Tìm hiểu về Trí-Tuệ trong tu tập Đạo Phật

traffic_light_bokeh_by_kazuki_kama-d30em0e

I. TUỆ, TRÍ và những từ đồng nghĩa

English:    Wisdom, understanding

Pali:                     Paññā, Ñāṇa

Sanskrit:               Prajñā, Jñāna

Chinese:     慧, 般若      (pinyin: bōrě)

Japanese:      般若 (rōmaji: hannya)

Korean:      반야, 혜 (RR: banya, hye)

Tibetan:              Shes Rab

Thai:           ปัญญา or ปรัชญา

Vietnamese:        Tuệ, Trí, Bát-nhã

Trong kinh điển Pali, chữ Tuệ (paññā) và Trí (Ñāṇa) được hiểu như nhau và được dùng thay đổi với nhau không phân biệt. Ví dụ:

1. Tiểu Bộ Kinh, Milinda vấn đạo, Các câu hỏi của Milinda,  Phẩm hành trình (bản dịch của Tỳ Kưu Indacanda):

Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, trí sanh lên cho người nào, thì tuệ sanh lên cho người ấy phải không?”

“Tâu đại vương, đúng vậy. Trí sanh lên cho người nào, thì tuệ sanh lên cho người ấy.”

“Thưa ngài, có phải cái nào là trí thì chính cái ấy là tuệ?”

“Tâu đại vương, đúng vậy. Cái nào là TRÍ thì chính cái ấy là TUỆ.” [1]

2.Kinh Tiểu Bộ, Dẫn Đạo Thư (Nettippakaraṇapāḷi):

“Tuệ quyền, tuệ lực, tuệ tăng thượng, học pháp, tuệ, tuệ uẩn, trạch pháp giác chi, trí, chánh kiến, thẩm xét, minh sát, pháp trí, nghĩa trí, vị tri trí (loại trí), tận trí, vô sanh trí, tri vị tri quyền, tri dĩ tri quyền, tri cụ tri quyền, nhãn, minh, giác, bác học, thông tuệ (mẫn tiệp), sáng tỏ, như vậy hoặc là các từ nào khác cùng loại như thế thì đều là các từ đồng nghĩa với tuệ. Tất cả ngũ quyền khi thành siêu thế cũng là tuệ. Và khi ấy, tín có nghĩa là ưu thắng, tấn có nghĩa là thúc đẩy cho khởi lên, niệm có nghĩa là không lơ đãng, định có nghĩa là không loạn động, tuệ có nghĩa là thấu đạt.” [2]

II. Định Nghĩa về WISDOM  theo tự điển tiếng Anh

Oxford Dictionary

WISDOM (noun)

  • the quality of having experience, knowledge, and good judgment; the quality of being wise.
  • the soundness of an action or decision with regard to the application of experience, knowledge, and good judgment:some questioned the wisdom of building the dam so close to an active volcano
  • the body of knowledge and principles that develops within a specified society or period:the traditional farming wisdom of India

 Merriam-Webster Online Dictionary

Definition of WISDOM

1

a : accumulated philosophic or scientific learning : knowledge

b : ability to discern inner qualities and relationships : insight

c : good sense : judgment

d : generally accepted belief <challenges what has become accepted wisdom among many historians — Robert Darnton>

2: a wise attitude, belief, or course of action

3: the teachings of the ancient wise men

III. Định Nghĩa về Paññā

 Theo Pali-English Dictionary,

ed. T. W. Rhys Davids, Pali Text Society

Paññā (f.) [cp. Vedic prajñā, pa+jñā]

intelligence, com- prising all the higher faculties of cognition, “intellect as conversant with general truths” (Dial. ii.68), reason, wisdom, insight, knowledge, recognition

 Theo Wikipedia

Prajñā (Sanskrit: प्रज्ञा) or paññā (Pāli)

Ngữ nguyên (Etymology)

  • jñā can be translated as “consciousness”, “knowledge”, or “understanding.”[3]
  • Pra is an intensifier which could be translated as “higher”, “greater”, “supreme” or “premium”[4], or “being born or springing up”[5], referring to a spontaneous type of knowing.[5]

III. Sự phân loại và mô tả về Tuệ trong Đạo Phật

Đối với Đạo Phật, Tuệ là sự hiểu biết bản chất thực sự của “vô thường” (anicca), “khổ” (dukkha) và “vô ngã” (anattà) trong tất cả mọi vật, mọi sự, mọi hiện tượng. Nếu thực hiện được, Tuệ này sẽ dẫn đến chân lý tối hậu tức Niết Bàn.

 KINH TRƯỜNG BỘ – DN 33 (kinh Phúng Tụng) có nói đến hai cách phân loại:

– Hoặc: Hữu học tuệ, Vô học tuệ, Phi hữu học phi vô học tuệ.

– Hoặc: Tư sanh tuệ, Văn sanh tuệ, Tu sanh tuệ.

Ba loại Tuệ (Văn, Tư, Tu) được các văn bản cổ gọi là ba loại Tuệ Gốc mūla paññā

  • Văn: Study (Pali: sutamayā paññā, Sanskrit: śruta, Tibetan: thos + pa)
  • Tư: Reflection (Pali: cintāmayā paññā, Sanskrit: cintā, Tibetan: sam+ pa)
  • Tu: Meditation (Pali: bhāvanāmayā paññā, Sanskrit: bhāvanā, Tibetan: sgom pa)

1. Sutamayā paññā

Văn Tuệ (wisdom by study) do thu được từ một nguồn bên ngoài như lắng nghe và hướng dẫn bởi những người khác về giáo pháp của Đức Phật (như sự đau khổ, vô thường và vô ngã). Hoặc do thu được từ sự đọc hiểu các loại kinh điển và tài liệu.

2. Cintāmayā paññā

Tư tuệ (wisdom by refletion) do thu được từ chính những gì mình đã nắm bắt bằng tư duy của riêng mình. Nó là quá trình phân tích một cái gì đó một cách minh triết và hợp lý.

3.  Bhāvanāmayā paññā

Tu tuệ (wisdom by meditation) do thu được qua trải nghiệm thiền (bhavana). Cả hai loại thiền định (samatha-bhavana) và thiền tuệ (vipassana- bhavana) đều đưa tuệ. Tuệ sinh ra từ thiền định khác với tuệ sinh ra từ thiền tuệ.

PHÂN TÍCH ĐẠO (Patisambhidamagga) thuộc kinh Tiểu Bộ

Phân Tích Đạo định nghĩa TUỆ-PANNA chính xác hơn: “yatha-bhutam-nana-dassanamyatha-Bhuta-nana dassanam” tức cái thấy biết như thực (seeing as it is), chứ không phải là cái thấy biết chỉ giới hạn ở mặt hiện tượng bên ngoài.

Tác giả của Phân Tích Đạo, ngài Sariputta, còn phân biệt chi tiết đến 73 loại TRÍ (ñāṇaṃ) tức 73 nội dung của TUỆ (paññā):

Các tuệ (trí), từ phàm đến thánh, đã được liệt kê và mô tả như sau:

1.   Sutamayañāṇa – Trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe

2.   Sīlamayañāṇa – Trí về yếu tố tạo thành giới

3.   Samādhibhāvanāmayañāṇa – Trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định

4.   Dhammaṭṭhitiñāṇa – Trí về sự hiện diện của các pháp

5.   Sammasanañāṇa – Trí về sự thấu hiểu

6.   Udayabbayānupassanañāṇa – Trí quán xét sự sanh diệt

7.   Vipassanañāṇa – Trí về minh sát

8.  Ādīnavañāṇa – Trí về điều tai hại

9.  Saṅkhārupekkhāñāṇa – Trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi

10.  Gotrabhūñāṇa – Trí chuyển tộc

11. Maggañāṇa – Trí về Đạo

12. Phalañāṇa – Trí về Quả

13. Vimuttiñāṇa – Trí về giải thoát

14. Paccavekkhanañāṇa – Trí về việc quán xét lại

15. Vatthunānattañāṇa – Trí về tính chất khác biệt của các vật nương

16. Gocaranānattañāṇa – Trí về tính chất khác biệt của các hành xứ

17. Cariyānānattañāṇa – Trí về tính chất khác biệt của các hành vi

18. Bhūminānattañāṇa – Trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực

19. Dhammanānattañāṇa – Trí về tính chất khác biệt của các pháp

20 – 24. Ñāṇapañcaka – Năm loại trí :

Tuệ về sự biết rõ là trí về ý nghĩa của điều đã được biết,

Tuệ về sự biết toàn diện là trí về ý nghĩa của quyết đoán,

Tuệ về sự dứt bỏ là trí về ý nghĩa của buông bỏ,

Tuệ về sự tu tập là trí về ý nghĩa của nhất vị,

Tuệ về sự tác chứng là trí về ý nghĩa của sự chạm đến

25 – 28. Paṭisambhidāñāṇa – Trí về sự phân tích

Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa,

Tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp,

Tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ,

Tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép  biện giải là (có ý nghĩa) thế nào? (Tứ Tuệ Phân Tích)

29 -31. Ñāṇattaya – Ba loại trí

Tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú là trí về ý nghĩa của các sự an trú,

Tuệ về tính chất khác biệt của các sự chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự chứng đạt    ,

Tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú và chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự an trú và chứng đạt

32.  Ānantarikasamādhiñāṇa – Trí về định không gián đoạn

33.   Araṇavihārañāṇa – Trí về sự an trú không uế nhiễm

34.   Nirodhasamāpattiñāṇa – Trí về sự chứng đạt thiền diệt

35.  Parinibbānañāṇa – Trí về sự viên tịch Niết Bàn

36.   Samasīsaṭṭhañāṇa-Trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng

37.  Sallekhaṭṭhañāṇa – Trí về ý nghĩa của việc dứt trừ

38.   Viriyārambhañāṇa – Trí về việc khởi sự tinh tấn

39.   Atthasandassanañāṇa – Trí về sự trực nhận ý nghĩa

40.   Dassanavisuddhiñāṇa – Trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức

41.  Khantiñāṇa – Trí về việc chấp nhận

42.   Pariyogāhanañāṇa – Trí về sự thâm nhập

43.   Padesavihārañāṇa – Trí về sự an trú vào các lãnh vực

44 – 49. Vivaṭṭañāṇachakka – Trí về sự ly khai (nhóm 6)

50.   Iddhividhañāṇa – Trí về thể loại của thần thông

51.  Sotadhātuvisuddhiñāṇa – Trí thanh tịnh của nhĩ giới

52.  Cetopariyañāṇa – Trí biết được tâm

53.  Pubbenivāsānussatiñāṇa – Trí nhớ về các kiếp sống trước

54.   Dibbacakkhuñāṇa – Trí về thiên nhãn

55.  Āsavakkhayañāṇa – Trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc

56 – 63.  Saccañāṇacatukkadvaya – Trí về Chân Lý (Hai nhóm bốn)

64 – 67.  Suddhikapaṭisambhidāñāṇa-Trí về sự phân tích có tính chất thuần túy

68.  Indriyaparopariyattañāṇa-Trí biết được khả năng của người khác về các quyền

69.   Āsayānusayañāṇa – Trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm

70.   Yamakapāṭihīrañāṇa-Trí song thông

71.  Mahākaruṇāsamāpattiñāṇa -Trí về sự thể nhập đại bi

72 – 73.  Sabbaññuta-anāvaraṇañāṇa – Trí Toàn Giác không bị ngăn che

Đây là 73 trí từ phàm đến thánh.

Trong số 73 loại trí này, 67 loại trí là phổ thông đến các vị Thinh Văn. Sáu loại trí từ 68 đến 73 là không phổ thông đến vị Thinh Văn. Nói cách khác Đức Phật toàn giác luôn có số trí nhiều hơn các vị A La Hán đệ tử [6]

THANH TỊNH ĐẠO (Visuddhimagga), một cuốn chú giải, do ngài Phật Âm (Buddhaghosa) biên soạn vào khoảng thế kỷ V Tây lịch, đã đề xuất qui trình tu tập qua “bảy giai đoạn thanh tịnh” để chứng đạt mười sáu tuệ minh sát.

Bảy giai đoạn thanh tịnh tâm đã từng được nêu lên trong bài kinh 24, Trung Bộ (Rathavinita Sutta, Kinh Trạm Xe) và trong bài kinh 34 của Trường Bộ (Dasuttara Sutta, Kinh Thập Thượng).  Khi thực hành Vipassana (thiền quán, tuệ quán) người tu phát triển rất nhiều loại tuệ, tuy nhiên có 16 Tuệ minh sát được coi như căn bản và chuẩn mốc, được liệt kê như sau:

1. Tuệ phân tích Danh Sắc (Nāma-rūpa-pariccheda ñāṇa)

2. Tuệ phân tích nhân quả (Paccaya-parigaha-ñāṇa)

3. Tuệ suy xét thấy danh sắc vô thường, khổ, vô ngã (Sammasa-ñāṇa)

4. Tuệ về sinh và diệt (Udayabbaya-ñāṇa)

5. Tuệ quán sự hoại diệt (BhangaAnupassanā-ñāṇa)

6. Tuệ sợ hãi (Bhayatupatthana-ñāṇa)

7. Tuệ bất toại nguyện (Adinava-ñāṇa)

8. Tuệ chán ghét (Nibbidā-ñāṇa)

9. Tuệ ham muốn giải Thoát (Munacittukammayata-ñāṇa)

10. Tuệ nổ lực giải thoát (Patisankha-ñāṇa)

11. Tuệ hành xả (Sankhāra-upekkhā-ñāṇa)

12. Tuệ thuận thứ (Anuloma-ñāṇa)

13. Tuệ cắt đứt dòng phàm (Gottarabhu-ñāṇa)

14. Tuệ đạo (Magga-ñāṇa)

15. Tuệ quả (Phala-ñāṇa)

16. Tuệ phản khán hay xem xét lại (Paccavekkhana-ñāṇa)

IV. Nhận xét chung:

  • –          Dù là Tuệ trong lãnh vực khoa học hay Tuệ trong lãnh vực triết học, ta thấy Tuệ được định nghĩa gần gần giống nhau: Đó là sự hiểu biết về sự thực một cách chính xác.
  • –          Khi giới hạn Tuệ trong một lãnh vực nhất định, ví dụ “Tuệ trong Đạo Phật”, thì Tuệ được định nghiã chính xác hơn. Tuệ để thực hiện giác ngộ của Đạo Phật là sự hiểu biết như thực (như thực rõ biết) tính Vô thường, Khổ và Vô ngã của mọi sự vật và hiện tượng. [6]
  • –          Tuệ trong tu tập Đạo Phật có ba nguồn gốc chính. Tuệ từ bên ngoài do sự nghe và đọc. Tuệ từ bên trong là do suy luận tự thân và thực hành thiền (gồm samatha và vipassana).
  • –          Tuệ là sụ hiểu biết. Vì hiểu biết rõ ràng và chính xác cho nên mới được gọi là Tuệ. Với sức thiền định mạnh mẽ, ngài Sariputta đã phân tích, mô tả và liệt kê tất cả các tuệ phát triển từ Phàm phu đến Bậc Thánh
  • –          Đối với Đạo Phật Nguyên Thủy, không có loại Tuệ (hay Bát-Nhã) nào mà không thể biết, không thể nói (bất khả tri, bất khả ngôn). Cũng vậy, không có sự thần bí mơ hồ nào về Trí ,Tuệ hay Bát Nhã. Không có sự thần bí mơ hồ nào trong sự Giác Ngộ của Đạo Phật do Đức Phật thuyết giảng.
  • –          Con đường tu tập của Đạo Phật dựa trên sự phát triển các Tuệ (hay Trí). Chính Tuệ (hay Trí) là nguyên nhân trực tiếp đưa đến giác ngộ của Đạo Phật.

BS Phạm Doãn

(27/03/2013)

Chú Thích

[1] Nguyên bản Pāli:

Rājā āha: “Bhante nāgasena yassa ñāṇaṃ uppannaṃ tassa paññā uppannā ”ti?

“Āma mahārāja. Yassa ñāṇaṃ uppannaṃ, tassa paññā uppannā ”ti.

“Kimbhante yaññeva ñāṇaṃ sāyeva paññā ”ti?

“Āma mahārāja. Yaññeva ñāṇaṃ sāyeva paññā ”ti.

[2] Nguyên bản Pāli:

“Paññindriyaṃ paññābalaṃ adhipaññā sikkhā paññā paññākkhandho dhammavicayasambojjhaṅgo ñāṇaṃ sammādiṭṭhi tīraṇā vipassanā dhamme ñāṇaṃ atthe ñāṇaṃ anvaye ñāṇaṃ khaye ñāṇaṃ anuppāde ñāṇaṃ anaññātaññassāmītindriyaṃ aññindriyaṃ aññātāvindriyaṃ cakkhu vijjā buddhi bhūri medhā āloko, yaṃ vā pana yaṃ kiñci aññaṃpi evaṃ jātiyaṃ, paññāya etaṃ vevacanaṃ. Pañcindriyāni lokuttarāni, sabbā paññā. Api ca ādhipateyyaṭṭhena saddhā, ārambhaṭṭhena vīriyaṃ, apilāpanaṭṭhena sati, avikkhepaṭṭhena samādhi, pajānanaṭṭhena paññā.”

[3] See, e.g., Monier-Williams (1899), “jña,” p. 425 (retrieved 14 Aug. 2012 from “Cologne U.” at http://www.sanskrit-lexicon.uni-koeln.de/scans/MWScan/MWScanpdf/mw0425-jehila.pdf.

[4] See, e.g., Monier-Williams (1899), “prā,” p. 652 (retrieved 14 Aug. 2012 from “Cologne U.” at http://www.sanskrit-lexicon.uni-koeln.de/cgi-bin/monier/serveimg.pl?file=/scans/MWScan/MWScanjpg/mw0659-prajalpana.jpg

[5] Loy 1997, p. 136.

[6] theo bản dịch “Phân Tích Đạo” của Tỳ khưu Indacanda)


8 phản hồi on “Tìm hiểu về Trí-Tuệ trong tu tập Đạo Phật”

  1. Thủy Nguyên nói:

    Cám ơn tác giả đã bày tỏ quan điểm về Tuệ, Bát Nhã và Trí. Tuy nhiên, mục đích bài viết là giải thích Từ Vựng Gốc mà lại chỉ tra cứu sơ lược vài cuốn từ điển của ngôn ngữ khác nên chắc chắn không thể sáng tỏ vấn đề. Thiết nghĩ cần phải có sự nghiên cứu nghiêm túc hơn. Sau đây là một số vấn đề mà TN cần quan tâm:
    1) Chắc chắn 2 từ Tuệ và Trí là từ Trung Quốc mà ra. Vậy khi đạo Phật chưa du nhập vô Trung Quốc thì Tuệ và Trí được sử dụng ra sao? Từ nguyên của chúng là gì? Ý nghĩa của chúng giới hạn ở mức độ nào?
    2) Trong văn học Sanskrit 2 từ Prajñā và Jñāna mang ý nghĩa ra sao? Hai từ này trong nền văn hóa cổ đại Ấn Độ được sử dụng ra sao?
    3) Khi đạo Phật du nhập vô TQ thì đầu tiên 2 từ nào đầu tiên được sử dụng để chuyển ngữ 2 từ Prajñā và Jñāna. Dấu vết của 2 từ Trí và Tuệ xưa đã được TQ đã được sử dụng để chuyển ngữ 2 từ Prajñā và Jñāna như thế nào? Có điều gì bất ổn khi trong việc sử dụng cặp từ chuyển ngữ này khi mà sự nhận thức giữa 2 nền văn hóa có sự khác biệt rất lớn.
    4) Người Việt Nam đã sử dụng lại 2 từ Trí và Tuệ của Trung Quốc như thế nào? Từ khởi thủy cho tới khi có sự du nhập của văn hóa Phật giáo, liệu cách sử dụng 2 từ này có hoàn toàn giống hệt như cách sử dụng bên Trung Quốc không?
    5) Trong văn học Pali cặp từ paññā và ñāṇa có hoàn toàn giống như prajñā và jñāna của Sanskrit hay không? Khi văn học Pali du nhập vào TQ hoặc VN thì việc sử dụng lại y khuôn lại 2 từ Tuệ và Trí như các dịch giả Sanskrit xưa đã sử dụng để chuyển ngữ thì liệu có ổn không?
    6) Trong Phật Pháp có sự khác biệt nào giữa các phạm vi sau: 1. Biết định danh của từ; 2. Hiểu định danh của từ bằng cách giải thích từ; 3. Hiểu định danh của từ qua việc thực hành và thực chứng trạng thái đã được mô tả.

    Cảm ơn
    TN

    • BS Phạm Doãn nói:

      Tôi rất đồng ý:
      Chữ viết, từ ngữ chỉ là cái mà chúng ta quy ước (conventional) với nhau để cùng nói về một khái niệm. Nhất là khái niệm ấy phải thật đúng sau khi được trải nghiệm thực chứng.
      Không phải chỉ riêng hai chữ Tuệ và Trí, hiện nay vấn đề ngữ nghiã của nhiều từ ngữ Phật Học, cũng như việc chuyển dịch làm sao cho chính xác là những vấn đề còn bức xúc.
      Cám ơn Thủy Nguyên đã để lại comment.

  2. Lãng Tử nói:

    Có lẽ người Việt chúng ta hơi bị lẩm cẩm khi dùng chữ Tuệ để dịch chữ paññā. Tại vì sao?

    Ngày xưa dịch giả Tàu đã thấy chữ Tuệ không chuyển tải được nghĩa của chữ prajñā do đó học muốn giữ nguyên chữ này và không chuyển ngữ. Nhưng khổ nỗi chữ tượng hình thì làm sao mà làm được chuyện này chứ! Cuối cùng họ chỉ tìm ra được chữ là đọc lên âm gần giống, đó là chữ 般若. Chữ này đời Đường có lẽ đọc cũng ra được âm gần giống là /pan-nha/. Trải qua lịch sử và vùng miền thì chữ này bây giờ miền nào cũng đọc khác hẳng xưa. Tàu thì đọc là /bō ruò/. Việt thì đọc là /bát nhã/. Đó là bất lợi của chữ Hán được dùng trong phiên âm để giữ nguyên chữ gốc là vậy.
    Ngày nay dịch giả Việt chúng ta đã có được chữ La tinh (a, b, c) quá ư là lợi hại. Chữ này có thể giữ nguyên được chữ gốc và hoàn toàn không bị sai khác, mà dân Việt cũng có thể đọc được luôn. Tại sao không giữ nguyên chữ paññā mà lại cứ đi theo vết xe đổ của người xưa mà dịch ra là Tuệ hoặc Bát Nhã là sao chứ???

    Người xưa muốn giữ nguyên chữ lại gặp cái khó. Có thể so sánh giống như người xưa có được một cái container mà lại phải dùng xe bò để mà chở. Còn ngày nay chúng ta có xe chuyên dụng rờ móc hẳn hoi lại không dùng để chở container mà lại sử dụng xe bò là sao? Thiệt là bó tay.

  3. Tue Minh nói:

    GỬI ANH PHẠM DOÃN ĐOẠN NÓI VỀ TÁNH KHÔNG CỦA TUỆ BA LA MẬT RẤT SÚC TÍCH. TUỆ CỦA MỘT HÀNH GIẢ BÌNH THƯỜNG KHÓ CÓ THỂ NHẬN THỨC ĐƯỢC NHƯ VẬY. KÍNH.
    Tai là không … Các thinh là không … Mũi là không … Các khí là không … Lưỡi là không … Các vị là không … Thân là không … Các xúc là không … Ý là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Các pháp là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Ý thức là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Ý xúc là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Cảm thọ nào được sanh lên do duyên ý xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Này Ānanda, bởi vì là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã, do đó được nói rằng: ‘Thế giới là không.’

    • Ba Na Na nói:

      Chào bạn TueMinh
      “Thế giới là không?”
      Vậy hỏi: nếu đã là “không” thì cần gì phải tu học Kinh “Đại Thừa”?
      bạn đang sờ sờ ra như vậy thì cái gì là không?
      Lưu ý: Khổ là có thật nên mới có Tứ Diệu Đế
      Học Phật phải rạch ròi: có và không, chứ không phải cái gì cũng “không” thì “chuối” lắm.
      Phật không bao giờ nói “Thế giới là không”. Chính các sư “Đại Thừa” nói chứ Phật làm gì nói câu vô lý như vậy. Phật nói: “Hãy tu Bát Chánh Đạo để diệt Tham Sân Si”. Tức là “không tham, không sân, không si” là “tánh không”. Chỉ vậy thôi, quá đơn giản để hiểu. Nhưng phải tu Kinh do Phật thuyết thì mới diệt Tham, chứ “tham” vào Cao Siêu kiểu “Đại Thừa” thì phát triển thêm lòng tham thì còn không biết bao giờ mới ra được.

      • Anonymous nói:

        Vui lòng đọc chương SUÑÑATĀKATHĀ của tác phẩm PAṬSAMBHIDĀMAGGO để về sau đừng bao giờ tự phỉ báng chính mình và xúc phạm đạo của Đức Gotama nữa.

        Tuy nhiên sách vở, kinh kệ không phải là cẩm nang để đạt tới Niết Bàn.

        Nếu là cẩm nang thì Đức Gotama đã chủ kiến truyền lại một tập cẩm nang dầy cộp cho hậu thế rồi. Không để xảy ra tình trạng bất đồng quan điểm dù là ngay trong một tông phái, một nhóm tu.

        Việc trùng tụng ghi chép kinh điển thực ra không phải là chủ kiến của Đức Gotama. Ngài chỉ dặn dò là nương vào Pháp. Và Pháp ở đây không phải là Kinh Kệ như nhiều người vẫn nhầm lẫn.

        Kinh Kệ dù là được ghi lại đúng 100% vẫn không phải là Chánh Pháp. Kinh Kệ chỉ là một trong những phương tiện để hiểu được Pháp. Khi Pháp được hiểu rõ, làm đúng thì gọi là Chánh Pháp.

  4. Anonymous nói:

    Gửi bạn BANANA,

    Có những người kiến văn hạn hẹp chỉ biết nhìn đạo Phật nguyên thủy một cách phiến diện rồi phê phán hoặc thậm chí chửi rủa nào là:
    – Sử dụng chú thuật là của ngoại đạo.
    – Phật giáo không hề có những pháp biệt truyền.
    – Tính Không là do một sự chế tác, phịa ra.
    – vân vân và vân vân..
    Họ đâu biết rằng họ đang xúc phạm chính Đạo Phật nguyên thủy!

    Khẳng định lại rằng:
    – Phật giáo nguyên thủy sử dụng chú thuật rất nhiều.
    – Phật giáo nguyên thủy có những pháp biệt truyền, chỉ có thầy truyền cho một vài trò mà không truyền rộng bên ngoài.
    – Phật giáo nguyên thủy giảng giải rất chi tiết về Tính Không (không nằm trong 2 bài kinh Đại Không & Tiểu Không).

  5. An Nhã Anh Hà nói:

    Những ai chưa uống café thì thích diễn tả cho đúng hương vị của café.
    Còn những ai đã uống café rồi thì không biết phải diễn tả ra sao cho đúng.
    Người thì bảo café thơm như hoa, người kia lại bảo café mùi khét, người nọ thì cho rằng café có mùi bắp rang…
    Ai đúng ai sai? Chỉ có người uống café rồi mới thật sự biết hương vị của café!


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s