Đức Phật diệt độ như thế nào

Đức Phật diệt độ như thế nào

Tác giả: Venerable Dr Mettanando Bhikkhu 

Bangkok Post, ngày 15 tháng 5 năm 2001

Người dịch: Nguyễn Quốc Bình

Dịch và chú xong bản 1.0 tại Sài Gòn, ngày hoàn mãn an cư Phật lịch 2556, nhằm ngày 29 tháng 10 năm 2012

 

Chú thích của người dịch: Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. Tri ân chư tôn đức trong tứ chúng đã đặt nền tảng cho việc học Phật. Cảm ơn TS Bình Anson đã cung cấp bài viết này trên PLCĐ. Cảm ơn bạn Rùa Bin đã giúp đỡ trong việc dịch các thuật ngữ y khoa. Bài viết này chỉ tường thuật lại một cách phân tích theo lối y khoa đã được tiếp cận cho kinh Đại Bát-Niết-Bàn, Trường Bộ Kinh. Vì thời gian hoàn thành gấp rút cho kịp thời gian mãn an cư nên không thể tránh khỏi thiếu sót, mong các vị thiện tri thức tiếp tục phát triển các phiên bản dịch khác tốt hơn.

 

———

 

Chúng ta đều được biết rằng Đức Phật nhập Bát-Niết-Bàn[i] vào ngày Vesak[ii].  Nhưng không nhiều người trong chúng ta biết Đức Phật diệt độ[iii] như thế nào. Theo các bản văn cổ thì có hai câu chuyện về sự diệt độ của Đức Phật: 1) Có dự tính theo ý muốn của Ngài, 2) hoặc là bị ngộ độc từ thức ăn, hoặc một lý do khác nào đó. Bài viết sẽ đề cập chi tiết về vấn đề này.

 

-ooOoo-

 

Kinh Đại Bát-Niết-Bàn trong Trường Bộ Kinh của Tam Tạng Pāḷi[iv] là nguồn tài liệu đáng tin cậy nhất về việc viên tịch của Siddhattha Gotama, tức Đức Phật (vào khoảng 563-483 trước Tây Lịch). Cách tường thuật của bản văn này cho phép người đọc theo dõi câu chuyện xảy ra vào những ngày cuối của Đức Phật kể từ vài tháng trước khi thị tịch.

Dù vậy, hiểu những gì thực sự đã xảy ra với Đức Phật vẫn không phải là một vấn đề đơn giản. Bài kinh, hay bản văn này, đã phác thảo nên 2 hình tượng nhân vật trái ngược nhau về Đức Phật, trong đó 1 hình tượng nổi bật hơn.

Hình tượng đầu tiên là của một nhân vật thần kì có thể đưa mình và chư tăng đồng phạm hạnh vượt Sông Hằng[v] (D II, 89)[vi], người với thiên nhãn thanh tịnh thấy hàng ngàn chư thiên tụ họp tại các trú địa[vii] (D II, 87), người có thể sống cho đến khi thế giới hoại diệt nếu như có người thỉnh cầu[viii]  (D II, 103), người xác định thời được thời điểm thị tịch của mình[ix] (D II, 105), và người mà sự diệt độ đã được tôn vinh bằng hoa trời, đàn hương và thiên nhạc[x] (D II, 138).

Một hình tượng khác là một người ở tuổi xế chiều với sức khỏe suy yếu[xi] (D II, 120), người suýt mất mạng vì một cơn đau nặng trên kỳ an cư cuối của mình tại Vesāli[xii][xiii] (D II, 100), và những người đối diện với cơn bệnh và cái chết bất thình lình sau khi thọ dụng một món ăn đặc biệt được thí chủ nhiệt tâm dâng cúng.[xiv]

Hai hình tượng này xuất hiện đan xen trong các phần khác nhau của câu chuyện. Thêm vào đó, cũng có 2 lối giải thích cho nguyên nhân cái chết của Đức Phật: Một là Đức Phật tịch do thị giả Ananda đã không thỉnh Ngài trụ thế đến hết kiếp trái đất hoặc thậm chí lâu hơn[xv] (D II, 117). Lối giải thích còn lại là Ngài tịch là do căn bệnh đột ngột bắt đầu sau khi thọ dụng vật thực tên là “Sūkaramaddava”[xvi][xvii] (D II, 127-157).

Câu chuyện thứ nhất có lẽ là một huyền thoại, hoặc kết quả của một cuộc đấu tranh chính trị trong cộng đồng Phật giáo suốt một giai đoạn của quá trình chuyển đổi[xviii], trong khi đó câu chuyện thứ hai nghe có vẻ thực tế hơn và chính xác trong việc mô tả một tình huống thực tế đã xảy ra trong những ngày cuối cùng của Đức Phật.

Một số nghiên cứu đã tập trung vào bản chất của các món ăn đặc biệt mà Đức Phật đã dùng trong bữa ăn cuối cùng của Ngài như là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của Ngài. Tuy nhiên, đó cũng là một cách tiếp cận dựa trên mô tả của các triệu chứng và dấu hiệu được đưa ra trong bài kinh, mà kiến thức y tế hiện đại có thể làm sáng tỏ.

Một bức tranh tường khác tại Wat Ratchasittharam[xix] mô tả Đức Phật đang trong lúc cận tử, nhưng Ngài vẫn có thời gian để trả lời các câu hỏi đưa ra bởi du sĩ ngoại đạo Subhadda[xx], dành lần cuối tế độ cho ông trở thành một vị Arahant[xxi][xxii] (người đã giác ngộ[xxiii]).

 

Những gì chúng ta biết

Trong kinh Đại Bát-Niết-Bàn, ta biết rằng Đức Phật bị bệnh đột ngột sau khi ăn một món ăn đặc biệt gọi là Sūkaramaddava[xxiv], dịch theo nghĩa đen là “thịt heo mềm”. Món ăn này đã được chuẩn bị bởi thí chủ hào phóng của Ngài là Cunda Kammaraputta. Tên của các món ăn đã thu hút sự chú ý của nhiều học giả, và người ta đã tập trung nghiên cứu khoa học về bản chất của các bữa ăn, tức là các thành phần được sử dụng trong việc nấu món ăn này đặc biệt.

Bản thân bài kinh đã cung cấp các chi tiết liên quan đến các dấu hiệu và triệu chứng bệnh tật của Ngài; thêm vào đó một số thông tin đáng tin cậy về hoàn cảnh của Ngài vào khoảng hơn bốn tháng trước đó cũng rất có ý nghĩa về mặt y khoa.

Kinh bắt đầu với âm mưu của vua Ajātasattu[xxv] muốn chinh phục nước Vajjī[xxvi] Đức Phật đã du hành đến Vajjī[xxvii] để an cư mùa mưa lần cuối[xxviii]. Ngài bị bệnh trong mùa an cư này. Triệu chứng của căn bệnh đến đột ngột và đau dữ dội.

Tuy nhiên, bài kinh không cung cấp mô tả về vị trí và tính chất về cơn đau của Ngài. Bài kinh chỉ đề cập vắn tắt đến cơn bệnh tật của Ngài, nói rằng đau đớn rất dữ dội, và gần như đã giết chết Ngài.

Sau đó, Mara[xxix] đã đến chỗ Đức Phật và thỉnh Ngài nhập tịch. Đức Phật không chấp nhận lời thỉnh này ngay lúc đó. Chỉ sau khi Ananda, thị giả của Ngài, không nhận ra Ngài gợi ý thỉnh Ngài trụ thế thì ngày mới diệt độ. Chi tiết này của câu chuyện, mặc dù khoác lên vẻ huyền thoại và siêu nhiên, nhưng đã cung cấp cho ta một số thông tin y học đáng kể. Khi bài kinh được soạn ra, tác giả của nó đã hướng theo quan điểm cho rằng cái chết của Đức Phật không phải do thức ăn gây ra mà là vì Ngài đã có một căn bệnh tiềm ẩn nghiêm trọng cấp tính và có cùng các triệu chứng với cơn bệnh cuối cùng giết chết Ngài[xxx].

 

Thời gian

Truyền thống của Phật giáo Theravada đã tôn trọng giả định rằng Đức Phật lịch sử qua đời trong đêm trăng tròn trong tháng âm lịch của Visakha (nhằm vào khoảng khoảng từ Tháng Năm đến Tháng Sáu). Tuy nhiên, thời gian này mâu thuẫn với thông tin được đưa ra trong bài kinh, trong đó nêu rõ rằng Đức Phật tịch ngay sau khi kỳ an cư mùa mưa, rất có thể trong thời gian giữa mùa thu hoặc mùa đông, có nghĩa là, từ Tháng Mười Một đến Tháng Một.

Trong bài kinh có mô tả về một hiện tượng kỳ diệu khi hai cây sālā trổ hoa trái mùa tràn đầy cành lá khi  Đức Phật nằm giữa chúng[xxxi].

Tuy nhiên, mùa thu và mùa đông không phải là mùa thuận lợi cho sự phát triển của các loại nấm mà một số học giả tin là nguồn gốc của chất độc mà Đức Phật đã dùng trong bữa ăn cuối của mình.

 

Chẩn đoán

 Bản kinh cho ta biết rằng Đức Phật cảm thấy bị bệnh ngay lập tức sau khi ăn món Sukaramaddava. Vì ta không biết bất cứ điều gì về bản chất của thực phẩm này, rất khó để gán nó thành nguyên nhân trực tiếp đến căn bệnh của Đức Phật. Nhưng từ mô tả trong bài kinh, sự khởi đầu của bệnh diễn ra rất nhanh chóng.

Trong khi ăn, Ngài cảm thấy có điều gì đó không ổn với thực phẩm và Ngài đề nghị chủ nhà đem thức ăn đi chôn. Không lâu sau đó, Ngài bị đau dạ dày trầm trọng và xuất huyết trực tràng[xxxii].

Ta có thể giả định một cách hợp lý rằng bệnh bắt đầu trong khi Ngài đã dùng bữa ăn của mình, làm cho Ngài nghĩ rằng có điều không ổn so với bình thường. Vì lòng từ bi với những người khác, Ngài đã yêu cầu chôn món ăn.

Có phải thực phẩm bị nhiễm độc là nguyên nhân của bệnh? Có vẻ như không phải vậy. Các triệu chứng được mô tả không chỉ ra đó là ngộ độc thực phẩm. Bệnh này tuy cấp tính nhưng khó có thể gây tiêu chảy ra máu.Thông thường, ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn gây ra không tự phát bệnh ngay lập tức, mà phải mất thời gian ủ bệnh từ 2 đến 12 giờ mới biểu hiện ra ngoài, thường là với triệu chứng tiêu chảy cấp và ói mửa, nhưng không có máu.

Một khả năng khác là ngộ độc hóa chất. Bệnh này cũng có tác động ngay tức thời nhưng nó là ngộ độc hóa chất thường không gây ra chảy máu đường ruột nghiêm trọng. Ngộ độc thực phẩm với chảy máu đường ruột ngay lập tức chỉ có thể được gây ra bởi các hóa chất ăn mòn như axit mạnh, có thể dễ dàng dẫn đến bệnh ngay lập tức. Tuy nhiên, hóa chất ăn mòn có thể đã gây ra chảy máu trong đường ruột trên, dẫn đến nôn ra máu. Không có các biểu hiện mạnh nào như vậy được đề cập trong bản kinh.

Bệnh loét dạ dày tá tràng cũng có thể được loại trừ khỏi danh sách các bệnh có thể có. Mặc dù thực tế là sự khởi đầu của bệnh này là ngay lập tức nhưng nó hiếm khi đi kèm với tiêu ra máu. Loét dạ dày với chảy máu đường ruột tạo ra phân đen khi vết loét ăn sâu vào các mạch máu. Một chứng loét cao hơn trong đường tiêu hóa sẽ có nhiều khả năng phát bệnh ra như là nôn ra máu, không phải là thải ra một lượng máu thông qua trực tràng.

Một chứng cứ khác chứng chống lại khả năng này là một bệnh nhân bị loét dạ dày lớn thường không có sự thèm ăn. Bằng cách chấp nhận lời mời ăn trưa với chủ nhà, chúng ta có thể giả định rằng Đức Phật cảm thấy khỏe cũng như bất cứ người đàn ông nào ở đầu độ tuổi 80 sẽ cảm thấy. Với độ tuổi tác của Ngài, ta không thể loại trừ khả năng Đức Phật có một bệnh mãn tính, chẳng hạn như ung thư hay lao phổi hoặc nhiễm trùng nhiệt đới như bệnh lỵ hoặc thương hàn, có thể đã khá phổ biến trong thời kỳ Đức Phật.

Các bệnh này có thể làm chảy máu của ruột dưới, tùy thuộc vào vị trí của chúng. Điều này cũng khớp với tiền sử bệnh trạng của Ngài trong kỳ an cư. Nhưng những khả năng bệnh này có thể được loại trừ, vì chúng thường đi kèm với các triệu chứng khác, chẳng hạn như hôm mê, chán ăn, giảm cân, chướng bụng. Những triệu chứng này đã không được đề cập trong các bài kinh.

Một khối trĩ lớn có thể gây ra chảy máu trực tràng nghiêm trọng, nhưng không chắc rằng bệnh trĩ lại có thể gây ra đau bụng dữ dội, trừ khi nó bị chèn ép. Nhưng nếu vậy nó sẽ gây cản trở việc đi lại của Đức Phật để đến nhà thí chủ, và hiếm khi bệnh trĩ chảy máu bởi do bữa ăn.

 

Nhồi máu mạc treo

 Một bệnh phù hợp với mô tả các triệu chứng như kèm theo đau bụng cấp, chảy máu, thường được thấy ở người cao tuổi, và bị gây ra bởi một bữa ăn là nhồi máu mạc treo gây ra bởi tắc nghẽn các mạch máu của mạc treo. Bệnh này có thể làm chết người. Thiếu máu mạc treo cấp tính (suy giảm cung cấp máu cho các mạc treo) là một tình trạng nghiêm trọng với tỷ lệ tử vong cao.

Mạc treo là một phần của thành ruột liên kết với toàn bộ đường ruột với khoang bụng. Một cơn nhồi máu của các mạch của mạc treo thường gây chết các tế bào trong một vùng lớn của đường ruột, có thể dẫn đến kết quả là làm rách thành ruột.

Điều này thường tạo ra một cơn đau nặng ở bụng và gây chảy máu. Bệnh nhân thường chết vì mất máu cấp. Tình trạng này phù hợp với thông tin được đưa ra trong bài kinh. Nó cũng được xác nhận sau đó khi Đức Phật bảo A Nan lấy nước để uống[xxxiii]. Điều này cho thấy cơn khát rất mãnh liệt.

Như diễn tiến câu chuyện, Ananda từ chối vì ngài thấy có nguồn nước không được sạch. Ngài nói với Đức Phật rằng dòng suối gần đó đã bị khuấy đục bởi một đoàn xe lớn. Nhưng Đức Phật vẫn quyết bảo ngài đi lấy nước.

Một câu hỏi phát sinh tại chi tiết này: Tại sao Đức Phật không tự đi đến nguồn nước thay vì lệnh cho vị thị giả đang không muốn làm việc này? Câu trả lời thật là đơn giản. Đức Phật đã bị sốc do mất máu nặng. Ngài không còn có thể đi bộ, và từ đó đến nơi Ngài diệt độ, Ngài có thể đã được khiêng trên kiệu[xxxiv].

Nếu đây là tình hình thực sự, bài kinh vẫn im lặng về việc chuyến đi của Đức Phật đến nơi diệt độ mình, có thể do tác giả cảm thấy rằng chi tiết này không hay cho hình ảnh Đức Phật. Về mặt địa lý, chúng ta biết rằng khoảng cách giữa nơi được cho là ngôi nhà của Cunda và địa điểm nơi Đức Phật đã diệt độ là khoảng 15 đến 20 km[xxxv]. Một bệnh nhân bị bệnh nghiêm trọng không thể đi bộ một với khoảng cách xa như vậy.

Nhiều khả năng, những gì đã xảy ra là Đức Phật đã được các Tỷ Kheo kiệu đến Kusinārā (Kushinagara)[xxxvi].

Song vẫn còn là một điểm tranh luận nữa là liệu Đức Phật có thực sự quyết định diệt độ tại thành phố mà có lẽ là không lớn hơn nhiều so với một thị trấn như vầy chăng. Từ sự hướng đạo của cuộc hành trình của Đức Phật được đưa ra trong bài kinh, Ngài đã đi từ thành Rājagaha[xxxvii] hướng lên phía bắc[xxxviii]. Có thể Ngài không có ý định diệt độ ở đó, mà là sẽ đến thị trấn nơi Ngài sinh ra[xxxix]. Chuyến hành trình này có thể kéo dài đến ba tháng[xl].

Từ bài kinh, nó là rõ ràng rằng đức Phật được không dự đoán bị bệnh đột ngột của mình[xli], nếu không Ngài ắt là sẽ không chấp nhận lời mời của thí chủ. Kusinārā có lẽ là thị trấn gần nhất, nơi Ngài có thể tìm một y sĩ để chăm sóc bệnh tình cho mình. Không khó để suy diễn rằng chúng Tỷ Kheo vội vàng kiệu Đức Phật trên một cái kiệu đến thị trấn gần nhất để tìm cách cứu chữa.

Trước khi qua đời, Đức Phật nói với A Nan rằng không nên đổ lỗi cho Cunda là cái chết của Ngài đã không bị gây ra bởi món ăn Sūkaramaddava. Tuyên bố này rất đáng chú ý. Bữa ăn không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra cái chết của Ngài. Đức Phật biết rằng các triệu chứng này đang lặp lại theo kinh nghiệm như của mình có vài tháng trước đó trong một lần phái bệnh đã gần như đã giết chết Ngài.

Sūkaramaddava, bất kể thành phần hay cách chế biến, không phải là nguyên nhân trực tiếp cho cơn bệnh đột ngột của Ngài.

 

Diễn tiến của bệnh

 Nhồi máu mạc treo là một bệnh thường được tìm thấy ở những người cao tuổi, bị gây ra bởi sự tắc nghẽn của động mạch chính cung cấp máu cho đoạn giữa của ruột, phần ruột non. Nguyên nhân phổ biến nhất của tắc nghẽn là do thoái hóa của các thành của các mạch máu, tức là động mạch mạc treo ruột trên, gây ra đau bụng nghiêm trọng, còn được gọi là đau thắt ngực thể bụng.

Thông thường, cơn đau được gây ra bởi một bữa ăn lớn, đòi hỏi một lượng máu nhiều hơn đến đường tiêu hóa. Khi tắc nghẽn vẫn còn hiện diện, ruột bị mất nguồn cung cấp máu cho nó. Điều này sau đó dẫn đến nhồi máu hoặc hoại tử, một phần của đường ruột. Kết quả có thể dẫn đến rách của thành ruột làm máu chảy nhiều vào đường ruột và dẫn đến tiêu chảy ra máu.

Bệnh sẽ tồi tệ hơn khi dịch và những thứ chứa trong ruột đổ ra khoang phúc mạc, gây viêm phúc mạc hoặc viêm thành bụng. Điều này có thể dẫn đến tử vong cho bệnh nhân. Các bệnh nhân này thường chết do mất máu và mất các dịch khác. Nếu nó không được phẫu thuật chữa trị, bệnh thường tiến triển đến sốc nhiễm trùng do độc tố vi khuẩn xâm nhập vào máu.

 

Phân tích lại câu chuyện

 Từ chẩn đoán được đưa ra ở trên, chúng ta có thể khá chắc chắn rằng Đức Phật bị nhồi máu mạc treo gây ra bởi việc tắc động mạch mạc treo tràng trên. Đây là nguyên nhân của cơn đau mà hầu như đã giết Ngài vài tháng trước đó trong kỳ an cư mùa mưa cuối cùng.

Với sự tiến triển của bệnh, một số lớp màng niêm mạc ruột của Ngài bị tróc ra, và điều này trở thành nguyên nhân của việc chảy máu. Bệnh xơ cứng động mạch, nghĩa là xơ cứng thành mạch gây ra bởi tuổi tác, là nguyên nhân gây ra tắc động mạch. Một tắc nghẽn nhỏ sẽ không dẫn đến tiêu chảy ra máu, nhưng có thể gây ra  triệu chứng đau thắt ngực bụng như ta đã biết.

Cơn bệnh thứ hai của Ngài đến trong khi Ngài dùng Sukaramaddava. Cơn đau có thể không mãnh liệt ngay từ đầu, nhưng làm Ngài cảm thấy không ổn. Nghi ngờ căn bệnh có thể do thực phẩm, Ngài đã yêu cầu thí chủ chôn chúng để không làm hại đến những người khác.

Ngay sau đó, Đức Phật nhận ra rằng căn bệnh trở nên nghiêm trọng, biểu hiện qua việc chảy máu và đau nặng ở bụng. Ngài đã bị shock do mất máu. Mức độ mất nước rất nghiêm trọng đến nỗi Ngài không thể chịu thêm được nữa nên Ngài đã nghỉ tại một cái cây trên đường đi[xlii].

Cảm thấy rất khát nước và kiệt sức, Ngài yêu cầu Ananda lấy nước uống  dù biết rằng nước đã được vẫn đục. Đó là nơi Ngài kiệt sức cho đến khi đoàn tùy tùng của Ngài mang Ngài đến thị trấn gần nhất là Kusinārā, nơi có thể sẽ tìm được một y sĩ hoặc nhà nghỉ cho Ngài phục hồi sức khỏe.

Có thể sự thật là Đức Phật đã cảm thấy khỏe hơn sau khi uống bù nước và nghỉ ngơi trên kiệu. Kinh nghiệm với các triệu chứng cho Ngài biết rằng cơn bệnh đột ngột của Ngài là lần xuất hiện thứ hai của một căn bệnh hiện có. Ngài nói với A Nan rằng bữa ăn không phải là nguyên nhân gây ra bệnh của mình, và rằng Cunda không có lỗi.

Một bệnh nhân bị sốc, mất máu và mất nước nhiều thường cảm thấy rất lạnh. Đây là lý do tại sao Ngài bảo thị giả của mình chuẩn bị nơi nghỉ bằng cách gấp y Sanghàti[xliii] làm tư[xliv]. Theo luật của tu sĩ Phật giáo, Sanghàti một chiếc y choàng, tức là phần áo choàng thêm vào có kích thước rất lớn như kích thước của tấm drap trải giường. Y này được Đức Phật cho phép tăng ni mặc vào mùa đông.

Thông tin này phản ánh rằng Đức Phật cảm thấy lạnh vì mất máu. Theo lâm sàng, một bệnh nhân ở trong tình trạng bị shock, đau bụng dữ dội, nhiều khả năng viêm phúc mạc, biểu hiện xanh tái và lạnh run như vậy thì khó lòng có thể cấp cứu được.

Đức Phật đã rất có thể đưa vào một nhà nghỉ ở Kusinārā, nơi Ngài được chăm sóc và giữ ấm. Quan điểm này cũng được khẳng định qua mô tả Ananda khóc lóc[xlv] mà bắm vào cánh cửa nơi nhà nghỉ của Ngài khi biết rằng Đức Phật là sắp diệt độ[xlvi].

Thông thường, một bệnh nhân bị nhồi máu mạc treo có thể sống từ 10 đến 20 giờ. Từ bài kinh chúng ta biết rằng Đức Phật đã diệt độ trong khoảng 15 đến 18 giờ sau cơn bệnh[xlvii]. Trong thời gian đó, thị giả của Ngài sẽ cố gắng hết sức mình để chăm sóc, như là làm ấm phòng Ngài nghỉ, hoặc bằng cách tiếp nước để làm dịu cơn khát kéo dài của Ngài, hoặc bằng cách cho Ngài một số thứ uống thảo dược. Nhưng nhiều khả năng là điều một bệnh nhân đang lên cơn run cần không phải là quạt cho Ngài như được mô tả trong các bài kinh[xlviii].

Cơn bệnh chập chờn, Ngài có thể đã phục hồi sau lần kiệt sức. Điều này cho phép Ngài tiếp tục các cuộc đối thoại với một vài người. Hầu hết những lời cuối cùng của Ngài có thể là đúng, và các lời này đã được các thế hệ của các nhà sư ghi nhớ cho đến khi chép ra văn bản. Nhưng cuối cùng, vào đêm khuya, Đức Phật đã mất trong lần shock thứ hai nhiễm trùng. Bệnh của Ngài bắt nguồn từ các nguyên nhân tự nhiên kết hợp với tuổi tác như là ở những người khác.

 

Kết luận

 Giả thuyết được nêu trên đây giải thích một đoạn trong mạch chuyện của bài kinh, cụ thể là việc lệnh cho Ananda lấy nước, yêu cầu gấp tư chiếc y choàng để làm giường ngủ cho Đức Phật, yêu cầu chôn món ăn, và nhiều chi tiết khác nữa.

Phân tích cũng cho thấy một khả năng thực tế về các phương tiện đưa Đức Phật đến Câu Thi Na và vị trí nơi Ngài nằm diệt độ. Món sukaramaddava, cho dù là gì đi nữa, không phải là nguyên nhân trực tiếp của bệnh tật của Ngài. Đức Phật không mất do ngộ độc thực phẩm. Thực ra, đó là do lượng thức ăn tương đối quá lớn đối với đường tiêu hóa đang gặp bị bệnh. Điều này gây ra cơn phát bệnh thứ hai của chứng nhồi máu mạc treo ruột đã kết thúc cuộc sống của Ngài. /.

 

Chú thích: Tiến sĩ Tỳ kheo Mettanando là một bác sĩ trước khi xuất gia. Ông hiện đang ở tại Wat Raja Orasaram, Thái Lan.

—ooOoo—

Tài liệu tham khảo chính lúc dịch:

-Kinh Đại Bát Niết Bàn, Trường Bộ Kinh 1, Hòa Thượng  Minh Châu dịch Việt.

-Milindapañhāpāḷi và Milinda Vấn Đạo – Tam Tạng Pāḷi-Việt tập 45.

-Wikipedia tiếng Anh và Việt.

 

Nguyên tác: http://www.buddhanet.net/budsas/ebud/ebdha192.htm

 

Ghi chú:

[i] Niết Bàn hay Níp Bàn theo Phạn Ngữ Pāli “Nibbāna” là trạng thái pháp vô vi (không bị tạo tác), tịch tĩnh, bất động, vô ấn chứng. Là trạng tháng diệt dứt các lậu hoặc phiền não. Người chứng được Niết Bàn là các bậc thánh. Niết Bàn đó gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn (Sa upādissānibbāna). Khi các vị đó kết thúc đời sống này, danh sắc sẽ không còn tái sanh trở lại nữa, gọi là Vô Dư Y Niết Bàn (Anupādisesanibbāna) hoặc Bát Niết Bàn (Parinibbana). Ghi chú thêm: Niết-Bàn không phải là cõi (nơi chúng sanh nương gá); ngũ uẩn khi ấy không còn nên không thể gọi là hạnh phúc theo nghĩa thông thường của cảm nhận (thọ); vì là vô vi nên các đỗi đãi nhị nguyên không còn nên cũng không thể nói người đã Niết-Bàn là tồn tại, là không tồn tại, là vửa tồn tại vừa không tồn tại, hoặc vừa không tồn tại vừa không không tồn tại. Động từ ‘nhập’ thêm trước Niết-Bàn có thể là không cần thiết nhưng vẫn dùng do thói quen ngôn ngữ.

 

[ii] Vesak là tiếng Sinhala có thể được đọc trại ra từ Vaishākha trong tiếng Pali, là tên gọi của tháng Hai lịch pháp Ấn Độ giáo. Ở Ấn Độ, Bangladesh và Nepal, Vesak còn được gọi là Visakah Puja (lễ hội Visakah), Buddha Purnima hay Buddha Jayanti; Thái Lan gọi là Visakha Bucha; Indonesia gọi là Waisak; Tây Tạng gọi là Saga Daw; Lào gọi là Vixakha Bouxa và Myanma gọi là Ka-sone-la-pyae (nghĩa là Ngày rằm tháng Kasone, cũng là tháng thứ hai trong lịch Myanma). Theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng thì ngày này là ngày Tam hiệp (Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết-bàn.) (theo wikipedia)

 

[iii] Còn được dùng với những từ như Diệt (zh. 滅), Diệt tận (zh. 滅盡), Diệt độ (zh. 滅度), Tịch diệt (zh. 寂滅), Bất sinh (zh. 不生), Viên tịch (zh. 圓寂), nghĩa là sự kết thúc đời sống của một bậc thánh Tứ Quả, sau đó sẽ không còn tái tục nữa. Về bản chất, đây vẫn là cái chết hay sự qua đời vì vậy trong bài dịch này, các từ trên và các từ gần nghĩa sẽ được dùng tùy vào ngữ cảnh được nhắc tới mà không có ý bất kính nào.

 

[iv] Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya), kinh số  16: Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn (Mahāparinibbāna sutta).

 

[v] “33. Rồi Thế Tôn đi đến sông Gangà (sông Hằng). Lúc bây giờ, sông Gangà tràn ngập nước đến bờ đến nỗi con quạ có thể uống được. Có người đang đi tìm thuyền, có người đang đi tìm phao, có người cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn mau lẹ như người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ bờ bên này và hiện ra trên bờ bên kia với chúng Tỷ-kheo.

34. Thế Tôn thấy những người kia, người đang đi tìm thuyền, người đang đi tìm phao, người đang đi cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn hiểu được ý nghĩa của cảnh này, lúc ấy bèn ứng khẩu lời cảm khái:

“Những ai làm cầu vượt biển trùng dương, bỏ lại đất sũng đầm ao, trong khi người phàm phu đang cột bè.

Những người ấy thật là những vị trí tuệ được giải thoát”” (trích Kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[vi] Đây là cách ghi chú tài liệu tham khảo của giới nghiên cứu Phật Giáo. Kí hiệu trên nghĩa là Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya) tập 2, trang 89 theo ấn bản đầu tiên của Pali Text Society (PTS). Ý kiến cá nhân của ND cho rằng kí hiệu theo cách này (theo số trang) rất gây khó khăn trong việc tra cứu vì ngày nay việc tiếp cận (search, đọc, download…) và chuyển đổi (như dàn trang lại, thể bằng web…) trên văn bản điện tử được sắp xếp theo cấu trúc (nghĩa là theo chương, mục, phần, đoạn…) sẽ dể dàng hơn là dò theo từng trang của một tài liệu phải mua quyền sử dụng. Vì vậy, trong các trích đoạn ở đây có thể không chính xác theo cách đánh mã của tác giả.

 

[vii] “26. Lúc bấy giờ Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha đang dựng thành trì để ngăn chặn dân Vajjì. Một số rất lớn các thiên thần tụ họp hàng ngàn tại các trú địa ở Pàtaligàma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá.

27. Thế Tôn với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân thấy hàng ngàn các thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pàtaligàma, Thế Tôn thức dậy khi đêm chưa tàn và nói với tôn giả Ananda:

– Này Ananda, ai đang xây dựng thành trì ở Pataligama?

– Sunidha và Vassakara, bạch Thế Tôn, hai vị đại thần xứ Magadha, đang xây dựng thành trì ở Pataligama để ngăn chận dân Vajjì.” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[viii] “2. Thế Tôn đi đến điện thờ Càpàla, khi đến Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ananda đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

– Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sàttambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada, khả ái thay điện thờ Càpàla.

3. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.

4. Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn; tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm tôn giả bị Ma vương ám ảnh. “ (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[ix] “9. Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Ác ma: “Này Ác ma hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”.

10. Và tại điện thờ Capala, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ, không duy trì mạng sống thêm nữa, thời đại địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy. Thế Tôn nhận hiểu ý nghĩa của sự kiện ấy, liền thốt câu kệ cảm khái như sau:

Mạng sống có hạn hay vô hạn,

Tu sĩ từ bỏ, không kéo dài.

Nội tâm chuyên nhất trú thiền định.

Như tháo áo giáp đang mang mặc.” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[x] “2. Lúc bấy giờ, cây sàlà song thọ trổ hoa trái mùa, tràn đầy cành lá. Những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài, nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.

….

13. Rồi dân Mallà ở Kusinàrà ra lệnh cho những người làm: “Các người hãy gom góp hương, tràng hoa và tất cả nhạc khí ở Kusinàrà”.

Rồi dân Kusinàrà đem theo hương, tràng hoa, tất cả nhạc khí và năm trăm cuộn vải đi đến Upavattana, tại rừng Sàlà của dòng họ Mallà, đến tại chỗ thân xá lợi của Thế Tôn, rồi chúng ở lại cả ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Mandala.

Rồi dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: “Hôm nay, nếu thiêu thân xá lợi Thế Tôn thời quá sớm. Ngày mai, chúng ta sẽ làm lễ thiêu thân xá lợi của Thế Tôn”. Rồi dân Mallà ở Kusinàrà, cả ngày thứ hai, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Mandala, ngày thứ ba cũng như vậy, ngày thứ tư cũng như vậy, ngày thứ năm cũng như vậy. Ngày thứ sáu cũng như vậy. ” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xi] “25. Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ananda, những ai nghĩ rằng: “Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai” thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: “Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta” thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.”  (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xii] Hán âm là Xà-Vệ.

 

[xiii] “23. Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: “Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống”. Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn.”  (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xiv] “20. Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.

Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kusinàra.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.

Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.

Sau khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.

Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư.

Ðiều phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:

“Ta đi đến thành Kusinàra”. ”  (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xv] “40. – Bạch Thế Tôn, chính con được tận mặt, đích thân nghe Thế Tôn dạy như sau: “Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc… Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”.

– Này Ananda, Ngươi có tin tưởng không?

– Bạch Thế Tôn, con có tin tưởng!

– Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi, đã không nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ananda, nếu Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi. ” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xvi] “19. Rồi Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:

– Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Thợ sắt Cunda vâng theo Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ còn lại vào một lỗ, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xvii] Cách dịch trong bản tiềng Việt trên có thể không khớp theo một số quan điểm, sẽ phân giải ở đoạn sau.

 

[xviii] Giữa các hệ tư tưởng của các bộ phái trong Phật Giáo. (ND)

 

[xix] Một địa điểm ở Thái. (?)

 

[xx] Trong bản kinh này có nhắc đến 2 Subhadda (trùng tên), một là vị cư sĩ đã mệnh chung tại Nadika được tôn giả Ananda hỏi về nơi tái sanh và trạng thái đời sau, một vị là vị du sĩ được Đức Phật tế độ cuối cùng. Vị nhắc đới ở đây là vị thứ 2.

 

[xxi] Hán âm là A-La-Hán, chỉ cho bậc thánh quả cuối cùng, đã đoạn tận tất cả phiền não lậu hoặc, chứng được Niết Bàn lần thứ tư, sau khi kết thúc đời sống này sẽ không còn trôi lăn sinh tử nữa.

 

[xxii] “28. Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn:

– Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong con được xuất gia với Thế Tôn. Con xin thọ đại giới.

– Này Subhadda, ai trước kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia muốn thọ đại giới trong Pháp, Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.

29. – Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu các vị Tỷ-kheo đồng ý, hãy cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.

Và Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

– Này Ananada, hãy xuất gia cho Subhadda.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

30. Du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ananda:

– Thật là lợi ích, thưa Tôn giả Ananda, thật là thiện lợi, thưa Tôn giả Ananda, được thọ lễ quán đảnh làm đệ tử trước mặt bậc Ðạo Sư!

Và du sĩ ngoại đạo Subhadda được xuất gia, được thọ đại giới với Thế Tôn. Thọ đại giới không bao lâu, đại đức Subhadda ở một mình, an tịnh, không phóng dật, tinh tấn, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự giác chứng và an trú. Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa.

Và đại đức Subhadda trở thành một A-la-hán nữa. Ðại đức là vị đệ tử cuối cùng được Thế Tôn tế độ. ” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xxiii] Nguyên văn: enlightened monk, nghĩa là vị sư đã giác ngộ. Có lẽ ý tác giả muốn nhấn mạnh đến tục lệ khi một người phàm (không kể hạng phi nhân) đã chứng Tứ Quả thì phải thu xếp để xuất gia để tránh chúng sanh vô ý phạm trọng tội vì làm lỗi với A La Hán tạo tội rất nặng.

 

[xxiv] “sūkaramaddava: Các bộ Chú Giải đã không xác định rõ ràng về món thí thực này. Chú giải của Dīghanikāya (Kinh Trường Bộ) ghi như sau: (1) sūkaramaddava là phần thịt ngon nhất đả được làm sẵn của con heo rừng không quá trẻ, không quá già. Món ấy nhừ và béo, đã được chuẩn bị và nấu kỹ lưỡng.  (2) Một số vị giải thích là: ‘một loại nước xúp bò được nấu với năm loại hương vị.’ (3) Nhiều vị khác cho rằng: ‘món ấy là chất bổ dưỡng’ (DA. ii, 568, PTS). Chú Giải Udāna (Kinh Phật Tự Thuyết) cũng giải thích giống như (1) và (3) ở trên, ngoài ta còn có lời giải thích khác rằng: ‘sūkaramaddava không phải là thịt heo rừng mà là một loại măng tre đã bị heo rừng dẫm đạp, hoặc là loại nấm mọc lên ở vùng đất đã được heo rừng cày ủi.’ Chú Giải này còn ghi thêm rằng: “Thợ rèn Cunda đã chuẩn bị chất bổ dưỡng ấy và đã cúng dường đến đức Phật nhằm kéo dài tuổi thọ vì nghe rằng Ngài sẽ Viên Tịch Niết Bàn trong ngày đó.” (Ud. A. 399, PTS)” (Theo ghi chú của TTPV45 – Milindapañhāpāḷi và Milinda Vấn Đạo – Phần 6, đoạn 2)

 

[xxv] Hán âm là A-Xà-Thế.

 

[xxvi] Hán âm là Bạt-Kỳ.

 

 

[xxvii]

(theo Sự tích Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni – Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh, 2005)

 

[xxviii] Cụ thể là ở thành Vesali: “22. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ Kheo hãy an cư trong mùa mưa xung quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quen thuộc và thân tín. Còn Ta sẽ an cư ở đây, tại làng Baluvà.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những Tỷ Kheo này vâng đáp Thế Tôn và tìm chỗ an cư mùa mưa xung quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quyến thuộc và thân tín. Còn Thế Tôn an cư tại làng Baluvà.” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xxix] Ma Vương. Nguyên văn ghi chú là God of Death, tức là thần chết. Ma Vương còn chỉ cho vua cõi trời Tha-hóa-tự-tại (Paranimmitavasavatti), cõi trời cao nhất ở cõi Dục, người có nhiều quyền lức và phước báu đã theo phá Đức Phật. Một nghĩa khác của Ma Vương là người ác xấu, nghiệp (chú yếu là từ ý) ác xấu, quả báo ác xấu… Hoặc cũng có thể nhìn nhận theo khía cạnh là cản trở, thử thách.

 

[xxx] Như đã trích dẫn ở trên, sau khi thọ thực ở nhà thí chủ Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết nhưng Ngài vẫn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh và đến Kusinàra. Đoạn sau đó không thấy mô tả về triệu chứng nào của cơn bệnh này nên nhận xét nêu ra ở đây chỉ dựa trên 1 suy đoán y học.

 

[xxxi] “1. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi qua bờ bên kia sông Hirannavati, đến ở Kusinàrà – Upavatama – rừng Sàlà của dòng họ Màllà.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến bên kia sông Hirannavati, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sàlà của dòng họ Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ: này Ananda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ. Và Thế Tôn nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai chân để lên nhau chánh niệm và giác tỉnh.

2. Lúc bấy giờ, cây sàlà song thọ trổ hoa trái mùa, tràn đầy cành lá. Những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài, nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai. ” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xxxii] Đoạn kinh mô tả: “20. Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.”(kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt.) Đoạn văn dịch này không thấy nhắc đến dạ dày.

 

[xxxiii] “22. Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.

Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.

23. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.

Lần thứ hai tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.

24. Lần thứ ba, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục, khi tôn giả Ananda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng, không vẩn đục. ” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xxxiv] Nguyên văn: stretcher: cái cáng.

 

[xxxv] Ước lượng này ước tính từ Pāvā, nơi có vườn nhà của thợ sắt Cunda, đến Kusināra.

 

[xxxvi] Hán âm là Câu-Thi-Na.

 

[xxxvii] Hán âm là Vương-Xá.

 

[xxxviii] Lộ trình tóm tắt theo trích đoạn như vầy: “1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu).

13. Thế Tôn ở Vương Xá cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài gọi tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Ambalatthikà.

15. Thế Tôn ở Ambalatthikà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài bảo tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Nalandà.

19. Thế Tôn ở Nalandà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi gọi tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pàtaligàma.

1. Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ananda: “Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kotigàma”

5. Thế Tôn, sau khi ở Kotigama cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Nadika.

11. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Nàdika cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Vesàli.

21. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Vesàli cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Baluvà.

1. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên đường khất thực trở về Ngài nói với tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy lấy tọa cụ. Ta muốn đi đến điện thờ Càpàla, để nghỉ trưa.

1. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesàli để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên đường khất thực trở về, Thế Tôn nhìn Vesàli với cái nhìn của con voi chúa rồi nói với tôn giả Ananda:

– Này Ananda, lần này là lần cuối cùng, Như Lai nhìn Vesàli. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Bhandagàma.

5. Rồi Thế Tôn, sau khi ở Bhandagàma cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền nói với tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Hatthigam… Ambagama… Jambugama…, hãy đi đến Bhoganagara.

13. Rồi Thế Tôn, sau khi ở tại Bhoganagara cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta sẽ đi đến Pàvà.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Và Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàvà, tại vườn xoài của Cunda, một người thợ sắt.

20. Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.

Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kusinàra. ” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xxxix] Tức là vườn Lubinī (Lâm-Tỳ-Ni.)

 

[xl] Ước lượng trên phương tiện đi bộ là chủ yếu.

 

[xli] Theo giả thuyết bên trên.

 

[xlii] “Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.

    Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.

    Sau khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.

    Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư.

    Ðiều phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:

    “Ta đi đến thành Kusinàra”.

21. Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói với Tôn giả Ananda:” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xliii] Tăng Già Lê hay Trùng Phục Y.

 

[xliv] “21. Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ, này Ananda.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn và xếp tư áo Sanghàti lại. “ (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xlv] Nguyên văn: weeping, swoons: khóc và ngất đi trong bản Việt dịch không thấy chi tiết ngất đi.

 

[xlvi] “13. Rồi tôn giả Ananda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!”

Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

— Này các Tỷ-kheo, Ananda ở tại đâu?

— Bạch Thế Tôn, tôn giả Ananda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!”

Thế Tôn liền nói với một Tỷ-kheo:

— Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, nói với Ananda: “Này Hiền giả Ananda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.”

— Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Vị Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ tôn giả Ananda, sau khi đến, liền nói với tôn giả: “Này Hiền giả Ananda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.” – “Thưa vâng, Hiền giả. ” Tôn giả Ananda vâng lời vị Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. ” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

[xlvii] Theo luật của chư tăng, thời gian dùng bữa là trước ngọ (10-12 giờ trưa). Thêm vào đó, lời tuyên bố của Thế Tôn trong đoạn ”38. Này Ananda, hôm nay khi canh cuối cùng đã mãn, tại Upavattana ở Kusinàrà, trong rừng Sàla của dòng họ Mallà, giữa hai cây sàla song thọ, Như Lai sẽ diệt độ. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến sông Kakutthà.” (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt) cho thấy thời gian Ngài diệt độ vào khoảng cuối đêm đầu ngày, tức là khoảng 4-6 giờ sáng. Với lý do này ước tính ra được thời gian là 15-18 giờ sau khi phát bệnh như đã nêu.

 

[xlviii] “4. Lúc bấy giờ, tôn giả Upavàna đứng trước mặt Thế Tôn và quạt Ngài. Thế Tôn liền quở trách tôn giả Upavàna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.”

Tôn giả Ananda, liền tự suy nghĩ: “Ðại đức Upavàna này là thị giả sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavàna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta”. Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavàna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt ta”?. “ (kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh – HT Minh Châu dịch Việt)

 

 


One Comment on “Đức Phật diệt độ như thế nào”

  1. Thái Hạnh nói:

    Dịch vội vàng nhưng vẫn sát nghĩa thì cũng được. Tuy nhiên, trước khi đăng lên cho đại chúng đọc như thế này thì ít nhất cũng nên bỏ ra vài phút đọc lại một lần của mình, gọi là để tỏ lòng kính trọng của mình đối với đọc giả! Bởi vì nó giống hệt như 1 bài viết nháp (brouillon), không hơn không kém!
    Bhikkhu Mettananda: Tôi thiết nghĩ Ngài không nên làm cái việc có tính chất phiêu lưu như thế, đó là bình luận tràng giang đại hải về các khả năng có thể là những nguyên nhân dẫn đến bệnh lỵ của Đức Phật. Lý do là vì, như Ngài đã nói, ngoài vài câu ngắn ngủi trong bài kinh, Ngài hoàn toàn không có một nguồn sử liệu nào khác nữa liên quan đến vấn đề này để tham khảo , so sánh, đối chiếu…Một mặt, sử liệu gần như zero, mặt kia lại pretend như bài viết của mình là kết quả của công trình nghiên cứu y học có chiều sâu: điều này đã khiến một đọc giả như tôi cảm thấy rất khó chịu vì đã phí thì giờ đọc nó.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s