đấu xuất này, mới sanh về cõi nhân loại chứng đắc quả vô thượng. Chính cõi Đấu xuất này thù thắng hơn cõi trời khác (trong – Anāgatavaṃsa aṭṭhakathā). Về thời gian:

– Thọ mạng thiên cõi Đấu xuất thiên là bốn ngàn (4.000) năm tuổi, tức tính theo thời gian nhân loại là năm trăm bảy mươi sáu triệu (576.000.000) năm.

– Một ngày một đêm cõi Đấu xuất bằng bốn trăm (400) năm cõi nhân loại Nam Thiện Bộ Châu.

10)   Cõi Hóa Lạc Thiên (Nimmānaratībhūmi).

Cõi Hóa Lạc Thiên là nơi nương của các vị trời khi nào muốn hưởng dục lạc thì tự hiện ra mà dùng. Hay là, Cảnh Giới của các vị Chư Thiên muốn hưởng ngũ dục tự hóa ra và sống hoan lạc trong những lâu đài tự tạo ra.

Theo Pāli có chú giải như sau:

  • Nimmānaratīnaṃ nivasa = Nimmānaratī: Chư Thiên thường tự hóa ra ngũ dục để hưởng, nên gọi là Hóa Lạc Thiên.
  • Yathā rucite bhoge sayameva nimminitvā nimminitvā ramati etthāti = Nimmānarati: Những chúng sanh nào tái tục trong cõi này khi muốn hưởng ngũ dục thì tự ý hóa ra theo ý thích của mình rồi vui thích hay thỏa thích trong các cảnh ấy. Vì vậy, Người nương cõi này được hưởng phúc thiên lạc theo ý nghĩa đã nêu, nên gọi chư thiên cõi hóa lạc.
  • Nói gọn lại thì có chú giải như vầy: Nimmānaratīnaṃ nivāsā = Nimmānaratī: Chư thiên nào được gọi là Chư thiên hóa lạc bởi do sự hoan hỷ thỏa thích trong ngũ dục thiên mà mình tự hóa ra để hưởng.

Như vậy:

Cõi các vị chư thiên mà khi muốn hưởng ngũ dục lạc mà tự hóa ra và sống hoan lạc trong những lâu đài tự tạo ra, thì cõi ấy gọi là Hóa Lạc Thiên. Về thời gian:

– Thọ mạng thiên cõi Hóa lạc là tám ngàn (8.000) năm tuổi, tức tính theo thời gian nhân loại là hai ngàn ba trăm lẻ bốn triệu (2.304.000.000) năm.

– Một ngày một đêm cõi Hóa lạc bằng tám trăm (800) năm tuổi cõi nhân loại Nam Thiện Bộ Châu.

11)   Cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên (Paranimmitavasavattibhūmi):

Đây là Cõi Trời cao nhất trong Cõi Dục Giới Vui, là nơi nương của các vị trời khi nào muốn hưởng 5 món dục lạc, tức thì có kẻ đem đến dâng. Hay là, cảnh giới hoặc cõi mà chư Thiên có đầy đủ phước báo khi muốn hưởng ngũ dục lạc thì có vị khác hóa ra để dâng cho, nhất là vị trời chúa cõi này, tức là Ma Vương (Cõi này là trú xứ của Ma Vương).

Có Pāli chú giải như sau:

  • Paranimmitavasavattinaṃ Nivāsā = Paranimmitavasavatti: Cõi mà chư Thiên hưởng ngũ dục vẫn có vị khác hóa ra, nên gọi là Tha Hóa Tự Tại. Cõi này có một vị là chủ lớn hơn hết, gọi là Ma Vương (Māra).
  • Attano ruciṃ ñatvā parehi nimmitesu bhogesu vasaṃ vatthanti etthāti = Paranimmitavasavatti: Chư vị tiên nhân tái tục trong cõi này thọ hưởng ngũ dục thiên từ nơi các vị trời khác biết được ý muốn đã hóa tạo ra cho. Vì vậy, cõi này có tên gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên.
  • Paranimmitavasavattīnaṃ bhogesu vasaṃ vattentīti = Paranimmitavasavattino : (hay nói cách khác) những chúng sanh nào sanh về tha hóa tự tại thiên, khi muốn hưởng dục lạc thì từ nơi chư thiên khác hóa tạo ra cho.

Như vậy:

Tha hóa tự tại thiên là cõi mà chư thiên có đầy đủ phước báo (do dị thục nhân thiện đã tạo nên), nên khi tái tục về đây, lúc muốn hưởng ngũ dục thì có vị khác hóa ra để dâng cho, nhất là vị trời chúa cõi này – Ma vương. Về thời gian:

– Thọ mạng thiên cõi Tha hóa tự tại là mười sáu ngàn (16.000) năm tuổi, tức tính theo thời gian nhân loại là chín ngàn một trăm hai mươi sáu triệu (9.126.000.000) năm.

– Một ngày một đêm cõi Tha hóa tự tại bằng một ngàn sáu trăm (1.600) năm tuổi cõi nhân loại Nam Thiện Bộ Châu.

Lưu Ý:

– Sáu cõi trời Dục vừa nêu trên (từ cõi Tứ Thiên Vương … đến Tha Hóa Tự Tại Thiên). Những vị chư thiên nương ở trong sáu cõi trời này còn hưởng vật dục lạc, nhưng có phần thanh nhã hơn cõi người. Điều hơn nữa là không có bịnh tật, vị nào hết tuổi thọ (thọ mạng thiên) phước báo không còn thì khiến tâm buồn bực rồi chết, giai đoạn này hay khi đó cũng tùy theo nghiệp quả mà sẽ tái sanh về cõi khổ hay cõi vui khác. Ở đây, còn vài điều mà chúng ta cần nên biết về chư thiên lục dục:

– Chư Thiên khi chết thân thể biến mất chớ không còn thi hài như người nhân loại Nam Thiện.

– Vì thuộc dạng hóa sanh, nên khi tái tục về các cõi trời lục dục thiên thì tự hiện ra thân hình trung bình cở thanh niên mười sáu (16) tuổi.

– Chư Thiên Dục giới không có sự da nhăn má hóp.

– Điều dể nhận được sanh về cõi Lục Dục Thiên là do nhân thiện – thành tựu quả tốt của các điều: Xả thí, trì giới, tu tiến v.v… mà làm duyên trợ sanh về cõi trời dục giới này.

– Từ số 1 đến số 4 là bốn (4) Cõi Khổ Thú. Những hạng chúng sanh ở 4 Cõi Khổ Thú đều tái tục bằng Tâm Thẩm Tấn quả bất thiện vô nhân và gọi chung là người Khổ Vô Nhân, những hạng người này do thường quen những hành động, hành vi theo Thập Ác (Sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói ác ngữ, nói chia rẽ (nói đâm thọc), nói nhãm nhí (vô bổ, vô ích), tham ác, sân ác, tà kiến ác). Do duyên ấy, nhân ấy bị đọa sanh vào 4 Cõi Khổ Thú.

– Từ số 5 đến số 11 gọi là Cõi Dục Giới Vui, gồm: Nhân loại và Chư Thiên ở Lục Dục Thiên tái tục bằng 8 thứ Tâm Đại Quả. Về hình tướng thì người nhân loại mỗi Châu có một hình dạng riêng biệt, nên mẩu người khác nhau … . Riêng Lục Dục Thiên, về phần hình sắc thì rất tế nhị hơn hình thể người, vì thế mắt người không trông thấy được. Về vật chất Dục lạc thì sướng hơn người, nhưng về trí tuệ thì không thể nào hơn được.

– Từ số 1 cho đến số 11 tức 11 Cõi vừa nêu trên, gọi chung là Cõi Dục Giới, nghĩa là Cõi ấy là nơi hưởng dục lạc do phần gốc rễ sanh từ nghiệp Tham Ái ngũ dục. Nên dễ phát sanh phiền não dục, vật chất dục và các Pháp Bất Thiện khác.

Vì vậy Cõi Dục Giới (Kārāvacarabhūmi) có Pāli chú giải như sau:

Kamassabhavoti = Kāmo: Cõi nào là chỗ sanh phiền não dục và vật chất dục, chỗ ấy nơi đó gọi là Cõi dục, hay còn gọi là cõi đa sân Dục Giới.

12)   Cõi Phạm Chúng Thiên (Brāhma parisajjābhūmi):

Đây là Cõi hay Cảnh giới của vị đắc Sơ Thiền mà tu theo Bậc Hạ nên sau khi tử sanh về đây, những vị sanh ra ở đây là đồ chúng của Đại Phạm Thiên (Mahabrahma). Vì vậy, Cõi này gọi là Phạm Chúng Thiên. Hay là những hạng thường dân ở tầng Sơ Thiền, tức Cõi Sơ Thiền bậc hạ.

Có Pāli chú giải như sau:

  • Parisati bhāvā = Parisajjā: Những hạng đồ chúng, hay thường dân ở tầng Sơ Thiền, nên gọi là Phạm Chúng Thiên.
  • Brahmānaṃ parisajjā = Brahmāparisajjā: Hạng chúng sanh sanh về cõi sơ thiền mà đi theo nghiệp thiền quả sơ thiền bậc hạ, hạng đó gọi là Phạm thiên đồ chúng của Đại Phạm Thiên. Hay là được gọi hạng Phạm chúng, tức tùy tùng của Đại Phạm Thiên.

13)   Cõi Phạm Phụ Thiên (Brahma purohitabhūmi):

Phạm Phụ Thiên, nơi mà những bậc có chức vụ cao, là bậc phụ trách của Đức Đại Phạm Thiên, tức Cõi Sơ Thiền Bậc Trung. Hay là Cảnh giới của những vị đã đắc Sơ Thiền mà tu theo cách vừa (hạng trung) nên sanh về Cõi này.

Theo Pāli có chú giải như sau:

  • Pure ucce thane ohanti etekhantīti = Purohitā: Bậc có chức phận là phụ tá cho Đại Phạm Thiên, nên gọi là Phạm Phụ Thiên.
  • Pure ucce tīhāne chanti tiṭṭhantīti = Purohitā: Phạm Thiên có chức vị, mà chức vị ấy là người phò trợ hay trợ tá cho Đại Phạm Thiên, nên gọi là Chư Thiên Phạm Phụ.
  • Pure ucce dhīyate thapiyatehi = Purohito: Người mà có chức năng làm việc sắp đặt hay cố vấn cho Đại Phạm Thiên nên gọi là Phạm Phụ Thiên.

14)   Cõi Đại Phạm Thiên (Mahābrahmābhūmi):

Đây là cõi hay Cảnh giới mà vị đã đắc Sơ thiền thuộc về Bậc Thượng, nên được hưởng sanh về đây, vị này được gọi là Đại Phạm ở Cõi Đại Phạm Thiên, vị ấy có hình thái hưởng nhiều an lạc hạnh phúc và sống lâu hơn các vị trong 2 cảnh giới: Phạm Chúng, Phạm Phụ. Hay là, Cõi Đại Phạm Thiên là Cảnh giới của các vị Đắc Sơ Thiền Bậc Thượng, mà đặng hưởng nhiều lợi lành do quả phước trong Thiền, như là thắng trí, tuổi thọ, dung sắc, an lạc, sức lực nhiều hơn nhân loại cùng với tất cả chư thiên Dục Giới

Như thế, vị Phạm Thiên đó với chức phận lớn hơn hết trong tầng Sơ Thiền nên gọi là Phạm Thiên Đại Phạm sơ thiền.

Có Pāli chú giải như sau:

  • Mahanto bhahma = Mahābrahmā: Ngôi Phạm Thiên lớn hơn hết trong tầng Sơ Thiền, nên gọi là Đại Phạm Thiên.
  • Mahatobrahmā = Mahābrahmā: Vị Trời trong cõi Phạm Thiên mà lớn hơn cả các vị khác, nên gọi là Đại Phạm Thiên, tức vị Phạm Thiên thù thắng đáng trọng hơn cả Phạm chúng và Phạm Phụ Thiên.

Như vậy:

Ba Bậc vừa kể: Phạm Chúng, Phạm Phụ và Đại Phạm (12, 13, 14) đều ở tầng Sơ Thiền.

Nói gọn lại:

Cõi nào là chỗ sanh, chỗ nương, chỗ tái tục cho hạng Phạm Chúng Thiên, cõi ấy gọi là cõi Phạm Chúng. Vị Phạm Thiên ở đây có hào quang phát ra xa một ngàn (1.000) đại thế giới (Thiên giới Phạm Thiên – Cakkavāḷa – Sahassabrahmā) và có tuổi thọ mạng thiên là sống đến 1/3 Đại kiếp.

Cõi nào là chỗ sanh, chỗ nương, chỗ tái tục cho hạng Phạm Phụ Thiên, cõi ấy gọi là cõi Phạm Phụ. Vị Phạm Thiên ở đây có hào quang phát ra xa hai ngàn (2.000) đại thế giới (Nhị Thiên giới Phạm Thiên – Cakkavāḷa – Sahassabrahmā) và có tuổi thọ mạng thiên là sống đến 1/2 Đại kiếp.

– Cõi nào là chỗ sanh, chỗ nương, chỗ tái tục cho hạng Đại Phạm Thiên, cõi ấy gọi là cõi Đại Phạm Thiên. Vị Phạm Thiên ở đây có hào quang phát ra xa ba ngàn (3.000) đại thế giới (Tam Thiên giới Phạm Thiên – Cakkavāḷa – Sahassabrahmā) và có tuổi thọ mạng thiên là sống đến 1 Đại kiếp.

– Thiên Giới Phạm Thiên: Chữ “thiên” đầu là một ngàn (1.000). Chữ “Thiên” sau là cảnh giới hay cõi.

15)   Cõi Thiểu Quang Thiên (Parittābhābhūmi):

Đây là Cảnh giới của những vị Phạm Thiên chứng Nhị, Tam Thiền Bậc hạ, những vị trời Cõi này có hào quang ít. Hay gọi là Thiểu Quang Thiên là nơi có những Bậc Phạm Thiên có hào quang ít hơn cấp trên, do lúc tu tập Nhị, Tam Thiền mà tiến hành theo cách thấp, nên khi đắc và sau đó đặng sanh về cõi Nhị, Tam Thiền Bậc Hạ.

Có Pāli chú giải như sau:

  • Parittā ābhā etesanti = Parittābhā: Phạm Thiên có hào quang ít hơn cấp trên (do tu tiến đắc Nhị, Tam Thiền bậc hạ) nên gọi là Thiểu Quang Thiên.
  • Parittāṇābhānaṃ nibbattāti = Parittābhā: Nơi tái tục còn gọi là chổ nương nhờ, nương ở của vị trời Phạm Thiên thiểu quang, nên gọi là Thiểu Quang Thiên

16)   Cõi Vô Lượng Quang Thiên (Appamānābhābhūmi):

Đây là Cảnh giới của những vị Đắc Nhị, Tam Thiền Bậc trung, nên khi tái tục sanh về cõi Vô Lượng Quang, nghĩa là vị trời này ở Cõi Vô Lượng Quang Thiên có hào quang chiếu sáng không thể đo lường được. Hay là Cõi của những vị Phạm Thiên có hào quang rất nhiều – không đo lường đặng và Cõi này cũng gọi là Cõi Nhị, Tam Thiền bậc trung.

Có Pāli chú giải như sau:

  • Appamānābhāmā nibbattāti = Appamanabhā: Là Phạm Thiên có hào quang không đo lường đặng (do đã tiến hành tu tiến đắc Nhị, Tam Thiền Bậc Trung), nên gọi là Vô Lượng Quang Thiên.
  • Appamāṇābhānaṃ nibbattāti = Appamāṇābhā: Nơi tái tục còn gọi là chổ nương nhờ, nương ở của vị trời Phạm Thiên vô lượng quang, nên gọi là Vô Lượng Quang Thiên.

17)   Cõi Biến Quang Thiên (Quang Âm Thiên) (Ābhassārābhūmi):

Đây thuộc Cảnh giới của những vị Phạm Thiên đắc Nhị, Tam Thiền Bậc Thượng và đồng thời những vị này ở cõi ấy, mỗi khi nói – hào quang túa ra rực rỡ. Hay là Cõi Phạm Thiên có hào quang trong ngần tốt đẹp túa khắp cả châu thân, cõi này cũng gọi là cõi Nhị, Tam Thiền Bậc Thượng, hoặc Phật Giáo Trung Hoa gọi là cõi Quang Âm Thiên.

Có Pāli chú giải như sau:

  • Abhāsarā etesanti = ābhassarā: Hào Quang phúng ra khắp cả thân người, nên gọi là Biến Quang Thiên (Tàu dịch là Quang Âm Thiên).
  • Sarati nissaratīti = Sarā. Hay Ābhā saranti niccaranti etesuti = Ābhasarā: Hào quang có chổ chiếu phát (từ thân) gọi là biến quang (Sarā). Hay là Phạm Thiên mà có hào quang tỏa chiếu từ châu thân, nên gọi là Phạm Thiên Biến Quang.

Các Phạm Thiên biến quang này bởi do có năng lực thiền định sung mãn, tức sung mãn hỷ ở trong thiền của mình và cũng từ đó phát huy năng lực thiền quả tạo tiến trình cho Pháp hỷ thường xuyên sanh khởi. Chính vì vậy trạng thái tâm của hạng Phạm Thiên này tinh khiết – thuần nhã, mà khi tâm được vắng lặng, an tịnh thuần khiết rồi, thì tạo ra sắc tâm cũng đặng tinh khiết. Bởi thế, do mảnh lực tâm thanh khiết là nhân trợ sắc quí tiết hiện bày nơi thân tạo thành ánh hào quang cũng được biến mãn thuần tịnh.

Vì thế có nơi dựa vào đây dịch và giải ra rằng đây là cõi Quang Âm Thiên liên quan đến một vị gọi là Phật Bà Quan Âm, chớ thật ra chỉ là vị Phạm Thiên do thành quả trước đó đã tu tiến thiền định đắc nhị, tam thiền bậc thượng nên đặng sanh về đây và cũng từ phước báu đó (Thiền quả) vị ấy có hào quang biến mãn khắp châu thân. Chính vì do mãnh lực của tâm thuần tịnh tạo quí tiết nương sắc tâm (Quí tiết do Tâm trợ – cittapaccaya   utujarūpa) cũng thuần khiết nên ám chỉ vị có tâm tánh thuần khiết là vậy, chớ chẳng phải đây là cõi Phật Quang Âm.

Như vậy:

Ba Bậc vừa kể: Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Biến Quang (15, 16, 17) đều ở tầng Nhị Thiền Thiên, nhưng tính cõi Nhị, Tam Thiền (theo Vô Tỷ Pháp – Abhidhamma).

–  Từ Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Biến Quang Thiên, cả 3 tên cõi này chính là sự tu tiến của chư Phạm Thiên đã đạt Thiền Quả có những ân đức như vừa kể trên, tức là dùng tên cõi để đặt tên cho các Phạm Thiên ở cõi ấy. Tầng Nhị, Tam Thiền này là gọi tên theo Tihānayūpacānaraya nghĩa là giống như nhóm Phạm Thiên Cõi tầng Sơ Thiền vậy, chỉ khác là Thiền chứng cao hơn thiền bậc mà thôi.

–  Thọ mạng Thiên ở tầng thiền này được phân theo 3 bậc (Thượng, Trung, Hạ):

Bậc Hạ tức Phạm Thiên Thiểu Quang có số tuổi thọ mạng thiên là 2 Đại kiếp.

Bậc Trung tức Phạm Thiên Vô Lượng Quang có số tuổi thọ mạng thiên là 4 Đại kiếp.

Bậc Thượng tức Phạm Thiên Biến Quang có số tuổi thọ mạng thiên là 8 Đại kiếp.

18)   Cõi Thiểu Tịnh Thiên (Parittasubhābhūmi):

Đây là Cảnh Giới của Bậc đắc Tứ Thiền bậc hạ, Cõi Thiểu Tịnh Thiên này là vị trời ở đây có hào quang sáng nhưng chưa phải trong sáng hoàn toàn. Hay là Cõi Phạm Thiên có hào Quang tốt đẹp, trong ngần, nhưng ít hơn hai Bậc trên (Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên), Cõi này còn gọi là bậc hạ của Cõi Tứ Thiền .

Có Pāli chú giải như sau:

  • Parittā subhā etesanti = Parittāsubhā: Phạm Thiên có hào quang tốt đẹp trong ngần nhưng ít hơn Bậc trên, nên gọi là Thiểu Tịnh Thiên.
  • Parittasubhānaṃ nibbattāti = Parittasubhā: Nghĩa là nơi nào là trú xứ hay nơi đến hoặc chỗ tái tục của trời Phạm Thiên Thiểu Tịnh, nơi đó gọi là cõi Thiểu Tịnh Thiên.

19)   Cõi Vô Lượng Tịnh Thiên (Appamānasubhābhūmi):

Là Cảnh giới của những người đắc Tứ Thiền bậc trung sanh về đây và cõi này có hào quang trong sáng không thể lường được.

Hay là, Cõi Phạm Thiên mà có hào quang trong sáng không đo lường được và cũng gọi là bậc trung của Cõi Tứ Thiền (do đã tiến hành tu tiến đắc đề mục Tứ Thiền theo cách hành hạng trung).

Có Pāli chú giải như sau:

  • Appamāṇā subhā etesanti = Appamāna subhā: Là Phạm Thiên có hào quang tốt đẹp trong ngần không đo lường được, nên gọi là Vô Lượng Tịnh Thiên.
  • Appamāṇā subhānaṃ nibbattāti = Appamāṇāsubhā: Nghĩa là cõi mà làm chỗ tái  tục của các Phạm Thiên Vô Lượng Tịnh, cõi đó gọi là Vô Lượng Tịnh Thiên.

20)   Cõi Biến Tịnh Thiên (Subhakiṇhābhūmi):

Biến Tịnh Thiên là cảnh giới của những vị đắc Tứ Thiền thuộc bậc thượng. Vị ấy ở cõi này có hào quang trong sáng biến mản khắp nơi. Hay là, Cõi Phạm Thiên có hào quang trong ngần tốt đẹp túa ra khắp cả châu thân. Đây là Cõi thành tựu của vị đã tiến hành tu tiến đề mục Tứ Thiền theo cách bậc cao, nên cũng còn gọi cõi này là bậc thượng của Cõi Tứ Thiền .

Có Pāli chú giải như sau:

  • Subhāhi ākiṇṇāti = Subhākiṇhā: Là Phạm Thiên có hào quang trong ngần yên tịnh tốt đẹp khắp cả châu thân, nên gọi là Biến Tịnh Thiên.
  • Subhākiṇṇanaṃ nibbattāti = Subhākiṇṇā: Nghĩa là cõi mà làm nơi tái tục cho các vị trời Phạm Thiên Biến Tịnh, cõi đó gọi là cõi Biến Tịnh Thiên.

Ở đây, theo từ ngữ pāli Subhā là ám chỉ cho sự tốt đẹp mà rất thuần tịnh, phát ra từ châu thân của hàng Phạm Thiên ở cõi Tứ Thiền này. Hào quang biến tịnh có tướng trạng giống ánh hào quang của mặt trăng, tức ánh hào quang ấy gôm lại thành vòng tròn, không có sự rời rạc, chính vì vậy mới gọi là subhā, tức là hào quang thuần nhã, bởi ánh hào quang ấy xinh đẹp biến mãn khắp thân (trong mūlatikā).

Như vậy:

Ba Bậc vừa kể: Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh (18, 19, 20) đều ở tầng Tam Thiền Thiên, nhưng tính cõi Tứ Thiền (theo Vô Tỷ Pháp – Abhidhamma).

– Thọ mạng Thiên ở tầng thiền này được phân theo 3 bậc (Thượng, Trung, Hạ):

Bậc Hạ tức Phạm Thiên Thiểu Tịnh, bởi vị Phạm Thiên này có hào quang trong ngần nhưng ít hơn hai bậc trên là Vô Lượng và Biến Tịnh, về mặt thọ mạng thiên có số tuổi là 16 Đại kiếp.

Bậc Trung tức Phạm Thiên Vô Lượng Tịnh, đây là nói Phạm Thiên có hào quang thanh nhã đạt sự trong ngần mà không thể đo lường được, về mặt thọ mạng thiên có số tuổi là 32 Đại kiếp.

Bậc Thượng tức Phạm Thiên Biến Tịnh, là trời Phạm Thiên đạt đến sự hào quang trong ngần tốt đẹp thuần khiết biến mãn khắp cả châu thân, về mặt thọ mạng thiên có số tuổi là 64 Đại kiếp.

21)   Cõi Quảng Quả Thiên (Vehapphalābhūmi):

Đây là Cảnh giới của những vị Đắc Ngũ Thiền (theo Vô Tỷ Pháp – Abhidhammmapiṭaka. Còn nói theo Kinh Tạng – Suttapiṭaka thuộc tầng Tứ Thiền) hưởng quả báo to lớn, hay là Cõi Phạm Thiên có đặng quả phước rất lớn, rất rộng.

Có Pāli chú giải như sau:

  • Vephulaṃ etesanti = Vehapphalā: Là Phạm Thiên mà có quả phước lớn lao rất rộng, nên gọi là Quảng Quả Thiên.
  • Viphulaṃ phalaṃ Etesanti = Vehapphalā: Quả phước rộng lớn, bất động (năng lực quả ngũ thiền) đến với những vị Phạm thiên cõi này, thì cõi này gọi là Quảng Quả Thiên.

Thông thường Thiền thiện tương ưng câu hành xả là loại thiền thù thắng bất động, cao hơn dạng thiền thiện tương ưng câu hành hỷ. Cho nên, quả thiền sanh nên từ Thiền thiện tương ưng câu hành xả mới là quả thù thắng diễn tiến theo nhân. Vì vậy, cõi Quảng Quả thoát khỏi nạn hủy diệt trong thời kỳ hoại của vũ trụ.

Tuy nhiên, còn các quả sanh từ thiền thiện câu hành hỷ thời không thù thắng và không kiên cố bằng quả sanh từ thiền thiện tương ưng câu hành xã, nhưng cũng diển tiến theo nhân như nhau.

Như vậy:

Cõi Quảng quả thiên (Vehapphalaa) là cõi Phạm thiên có đặng quả phước rất lớn, rất rộng. Tuổi thọ mạng thiên cõi này là đến năm trăm (500) đại kiếp.

22)   Cõi Vô Tưởng Thiên (Asaññasattābhūmi):

Cảnh giới của các Bậc đắc Ngũ Thiền Sắc Giới mà nơi đây vị Phạm thiên ấy “không có Tâm sanh”, do trước khi sanh về cõi này, đã khởi lên ý nghĩ là chán nản Tâm Thức (vì nhiều phiền muộn trong sự biết cảnh), nên nguyện chuyển sang Thiền Tâm không sanh. Vị ở Cõi này giống như hình tượng, nghĩa là chỉ có thể xác nhưng không có Tâm Thức, tức Tâm không sanh trong suốt thời gian thọ mạng Thiên (500 Đại Kiếp). Hay là, cõi mà Bậc Phạm Thiên chỉ có Sắc Uẩn mà không có Thức uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn. Còn gọi Vô Tưởng thiên là ám chỉ vị trời Phạm thiên này không có sở hữu Tưởng.

Nên có Pāli chú giải như sau:

  • Natthi sañña etesanti = Asaññā: Là sở hữu Tưởng không có với Phạm Thiên ấy, nên gọi là Vô Tưởng.
  • Chớ thật ra nên hiểu vị trời Vô Tưởng, giải theo Pāḷi như sau:
  • Asaññā ca te sattā cāti = Asaññāsattā: Vị Phạm thiên khi nương sanh nương ở cõi mà không có Tứ danh uẩn, tức do sở hữu Tưởng (Tưởng uẩn) là trưởng. Nên gọi là Vô tưởng Phạm thiên, nhưng Phạm thiên này cũng là chúng sanh, do vậy mới gọi chúng sanh vô tưởng.

Cần biết:

Không nên hiểu sai những vật nào hay sự thể hiện nào hiện bày, mà không có danh uẩn, những vật ấy, sự hiện bày kia không gọi là chúng sanh. Sự hiểu biết như thế nên phân biệt kỷ càng để tránh điều sai lạc. Trường hợp ở cõi Dục giới nếu không có Danh uẩn thì có thể xem là vật chất không có Tâm thức, nhưng đối với cõi Sắc giới thì hoàn toàn nên suy xét lại. Như chẳng hạn cõi Vô tưởng đã trình bày trên, mặc dù chỉ có Sắc uẩn, nhưng vẫn có sự sống vì có sắc mạng quyền gìn giữ và hết kiếp thọ mạng tại đây, chúng sanh đó vẫn tái tục ở cõi khác hiện bày trở lại có đầy đủ ngũ uẩn. Sự tiếp nối này là bởi do mãnh lực trợ tạo là Vô Gián Duyên, Đẳng Vô Gián Duyên … . Điều này được Đại Trưởng Lão Anuruddha giải thích như sau:

Asaññāsattānaṃ Nibbattāti Asaññāsattā: Cõi tái tục cho chúng sanh – sanh lên do mãnh lực Ngũ Thiền và do có sự lắng dịu phiền não Tham là căn bản, đồng thời có định hướng không sử dụng tâm (Tâm không sanh) trong giai đoạn nhất định theo nghiệp quả Thiền, chúng sanh ấy gọi là Phạm Thiên cõi Vô Tưởng.

Vậy thì, mặc dù không có Tâm thức, chỉ có sắc uẩn duy nhất nhưng vẫn xếp vào loại chúng sanh. Tức chúng sanh Vô Tưởng.

– Theo Tạng Kinh, thì Bậc Trời Vô Tưởng thuộc hạng người Lạc Vô Nhân.

Như vậy:

Vô Tưởng Thiên (Asaññāsattā) là cõi mà bậc Phạm Thiên hay chúng sanh nương nhờ ở đây chỉ có sắc uẩn mà không có Thức uẩn và các uẩn danh khác, nên gọi là Vô Tưởng Thiên.

Tuổi thọ mạng thiên cõi này cũng là đến năm trăm (500) đại kiếp.

23)   Cõi Vô Phiền Thiên (Avihābhūmi):

Là Cảnh giới của những Bậc đã chứng Tam Quả tức A Na Hàm quả mà có Tín Quyền mạnh. Đặc điểm của cõi này là không có sự phiền muộn. Hay là, Cõi mà các vị Phạm Thiên Thánh đã đắc Tam Quả đặng Ngũ Thiền, thiên về Tín Quyền mạnh. Đây là Cõi Tịnh Cư thứ nhất dành riêng cho Bậc A Na Hàm Quả mà có Tín Quyền mạnh sanh về đây, đồng thời hưởng được quả không bị nạn suy sụp tài sản của mình.

Có Pāli chú giải như sau:

  • Attano sampāttiyā na hāyantīti = Avihā: Là những Phạm Thiên Thánh (Bất Lai quả) không có suy sụp tài sản của mình, nên gọi là Vô Phiền Thiên.
  • Avihānaṃ Nibbattāti = Avihā: Nơi tái tục của những Phạm Thiên thánh Anahàm Vô Phiền và được thọ hưởng thiên sản tròn đủ suốt Thọ mạng Thiên không hề thay đổi bất luận một loại nào. Do nhân đó mới gọi là cõi Vô Phiền Thiên.

Như Vậy:

Cõi Vô Phiền Thiên (Avihā), nghĩa là cõi mà vị Phạm Thiên thánh này hằng hưởng đặng thiên sản đầy đủ, không bị suy sụp tài sản của mình. Về thời gian thọ mạng Thiên là một ngàn (1.000) đại kiếp.

24)   Cõi Vô Nhiệt Thiên (Atappābhūmi):

Đây là Cảnh giới không có sự nóng nảy của Bậc đã chứng A Na Hàm đắc Ngũ Thiền Sắc Giới mà có Tấn Quyền mạnh tái tục về đây. Hay là, Cõi mà các Phạm Thiên Thánh (Bất Lai quả) có sự thanh lương, xa lìa sự nóng nảy hay là thoát sự bực bội. Hoặc là Cõi Tịnh Cư thứ hai dành cho vị Thánh A Na Hàm đã đạt Tấn Quyền mạnh nương sanh nương ở.

Có Pāli chú giải như sau:

  • Natappantīti = Atappā: Là Phạm Thiên Thánh Bất Lai Quả không có sự phải nóng nảy Tâm, nên gọi là Vô Nhiệt Thiên thánh cư.
  • Atappānaṃ Nibbattāti = Atappā: Cõi mà không có sự nhiệt não sôi nổi, nóng nảy, tức dành cho Phạm Thiên thánh Anahàm (có Tấn Quyền mạnh).

Như vậy:

Cõi Vô Nhiệt thiên (Atappā), nghĩa là nơi đây chư Phạm Thiên Vô Nhiệt thường nhập Thiền hoặc nhập Thiền quả, nên các phiền não là nhân khiến cho sanh sôi nổi nóng nảy không có cơ hội phát sanh, mà chỉ có sự an tịnh mát mẽ. Về thời gian thọ mạng Thiên là hai ngàn (2.000) đại kiếp.

25)   Cõi Thiện Kiến Thiên (Sudassābhūmi):

Là Cảnh giới mà các vị trời Thánh A Na Hàm quả khi ở Cõi này, những chúng sanh khác trông thấy sẽ được sự an lành. Cõi này là nơi tái tục của vị Thánh chứng Bất Lai quả mà có Niệm Quyền mạnh sanh về đây. Hay là, những vị Phạm Thiên Thánh ở Cõi này, khi kẻ khác trông thấy sẽ đặng sự an vui. Hoặc gọi Cõi Tịnh Cư thứ ba dành riêng cho vị Thánh A Na Hàm đạt Niệm Quyền mạnh nương sanh – nương ở.

Có Pāli chú giải như sau:

  • Sukkhena dissantīti = Sudassā: Là những Phạm Thiên Thánh mà kẻ khác diện kiến hay gặp thấy đặng có sự an vui nên gọi là Thiện Kiến Thiên. Hoặc gọi Kiến Lạc Thiên, Thiện Lạc Thiên thánh cư.
  • Parisuddhehi pasādadibbadhammapanññā cakkhāhi sampannattā suṭṭhu passantīti = Sudassā: Những ân đức mà vị Thánh Phạm Thiên này được hưởng là do nhờ quả ngũ thiền sắc giới mà có Niệm quyền mạnh, như là thấy mọi vật rất rõ ràng do Nhục nhãn hoặc Thiên nhãn hay Pháp nhãn, Tuệ nhãn thanh tịnh. Vì vậy, chư Phạm thiên ở cõi này có thân hình rất tịnh hảo, xinh đẹp tinh khiết, nên bất luận người nào được nhìn thấy sẽ phát sanh an lạc. Nên gọi là Phạm Thiên Thánh Thiện Kiến.

Như vậy:

Thiện Kiến Thiên là nơi nương của những vị Phạm Thiên Thánh có Niệm quyền mạnh của Ngũ thiền Sắc giới sanh về đây, đặc điểm là khi kẻ khác trông thấy sẽ đặng sự an vui – lợi lành. Về thời gian thọ mạng Thiên là bốn ngàn (4.000) đại kiếp.

26)   Cõi Thiện Hiện Thiên (Sudassībhūmi):

Thiện Hiện Thiên là Cảnh giới của các vị trời đã đắc Tam Quả đạt Ngũ Thiền và có Định Quyền mạnh. Ở Cõi này, vị Phạm Thiên Thánh ấy nhìn vạn vật trong vũ trụ hoàn toàn xinh đẹp. Hay là, Cõi mà các vị Phạm Thiên Thánh nhìn vạn vật rất dễ dàng, cũng gọi là Cõi Tịnh Cư thứ tư để dành riêng cho vị Thánh Bất Lai Quả có Định quyền mạnh nương sanh – nương ở.

Có Pāli chú giải như sau:

  • Sukkhena passantīti = Sudassī: Là Phạm Thiên Thánh mà ngó thấy vạn vật bằng cách dễ dàng, nên gọi là Thiện Hiện Thiên Thánh cư.
  • Tato atisayena suṭṭhu dassanabhāvena samannāgatāti = Sudassī. Sudassīnaṃ nibbattāti = Sudassī: Quả phước mà vị trời thánh này đạt được là sự thù thắng trong việc thấy, nghĩa là bậc này nhìn vạn vật bằng sự khéo léo, đạt sự thoải mái, với mãnh lực ấy nhìn thấy các vật ở xa hay vật nhỏ bé cũng thuận lợi dể dàng.

Như vậy:

Cõi Thiện Hiện Thiên (Sudassī) là cõi mà các vị Phạm Thiên nhìn vạn vật rất dễ dàng. Về thời gian thọ mạng Thiên là Tám ngàn (8.000) đại kiếp.

27)   Cõi Sắc Cứu Cánh Thiên (Akānitthābhūmi):

Đây là Cảnh giới cuối cùng trong tầng Tứ Thiền và cũng là Cõi Phạm Thiên Ngũ Thiền mà thuộc về Thánh Cư, hay là gọi Cõi Sắc Cứu Cánh Thiên là Cảnh giới chót của Cõi Sắc Giới, là nơi nương của Vị Thánh A Na Hàm Quả đắc ngũ thiền Tuệ Quyền mạnh tái tục về đây, hoặc là Cõi các vị Phạm Thiên Thánh có tài sản an vui, những phần nhỏ nhoi không phát sanh đến vị Phạm Thiên Thánh ấy, đây cũng là Cõi Tịnh Cư thứ năm để cho các vị Bất Lai Quả có Trí Quyền mạnh nương sanh, nương ở. Điều đáng lưu ý hiện nay cõi này có tạo Tháp Dussa để thờ đôi giầy của Đức Bồ Tát “Sidaddha” sau khi xuất gia. Cõi Sắc Cứu Cánh Thiên là Cõi cao tột của Sắc Giới đồng thời cũng là Cõi cao nhất của Ngũ Tịnh Cư, các vị Phạm Thiên Thánh khi đã sanh về đây thì chỉ còn tinh tấn tu tiến để đặng đắc Tứ Quả – Níp Bàn chớ không có sanh lại cõi khác nữa.

Có Pāli chú giải như sau:

– Natthi kanittho etesanti = Akanitthā: Là nơi mà tài sản và an vui, những phần nhỏ nhoi không có với Phạm Thiên Thánh ấy, nên gọi là Sắc Cứu Cánh Thiên Thánh cư.

– Natthi rūpīnaṃ sattanaṃ majjhe kenaci guṇe kaniṭṭhabhāvo etesanti = Akaniṭṭhā: Trạng thái mà có chút ít, hay phần vừa, hoặc bất luận thiểu thiên sản và an lạc không có phát sanh ở nơi đây, thì nơi đây được gọi là Sắc Cứu Cánh Thiên tức vị trời phạm thiên thánh này được hưởng tài sản an vui trọn vẹn và rất lớn.

Như vậy:

Cõi Sắc Cứu Cánh Thiên là nơi mà các vị phạm thiên thánh khi nương ở cõi này thì có tài sản an vui, những phần nhỏ nhoi không phát sanh đến các vị ấy. Về thời gian thọ mạng Thiên là Mười sáu ngàn (16.000) đại kiếp.

– Bảy Bậc vừa kể: Cõi Quảng Quả, Vô Tưởng, Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Kiến, Thiện Hiện và Sắc Cứu Cánh Thiên (21, 22, 23, 24, 25, 26, 27) đều ở tầng Sắc Giới Tứ Thiền Thiên.

– Nhưng năm Bậc Cõi: Vô Phiền Thiên , Vô Nhiệt Thiên, Thiện Kiến Thiên, Thiện Hiện Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên đều là nơi nương sanh nương ở của Bậc Tam Quả Ngũ Thiền, cho nên kể chung lại gọi là Ngũ Tịnh Cư hay là Thánh Cư Thiên (Suddhāvāsa).

– 16 Cõi vừa nêu bày kể trên (từ số 12 đến số 27) gồm lại gọi là Cõi Sắc Giới (Rūpāvaccarabhūmi). Để nói về Cõi Sắc Giới, có Pāli chú giải như sau:

Rūpassa Bhavoti = Rūpaṃ: Nơi, chốn, hay cõi nào là chỗ sanh sắc vật chất và sắc phiền não gọi là Cõi Sắc, tức là Cõi sắc Giới. Hay nói cách khác, vì trên hơn những cõi hưởng ngũ dục là Dục Giới mà chưa đặng đến Cõi Vô Sắc, nên chỉ gọi là Sắc Giới hay là trong 16 Bậc (16 Cõi đã kể) chỉ có 1 Bậc hoàn toàn là Sắc (Rūpa) nên để làm tiêu chuẩn.

28)   Cõi Không Vô Biên Xứ Thiên (Akāsānañcāyatana):

Đây là Cảnh giới của những vị đã Đắc Thiền Vô Sắc bằng đề mục Không Vô Biên. Hay là, Không Vô Biên Xứ là quán tưởng “cái không, không cùng tột, không bờ mé”, làm Cảnh đề mục mượn đặc tên Tâm Thiền ban đầu cõi Vô sắc giới.

Có pāli chú giải như sau:

– Akāsānañcāyatanassa bhūmi = Ākāsānañcāyatana bhūmi: Là Cõi làm vị trí cho Tâm Thiền Không Vô Biên nên gọi là cõi Không Vô Biên. Chữ vị trí ở đây nghĩa là Cảnh. Hoặc là Cõi của thiền Không Vô Biên gọi là Cõi Không Vô Biên và ở Cõi này chẳng có thân sắc cho nên những Tâm nương vật nhất định đều không nương cõi vô sắc.

29)   Cõi Thức Vô Biên Xứ Thiên (Viññānañcāyatana):

Đây là Cảnh giới của những vị đã Đắc Thiền Vô Sắc bằng đề mục Thức Vô Biên. Hay là, Thức Vô Biên Xứ là quán tưởng “cái biết không bờ mé” làm cảnh đề mục, mượn Cảnh đặc tên Tâm Thiền thứ hai cõi Vô sắc giới.

Có pāli chú giải như sau:

  Viññānañcāyatanassa bhūmi = Viññānañcāyatana bhūmi: Là Cõi làm vị trí cho Tâm Thiền Thức Vô Biên nên gọi là cõi Thức Vô Biên. Chữ vị trí ở đây nghĩa là Cảnh. Hoặc là Cõi của thiền Thức Vô Biên gọi là Cõi Thức Vô Biên và ở Cõi này chẳng có thân sắc cho nên những Tâm nương vật nhất định đều không nương cõi vô sắc.

 30) Cõi Vô Sở Hữu Xứ Thiên (Akincaññāyatana):

Đây là Cảnh giới của những vị đã Đắc Thiền Vô Sắc bằng đề mục Vô Sở Hữu Xứ. Hay là, Vô Sở Hữu Xứ là quán tưởng cảnh đề mục “không có chi”, phát sanh Tâm Thiền mượn Cảnh đặc tên là bậc Thiền thứ ba cõi Vô sắc giới.

Có pāli chú giải như sau:

  Akincaññāyatanassa bhūmi = Akincaññāyatana bhūmi: Là Cõi làm vị trí cho Tâm Thiền Vô Sở Hữu nên gọi là cõi Vô Sở Hữu. Chữ vị trí ở đây nghĩa là Cảnh. Hoặc là Cõi của thiền Vô Sở Hữu gọi là Cõi Vô Sở Hữu và ở Cõi này chẳng có thân sắc cho nên những Tâm nương vật nhất định đều không nương cõi vô sắc.

31)   Cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên (Nevasaññānāsaññayatana):

Đây là Cảnh giới của những vị đã Đắc Thiền Vô Sắc bằng đề mục Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Hay là, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ nghĩa là chẳng phải cái chẳng phải có tưởng, hoặc là nói “có chẳng phải, không chẳng phải” cũng tức là “không cái không”. Đây là sự nhận định để làm đề mục quán tưởng luôn đặc tên Tâm Thiền, chớ chẳng phải Tâm như thế, vì bậc Thiền này phải bắt cảnh như vậy tức là cảnh rất vi tế. Hoặc có người vịnh đề mục này mà biện lý thuyết không có, không không v.v… .

Có pāli chú giải như sau:

  Nevasaññānā saññayatanassa bhūmi = Nevasaññānā –

Saññayatana bhūmi: Là Cõi làm vị trí cho Tâm Thiền Phi Tưởng Phi Phi Tưởng nên gọi là cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Chữ vị trí ở đây nghĩa là Cảnh. Hoặc là Cõi của thiền Phi Tưởng Phi Phi Tưởng gọi là Cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng và ở Cõi này chẳng có thân sắc cho nên những Tâm nương vật nhất định đều không nương cõi vô sắc.

Như vậy:

Bốn (4) Cõi vừa kể trên: Không vô biên, Thức vô biên, Vô sở hữu, Phi tưởng phi phi tưởng (28, 29, 30, 31) gồm lại gọi là Cõi Vô Sắc Giới được pāli chú giải như vầy: Arūpassa bhavoti = Arūpaṃ: Nghĩa là cõi nào là chỗ sanh thứ vô sắc và phiền não vô sắc, chỗ đó – nơi ấy gọi là Cõi Vô Sắc (chữ Cõi nghĩa giống như chữ Giới).

Về thời gian thọ mạng thiên của 4 Cõi trên như sau:

1.    Cõi Không Vô Biên Xứ               : 20.000 Đại kiếp.

2.    Cõi Thức Vô Biên Xứ                 : 40.000 Đại kiếp.

3.    Cõi Vô Sở Hữu Xứ                     : 60.000 Đại kiếp.

4.    Cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ : 84.000 Đại kiếp.

                       

II.         ĐIỀU PHÁP VÀ CHI PHÁP

a.    Người Đặng Mấy Cõi.

b.    Người Sử Dụng Mấy Tâm.

c.    Tâm Sanh Đặng Mấy Người.

d.    Cõi Đặng Mấy Tâm.

e.    Tâm Sanh Đặng Mấy Cõi.

 

a)   Người Đặng Mấy Cõi:

12 HẠNG NGƯỜI: Ở ĐẶNG MẤY CÕI: CộngCõi:
1 Người Khổ Địa ngục, Ngạ Quỉ, Atula, Bàng Sanh 4
2 Người Lạc Vô Nhân Nhân Loại, Tứ Thiên Vương, Vô Tưởng Thiên 3
3 Người Nhị Nhân 7 Cõi Vui Dục Giới (Nhân Loại, Tứ Đại Thiên Vương, Đạo Lợi, Dạ Ma, Đâu Xuất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại). 7
4 Người Tam Nhân 21 Cõi Phàm Vui Hữu Tâm (đã trừ: 4 Cõi Khổ, Ngũ Tịnh Cư và Cõi Vô Tưởng). 21
Người Tam Nhân Dục Giới 7 Cõi Vui Dục Giới 7
Người Tam Nhân Sắc Giới 10 Cõi Vui Sắc Giới Phàm Hữu Tâm (Phạm Chúng, Phạm Phụ, Đại Phạm, Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Biến Quang, Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh và Quảng Quả Thiên). 10
Người Tam Nhân Vô Sắc Giới 4 Cõi Vô Sắc Giới (Không Vô Biên Xứ Thiên, Thức Vô Biên Xứ Thiên, Vô Sở Hữu Xứ Thiên, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên). 4
5 Người Sơ Đạo Sanh Đặng 17 Cõi: 7 Cõi Vui Dục Giới và 10 Cõi Sắc Giới Phàm Hữu Tâm. 17
6 Người Nhị Đạo Sanh đặng 21 Cõi Phàm Vui Hữu Tâm 21
7 Người Tam Đạo 21
8 Người Tứ Đạo 26 Cõi Vui Hữu Tâm 26
9 Người Sơ Quả Sanh đặng 21 Cõi Phàm Vui Hữu Tâm (Đã trừ 4 Cõi Khổ, Ngũ Tịnh Cư và Cõi Vô Tưởng) 21
10 Người Nhị Quả
11 Người Tam Quả Sanh đặng 26 Cõi Vui Hữu Tâm (Đã trừ 4 Cõi Khổ và Cõi Vô Tưởng) 26
12 Người Tứ Quả 26

b)   Người Sử Dụng Mấy Tâm:

12  HẠNG NGƯỜI: SỐ TÂM SỬ DỤNG: Cộng:
1 Người Khổ 12 thứ Tâm Bất Thiện, 17 Thứ Tâm Vô Nhân (đã trừ Tâm Tiếu Sinh), 8 thứ Tâm Đại Thiện 37
2 Người Lạc Vô Nhân Số thứ Tâm như người Khổ cộng thêm 4 thứ Tâm Đại quả bất tương ưng 41
3 Người Nhị Nhân
4 Người Tam Nhân 63 thứ Tâm Hiệp Thế (đã trừ 18 thứ Tâm Đổng Lực Tố) 63
Người Tam Nhân Cõi Dục Giới 45 thứ Tâm Dục Giới (đã trừ Đổng Lực Tố Dục Giới) 45
Người Tam Nhân Cõi Sắc Giới hữu tưởng. 1 thứ Tâm Tái Tục Quả Sắc Giới, 8 thứ Tâm Tham, 2 thứ Tâm Si, 2 thứ Tâm Nhãn thức, 2 thứ Tâm Nhĩ Thức, 3 thứ Tâm Ý Giới, 3 thứ Tâm Thẩm Tấn, 1 thứ Tâm Khai Ý môn, 8 thứ Tâm Đại Thiện hoặc 9 thứ tâm Thiện Đáo Đại. 39
Người Tam Nhân Cõi Vô Sắc Giới Tâm Quả Vô Sắc (chỉ lấy 1 trong 4), Khai Ý Môn (1), Si (2), Tham (8), Đại Thiện (8) và Thiện Vô Sắc (4). 24
5 Người Sơ Đạo Đắc trong 3 Sát Na tiểu của Tâm Sơ Đạo. 1
6 Người Nhị Đạo Đắc trong 3 Sát Na tiểu của Tâm Nhị Đạo. 1
7 Người Tam Đạo Đắc trong 3 Sát Na tiểu của Tâm Tam Đạo. 1
8 Người Tứ Đạo Đắc trong 3 Sát Na tiểu của Tâm Tứ Đạo. 1
9 Người Sơ Quả 1 Tâm Tái Tục, 1 thứ Tâm Sơ hoặc Nhị Quả, 4 Tham B.T.Ư, Si Điệu Cử, Sân (2), Đại Thiện (8), Đại Quả (8), hoặc Thiện Đáo Đại (9), Tâm Vô Nhân (17) (trừ Tiếu Sinh). 51
10 Người Nhị Quả
11 Người Tam Quả Tâm tái tục (1), Tâm Tam Quả (1), Tâm Tham B.T.Ư (4). Si Điệu Cử (1), Đại Thiện (8), Đại Quả (8) hoặc Thiện Đáo Đại (9) và Tâm Vô Nhân (17) (Trừ Tiếu Sinh). 49
12 Người Tứ Quả Tâm Hữu Phần, Tâm Tứ Quả (1), Tâm Vô Nhân (18), Đại Quả (8), Đại Tố (8) hoặc Tố Đáo Đại (9). 45

c)   Tâm Sanh Đặng Mấy Người:

THỨ TÂM NGƯỜI Cộng:
1 Tâm Siêu Thế Mỗi thứ Tâm sanh đặng 1 người 1
2 Tâm Tố Đổng Lực Chỉ sanh cho Bậc Tứ Quả 1
3 Tâm Tham T.Ư và Si Hoài Nghi Sanh Đặng 4 Phàm 4
4 Tâm Thiện Đáo Đại Phàm Tam Nhân và 3 Quả Hữu Học 4
5 Tâm Tái tục Tam Nhân Phàm Tam Nhân và 4 Quả 5
6 Tâm Sân Sanh cho 4 Phàm và 2 Quả Thấp 6
7 Tâm Tham B.T.Ư, Si Điệu Cử và Đại Thiện 4 Phàm và 3 Quả Hữu Học 7
8 Đại Quả B.T.Ư 3 Phàm Vui và 4 Quả 7
9 Tâm Vô Nhân (17)(trừ Tiếu Sinh) 4 Phàm và 4 Quả 8

d)   Cõi Đặng Mấy Tâm:

CÕI THỨ TÂM Cộng
1 4 Cõi Khổ 12 thứ Tâm Bất Thiện, 8 thứ Đại Thiện,17 Thứ Tâm Vô Nhân (đã trừ Tâm Tiếu Sinh). 37
2 7 Cõi Vui Dục Giới Tâm Dục Giới (54), Đổng Lực Kiên Cố (26 hoặc 58). 80 hoặc 112
3 3 Cõi Sơ Thiền Sắc Giới Tâm Tái Tục Sơ Thiền, Đổng Lực Kiên Cố (26 hoặc 58) và 38 thứ Tâm Dục Giới (đã trừ Sân, tỷ, thiệt, thân, đại quả). 65 hoặc 97
4 3 Cõi Nhị, Tam Thiền Sắc Giới 2 Tâm Tái Tục Nhị, Tam Thiền, 18 Đổng Lực Đáo Đại, 38 thứ Tâm Dục Giới và 7 hoặc 35 Siêu Thế.(trừ Sân, Tỷ, Thiệt, Thân Thức, Đại Quả, 4 Đạo Sơ Thiền và Quả La Hán Sơ Thiền). 61 hoặc 93
5 3 Cõi Tứ Thiền Sắc Giới Đổng Lực Đáo Đại (18), Tâm Dục Giới (38), 5 hoặc 25 Tâm Siêu Thế, Tâm tái tục tứ thiền.(trừ Sân, Tỷ, Thiệt,Thân Thức, Đại Quả và Đạo Sơ, Nhị, Tam Thiền và Quả La Hán Sơ, Nhị, Tam Thiền). 59 hoặc 82
6 Cõi Quảng Quả Tâm Quả Ngũ Thiền Sắc Giới (1), Đổng Lực Đáo Đại (18), Tâm Dục Giới (38) và Tâm Siêu Thế (20). (trừ Tỷ, Thiệt, Thân Thức, Đại Quả, Đạo Sơ, Nhị, Tam, Tứ Thiền và Quả La Hán Sơ, Nhị, Tam, Tứ Thiền). 77
7 Cõi Tịnh Cư Tâm Quả Ngũ Thiền Sắc Giới, Đổng Lực Đáo Đại (18), Tâm Tam Quả Ngũ Thiền, Tâm Đạo Quả La Hán Ngũ Thiền (2), Tâm Dục Giới (33)(trừ Tham T.Ư, Si Hoài Nghi, Sân, Tỷ, Thiệt, Thân Thức, Đại Quả). 55
8 Cõi Không Vô Biên Xứ Tâm Quả Không Vô Biên, Tham, Si, Khai ý Môn, Đại Thiện, Đại Tố hoặc 8 Đổng Lực Vô Sắc và 7 thứ Tâm Ngũ Thiền Siêu Thế (trừ Sơ Đạo). 43
9 Cõi Thức Vô Biên Xứ Tâm Quả Thức Vô Biên, Tham, Si, Khai Ý Môn, Đại Thiện, Đại Tố hoặc 6 Đổng Lực Vô Sắc và 7 thứ Tâm Ngũ Thiền Siêu Thế (trừ Đổng Lực Không Vô Biên và Tâm Sơ Đạo Ngũ Thiền). 41
10 Cõi Vô Sở Hữu Xứ Tâm Quả Vô Sở Hữu Xứ, Tham (8), Si (2), Khai Ý Môn, Đại Thiện, Đại Tố hoặc 2 thứ Tâm Đổng Lực Vô Sở Hữu Xứ, 2 thứ Tâm Đổng Lực Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ và 7 thứ Tâm Ngũ Thiền Siêu Thế (trừ Sơ Đạo) 39
11 Cõi Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ Tâm Quả Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, Tham, Si, Khai Ý Môn, Đại Thiện, Đại Tố, hoặc Tâm Đổng Lực Phi Tưởng Phi Phi Tưởng và Tâm Ngũ Thiền Siêu Thế (trừ Sơ Đạo) 37

e)   Tâm Sanh Đặng Mấy Cõi:

THỨ TÂM CÕI Cộng
1 4 thứ TâmQuả Vô Sắc Mỗi Thứ Tâm sanh đặng 1 Cõi 1
2 Tâm Quả Sơ Thiền 3 Cõi Sơ Thiền 3
3 Tâm Quả Nhị & Tam Thiền 3 Cõi Nhị, Tam Thiền 3
4 Tâm Quả Tứ Thiền 3 Cõi Tứ Thiền 3
5 Tâm Quả Ngũ Thiền Sắc Giới Ngũ Tịnh Cư và Quảng Quả 6
6 Đạo Quả không Thiền và 8 Đại Quả 7 Cõi Vui Dục Giới 7
7 4 thứ Tâm Đạo Sơ Thiền & Tâm Tứ Quả Sơ Thiền 7 Cõi Vui Dục Giới, 3 Cõi Sơ Thiền 10
8 Tỷ, Thiệt, Thân Thức & Sân (2) 11 Cõi Dục Giới 11
9 8 Tâm Đạo Nhị, Tam Thiền & 2 Tâm Tứ Quả Nhị Tam Thiền 7 Cõi Vui Dục Giới, 3 Cõi Sơ Thiền, 3 Cõi Nhị, Tam Thiền 13
10 4 Tâm Đạo Tứ Thiền & Tâm Tứ Quả Tứ Thiền 7 Cõi Vui Dục Giới, 3 Cõi Sơ Thiền, 3 Cõi Nhị, Tam Thiền, 3 Cõi Tứ Thiền 16
11 Tâm Sơ Đạo Ngũ Thiền 7 Cõi Vui Dục Giới, 10 Cõi Phàm Sắc Giới Hữu Tưởng 17
12 Tâm Sơ Quả (5), Tâm Nhị Quả (5) & Tâm Nhị Tam Đạo Ngũ Thiền 21 Cõi Phàm vui hữu Tâm 21
13 Đổng Lực Sắc giới và Tiếu Sinh 22 Cõi Vui Ngũ Uẩn (7 Cõi Vui Dục Giới + 15 Cõi Sắc Giới Hữu Tưởng) 22
14 Đổng Lực Không Vô Biên (2) 22 Cõi Vui Ngũ Uẩn & Cõi Không Vô Biên 23
15 Đổng Lực Thức Vô Biên (2) 22 Cõi Vui Ngũ Uẩn, Cõi Không Vô Biên, Cõi Thức Vô Biên 24
16 Đổng Lực Vô Sở Hữu (2) 22 Cõi Vui Ngũ Uẩn, Cõi Không Vô Biên, Cõi Thức Vô Biên, Cõi Vô sở Hữu 25
17 Tâm Tham T.Ư & Si Hoài Nghi 25 Cõi Phàm Hữu Tâm 25
18 Đôi Nhãn Thức, Đôi Nhĩ Thức, Ý Giới (3), Tâm Thẩm Tấn (3) 26 Cõi Ngũ Uẩn 26
19 Tâm Tố Dục Giới (8), Tâm Tam Quả Hữu Thiền, Đổng Lực Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, Tâm Tứ Đạo và Tâm Tứ Quả Ngũ Thiền 26 Cõi Vui Hữu Tâm 26
20 Tâm Tham B.T.Ư, Si Điệu Cử, Khai Ý Môn, Đại Thiện (8) 30 Cõi Hữu Tâm 30

————–

LƯỢC ĐỒ 12 HẠNG NGƯỜI và CÕI

968916_581415338547742_2069415616_n

Một số hình ảnh về Vũ Trụ Quan của Đạo Phật Nguyên Thủy

Tham khảo tại link này:

http://budsas.110mb.com/dlpp/bai45/index.htm

***