Tìm hiểu về Trí-Tuệ trong tu tập Đạo Phật

traffic_light_bokeh_by_kazuki_kama-d30em0e

I. TUỆ, TRÍ và những từ đồng nghĩa

English:    Wisdom, understanding

Pali:                     Paññā, Ñāṇa

Sanskrit:               Prajñā, Jñāna

Chinese:     慧, 般若      (pinyin: bōrě)

Japanese:      般若 (rōmaji: hannya)

Korean:      반야, 혜 (RR: banya, hye)

Tibetan:              Shes Rab

Thai:           ปัญญา or ปรัชญา

Vietnamese:        Tuệ, Trí, Bát-nhã

Trong kinh điển Pali, chữ Tuệ (paññā) và Trí (Ñāṇa) được hiểu như nhau và được dùng thay đổi với nhau không phân biệt. Ví dụ:

1. Tiểu Bộ Kinh, Milinda vấn đạo, Các câu hỏi của Milinda,  Phẩm hành trình (bản dịch của Tỳ Kưu Indacanda):

Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, trí sanh lên cho người nào, thì tuệ sanh lên cho người ấy phải không?”

“Tâu đại vương, đúng vậy. Trí sanh lên cho người nào, thì tuệ sanh lên cho người ấy.”

“Thưa ngài, có phải cái nào là trí thì chính cái ấy là tuệ?”

“Tâu đại vương, đúng vậy. Cái nào là TRÍ thì chính cái ấy là TUỆ.” [1]

2.Kinh Tiểu Bộ, Dẫn Đạo Thư (Nettippakaraṇapāḷi):

“Tuệ quyền, tuệ lực, tuệ tăng thượng, học pháp, tuệ, tuệ uẩn, trạch pháp giác chi, trí, chánh kiến, thẩm xét, minh sát, pháp trí, nghĩa trí, vị tri trí (loại trí), tận trí, vô sanh trí, tri vị tri quyền, tri dĩ tri quyền, tri cụ tri quyền, nhãn, minh, giác, bác học, thông tuệ (mẫn tiệp), sáng tỏ, như vậy hoặc là các từ nào khác cùng loại như thế thì đều là các từ đồng nghĩa với tuệ. Tất cả ngũ quyền khi thành siêu thế cũng là tuệ. Và khi ấy, tín có nghĩa là ưu thắng, tấn có nghĩa là thúc đẩy cho khởi lên, niệm có nghĩa là không lơ đãng, định có nghĩa là không loạn động, tuệ có nghĩa là thấu đạt.” [2]

II. Định Nghĩa về WISDOM  theo tự điển tiếng Anh

Oxford Dictionary

WISDOM (noun)

  • the quality of having experience, knowledge, and good judgment; the quality of being wise.
  • the soundness of an action or decision with regard to the application of experience, knowledge, and good judgment:some questioned the wisdom of building the dam so close to an active volcano
  • the body of knowledge and principles that develops within a specified society or period:the traditional farming wisdom of India

 Merriam-Webster Online Dictionary

Definition of WISDOM

1

a : accumulated philosophic or scientific learning : knowledge

b : ability to discern inner qualities and relationships : insight

c : good sense : judgment

d : generally accepted belief <challenges what has become accepted wisdom among many historians — Robert Darnton>

2: a wise attitude, belief, or course of action

3: the teachings of the ancient wise men

III. Định Nghĩa về Paññā

 Theo Pali-English Dictionary,

ed. T. W. Rhys Davids, Pali Text Society

Paññā (f.) [cp. Vedic prajñā, pa+jñā]

intelligence, com- prising all the higher faculties of cognition, “intellect as conversant with general truths” (Dial. ii.68), reason, wisdom, insight, knowledge, recognition

 Theo Wikipedia

Prajñā (Sanskrit: प्रज्ञा) or paññā (Pāli)

Ngữ nguyên (Etymology)

  • jñā can be translated as “consciousness”, “knowledge”, or “understanding.”[3]
  • Pra is an intensifier which could be translated as “higher”, “greater”, “supreme” or “premium”[4], or “being born or springing up”[5], referring to a spontaneous type of knowing.[5]

III. Sự phân loại và mô tả về Tuệ trong Đạo Phật

Đối với Đạo Phật, Tuệ là sự hiểu biết bản chất thực sự của “vô thường” (anicca), “khổ” (dukkha) và “vô ngã” (anattà) trong tất cả mọi vật, mọi sự, mọi hiện tượng. Nếu thực hiện được, Tuệ này sẽ dẫn đến chân lý tối hậu tức Niết Bàn.

 KINH TRƯỜNG BỘ – DN 33 (kinh Phúng Tụng) có nói đến hai cách phân loại:

– Hoặc: Hữu học tuệ, Vô học tuệ, Phi hữu học phi vô học tuệ.

– Hoặc: Tư sanh tuệ, Văn sanh tuệ, Tu sanh tuệ.

Ba loại Tuệ (Văn, Tư, Tu) được các văn bản cổ gọi là ba loại Tuệ Gốc mūla paññā

  • Văn: Study (Pali: sutamayā paññā, Sanskrit: śruta, Tibetan: thos + pa)
  • Tư: Reflection (Pali: cintāmayā paññā, Sanskrit: cintā, Tibetan: sam+ pa)
  • Tu: Meditation (Pali: bhāvanāmayā paññā, Sanskrit: bhāvanā, Tibetan: sgom pa)

1. Sutamayā paññā

Văn Tuệ (wisdom by study) do thu được từ một nguồn bên ngoài như lắng nghe và hướng dẫn bởi những người khác về giáo pháp của Đức Phật (như sự đau khổ, vô thường và vô ngã). Hoặc do thu được từ sự đọc hiểu các loại kinh điển và tài liệu.

2. Cintāmayā paññā

Tư tuệ (wisdom by refletion) do thu được từ chính những gì mình đã nắm bắt bằng tư duy của riêng mình. Nó là quá trình phân tích một cái gì đó một cách minh triết và hợp lý.

3.  Bhāvanāmayā paññā

Tu tuệ (wisdom by meditation) do thu được qua trải nghiệm thiền (bhavana). Cả hai loại thiền định (samatha-bhavana) và thiền tuệ (vipassana- bhavana) đều đưa tuệ. Tuệ sinh ra từ thiền định khác với tuệ sinh ra từ thiền tuệ.

PHÂN TÍCH ĐẠO (Patisambhidamagga) thuộc kinh Tiểu Bộ

Phân Tích Đạo định nghĩa TUỆ-PANNA chính xác hơn: “yatha-bhutam-nana-dassanamyatha-Bhuta-nana dassanam” tức cái thấy biết như thực (seeing as it is), chứ không phải là cái thấy biết chỉ giới hạn ở mặt hiện tượng bên ngoài.

Tác giả của Phân Tích Đạo, ngài Sariputta, còn phân biệt chi tiết đến 73 loại TRÍ (ñāṇaṃ) tức 73 nội dung của TUỆ (paññā):

Các tuệ (trí), từ phàm đến thánh, đã được liệt kê và mô tả như sau:

1.   Sutamayañāṇa – Trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe

2.   Sīlamayañāṇa – Trí về yếu tố tạo thành giới

3.   Samādhibhāvanāmayañāṇa – Trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định

4.   Dhammaṭṭhitiñāṇa – Trí về sự hiện diện của các pháp

5.   Sammasanañāṇa – Trí về sự thấu hiểu

6.   Udayabbayānupassanañāṇa – Trí quán xét sự sanh diệt

7.   Vipassanañāṇa – Trí về minh sát

8.  Ādīnavañāṇa – Trí về điều tai hại

9.  Saṅkhārupekkhāñāṇa – Trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi

10.  Gotrabhūñāṇa – Trí chuyển tộc

11. Maggañāṇa – Trí về Đạo

12. Phalañāṇa – Trí về Quả

13. Vimuttiñāṇa – Trí về giải thoát

14. Paccavekkhanañāṇa – Trí về việc quán xét lại

15. Vatthunānattañāṇa – Trí về tính chất khác biệt của các vật nương

16. Gocaranānattañāṇa – Trí về tính chất khác biệt của các hành xứ

17. Cariyānānattañāṇa – Trí về tính chất khác biệt của các hành vi

18. Bhūminānattañāṇa – Trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực

19. Dhammanānattañāṇa – Trí về tính chất khác biệt của các pháp

20 – 24. Ñāṇapañcaka – Năm loại trí :

Tuệ về sự biết rõ là trí về ý nghĩa của điều đã được biết,

Tuệ về sự biết toàn diện là trí về ý nghĩa của quyết đoán,

Tuệ về sự dứt bỏ là trí về ý nghĩa của buông bỏ,

Tuệ về sự tu tập là trí về ý nghĩa của nhất vị,

Tuệ về sự tác chứng là trí về ý nghĩa của sự chạm đến

25 – 28. Paṭisambhidāñāṇa – Trí về sự phân tích

Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa,

Tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp,

Tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ,

Tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép  biện giải là (có ý nghĩa) thế nào? (Tứ Tuệ Phân Tích)

29 -31. Ñāṇattaya – Ba loại trí

Tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú là trí về ý nghĩa của các sự an trú,

Tuệ về tính chất khác biệt của các sự chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự chứng đạt    ,

Tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú và chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự an trú và chứng đạt

32.  Ānantarikasamādhiñāṇa – Trí về định không gián đoạn

33.   Araṇavihārañāṇa – Trí về sự an trú không uế nhiễm

34.   Nirodhasamāpattiñāṇa – Trí về sự chứng đạt thiền diệt

35.  Parinibbānañāṇa – Trí về sự viên tịch Niết Bàn

36.   Samasīsaṭṭhañāṇa-Trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng

37.  Sallekhaṭṭhañāṇa – Trí về ý nghĩa của việc dứt trừ

38.   Viriyārambhañāṇa – Trí về việc khởi sự tinh tấn

39.   Atthasandassanañāṇa – Trí về sự trực nhận ý nghĩa

40.   Dassanavisuddhiñāṇa – Trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức

41.  Khantiñāṇa – Trí về việc chấp nhận

42.   Pariyogāhanañāṇa – Trí về sự thâm nhập

43.   Padesavihārañāṇa – Trí về sự an trú vào các lãnh vực

44 – 49. Vivaṭṭañāṇachakka – Trí về sự ly khai (nhóm 6)

50.   Iddhividhañāṇa – Trí về thể loại của thần thông

51.  Sotadhātuvisuddhiñāṇa – Trí thanh tịnh của nhĩ giới

52.  Cetopariyañāṇa – Trí biết được tâm

53.  Pubbenivāsānussatiñāṇa – Trí nhớ về các kiếp sống trước

54.   Dibbacakkhuñāṇa – Trí về thiên nhãn

55.  Āsavakkhayañāṇa – Trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc

56 – 63.  Saccañāṇacatukkadvaya – Trí về Chân Lý (Hai nhóm bốn)

64 – 67.  Suddhikapaṭisambhidāñāṇa-Trí về sự phân tích có tính chất thuần túy

68.  Indriyaparopariyattañāṇa-Trí biết được khả năng của người khác về các quyền

69.   Āsayānusayañāṇa – Trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm

70.   Yamakapāṭihīrañāṇa-Trí song thông

71.  Mahākaruṇāsamāpattiñāṇa -Trí về sự thể nhập đại bi

72 – 73.  Sabbaññuta-anāvaraṇañāṇa – Trí Toàn Giác không bị ngăn che

Đây là 73 trí từ phàm đến thánh.

Trong số 73 loại trí này, 67 loại trí là phổ thông đến các vị Thinh Văn. Sáu loại trí từ 68 đến 73 là không phổ thông đến vị Thinh Văn. Nói cách khác Đức Phật toàn giác luôn có số trí nhiều hơn các vị A La Hán đệ tử [6]

THANH TỊNH ĐẠO (Visuddhimagga), một cuốn chú giải, do ngài Phật Âm (Buddhaghosa) biên soạn vào khoảng thế kỷ V Tây lịch, đã đề xuất qui trình tu tập qua “bảy giai đoạn thanh tịnh” để chứng đạt mười sáu tuệ minh sát.

Bảy giai đoạn thanh tịnh tâm đã từng được nêu lên trong bài kinh 24, Trung Bộ (Rathavinita Sutta, Kinh Trạm Xe) và trong bài kinh 34 của Trường Bộ (Dasuttara Sutta, Kinh Thập Thượng).  Khi thực hành Vipassana (thiền quán, tuệ quán) người tu phát triển rất nhiều loại tuệ, tuy nhiên có 16 Tuệ minh sát được coi như căn bản và chuẩn mốc, được liệt kê như sau:

1. Tuệ phân tích Danh Sắc (Nāma-rūpa-pariccheda ñāṇa)

2. Tuệ phân tích nhân quả (Paccaya-parigaha-ñāṇa)

3. Tuệ suy xét thấy danh sắc vô thường, khổ, vô ngã (Sammasa-ñāṇa)

4. Tuệ về sinh và diệt (Udayabbaya-ñāṇa)

5. Tuệ quán sự hoại diệt (BhangaAnupassanā-ñāṇa)

6. Tuệ sợ hãi (Bhayatupatthana-ñāṇa)

7. Tuệ bất toại nguyện (Adinava-ñāṇa)

8. Tuệ chán ghét (Nibbidā-ñāṇa)

9. Tuệ ham muốn giải Thoát (Munacittukammayata-ñāṇa)

10. Tuệ nổ lực giải thoát (Patisankha-ñāṇa)

11. Tuệ hành xả (Sankhāra-upekkhā-ñāṇa)

12. Tuệ thuận thứ (Anuloma-ñāṇa)

13. Tuệ cắt đứt dòng phàm (Gottarabhu-ñāṇa)

14. Tuệ đạo (Magga-ñāṇa)

15. Tuệ quả (Phala-ñāṇa)

16. Tuệ phản khán hay xem xét lại (Paccavekkhana-ñāṇa)

IV. Nhận xét chung:

  • –          Dù là Tuệ trong lãnh vực khoa học hay Tuệ trong lãnh vực triết học, ta thấy Tuệ được định nghĩa gần gần giống nhau: Đó là sự hiểu biết về sự thực một cách chính xác.
  • –          Khi giới hạn Tuệ trong một lãnh vực nhất định, ví dụ “Tuệ trong Đạo Phật”, thì Tuệ được định nghiã chính xác hơn. Tuệ để thực hiện giác ngộ của Đạo Phật là sự hiểu biết như thực (như thực rõ biết) tính Vô thường, Khổ và Vô ngã của mọi sự vật và hiện tượng. [6]
  • –          Tuệ trong tu tập Đạo Phật có ba nguồn gốc chính. Tuệ từ bên ngoài do sự nghe và đọc. Tuệ từ bên trong là do suy luận tự thân và thực hành thiền (gồm samatha và vipassana).
  • –          Tuệ là sụ hiểu biết. Vì hiểu biết rõ ràng và chính xác cho nên mới được gọi là Tuệ. Với sức thiền định mạnh mẽ, ngài Sariputta đã phân tích, mô tả và liệt kê tất cả các tuệ phát triển từ Phàm phu đến Bậc Thánh
  • –          Đối với Đạo Phật Nguyên Thủy, không có loại Tuệ (hay Bát-Nhã) nào mà không thể biết, không thể nói (bất khả tri, bất khả ngôn). Cũng vậy, không có sự thần bí mơ hồ nào về Trí ,Tuệ hay Bát Nhã. Không có sự thần bí mơ hồ nào trong sự Giác Ngộ của Đạo Phật do Đức Phật thuyết giảng.
  • –          Con đường tu tập của Đạo Phật dựa trên sự phát triển các Tuệ (hay Trí). Chính Tuệ (hay Trí) là nguyên nhân trực tiếp đưa đến giác ngộ của Đạo Phật.

BS Phạm Doãn

(27/03/2013)

Chú Thích

[1] Nguyên bản Pāli:

Rājā āha: “Bhante nāgasena yassa ñāṇaṃ uppannaṃ tassa paññā uppannā ”ti?

“Āma mahārāja. Yassa ñāṇaṃ uppannaṃ, tassa paññā uppannā ”ti.

“Kimbhante yaññeva ñāṇaṃ sāyeva paññā ”ti?

“Āma mahārāja. Yaññeva ñāṇaṃ sāyeva paññā ”ti.

[2] Nguyên bản Pāli:

“Paññindriyaṃ paññābalaṃ adhipaññā sikkhā paññā paññākkhandho dhammavicayasambojjhaṅgo ñāṇaṃ sammādiṭṭhi tīraṇā vipassanā dhamme ñāṇaṃ atthe ñāṇaṃ anvaye ñāṇaṃ khaye ñāṇaṃ anuppāde ñāṇaṃ anaññātaññassāmītindriyaṃ aññindriyaṃ aññātāvindriyaṃ cakkhu vijjā buddhi bhūri medhā āloko, yaṃ vā pana yaṃ kiñci aññaṃpi evaṃ jātiyaṃ, paññāya etaṃ vevacanaṃ. Pañcindriyāni lokuttarāni, sabbā paññā. Api ca ādhipateyyaṭṭhena saddhā, ārambhaṭṭhena vīriyaṃ, apilāpanaṭṭhena sati, avikkhepaṭṭhena samādhi, pajānanaṭṭhena paññā.”

[3] See, e.g., Monier-Williams (1899), “jña,” p. 425 (retrieved 14 Aug. 2012 from “Cologne U.” at http://www.sanskrit-lexicon.uni-koeln.de/scans/MWScan/MWScanpdf/mw0425-jehila.pdf.

[4] See, e.g., Monier-Williams (1899), “prā,” p. 652 (retrieved 14 Aug. 2012 from “Cologne U.” at http://www.sanskrit-lexicon.uni-koeln.de/cgi-bin/monier/serveimg.pl?file=/scans/MWScan/MWScanjpg/mw0659-prajalpana.jpg

[5] Loy 1997, p. 136.

[6] theo bản dịch “Phân Tích Đạo” của Tỳ khưu Indacanda)

Advertisements

TRÍ TUỆ trong ĐẠO PHẬT

Trịnh Nguyên Phước

Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bitrí tuệ.

Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật. Đạo Phật là con đường diệt khổ, vậy thì từ là đem vui, bi là cứu khổ, còn gì đúng hơn nữa khi nói đạo Phật là đạo của từ bi?

Nhưng người ta cũng có thể tự hỏi : có thể nào thâu gồm lại đạo Phật trong hai chữ từ bi? Liệu từ bi có đủ để định nghĩa đạo Phật, để phân biệt đạo Phật với các tôn giáo và triết thuyết khác? Nói một cách khác, có thểnào xem từ bi như là một đặc điểm của đạo Phật?

Nhìn chung quanh, chúng ta thấy đạo giáo nào cũng chủ trương tình thương bao la, rộng lớn, như lòng bác ái của đức Ky Tô, thuyết kiêm ái của Mặc tử. Nhưng chỉ có đạo Phật mới nổi bật lên bằng sự đề cao trí tuệ. Có thể nói rằng trong suốt lịch sử tư tưởng nhân loại, không có một tôn giáo nào đặt trọng tâm vào vai trò của trí tuệ hơn làđạo Phật. Bởi vì Buddha (Phật) phát xuất từ chữ Phạn bud, có nghĩa là hiểu biết. Đức Phật là người đã hiểu biết trọn vẹn, đã tỉnh thức, đã giác ngộ, là người có trí tuệ vẹn toàn.

Như vậy có thểnói rằng trí tuệ mới chính thực là đặc điểm, là nền tảng, là cốt tủy của đạo Phật.

Trí tuệ là gì ?

Trước hết, chúng ta phải hiểu rõ trí tuệ trong đạo Phật là gì, bởi vì trí tuệ có một ý nghĩa rất đặc biệt trong đạo Phật. Trí tuệ trong đạo Phật phải được phân biệt với quan niệm thông thường về trí tuệ.

Theo nghĩa thông thường, trí tuệ là kết quả của hoạt động trí thức (intellect), dựa lên lý trí (raison), dùng đến lý luận, khái niệm, ngôn từ, và chủ yếu gồm những sự hiểu biết, những kiến thức đã được gom góp lại.

Trong đạo Phật, trí tuệ cũng được gọi là trí huệ, bởi vì cùng một chữ Hán có thể đọc là huệ hay là tuệ. Người Hoa thường đọc là huệ (tiếng quan hỏa đọc là “huậy”), trong khi người Việt hay dùng chữ tuệ hơn, với đa số những chữ ghép thuộc danh từ nhà Phật, như tuệ căn, tuệ giác, tuệ kiếm, tuệ lực, tuệ nhãn, tuệ tâm, tuệ tánh… Tiếng Pali là pañña, tiếng Phạn là prajñâ, và khi phiên âm sang tiếng Hoa thì trở thành Bát Nhã(chữ ñ đọc như là nh của tiếng Việt).

Triết lý Ấn Độ cổ xưa có 3 danh từ để chỉ định sự hiểu biết : ñâna (p) / jñâna (s), viññâna (p) / vijñâna (s) pañña(p) / prajñâ (s).

Ñâna thường chỉ định sự hiểu biết thông thường, theo nghĩa rộng của nó. Trong một số kinh điển, người ta cũng gặp chữ ñâna dùng theo nghĩa pañña.

Viññânalà sự hiểu biết dựa lên lý trí, dùng phương pháp suy luận và phân tích.

– Trong khi đó, pañña là trí huệ thâm sâu, sự hiểu biết toàn diện, có tính chất trực giác, không dựa lên lý luận, khái niệm, ngôn từ, mà vượt khỏi ngôn từ. Tiếng Pháp thường dịch là sagesse,connaissance profonde, transcendantale, hay cognition intégrale, nhưng những chữ đó vẫn chỉ diễn tả được một phần nào cái không thể diễn tả được.

Chính vì khó dịch cho nên tại các nước Á châu, người ta thường giữ nguyên phiên âm chữ Phạn, Bát Nhã trí huệ (Hoa) hay hannya-chie (Nhật) để chỉ định trí tuệ trong đạo Phật.

Trí tuệ Bát Nhã và trí tuệ thông thường, như khoa học chẳng hạn, còn khác nhau ở nơi đối tượng của sự hiểu biết. Như đức Phật đã nói rõ trong bài bài thuyết pháp “lá trong rừng Sinsapa”, sự giảng dạy của ngài chỉ nhằm vào con đường giải thoát, là điều cấp bách và thiết thực nhất. Nếu so sánh khoa học và đạo Phật với những tia sáng, thì chúng ta có thểví khoa học với ánh sáng tỏa khắp nơi, và đạo Phật với một tia laser tụ hết cả năng lực vào một điểm, tức là diệt khổ.

Trong đạo Phật còn một danh từ nữa gần với huệgiác (bodhi, phiên âm là Bồ đề). Giác là thức tỉnh, đối lại với ngủ mê. Vì vậy trong nghi thức tụng niệm, chúng ta thường gặp câu “… xa bể khổ nguồn mê, chóng quay về bờ giác”. Và trong đạo Phật, giác ngộtuệ giác là mục đích của người tu Phật, đi theo gót của đức Phật Thích Ca, là vị “Chánh đẳng chánh giác”(samma-sambuddha), là người đã giác ngộ hoàn toàn.

Trí tuệ trong đạo Phật Nguyên thủy

Vai trò của trí tuệ trong đạo Phật nguồn gốc (primitif) và đạo Phật Nguyên thủy (Theravada) rất rõ ràng, sáng sủa: trí tuệ là phương tiện duy nhất đưa tới giác ngộ, và giải thoát khỏi khổ đau. Bài “Trí tuệ trong đạo Phật” của HT Thích Minh Châu (trong site Internet Buddhasasana) đã trình bầy một cách minh triết và đầy đủ về vấn đề này. Tôi chỉ xin nhắc lại một vài điều căn bản trong giáo lý của đạo Phật Nguyên thủy.

Nếu chúng ta lấy “vòng mười hai nhân duyên” (paticca-samuppâda) mà xét lại, thì chúng ta sẽ thấy đầu mối của sự khổ đau, của sự đọa đầy trong vòng trầm luân của con người chính là vô minh (avijjâ). Vì vô minh là đầu mối của vấn đề, cho nên trí tuệ chính là giải đáp của vấn đề.

Trong “con đường chánh tám nẻo” (atthangika-magga), chánh kiến (sammâ-ditthi) và chánh tư duy (sammâ-sankappa) là hai nẻo thuộc về huệ (pañña), là giai đoạn cuối cùng, quan trọng nhất của sự tu tập (trong khi chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc về giới, sila, và chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc về định, samâdhi). Dĩ nhiên sự tu tập theo đạo Phật không thể phân chia ra thành từng giai đoạn rõ rệt như vậy, và tám nẻo của con đường đó phải được đi đều với nhau, nhưng chúng ta cũng có thể nhận thấy trong sự phân chia đó môt trình tự phù hợp với những gì xảy ra trong tâm lý con người. Phải nhiếp được thân khẩu ý (giới), thì mới tinh tấn, niệm và định tâm được (định), và như vậy thì mới hiểu và nhìn rõ được sự thật (huệ).

Trong kinh Pháp Cú (Dhammapada), là một trong những kinh cổ xưa nhất của đạo Phật, có một phẩm nói về “người ngu và kẻ trí“. Ngu phải hiểu ở đây không phải là sự ngu dốt, đần độn, kém thông minh, thiếu kiến thức, mà phải hiểu như sự mê muội, đắm chìm trong những đam mê, ảo tưởng của cuộc đời. Trí, như đã nói trên, không phải là sự thông minh, uyên bác, mà là sự hiểu biết sâu xa, trọn vẹn, về con đường chánh, đưa tới an lạc và hạnh phúc. HT Minh Châu có lấy thí dụ một người có rất nhiều kiến thức về rượu, biết rõ những chất liệu của rượu, những tác động của rượu trên cơ thể, nhưng vẫn uống nhiều rượu, vẫn say và nghiện rượu, vẫn bị rượu chi phối. Như vậy thì người ấy có trí thức chứ không có trí tuệ về rượu, người đó là người ngu. Trái lại, một người hiểu biết về rượu, nhưng cũng biết rõ sự nguy hại của rượu, không uống rượu say, không nghiện rượu, vượt ra khỏi sự chi phối của rượu. Như vậy người ấy mới thật là có trí tuệ về rượu, người ấy mới là kẻ trí.

Nói tóm lại, trí tuệ trong đạo Phật Nguyên thủy có mặt trong suốt tất cảgiáo lý căn bản của đạo Phật: “bốn sự thật, con đường tám nẻo, ba pháp ấn, lý nhân duyên”… và đóng một vai trò chủ chốt trên con đường đưa tới giải thoát và giác ngộ.Trí tuệ có nghĩa là hiểu biết trọn vẹn và hành trì theo Chánh Pháp, để phá bỏ màn vô minh và nhận chân sự thật.

Trí tuệ trong đạo Phật Đại thừa

Trí tuệ chính là sợi dây nối liền đạo Phật nguồn gốc, đạo Phật Nguyên thủy và đạo Phật Đại thừa (Mahâyâna). Người ta thường gọi Trưởng Lão Bộ (Sthaviravada), tiền thân của đạo Phật Nguyên thủy (Theravada), là “Cổ phái Trí tuệ” (Ancienne Ecole de Sagesse), và gọi phái Trung Quán (Mâdhyamaka) của Đại thừa là “Tân phái Trí tuệ” (Nouvelle Ecole de Sagesse).

Thật ra, như chúng ta được biết, trong lịch sử phát triển của đạo Phật, các trường phái Đại thừa phân chia ra làm hai khuynh hướng: một bên là trí tuệ và một bên là đức tin.

Tiêu biểu nhất cho trí tuệ là hệ thống Bát Nhã, dựa lên bộ kinh đồ sộ Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajñâpâramitâ-sûtra), (toàn bộ in ra được 600 quyển), với hai bài kinh quan trọng nhất là Đại Bát Nhã Tâm Kinh (Mahâprajñâpâramitâ-hrdaya-sûtra) và Kinh Kim Cương (Vajrachchedika-prajñâpâramitâ-sûtra). Tinh thần Bát Nhã được triển khai bởi ngài Long Thụ (Nâgârjuna), cầm đầu phái Trung Quán (Mâdhyamaka), nhà luận sư nổi tiếng đã chứng minh một cách sắc bén rằng sự thật không thể nào hiểu thấu được bằng lý luận. Theo ngài, trí tuệ là con đường khó, mà đức tin là con đường dễ. Ngài giảng muốn hiểu giáo lý của đức Phật thì phải hiểu hai mức độ, hay đúng hơn hai kích thước của sự thật, sự thật tương đối (samvriti-satya) và sự thật tuyệt đối (paramartha-satya). Và sự thật tuyệt đối là tánh Không (sûnyatâ), là cái không thể nghĩ bàn, không thể nắm bắt bằng những khả năng thông thường của trí tuệ, mà chỉ có thấu hiểu được bằng trực giác, bằng thực nghiệm.

Bài Đại Bát Nhã Tâm Kinh, tuy chỉ có 260 chữ, nhưng chứa đựng được tất cả cốt tủy của tinh thần Bát Nhã. Pâramitâ có nghĩa là vượt qua. Người ta có thể hiểu theo nghĩa vượt qua bên kia bờ, bên này là vô minh phiền não, bên kia là giác ngộ giải thoát, và trí tuệ Bát Nhã là con thuyền chở con người qua bên kia bờ sông. Nhưng đọc và thấm cả bài kinh, chúng ta mới thấy rằng trí tuệ theo tinh thần Bát Nhã rất là đặc biệt, có thể gọi là siêu việt. Trong bài kinh có câu “vô trí diệc vô đắc”, nghĩa là không có trí tuệ mà cũng không có chứng đắc. Sau khi khẳng định rằng “không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”, thì kinh nói rằng “không có vô minh, cũng không có hết vô minh, không có già chết, cũng không có hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí tuệ, cũng không có chứngđắc “, tức là tất cả những gì đã học trong giáo lý căn bản của đức Phật đều không có thật, đều là những chân lý tương đối, tạm bợ… Bởi vì tướng Không của các pháp là không sanh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt, không một không hai. Thấu được lẽ Không của các pháp, của mọi sự vật, mới là trí tuệ thực sự, vượt qua cả trí tuệ (au-delà de la sagesse). Đó mới là ý nghĩa của kinh Bát Nhã siêu việt, tức là Prajñâpâramitâ-sûtrâ, bộ kinh căn bản của Đại thừa.

Trí tuệ trong Thiền tông

Tinh thần Bát Nhã được tiếp nối trong Thiền tông Trung Hoa, từ vị sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) từ Ấn Độ qua vào thế kỷ thứ 6. Người ta thường gán cho ngài Bồ Đề Đạt Ma 4 câu thu gọn lại tôn chỉ của Thiền, là “Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật “. Nhưng thật ra, theo các nhà Phật học, thì Lục tổ Huệ Năng mới là tác giả của tôn chỉ này. Và điểm quan trọng là ngài đã đánh dấu một khúc ngoặt, đã làm một cuộc cách mạng trong Thiền tông bằng cách thay thế quan niệm “khán tâm” bằng quan niệm “kiến tánh”.

Theo ông Daisetz Suzuki, hai chữ “khán” và “kiến” đều có nghĩa là “nhìn”, song chữ “khán” có chữ “thủ” trên chữ “mục”, như bàn tay để trên mắt để che ánh sáng, với ý nghĩa “cố gắng nhìn” (hay là “nhòm, soi”, (regarder, scruter), trong khi đó “kiến” chỉ có chữ “mục” trên đôi chân, tức là “thấy”, một cách tự nhiên, không cố gắng (voir). Như vậy, quan niệm cổ điển của Thiền là “khán tâm”, cố gắng nhìn vào cái tâm của mình, soi cái tâm của mình, trong khi đó ngài Huệ Năng chủ trương “kiến tánh”, nhìn thấy cái tánh, cái Phật tánh trong mình, một cách tự nhiên và hồn nhiên, không cố gắng.

Từ đó, cái nhìn của Thiền về trí tuệ trở nên vô cùng đơn giản : “mây tan thì trăng hiện”. Không cần phải mài viên gạch để mong nó trở thành tấm gương, không cần phải tự hỏi cây phướn động hay gió động. Chẳng nên phân tách, đắn đo, suy nghĩ, bởi vì chỉ cần một niệm dấy lên là bị sương mù cuốn đi xa ngàn dặm. Bởi vậy cho nên giác ngộ có thể tới từ một tiếng hét, từ một viên đá văng vào một khúc gỗ, một mảnh tượng Phật bùng cháy… Phật chính là tuệ giác, là ở trong tâm mình chứ không đâu xa lạ. Tìm trí tuệ ở đâu khác cũng là “ôm cây đợi thỏ” hay “khắc thuyền tìm kiếm”.

Thiền cũng ở trongđường hướng chung của Bát Nhã, không chấp trước, không phân biệt, không mong cầu, không trụ vào đâu. Chính “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là câu trong kinh Kim Cương đã khai trí tuệ cho Lục tổ Huệ Năng và vua Trần Thái Tông.

Con đường phát triển trí tuệ

Làm thế nào đểphát triển trí tuệ? Đó là câu hỏi chung của những người tu học Phật.

– Đối với người mới học Phật thì đạo Phật có vẻ phức tạp, với nhiều môn phái, kinh điển, không biết nên theo ai, bắt đầu bằng gì. Với niềm lo âu là nhỡ lầm thầy, lẫn sách thì có thể sai đường, mất thời giờ hay có khi có hại.

– Đối với người đã lâu năm tu học Phật, thì nhiều khi thấy rằng mình tuy đã có khá nhiều hành lý về giáo lý, nhưng vẫn dậm chân tại chỗ, và thực tế mà nói vẫn chưa tiến được bao nhiêu (đôi khi có lẽ vì hành lý nặng quá!).

Đạo Phật là một con đường thực nghiệm. Mỗi người tự rút ra những kinh nghiệm cá nhân, chỉ có giá trị cho chính mình. Nhưng dẫu sao, từ nhiều kinh nghiệm cá nhân, chúng ta cũng có thể rút ra một số bài học chung:

1. Những lịch trình tu học Phật thường được theo từ xưa tới nay vẫn còn giá trị.

* Đó là “tam vô lậu học”, tức là giới (sila), định (samâdhi) và huệ (pañña).

* Đó là “văn, tư, tu”, tức là ba loại hiểu biết, được phân biệt trong Trường Bộ Kinh (Digha-nikaya) và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga): sự hiểu biết dựa lên học hỏi (sutta-maya-pañña), sự hiểu biết dựa lên suy tư (cinta-maya-pañña) và sự hiểu biết dựa lên tu tập (bhavana-maya-pañña).

* Đó là ” lục độ Ba la mật “, tức là bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ.

2. Trí huệ dĩ nhiên là giai đoạn cuối cùng và cao nhất. Nhưng chúng ta cũng không quên được vai trò cốt yếu của thiền định (bhavanahayjhâna / dhyâna): chính nhờ thiền định mà đức Phật Thích Ca đã giác ngộ dưới gốc cây Bồ đề, và chỉ có thiền định mới giúp phát triển được trí huệ, nhờ hai phương pháp là chỉ (samatha, calme mental, tranquillity), tức là định (samâdhi), quán (vipassana, vision pénétrante, insight). Một câu hỏi có thể đặt ra, nhưng có lẽ chỉ có những đương sự mới có thể trả lời được: tụng niệm (theo Tịnh Độ tông chẳng hạn) có thể đưa tới trạng thái chỉ (hay định), nhằm đi tới “nhất tâm bất loạn”. Nhưng liệu tụng niệm có thể nào đưa tới trạng thái quán, và như vậy đưa tới huệ không?

3. Kinh điển có cần thiết hay không trong sự phát triển trí tuệ? Thiết tưởng đạo Phật là con đường trung đạo, cho nên cũng nên nhìn kinh điển trong tinh thần đó.

Kinh điển chỉ là phương tiện, là ngón tay chỉ mặt trăng, cho nên không nên coi kinh điển là chính yếu, không nên bám víu vào kinh điển, và bù đầu bù óc vào kinh điển.

Ngược lại, cũng không nên bác bỏ mọi kinh điển, bởi vì kinh điển có thểgiúp mình tiến bước trên con đường tu học. Chúng ta nên nhớ rằng ngay cả những người có căn cơ xuất chúng như ngài Huệ Năng cũng nhờ nghe câu kinh mà ngộ đạo.

Liên hệ giữa từ bi và trí tuệ

Nói về trí tuệ sẽ rất thiếu sót nếu không nói tới những tương quan giữa từ bi và trí tuệ.

Người ta thường cho rằng đạo Phật Nguyên Thủy đặt nặng về trí tuệ, trong khi đạo Phật Đại Thừa đặt nặng về từ bi. Sự thật không hẳn là như vậy.

Trong kinh Từ Bi (Metta-sutta), thuộc hệ thống Pali, đức Phật đã dậy cho chúng ta phải thương yêu, cứu độ tất cả các chúng sanh, không phân biệt, không điều kiện, không giới hạn. Trong bài kinh này, ngài không nói tới những liên hệ mật thiết giữa trí tuệ và từ bi, nhưng nếu chúng ta hiểu rõlý duyên khởi, là sự tương quan, tương duyên, tương tác, tương hữu giữa mọi sự vật, thì sự liên hệ mật thiết giữa từ bi và trí tuệ trở nên vô cùng sáng tỏ. Bởi vì tất cả chúng sanh đều có liên đới với nhau như anh em, bà con ruột thịt, cho nên sự khổ đau của chúng sanh cũng không khác gì sự khổ đau của chính mình.

Với Đại Thừa, lý tưởng A La Hán được thay thế bằng lý tưởng Bồ Tát, và từ bi được đề cao bởi những nhân vật như ngài Duy Ma Cật (Vimalakirti): “Sở dĩ Bồ Tát bệnh là bởi vì chúng sanh bệnh. Bao giờ chúng sanh khỏi bệnh, thì Bồ Tát cũng khỏi bệnh”. Trong Kinh cũng nhấn mạnh : “Có hai điều mà Bồ Tát phải ghi nhớ, là không bao giờ bỏ rơi chúng sanh, và nhìn thấy rõ rằng tất cả là Không”.

Có thể nói rằng từ bi có vững chắc được là nhờ nền tảng trí tuệ, và trí tuệ có phát triển được là nhờ ở từ bi.

Thiếu trí tuệ thì từ bi sẽ có thể chỉ là cảm xúc nhất thời, và thiếu từ bi thì trí tuệ khó lòng được thể hiện. Trong hành động cứu độ chúng sanh, con người từ bi tự quên mình, thực nghiệm được thêm Vô ngã, tánh Không, và tự mở mang thêm trí tuệ. Tới khi không còn phân biệt giữa người cứu độvà người được cứu độ, thì lúc bấy giờ đã tự giải thoát hoàn toàn.

Từ bi và trí tuệ đi đôi và gắn liền với nhau, vì từ nguồn trí tuệ mà suối từ bi tuôn chẩy, nhờ suối từ bi cho nên cây trí tuệ trổ hoa.

Như vậy, trong đạo Phật, từ bi và trí tuệ bổ túc cho nhau, nương vào nhau mà hiện hữu, cũng như hai mặt của một bàn tay, hay đôi cánh của một con chim.

Con chim bay xa, bay xa mãi, khi không còn thấy bờ bên này hay bên kia…

Olivet, tháng 4 năm 2005

Trịnh Nguyên Phước

 

Đôi điều về tác giả bài viết:

Tên thật: Trịnh Đình Hỷ

Pháp danh: Nguyên Phước

Sinh năm: 1946 tại Hà Nội

Tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa tại trường Đại học Y Cochin Port-Royal.

Là bác sĩ chuyên ngành về tiêu hóa; Giảng viên Trường Đại học Saint-Antoine, Phó chủ nhiệm khoa Tiêu hóa Bệnh viện khu vực Orleans. Nay nghỉ hưu.

Tác giả đã nghiên cứu tìm hiểu về đạo Phật hơn 40 năm. Những tiểu luận trong tập sách này đã được công bố trên các báo Gió Nội, Hương Sen, Giác Ngộ, tập Văn, Pháp Luân và trên một số website: Người Cư sĩ, Thư viện Hoa Sen, Quảng Đức… dưới bút danh Nguyên Sĩ, Nguyên Phước và Trịnh Nguyên Phước.

 

Tác phẫm tiêu biểu: ĐỐI THOẠI GIỮA ĐỨC PHẬT VÀ GÃ CHĂN CỪU

Giới thiệu về nội dung Sách do bác sĩ, Phật tử Trịnh Nguyên Phước biên soạn và bình giảng. Tác giả đã nghiên cứu tìm hiểu về đạo Phật hơn 40 năm. Những tiểu luận trong tập sách này đã được công bố trên các báo: Hương Sen, Giác Ngộ, Pháp Luân… dưới bút danh Nguyên Si, Nguyên Phước. Sách được biên soạn, bình giảng rất công phu với nhiều tâm huyết. Sách bao gồm những câu chuyện thiền, sự tương quan giữa Đạo Phật và khoa học, giáo lý căn bản của đạo Phật,… phù hợp với những Phật tử đang trên con đường tìm hiểu giáo lý, giới luật để giữ vững đường tu. Sách còn thể hiện sự thâm trầm, hiểu biết đạo lý và tình yêu đối với đời và đạo của tác giả.

.

——————————–

12494819257Fcldw

.

TRAO ĐỔI MẠN ĐÀM ĐỀ TÀI:

“NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA ĐẠO PHẬT NGUYÊN THỦY VÀ ĐẠI THỪA”

Nhân chuyến đi về thăm quê hương, Giáo sư – Bác sĩ Trịnh Đình Hỷ có dành một phần thời gian gặp gỡ thân hữu.

CLB Lều Chõng và Đoàn Tuệ Tâm tổ chức buổi mạn đàn trao đổi về đề tài: “NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA ĐẠO PHẬT NGUYÊN THỦY VÀ ĐẠI THỪA”

Do GS – BS Trịnh Đình Hỷ chủ trì

Buổi sinh hoạt được tổ chức

Ngày Chủ nhật 31.03.2013,

vào lúc 8h đến 11h,

tại địa chỉ 119 Nguyễn Văn Đậu, Phường 5, quận Bình Thạnh, TP.HCM.

Thân mời tất cả các anh chị, các bạn quan tâm cùng đến tham dự.

Trân trọng và Cảm ơn.

————————-

Thông tin này lấy từ  Facebook của TUỆ TâM