Kinh giảng về Niệm hơi thở vào hơi thở ra

Lời Dẫn Nhập:

Đây là bản dịch mới của bài Kinh Ānāpānasatisuttam thuộc Tạng Kinh, Trung Bộ, tập III, bài 118. Căn cứ theo văn tự, bản dịch này trình bày một số điểm xét ra có phần khác biệt so với các bản dịch trước đây. Những điểm này chủ yếu được trình bày ở phần cước chú. Hy vọng sẽ đóng góp được phần nào lợi ích về tri kiến cho người đọc cũng như sự tu tập của các hành giả. Văn bản song ngữ Pali – Việt được ghi lại ở dạng Pdf và có thể hạ tải ở đường dẫn sau: http://www.paliviet.info/VHoc/VHoc_PhDich.htm

Colombo, ngày 19 tháng 09 năm 2010

Tỳ khưu Indacanda.

*****

KINH GIẢNG VỀ

NIỆM HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA

(Phần Giới Thiệu)[1]

Tôi đã được nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngụ tại Sāvatthi, ở khu vườn phía Đông, nơi lâu đài của Migāramātu, cùng với nhiều vị Thinh Văn trưởng lão rất được biết tiếng như là đại đức Sāriputta, đại đức Mahāmoggallāna, đại đức Mahākassapa, đại đức Mahākaccāyana, đại đức Mahākotthita, đại đức Mahākappina, đại đức Mahācunda, đại đức Anuruddha, đại đức Revata, đại đức Ānanda, cùng với nhiều vị Thinh Văn trưởng lão rất được biết tiếng khác nữa.

Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy các vị tân tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy mười tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy hai mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy ba mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy bốn mươi tỳ khưu. Và trong khi được giáo huấn, được chỉ dạy bởi các vị tỳ khưu trưởng lão, các vị tân tỳ khưu ấy nhận biết pháp đặc biệt cao quý khác so với trước đây.

Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày Uposatha, là ngày rằm, ngày lễ Pavāranā, vào đêm trăng tròn đầy, đức Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, được hội chúng tỳ khưu vây quanh. Khi ấy, đức Thế Tôn, sau khi quan sát hội chúng tỳ khưu đang im lặng, đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, Ta được hài lòng với lối thực hành này. Này các tỳ khưu, Ta có tâm hài lòng đối với lối thực hành này. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, các ngươi hãy ra sức tinh tấn hơn nữa nhằm đạt được pháp chưa đạt được, nhằm chứng đắc pháp chưa được chứng đắc, nhằm chứng ngộ pháp chưa được chứng ngộ. Ta sẽ chờ đợi ở chính nơi đây, tại Sāvatthi, cho đến ngày rằm Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa).”

Các tỳ khưu trong xứ sở đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn sẽ chờ đợi ở chính nơi đó, tại Sāvatthi, cho đến ngày rằm Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa).” Và các tỳ khưu trong xứ sở ấy quy tụ về Sāvatthi để chiêm ngưỡng đức Thế Tôn. Và các vị tỳ khưu trưởng lão còn giáo huấn, chỉ dạy các tân tỳ khưu nhiều hơn nữa. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy mười tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy hai mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy ba mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy bốn mươi tỳ khưu. Và trong khi được giáo huấn, được chỉ dạy bởi các vị tỳ khưu trưởng lão, các vị tân tỳ khưu ấy nhận biết pháp đặc biệt cao quý khác so với trước đây.

Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày Uposatha, là ngày rằm, ngày lễ Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa), vào đêm trăng tròn đầy, đức Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, được hội chúng tỳ khưu vây quanh. Khi ấy, đức Thế Tôn, sau khi quan sát hội chúng tỳ khưu đang hoàn toàn im lặng, đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, tập thể này không có việc nói chuyện nhảm. Này các tỳ khưu, tập thể này không còn việc nói chuyện nhảm, được thanh tịnh, đã vững vàng ở cốt lõi. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này đáng được tiến cúng, đáng được hiến dâng, đáng được cúng dường, đáng được lễ bái, là nơi để gieo trồng phước báu của thế gian không gì hơn được. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Ở tập thể như thế này, vật được bố thí ít trở thành nhiều, được bố thí nhiều thì trở thành nhiều hơn nữa. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này là khó gặp ở thế gian. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này là xứng đáng đi nhiều do-tuần để yết kiến dầu với vật thực đi đường ở vai.

Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu là bậc A-la-hán, có các lậu hoặc đã cạn kiệt, đã được hoàn mãn, có các việc cần làm đã làm, có các gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của bản thân đã được đạt đến, có các sự trói buộc ở hữu đã được tiêu diệt, có trí hiểu biết chân chánh, đã được giải thoát. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận năm hạ phần kiết sử, là hạng hóa sanh, có sự viên tịch Niết Bàn tại nơi ấy, từ thế giới ấy không có việc quay trở lui. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận ba loại kiết sử, có sự giảm thiểu của luyến ái-sân hận-si mê, là bậc Nhất Lai, sẽ đi đến thế gian này chỉ một lần rồi sẽ chấm dứt khổ đau. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận ba loại kiết sử, là bậc Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa, có sự tiến đến giác ngộ đã được chắc chắn. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.

Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn sự thiết lập niệm. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn chánh tinh tấn. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn nền tảng của thần thông. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về năm quyền. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về năm lực. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bảy chi phần đưa đến giác ngộ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về Thánh Đạo tám chi phần. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.

Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về từ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bi. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về hỷ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về xả. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về tử thi. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về tưởng vô thường. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.

Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về niệm hơi thở vào hơi thở ra.[2] Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập, được thực hành thường xuyên là có quả báu lớn, có lợi ích lớn. Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho bốn sự thiết lập niệm[3] được hoàn bị. Bốn sự thiết lập niệm được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ[4] được hoàn bị. Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị.

(Tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra)

Và này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào là có quả báu lớn, có lợi ích lớn? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào.

Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết:[5] ‘Tôi thở ra dài.’[6]

Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’

Hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’

Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn.’

Vị ấy tập luyện:[7] ‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’[9]

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào.’[10]

Vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được thoát ra, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được thoát ra, tôi sẽ thở vào.’

Vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát[11] về vô thường, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về tịch diệt, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về tịch diệt, tôi sẽ thở vào;’

vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở ra;’

vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở vào.’

Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như vầy, được thực hành thường xuyên như vầy là có quả báu lớn, có lợi ích lớn.

(Bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị)

Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị? Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO[12] vị tỳ khưu trong khi thở ra dài nhận biết: ‘Tôi thở ra dài;’ hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài;’ hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn;’ hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.[13] Này các tỳ khưu, ta nói như vậy về một thân khác nữa trong số các thân, tức là sự thở ra sự thở vào. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.

Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, ta nói như vậy về một thọ khác nữa trong số các thọ, tức là sự chú tâm tốt đẹp đối với sự thở ra sự thở vào. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.

Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác tâm, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát tâm ở trên tâm, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, đối với kẻ có niệm bị quên lãng, không có sự nhận biết rõ rệt, ta không nói về sự tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra.[14] Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát tâm ở trên tâm, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.

Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về lìa ái dục, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về lìa ái dục, tôi sẽ thở vào,’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về diệt tận, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về diệt tận, tôi sẽ thở vào,’ vị ấy tập. ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Vị ấy sau khi nhìn thấy sự dứt bỏ tham và ưu phiền bằng tuệ là người có trạng thái xả tốt đẹp.[15] Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị.

(Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị)

Này các tỳ khưu, bốn sự thiết lập niệm được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị? Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian, VÀO LÚC ẤY niệm của vị ấy được thiết lập, không bị quên lãng. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO niệm của vị tỳ khưu được thiết lập, không bị quên lãng, VÀO LÚC ẤY niệm giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi. VÀO LÚC ẤY, niệm giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Trong khi an trú với niệm như thế, vị ấy suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu, trong khi an trú với niệm như thế, suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, VÀO LÚC ẤY trạch pháp giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập trạch pháp giác chi. VÀO LÚC ẤY, trạch pháp giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Đối với vị ấy, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, thì sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, mà sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ, VÀO LÚC ẤY tinh tấn giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tinh tấn giác chi. VÀO LÚC ẤY, tinh tấn giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Đối với vị có sự tinh tấn đã được khởi sự, hỷ không liên hệ vật chất khởi lên. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO hỷ không liên hệ vật chất khởi lên đối với vị tỳ khưu có sự tinh tấn đã được khởi sự, VÀO LÚC ẤY hỷ giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập hỷ giác chi. VÀO LÚC ẤY, hỷ giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Đối với vị có tâm hỷ, thì thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có tâm hỷ, thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh, VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tịnh giác chi. VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Đối với vị có thân được an tịnh, có sự an lạc, thì tâm được định. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có thân được an tịnh, có sự an lạc, tâm được định, VÀO LÚC ẤY, định giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập định giác chi. VÀO LÚC ẤY, định giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Vị ấy, đối với tâm đã được định tĩnh như thế, là người có trạng thái xả tốt đẹp.[16] Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu là người có trạng thái xả tốt đẹp đối với tâm đã được định tĩnh như thế, VÀO LÚC ẤY, xả giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập xả giác chi. VÀO LÚC ẤY, xả giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ —(như trên)— tâm ở trên tâm —(như trên)— pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian, VÀO LÚC ẤY niệm của vị này là đã được thiết lập, không bị quên lãng. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO niệm của vị tỳ khưu là đã được thiết lập, không bị quên lãng, VÀO LÚC ẤY niệm giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi. VÀO LÚC ẤY, niệm giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Trong khi an trú với niệm như thế, vị ấy suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu, trong khi an trú với niệm như thế, suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, VÀO LÚC ẤY trạch pháp giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập trạch pháp giác chi. VÀO LÚC ẤY, trạch pháp giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Đối với vị ấy, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, thì sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, mà sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ, VÀO LÚC ẤY tinh tấn giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tinh tấn giác chi. VÀO LÚC ẤY, tinh tấn giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Đối với vị có sự tinh tấn đã được khởi sự, hỷ không liên hệ vật chất khởi lên. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO hỷ không liên hệ vật chất khởi lên đối với vị tỳ khưu có sự tinh tấn đã được khởi sự, VÀO LÚC ẤY hỷ giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập hỷ giác chi. VÀO LÚC ẤY, hỷ giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Đối với vị có tâm hỷ, thì thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có tâm hỷ, thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh, VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tịnh giác chi. VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Đối với vị có thân được an tịnh, có sự an lạc, thì tâm được định. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có thân được an tịnh, có sự an lạc, tâm được định, VÀO LÚC ẤY, định giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập định giác chi. VÀO LÚC ẤY, định giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Vị ấy, đối với tâm đã được định tĩnh như thế, là người có trạng thái xả tốt đẹp. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu là người có trạng thái xả tốt đẹp đối với tâm đã được định tĩnh như thế, VÀO LÚC ẤY, xả giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập xả giác chi. VÀO LÚC ẤY, xả giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.

Này các tỳ khưu, bốn sự thiết lập niệm được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị.

(Minh và giải thoát được hoàn bị)

Này các tỳ khưu, bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ;[17] tu tập trạch pháp giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập tinh tấn giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập hỷ giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập tịnh giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập định giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập xả giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ.

Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị.

Đức Thế Tôn đã nói điều này. Được hoan hỷ, các vị tỳ khưu ấy thỏa thích lời dạy của đức Thế Tôn.

–ooOoo–


[1] Phần trong ngoặc đơn () không có ở Chánh Kinh, được thêm vào để tiện việc theo dõi (ND).

[2] ānāpānasati = āna+apāna+sati, āna là hơi thở vào, apāna là hơi thở ra, sati là niệm, sự ghi nhớ.

[3] Từ thông dụng là ‘tứ niệm xứ.’

[4] Từ thông dụng là ‘bảy giác chi.’

[5] Chú ý đến từ “hoặc” (từ Pali là ‘vā’) ở đầu câu và động từ “nhận biết” (pajānāti) trong nhóm 4 câu này. Có thể hiều là ở pháp thiền này, hành giả không điều khiển hơi thở theo ý mình mà để hơi thở tự nhiên rồi chú tâm nhận biết sự diễn biến của hơi thở khi dài khi ngắn khác nhau.

[6] assasanto và assasāmi là các biến thể của động từ assasati. Đa số các từ điển và các bản dịch tiếng Anh đều ghi nghĩa cho động từ này là “thở vào,” nên ở từng đôi như vậy trình bày “thở vào” trước rồi “thở ra” sau. Còn ở bản dịch này, chúng tôi ghi nhận nghĩa của động từ assasati là “thở ra” nên trình bày “thở ra” trước rồi “thở vào” sau. Sự chọn lựa này được căn cứ vào 2 chứng cớ:

– Ở Chú Giải Tạng Luật, ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Assāso ti bahi nikkhamanavāto. Passāso ti anto pavisanavāto = Hơi thở ra là gió đi ra bên ngoài. Hơi thở vào là gió đi vào bên trong” (Vinaya-atthakathā tập 2, trang 408, theo bản in của Pali Text Society – PTS).

– Tự Điển Pali – English Dictionary của PTS cũng ghi assasati là thở ra (trang 90), passasati là thở vào (trang 447).

Nếu là như vậy, phải chăng phương pháp Ānāpānassati hay “Niệm hơi thở” nên được trình bày và tu tập theo thứ tự hơi thở ra trước rồi mới đến hơi thở vào? Việc thử nghiệm xin dành cho các hành giả, ở đây chúng tôi chỉ trình bày theo sự nghiên cứu về văn tự.

[7] – Trong bốn mệnh đề đầu, động từ được sử dụng là pajānāti (nhận biết) và có liên từ “vā” (hay là, hoặc là) xen vào giữa. Từ mệnh đề thứ năm trở đi, động từ là sikkhati (thực tập, thực hành, học tập). Theo thiển ý của cá nhân thì đến giai đoạn này, hành giả đã có sự tiến triển trong sự tu tập hơi thở và các chi thiền bắt đầu sanh khởi.

[8] – Ngài Buddhaghosa giải thích là sabbakāya (toàn thân) nên được hiểu là phần đầu, phần giữa, và phần cuối của toàn bộ hơi thở ra mỗi khi thở ra, hoặc của toàn bộ hơi thở vào mỗi khi thở vào (Vinaya-atthakathā tập 2, trang 411, theo bản in của PTS).

– Ngài Mahābhidhāna, ở tập Chú Giải Saddhammappakāsinī, ghi rằng: ‘Trong khi làm cho được biết rõ, trong khi làm cho rõ rệt phần đầu-giữa-cuối của toàn bộ hơi thở vào, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập (Patisambhidāmagga-atthakathā tập 2, trang 491, theo bản in của PTS).

[9] Ở nhóm 2 câu này, cụm từ sabbakāyapatisamvedī (có cảm giác toàn thân) nên được hiểu là ‘danh tính từ’ bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu, còn động từ chính (finite verb) vẫn là thở ra và thở vào.

[10] Tương tợ như trên, ở nhóm 2 câu này, từ passambhayam (trong khi làm an tịnh) nên được hiểu là ‘phân từ hiện tại, thể liên tiến (progressive)’ bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu, còn động từ chính (finite verb) vẫn là thở ra và thở vào. Cách giải thích này được áp dụng tương tợ cho các nhóm 2 câu ở bên dưới.

[11] anupassati (anu + passati): passati có nghĩa là ‘nhìn, xem, coi,’ còn anu là ‘dõi theo, lần theo’ nên từ anupassati được ghi nghĩa là ‘quan sát’ thay vì ‘quán’ hay ‘tùy quán,’ để dễ hiểu.

[12] Các mệnh đề điều kiện về thời gian “VÀO LÚC NÀO” và “VÀO LÚC ẤY” được viết dưới dạng in hoa để tiện phân biệt.

[13] Trong câu: “vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian” thì hai động từ “sống” (viharati) và “có thể chế ngự” (vineyya) động từ chính (finite verb), còn các cụm từ còn lại bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu.

[14] Các hành giả tu tập về hơi thở nên chú ý điều kiện này.

[15] ajjhupekkhitā (người có trạng thái xả) là trường hợp tương tợ như các từ gantu, sotu, netu, vattu, jetu, v.v…

[16] Trong trường hợp này “tâm đã được định tĩnh” là túc từ, là đối tượng của danh động từ ajjhupekkhitā (người có trạng thái xả), nghĩa là hành giả có trạng thái xả đối với cái “tâm đã được định tĩnh.” Cấu trúc Pali ở câu này tương đối phức tạp về mặt văn phạm.

[17] bhāveti có nghĩa là “làm cho hiện hữu, tu tập, phát triển” là động từ chính (finite verb), túc từ là “niệm giác chi” và niệm giác chi này được đặt nền tảng ở sự tách ly, ở sự lìa ái dục, ở sự tịch diệt, và có đích đến là sự buông bỏ.

—————————————————————————————————————————————————————————————-

————————————————————————————————————————————————————————————-

Anàpànasati sutta

(Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm)

Trung Bộ Kinh, Bài kinh số 118, Thích Minh Châu dịch từ Pali sang tiếng Việt

——-ooOoo——-

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Ðông Viên (Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatupasade), cùng với rất nhiều Thượng tọa có thời danh, có danh xưng như Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên), Tôn giả Mahakaccayana (Ðại Ca-chiên-diên), Tôn giả Mahakotthita (Ðại Câu-hy-la), Tôn giả Mahakappina (Ðại Kiếp-tân-na), Tôn giả Mahacunda (Ðại Thuần-đà), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa) và Tôn giả Ananda (A-nan), cùng với nhiều bậc Thượng tọa đệ tử khác có thời danh, có danh xưng.

Lúc bấy giờ, các Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy các tân Tỷ-kheo. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy mười tân Tỷ-kheo. Một số Thượng Tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy hai mươi tân Tỷ-kheo. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ba mươi tân Tỷ-kheo. Một số Thượng Tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy bốn mươi tân Tỷ-kheo. Và các tân Tỷ-kheo được các Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ý thức rõ ràng những quả vị cao diệu, tiệm thứ, thù thắng đã chứng đạt.

Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào ngày Bố-tát, ngày rằm, vào đêm trăng tròn sau ngày Tự tứ, đang ngồi giữa trời với chúng Tỷ-kheo đoanh vây.Thế Tôn nhìn quanh chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng, rồi bảo các Tỷ-kheo:

– Ta được thỏa mãn, này các Tỷ-kheo, với đạo lộ này. Tâm ta được thỏa mãn, này các Tỷ-kheo, với đạo lộ này. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tinh tấn hơn nữa, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Ta sẽ ở đây, tại Savatthi cho đến tháng tư, lễ Komudi.

Những Tỷ-kheo địa phương được nghe: “Thế Tôn sẽ ở đây, tại Savatthi, cho đến tháng tư, lễ Komudi”. Các Tỷ-kheo địa phương tụ họp tại Savatthi để yết kiến Thế Tôn.

Và các Thượng tọa Tỷ-kheo lại càng khuyến giáo, giảng dạy các tân Tỷ-kheo nhiều hơn nữa. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy mười tân Tỷ-kheo. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy hai mươi tân Tỷ-kheo, Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ba mươi tân Tỷ-kheo. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy bốn mươi tân Tỷ-kheo. Và những tân Tỷ-kheo được các Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ý thức rõ ràng những quả vị cao diệu, tiệm thứ, thù thắng đã chứng đạt.

Lúc bấy giờ Thế Tôn vào ngày Bố-tát, ngày rằm, vào đêm trăng tròn, ngày lễ Komudi vào tháng tư, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, chung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn sau khi nhìn xung quanh chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng liền bảo các Tỷ-kheo:

– Hội chúng này, này các Tỷ-kheo, không có lời thừa thải. Hội chúng này, này các Tỷ-kheo, không có lời dư thừa, đã được an trú trong lõi cây thanh tịnh. Chúng Tỷ-kheo như thế này, này các Tỷ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỷ-kheo là một hội chúng đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Chúng Tỷ-kheo như thế này, này các Tỷ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỷ-kheo, là một hội chúng bố thí ít, được (phước báo) nhiều, bố thí nhiều, càng được (phước báo) nhiều; hơn nữa. Chúng Tỷ-kheo như thế này, này các Tỷ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỷ-kheo, là một hội chúng khó thấy ở đời. Chúng Tỷ-kheo như thế này, này các Tỷ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỷ-kheo, là một hội chúng xứng đáng đi nhiều do tuần (yojana) với một bao lương thực trên vai để đến yết kiến. Chúng Tỷ-kheo này là như vậy, này các Tỷ-kheo; hội chúng này là như vậy, này các Tỷ-kheo.

Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là những A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn trừ, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích đã thành đạt, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí. Này các Tỷ-kheo, có những bậc Tỷ-kheo như vậy trong chúng Tỷ-kheo này.

Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ ở đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này.

Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, này có những Tỷ-kheo đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất lai, sau khi sanh vào đời này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này.

Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo, có những Tỷ-kheo đã đoạn trừ ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này.

Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn niệm xứ. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn chánh cần. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong hội chúng này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bốn như ý túc. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm căn. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm lực. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bảy giác chi. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này có những Tỷ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập Thánh đạo tám ngành. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này.

Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập từ (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bi (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập hỷ (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập xả (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bất tịnh. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này có những Tỷ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập vô thường tưởng. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập nhập tức xuất tức niệm.

(Quán niệm hơi thở)

Nhập tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, công đức lớn. Nhập tức xuất tức niệm, được tu tập, làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn. Bốn niệm xứ được tu tập, làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn. Bảy giác chi được tu tập, làm cho sung mãn, khiến cho minh giải thoát (vijjavimutti) được viên mãn.

Và này các Tỷ-kheo, như thế tu tập nhập tức xuất tức niệm? Như thế nào làm cho sung mãn? Như thế nào là quả lớn, công đức lớn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết-già, lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm, vị ấy thở ra.

Thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Nhập tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, được quả lớn, được công đức lớn.

(Làm viên mãn bốn niệm xứ)

Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là nhập tức xuất tức niệm được tu tập? Như thế nào, làm cho sung mãn, khiến bốn niệm xứ được viên mãn?

Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay khi thở ra dài, vị ấy biết “Tôi thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay khi thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi tùy quán thân trên thân, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đối với các thân, Ta nói đây là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán thân trên thân, vị Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nghĩ: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi tùy quán thọ trên các thọ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đối với các cảm thọ, Ta nói đây là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán thọ trên các cảm thọ, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nghĩ: “Cảm giác tâm, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tu tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm Thiền định, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm Thiền định, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi tùy quán tâm trên tâm, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, sự tu tập nhập tức xuất tức niệm không thể đến với kẻ thất niệm, không có tỉnh giác. Do vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán tâm trên tâm, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Khi nào này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nghĩ: “Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán ly tham…. quán đoạn diệt… quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi tùy quán trên các pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Vị ấy, do đoạn trừ tham ưu, sau khi thấy với trí tuệ, khéo nhìn (sự vật) với niệm xả ly. Do vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán pháp trên các pháp, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Nhập tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, được tu tập như vậy được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.

(Làm viên mãn bảy giác chi)

Và bốn niệm xứ, này các Tỷ-kheo, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bảy giác chi được viên mãn?

Này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán thân trên thân, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời, trong khi ấy, niệm không hôn mê của vị ấy được an trú. Trong khi niệm không hôn mê của vi ấy cũng được an trú, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy niệm giác chi được bắt đầu khởi lên với Tỷ-kheo, trong khi ấy, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi. Trong khi ấy niệm giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.

Vị ấy an trú với chánh niệm như vậy, suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy trạch pháp giác chi được bắt đầu khởi lên, với Tỷ-kheo. Trong khi ấy, Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi. Trong khi ấy trạch pháp giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.

Trong khi Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, sự tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên với vị Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy sự tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên với Tỷ-kheo ấy. Trong khi ấy tinh tấn giác chi được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy Tỷ-kheo tu tập tinh tấn giác chi. Trong khi ấy, tinh tấn giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.

Hỷ không liên hệ đến vật chất được khởi lên nơi vị tinh tấn tinh cần. Này các Tỷ-kheo, trong khi hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên nơi Tỷ-kheo tinh tấn tinh cần, trong khi ấy hỷ giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy hỷ giác chi được vị Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy hỷ giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.

Thân của vị ấy được tâm hoan hỷ trở thành khinh an, tâm cũng được khinh an. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy, khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn.

Một vị có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy định giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy định giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn.

Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo . Trong khi ấy xả giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy xả giác chi được Tỷ-kheo làm cho đến sung mãn.

Này các Tỷ-kheo, trong khi quán thọ trên các cảm thọ…

Này các Tỷ-kheo, trong khi quán tâm trên tâm…

Này các Tỷ-kheo, trong khi quán pháp trên các pháp, Tỷ-kheo an trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời, trong khi ấy niệm của vị ấy được an trú, không có hôn mê. Này các Tỷ-kheo, trong khi niệm của Tỷ-kheo được an trú, không có hôn mê, niệm giác chi trong khi ấy được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Niệm giác chi trong khi ấy được Tỷ-kheo tu tập. Niệm giác chi trong khi ấy, được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Vị ấy an trú với chánh niệm như vậy, suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, trong khi an trú với chánh niệm như vậy, vị ấy suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ. Trạch pháp giác chi trong khi ấy được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trạch pháp giác chi trong khi ấy được Tỷ-kheo tu tập. Trạch pháp giác chi trong khi ấy đi đến sung mãn, tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên nơi vị ấy. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ, và tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên nơi vị ấy, tinh tấn giác chi trong khi ấy bắt đầu khởi lên nơi vị Tỷ-kheo. Tinh tấn giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Tinh tấn giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Ðối với vị ấy tinh cần tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo tinh cần tinh tấn và hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên, hỷ giác chi trong khi ấy bắt đầu được khởi lên nơi Tỷ-kheo. Hỷ giác chi trong khi ấy được Tỷ-kheo tu tập. Hỷ giác chi trong khi ấy được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Thân của vị ấy được tâm hoan hỷ trở thành khinh an, tâm cũng được khinh an. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy khinh an giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy khinh an giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Một vị có tâm khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh. Này các Tỷ-kheo, trong khi vị ấy có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy định giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy định giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy xả giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy xả giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn.

Này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy khiến cho bảy giác chi được sung mãn.

(Minh giải thoát được viên mãn)

Và này các Tỷ-kheo, bảy giác chi tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho minh giải thoát được viên mãn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến diệt, hướng đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi… tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi… tu tập xả giác chi, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến diệt, hướng đến xả ly. Này các Tỷ-kheo, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho minh giải thoát được viên mãn.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

(Hết)

————————————————————————————————————————————————————————————–

—————————————————————————————————————————————————————————————–

Majjhimanikāye

Uparipaṇṇāsapāḷi

2. Anupadavaggo

1. Anupadasuttaṃ

8. Ānāpānassatisuttaṃ

144. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati pubbārāme migāramātupāsāde sambahulehi abhiññātehi abhiññātehi therehi sāvakehi saddhiṃ – āyasmatā ca sāriputtena āyasmatā ca mahāmoggallānena [mahāmoggalānena (ka.)] āyasmatā ca mahākassapena āyasmatā ca mahākaccāyanena āyasmatā ca mahākoṭṭhikena āyasmatā ca mahākappinena āyasmatā ca mahācundena āyasmatā ca anuruddhena āyasmatā ca revatena āyasmatā ca ānandena, aññehi ca abhiññātehi abhiññātehi therehi sāvakehi saddhiṃ.

Tena kho pana samayena therā bhikkhū nave bhikkhū ovadanti anusāsanti. Appekacce therā bhikkhū dasapi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū vīsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū tiṃsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū cattārīsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti. Te ca navā bhikkhū therehi bhikkhūhi ovadiyamānā anusāsiyamānā uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesaṃ jānanti [pajānanti (syā. kaṃ.), sañjānanti (ka.)].

145. Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase pavāraṇāya puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti. Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṃ tuṇhībhūtaṃ bhikkhusaṅghaṃ anuviloketvā bhikkhū āmantesi – ‘‘āraddhosmi, bhikkhave, imāya paṭipadāya; āraddhacittosmi, bhikkhave, imāya paṭipadāya. Tasmātiha, bhikkhave, bhiyyosomattāya vīriyaṃ ārabhatha appattassa pattiyā, anadhigatassa adhigamāya, asacchikatassa sacchikiriyāya. Idhevāhaṃ sāvatthiyaṃ komudiṃ cātumāsiniṃ āgamessāmī’’ti. Assosuṃ kho jānapadā bhikkhū – ‘‘bhagavā kira tattheva sāvatthiyaṃ komudiṃ cātumāsiniṃ āgamessatī’’ti. Te jānapadā bhikkhū sāvatthiṃ [sāvatthiyaṃ (syā. kaṃ. pī. ka.)] osaranti bhagavantaṃ dassanāya. Te ca kho therā bhikkhū bhiyyosomattāya nave bhikkhū ovadanti anusāsanti. Appekacce therā bhikkhū dasapi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū vīsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū tiṃsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū cattārīsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti. Te ca navā bhikkhū therehi bhikkhūhi ovadiyamānā anusāsiyamānā uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesaṃ jānanti.

146. Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase komudiyā cātumāsiniyā puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti. Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṃ tuṇhībhūtaṃ bhikkhusaṅghaṃ anuviloketvā bhikkhū āmantesi – ‘‘apalāpāyaṃ, bhikkhave, parisā; nippalāpāyaṃ, bhikkhave, parisā; suddhā sāre [suddhasāre patiṭṭhitā (syā. kaṃ. pī.)] patiṭṭhitā. Tathārūpo ayaṃ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho; tathārūpā ayaṃ, bhikkhave, parisā yathārūpā parisā āhuneyyā pāhuneyyā dakkhiṇeyyā añjalikaraṇīyā anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa. Tathārūpo ayaṃ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho; tathārūpā ayaṃ, bhikkhave, parisā yathārūpāya parisāya appaṃ dinnaṃ bahu hoti, bahu dinnaṃ bahutaraṃ. Tathārūpo ayaṃ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho; tathārūpā ayaṃ, bhikkhave, parisā yathārūpā parisā dullabhā dassanāya lokassa. Tathārūpo ayaṃ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho; tathārūpā ayaṃ, bhikkhave, parisā yathārūpaṃ parisaṃ alaṃ yojanagaṇanāni dassanāya gantuṃ puṭosenāpi’’ [puṭosenāpi, tathārūpo ayaṃ bhikkhave bhikkhusaṃgho, tathārūpā ayaṃ parisā (sī. pī. ka.)].

147. ‘‘Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṃyojanā sammadaññāvimuttā – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā rāgadosamohānaṃ tanuttā sakadāgāmino sakideva [sakiṃ deva (ka.)] imaṃ lokaṃ āgantvā dukkhassantaṃ karissanti – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyanā – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe.

‘‘Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvanānuyogamanuyuttā viharanti – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe catunnaṃ sammappadhānānaṃ bhāvanānuyogamanuyuttā viharanti…pe… catunnaṃ iddhipādānaṃ… pañcannaṃ indriyānaṃ… pañcannaṃ balānaṃ… sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ… ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa bhāvanānuyogamanuyuttā viharanti – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe mettābhāvanānuyogamanuyuttā viharanti… karuṇābhāvanānuyogamanuyuttā viharanti… muditābhāvanānuyogamanuyuttā viharanti… upekkhābhāvanānuyogamanuyuttā viharanti… asubhabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti… aniccasaññābhāvanānuyogamanuyuttā viharanti – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe ānāpānassatibhāvanānuyogamanuyuttā viharanti. Ānāpānassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā. Ānāpānassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā cattāro satipaṭṭhāne paripūreti. Cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrenti. Satta bojjhaṅgā bhāvitā bahulīkatā vijjāvimuttiṃ paripūrenti.

148. ‘‘Kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, ānāpānassati kathaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā? Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. So satova assasati satova [sato (sī. syā. kaṃ. pī.)] passasati.

‘‘Dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti; rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti; ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati.

‘‘‘Pītipaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘pītipaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘sukhapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sukhapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati.

‘‘‘Cittapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘cittapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘abhippamodayaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘abhippamodayaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati; ‘samādahaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘samādahaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati; ‘vimocayaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘vimocayaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati.

‘‘‘Aniccānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘aniccānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘virāgānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘virāgānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘nirodhānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘nirodhānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati. Evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, ānāpānassati evaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā.

149. ‘‘Kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, ānāpānassati kathaṃ bahulīkatā cattāro satipaṭṭhāne paripūreti? Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti; rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti; ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati; kāye kāyānupassī, bhikkhave, tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Kāyesu kāyaññatarāhaṃ, bhikkhave, evaṃ vadāmi yadidaṃ – assāsapassāsā. Tasmātiha, bhikkhave, kāye kāyānupassī tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.

‘‘Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu ‘pītipaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘pītipaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘sukhapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sukhapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati; vedanāsu vedanānupassī, bhikkhave, tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Vedanāsu vedanāññatarāhaṃ, bhikkhave, evaṃ vadāmi yadidaṃ – assāsapassāsānaṃ sādhukaṃ manasikāraṃ. Tasmātiha, bhikkhave, vedanāsu vedanānupassī tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.

‘‘Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu ‘cittapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘cittapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘abhippamodayaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘abhippamodayaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati; ‘samādahaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘samādahaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati; ‘vimocayaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘vimocayaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati; citte cittānupassī, bhikkhave, tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Nāhaṃ, bhikkhave, muṭṭhassatissa asampajānassa ānāpānassatiṃ vadāmi. Tasmātiha, bhikkhave, citte cittānupassī tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.

‘‘Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu ‘aniccānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘aniccānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘virāgānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘virāgānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘nirodhānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘nirodhānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati; dhammesu dhammānupassī, bhikkhave, tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. So yaṃ taṃ abhijjhādomanassānaṃ pahānaṃ taṃ paññāya disvā sādhukaṃ ajjhupekkhitā hoti. Tasmātiha, bhikkhave, dhammesu dhammānupassī tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.

‘‘Evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, ānāpānassati evaṃ bahulīkatā cattāro satipaṭṭhāne paripūreti.

150. ‘‘Kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, cattāro satipaṭṭhānā kathaṃ bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrenti? Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, upaṭṭhitāssa tasmiṃ samaye sati hoti asammuṭṭhā [appammuṭṭhā (syā. kaṃ.)]. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno upaṭṭhitā sati hoti asammuṭṭhā, satisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti. Satisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, satisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘So tathāsato viharanto taṃ dhammaṃ paññāya pavicinati pavicayati [pavicarati (sī. syā. kaṃ. pī.)] parivīmaṃsaṃ āpajjati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu tathāsato viharanto taṃ dhammaṃ paññāya pavicinati pavicayati parivīmaṃsaṃ āpajjati, dhammavicayasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, dhammavicayasambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, dhammavicayasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘Tassa taṃ dhammaṃ paññāya pavicinato pavicayato parivīmaṃsaṃ āpajjato āraddhaṃ hoti vīriyaṃ asallīnaṃ. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno taṃ dhammaṃ paññāya pavicinato pavicayato parivīmaṃsaṃ āpajjato āraddhaṃ hoti vīriyaṃ asallīnaṃ, vīriyasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, vīriyasambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, vīriyasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘Āraddhavīriyassa uppajjati pīti nirāmisā. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno āraddhavīriyassa uppajjati pīti nirāmisā, pītisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, pītisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, pītisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘Pītimanassa kāyopi passambhati, cittampi passambhati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno pītimanassa kāyopi passambhati, cittampi passambhati, passaddhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, passaddhisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, passaddhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘Passaddhakāyassa sukhino cittaṃ samādhiyati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno passaddhakāyassa sukhino cittaṃ samādhiyati, samādhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, samādhisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, samādhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘So tathāsamāhitaṃ cittaṃ sādhukaṃ ajjhupekkhitā hoti. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu tathāsamāhitaṃ cittaṃ sādhukaṃ ajjhupekkhitā hoti, upekkhāsambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, upekkhāsambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, upekkhāsambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

151. ‘‘Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu vedanāsu…pe… citte… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, upaṭṭhitāssa tasmiṃ samaye sati hoti asammuṭṭhā. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno upaṭṭhitā sati hoti asammuṭṭhā, satisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, satisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, satisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘So tathāsato viharanto taṃ dhammaṃ paññāya pavicinati pavicayati parivīmaṃsaṃ āpajjati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu tathāsato viharanto taṃ dhammaṃ paññāya pavicinati pavicayati parivīmaṃsaṃ āpajjati, dhammavicayasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, dhammavicayasambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, dhammavicayasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘Tassa taṃ dhammaṃ paññāya pavicinato pavicayato parivīmaṃsaṃ āpajjato āraddhaṃ hoti vīriyaṃ asallīnaṃ. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno taṃ dhammaṃ paññāya pavicinato pavicayato parivīmaṃsaṃ āpajjato āraddhaṃ hoti vīriyaṃ asallīnaṃ, vīriyasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, vīriyasambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, vīriyasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘Āraddhavīriyassa uppajjati pīti nirāmisā. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno āraddhavīriyassa uppajjati pīti nirāmisā, pītisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, pītisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, pītisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘Pītimanassa kāyopi passambhati, cittampi passambhati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno pītimanassa kāyopi passambhati, cittampi passambhati, passaddhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, passaddhisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, passaddhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘Passaddhakāyassa sukhino cittaṃ samādhiyati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno passaddhakāyassa sukhino cittaṃ samādhiyati, samādhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, samādhisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, samādhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.

‘‘So tathāsamāhitaṃ cittaṃ sādhukaṃ ajjhupekkhitā hoti. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu tathāsamāhitaṃ cittaṃ sādhukaṃ ajjhupekkhitā hoti, upekkhāsambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, upekkhāsambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, upekkhāsambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati. Evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, cattāro satipaṭṭhānā evaṃ bahulīkatā satta sambojjhaṅge paripūrenti.

152. ‘‘Kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, satta bojjhaṅgā kathaṃ bahulīkatā vijjāvimuttiṃ paripūrenti? Idha, bhikkhave, bhikkhu satisambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Dhammavicayasambojjhaṅgaṃ bhāveti…pe… vīriyasambojjhaṅgaṃ bhāveti… pītisambojjhaṅgaṃ bhāveti… passaddhisambojjhaṅgaṃ bhāveti… samādhisambojjhaṅgaṃ bhāveti… upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, satta bojjhaṅgā evaṃ bahulīkatā vijjāvimuttiṃ paripūrentī’’ti.

Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.

Ānāpānassatisuttaṃ niṭṭhitaṃ aṭṭhamaṃ.

Advertisements

Kinh Thân Hành Niệm

Trích từ:

Tạng Kinh Trung Bộ tập III

Năm mươi kinh cuối

oooOooo

KINH GIẢNG VỀ NIỆM-ĐẶT-Ở-THÂN

Người dịch: Tỳ Khưu Indacanda

Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn trú ở thành Sāvatthi, tại Jetavana, nơi tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, nhiều vị tỳ khưu sau bữa ăn, trong khi đi khất thực trở về, đã cùng ngồi xuống tụ hội lại ở hội trường. Có câu chuyện trao đổi này đã được khởi lên nơi các vị: “Này chư đại đức, thật là kỳ diệu! Này chư đại đức, thật là phi thường! Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy, trong khi biết, trong khi thấy, đã nói về niệm-đặt-ở-thân này, (khi) được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì có quả báu lớn, có lợi ích lớn.’ Và câu chuyện trao đổi này của các vị tỳ khưu ấy còn chưa được chấm dứt bởi vì điều này.

Khi ấy vào buổi chiều, đức Thế Tôn, xuất khỏi thiền tịnh, đã đi đến hội trường, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, ở đây bây giờ các ngươi đã ngồi chung lại vì câu chuyện gì vậy? Và câu chuyện trao đổi gì của các ngươi còn chưa được chấm dứt?”

“Bạch ngài, ở đây chúng con sau bữa ăn, trong khi đi khất thực trở về, đã cùng ngồi xuống tụ hội lại ở hội trường. Có câu chuyện trao đổi này đã được khởi lên nơi chúng con: ‘Này chư đại đức, thật là kỳ diệu! Này chư đại đức, thật là phi thường! Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy, trong khi biết, trong khi thấy, đã nói về niệm-đặt-ở-thân này, (khi) được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì có quả báu lớn, có lợi ích lớn.’ Bạch ngài, câu chuyện trao đổi này của chúng con còn chưa được chấm dứt. Khi ấy đức Thế Tôn đi đến.”

“Này các tỳ khưu, và niệm-đặt-ở-thân được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào thì có quả báu lớn, có lợi ích lớn? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng, và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào. Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra dài.’ Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’ Hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’ Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn.’ Vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, trong khi đi, vị tỳ khưu nhận biết: ‘Tôi đi;’ hoặc đứng, vị ấy nhận biết: ‘Tôi đứng; hoặc ngồi xuống, vị ấy nhận biết: ‘Tôi ngồi xuống;’ hoặc có tư thế nằm, vị ấy nhận biết: ‘Tôi có tư thế nằm;’ hoặc thân của vị ấy được sử dụng như thế nào thì nhận biết nó như thế ấy. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu có sự thực hành việc nhận biết rõ trong khi đi tới đi lui, có sự thực hành việc nhận biết rõ khi nhìn qua nhìn lại, có sự thực hành việc nhận biết rõ khi co tay duỗi tay, có sự thực hành việc nhận biết rõ trong việc mang y hai lớp, bình bát, y phục, có sự thực hành việc nhận biết rõ khi ăn uống nhai nếm, có sự thực hành việc nhận biết rõ ở hành động đại tiện tiểu tiện, có sự thực hành việc nhận biết rõ khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi ngủ, khi thức, khi nói, khi im lặng. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu quán xét cái thân này đây từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu sợi tóc trở xuống, được bao bọc bởi da, chứa đầy các vật bất tịnh đủ các loại rằng: ‘Ở thân này có tóc, lông, da ngoài, da trong, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thực phẩm chưa tiêu, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu.’

Này các tỳ khưu, cũng giống như cái bao có miệng ở hai đầu chứa đầy các loại hạt khác nhau như là: lúa sālī, lúa, đậu mugga, đậu māsa, mè, gạo. Có người nam, có thị lực, mở ra rồi xem xét từng loại hạt ấy rằng: ‘Các hạt này là lúa sālī, các hạt này là lúa, các hạt này là đậu mugga, các hạt này là đậu māsa, các hạt này là mè, các hạt này là gạo.’ Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế, vị tỳ khưu quán xét cái thân này đây từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu sợi tóc trở xuống, được bao bọc bởi da, chứa đầy các vật bất tịnh đủ các loại rằng: ‘Ở thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thực phẩm chưa tiêu, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu quán xét cái thân này đây về phương diện bản chất theo như đã được tồn tại, theo như đã được xếp đặt rằng: ‘Ở thân này có chất đất, chất nước, chất lửa, chất gió.’

Này các tỳ khưu, cũng giống như người đồ tể thiện nghệ, hay học trò của người đồ tể, sau khi giết chết con bò rồi ngồi xuống ở ngã tư đường xẻ ra thành từng phần, này các tỳ khưu, tương tợ như thế ấy vị tỳ khưu quán xét cái thân này đây về phương diện bản chất theo như đã được tồn tại, theo như đã được xếp đặt rằng: ‘Ở thân này có chất đất, chất nước, chất lửa, chất gió.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy tử thi bị quăng bỏ ở bãi tha ma đã chết một ngày, hoặc đã chết hai ngày, hoặc đã chết ba ngày, bị trương sình, có màu xanh xám, bắt đầu thối rửa, vị ấy so sánh với cái thân này đây (rằng): ‘Thân này cũng có tánh chất như vậy, có bản thể như vậy, không tránh khỏi điều này.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy tử thi bị quăng bỏ ở bãi tha ma đang bị ngấu nghiếni bởi các con quạ, đang bị ngấu nghiếni bởi các con diều hâu, đang bị ngấu nghiếni bởi các con kên kên, đang bị ngấu nghiếni bởi các con chó, đang bị ngấu nghiếni bởi các con giả can, hoặc đang bị ngấu nghiếni bởi giòi bọ vô số loại, vị ấy so sánh với cái thân này đây (rằng): ‘Thân này cũng có tánh chất như vậy, có bản thể như vậy, không tránh khỏi điều này.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy tử thi bị quăng bỏ ở bãi tha ma là bộ xương còn thịt và máu, có sự gắn liền nhau bởi các sợi gân, —(như trên)— bộ xương không còn thịt bị lấm lem bởi máu , có sự gắn liền nhau bởi các sợi gân, —(như trên)— bộ xương thịt và máu đã bị tách rời, có sự gắn liền nhau bởi các sợi gân, —(như trên)— có các khúc xương có các sự gắn liền nhau đã bị tách rời, bị vung vãi ở các hướng chính hướng phụ, xương bàn tay một nơi, xương bàn chân nơi khác, xương ống chân nơi khác, xương sườn nơi khác, xương hông nơi khác, xương sống nơi khác, cái sọ nơi khác, vị ấy so sánh với cái thân này đây (rằng): ‘Thân này cũng có tánh chất như vậy, có bản thể như vậy, không tránh khỏi điều này.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy tử thi bị quăng bỏ ở bãi tha ma là các khúc xương màu trắng tợ như màu vỏ ốc —(như trên)— là các khúc xương được chất thành đống, đã hơn một năm —(như trên)— là các khúc xương hôi thối, bị rã thành bột, vị ấy so sánh với cái thân này đây (rằng): ‘Thân này cũng có tánh chất như vậy, có bản thể như vậy, không tránh khỏi điều này.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu sau khi tách ly hẳn các dục, tách ly các bất thiện pháp, đạt đến và an trú sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Vị ấy làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Này các tỳ khưu, cũng giống như người hầu tắm thiện nghệ, hoặc học trò của người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm vào cái chậu bằng kim loại, rồi nhồi chung cục bột được rưới đều với nước. Cục bột tắm của người ấy được tẩm hơi nước, được tẩm đều hơi nước, được thấm từ trong ra ngoài với hơi nước, và không có rỉ giọt. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế vị tỳ khưu làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu do sự vắng lặng của tầm và tứ, đạt đến và an trú nhị thiền với nội phần tĩnh lặng, có trạng thái nhất tâm, không tầm, không tứ, có hỷ lạc sanh lên do định. Vị ấy làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với hỷ lạc sanh lên do định. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi hỷ lạc sanh lên do định. Này các tỳ khưu, cũng giống như hồ nước sâu thẳm, có nước trào lên, nó lại không có nguồn nước chảy vào từ hướng đông, không có nguồn nước chảy vào từ hướng tây, không có nguồn nước chảy vào từ hướng bắc, không có nguồn nước chảy vào từ hướng nam, và trời không đem lại cơn mưa đúng mùa vào lúc này lúc khác. Khi ấy, nguồn nước mát trào lên từ chính hồ nước ấy làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần chính cái hồ nước ấy với nước mát. Không chỗ nào của toàn bộ hồ nước ấy là không được thấm nhuần bởi nước mát. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế vị tỳ khưu làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với hỷ lạc sanh lên do định. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi hỷ lạc sanh lên do định. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu, không còn tham muốn ở hỷ, an trú xả, có niệm và có sự nhận biết rõ, và cảm nhận lạc bằng thân mà các bậc Thánh gọi điều ấy là: ‘Có xả, có niệm, trú vào lạc,’ đạt đến và an trú tam thiền ấy. Vị ấy làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với lạc không có hỷ. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi lạc không có hỷ. Này các tỳ khưu, cũng giống như ở hồ sen xanh hoặc ở hồ sen hồng hoặc ở hồ sen trắng, có một số sen xanh, hoặc sen hồng, hoặc sen trắng được sanh ra ở trong nước, được phát triển ở trong nước, không vươn ra khỏi nước, và được nuôi dưỡng chìm ở bên trong (nước). Chúng được chảy tràn, được chảy khắp, được ngập tràn, được thấm nhuần bởi nước lạnh đến tận các ngọn và đến tận các gốc rễ. Không chỗ nào của toàn thể các sen xanh, hoặc các sen hồng, hoặc các sen trắng là không được thấm nhuần bởi nước lạnh. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế vị tỳ khưu làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với lạc không có hỷ. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi lạc không có hỷ. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu, do sự dứt bỏ lạc và do sự dứt bỏ khổ, do sự biến mất của hỷ và ưu trước đây, đạt đến và an trú tứ thiền không khổ không lạc, có sự thanh tịnh của xả và niệm. Vị ấy ngồi, sau khi đã thấm nhuần cái thân này đây với tâm ý thanh tịnh, trong sáng. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi tâm ý thanh tịnh, trong sáng. Này các tỳ khưu, cũng giống như người nam ngồi, sau khi đã trùm luôn cả đầu bằng tấm vải trắng. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được phủ kín bởi tấm vải trắng. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế vị tỳ khưu ngồi, sau khi đã thấm nhuần cái thân này đây với tâm ý thanh tịnh, trong sáng. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi tâm ý thanh tịnh, trong sáng. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.

Này các tỳ khưu, đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì các thiện pháp dự phần vào Minh đều được gắn bó ở nội tâm của vị ấy. Này các tỳ khưu, cũng giống như đối với bất cứ vị nào mà đại dương được thể nhập bằng tâm, thì các dòng nước dẫn đến biển cả đều được gắn bó ở nội tâm của vị ấy. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì các thiện pháp dự phần vào Minh đều được gắn bó ở nội tâm của vị ấy.

Này các tỳ khưu, đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.

Này các tỳ khưu, cũng giống như người nam ném hòn đá nặng vào đống đất sét ẩm ướt. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng hòn đá nặng ấy đạt được sự xâm nhập vào đống đất sét ẩm ướt?”
“Bạch ngài, đúng vậy.”

“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, cũng giống như thanh củi khô, ráo nhựa, rồi có người nam đi đến mang lại phần trên của đồ tạo lửa (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tạo ra ngọn lửa. Ta sẽ làm hiện ra sức nóng.’ Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng người nam ấy sau khi mang lại phần trên của đồ tạo lửa, trong khi quay tròn thanh củi khô, ráo nhựa ấy, có thể tạo ra ngọn lửa, có thể làm hiện ra sức nóng?”
“Bạch ngài, đúng vậy.”

“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, cũng giống như hũ đựng nước rỗng không, trống không, được đặt ở giá đựng, rồi có người nam đi đến mang lại gánh nước. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng người nam ấy có thể làm được việc đổ nước vào?”
“Bạch ngài, đúng vậy.”

“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương không đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương không đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, cũng giống như người nam ném nắm chỉ nhẹ vào cánh cửa làm toàn bằng lõi cây. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng người nam ấy có thể làm cho nắm chỉ nhẹ ấy xâm nhập vào cánh cửa làm toàn bằng lõi cây?”
“Bạch ngài, không có điều ấy.”

“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, cũng giống như thanh củi ướt, có nhựa, rồi có người nam đi đến mang lại phần trên của đồ tạo lửa (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tạo ra ngọn lửa. Ta sẽ làm hiện ra sức nóng.’ Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng người nam ấy sau khi mang lại phần trên của đồ tạo lửa, trong khi quay tròn thanh củi ướt, có nhựa ấy, có thể tạo ra ngọn lửa, có thể làm hiện ra sức nóng?”
“Bạch ngài, không có điều ấy.”

“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, cũng giống như hũ đựng nước đầy nước ngang miệng, có thể uống bởi con quạ, được đặt ở giá đựng, rồi có người nam đi đến mang lại gánh nước. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng người nam ấy có thể làm được việc đổ nước vào?”
“Bạch ngài, không có điều ấy.”

“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương không đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương không đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì vị ấy hướng tâm đến sự chứng ngộ bằng thắng trí đối với mỗi một pháp cần được chứng ngộ bằng thắng trí. Trong từng trường hợp một, vị ấy đạt được bản thể của sự chứng thực mỗi một khi thắng trí hiện hữu.
Này các tỳ khưu, cũng giống như hũ đựng nước đầy nước ngang miệng, có thể uống bởi con quạ, được đặt ở giá đựng. Có người nam có sức mạnh chạm vào cái hũ ấy từng lúc từng lúc, phải chăng nước có thể trào ra?”
“Bạch ngài, đúng vậy.”

“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì vị ấy hướng tâm đến sự chứng ngộ bằng thắng trí đối với mỗi một pháp cần được chứng ngộ bằng thắng trí. Trong từng trường hợp một, vị ấy đạt được bản thể của sự chứng thực mỗi một khi thắng trí hiện hữu.
Này các tỳ khưu, cũng giống như cái hồ nước vuông ở phần đất bằng phẳng, được củng cố bằng cái đập, đầy nước ngang miệng, có thể uống bởi con quạ. Có người nam có sức mạnh tháo gỡ cái đập ấy từng nơi từng nơi, phải chăng nước có thể trào ra?”
“Bạch ngài, đúng vậy.”

“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì vị ấy hướng tâm đến sự chứng ngộ bằng thắng trí đối với mỗi một pháp cần được chứng ngộ bằng thắng trí. Trong từng trường hợp một, vị ấy đạt được bản thể của sự chứng thực mỗi một khi thắng trí hiện hữu.
Này các tỳ khưu, cũng giống như chiếc xe ngựa đã được thắng ngựa thuần chủng, có gậy thúc để sẵn sàng, đứng ở mặt đất bằng tại ngã tư đường. Có người thầy huấn luyện ngựa thiện nghệ, là người điều phục các con ngựa đáng được huấn luyện, trèo lên chiếc xe ấy rồi cầm dây cương bằng tay trái, cầm gậy thúc bằng tay phải, rồi làm cho tiến tới, lùi lại bằng lối nào theo như ý thích, vào lúc nào theo như ý thích.
Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì vị ấy hướng tâm đến sự chứng ngộ bằng thắng trí đối với mỗi một pháp cần được chứng ngộ bằng thắng trí. Trong từng trường hợp một, vị ấy đạt được bản thể của sự chứng thực mỗi một khi thắng trí hiện hữu.
Này các tỳ khưu, niệm-đặt-ở-thân được rèn luyện, được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp, mười lợi ích này là điều mong đợi. Mười điều nào?

Có sự chế ngự điều bất mãn và ưa thích, điều bất mãn không chế ngự vị ấy, sau khi khuất phục điều bất mãn đã được sanh khởi, vị ấy an trú.

Có sự chế ngự sợ hãi và khiếp đảm, sợ hãi và khiếp đảm không chế ngự vị ấy, sau khi khuất phục sợ hãi và khiếp đảm đã được sanh khởi, vị ấy an trú.

Có khả năng chịu đựng đối với sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích, có khuynh hướng cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc về cơ thể đã sanh khởi.

Là vị đạt được theo ước muốn, đạt được không khó khăn, đạt được không khổ nhọc các sự trú vào lạc trong hiện tại có liên hệ đến các thắng tâm của bốn thiền.

Vị ấy kinh nghiệm thần thông nhiều thể loại: là một hóa thành nhiều, là nhiều hóa thành một, hiện ra, biến mất, đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở như là ở khoảng không, trồi lên và chìm xuống vào trong đất như là ở trong nước, đi ở trên nước mà không làm chao động như là ở trên đất, di chuyển với thế kiết già ở trên hư không cũng như loài chim có cánh, bằng bàn tay sờ đến chạm vào ngay cả mặt trăng và mặt Trời (là những vật) có đại thần lực như thế có đại oai lực như thế, bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên.

Vị ấy với Thiên nhĩ thuần tịnh vượt trội loài người, nghe được cả hai loại âm thanh của cõi Trời và loài người, ở xa và ở gần.

Sau khi xem xét, vị ấy nhận biết tâm của các chúng sanh khác của các cá nhân khác bằng tâm. (Vị ấy) nhận biết tâm có tham ái là: ‘Tâm có tham ái,’ hoặc nhận biết tâm lìa khỏi tham ái là: ‘Tâm lìa khỏi tham ái,’ hoặc nhận biết tâm có sân là: ‘Tâm có sân,’ hoặc nhận biết tâm lìa khỏi sân là: ‘Tâm lìa khỏi sân,’ hoặc nhận biết tâm có si là: ‘Tâm có si,’ hoặc nhận biết tâm lìa khỏi si là: ‘Tâm lìa khỏi si,’ hoặc nhận biết tâm bị thâu hẹp là: ‘Tâm bị thâu hẹp,’ hoặc nhận biết tâm bị tán loạn là: ‘Tâm bị tán loạn,’ hoặc nhận biết tâm được rộng mở là: ‘Tâm được rộng mở,’ hoặc nhận biết tâm không được rộng mở là: ‘Tâm không được rộng mở,’ hoặc nhận biết tâm vô thượng là: ‘Tâm vô thượng,’ hoặc nhận biết tâm không vô thượng là: ‘Tâm không vô thượng,’ hoặc nhận biết tâm định tĩnh là: ‘Tâm định tĩnh,’ hoặc nhận biết tâm không định tĩnh là: ‘Tâm không định tĩnh,’ hoặc nhận biết tâm giải thoát là: ‘Tâm giải thoát,’ hoặc nhận biết tâm không giải thoát là: ‘Tâm không giải thoát.’

Vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, —(như trên)— Như thế, vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét đại cương và cá biệt.

Vị ấy, với Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, nhìn thấy các chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sung sướng, (hay) đau khổ, biết được rằng các chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng.

Vị ấy, do sự diệt tận các lậu hoặc, nhờ vào thắng trí của bản thân, ngay trong thời hiện tại chứng ngộ sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của tuệ, sự không còn lậu hoặc, rồi thể nhập và an trú.

Này các tỳ khưu, niệm-đặt-ở-thân được rèn luyện, được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp, thì mười lợi ích này là điều mong đợi.”

Đức Thế Tôn đã nói điều này. Được hoan hỷ, các vị tỳ khưu ấy thỏa thích lời dạy của đức Thế Tôn.

Kinh giảng về Niệm-đặt-ở-thân là thứ chín.

–ooOoo–

Download bản PDF Kinh Thân hành Niệm của Tỳ Khưu Indacanda tại đây:

http://www.paliviet.info/VHoc/15/15_119.pdf

Chân Thành cám ơn Sư Indacanda đã cung cấp bản dịch Kinh Thân Hành Niệm rất mới này của sư

————————————————————————————————————————————————————————————

—————————————————————————————————————————————————————————————-

KINH THÂN HÀNH NIỆM

(trích: Trung Bộ Kinh, Tập III, HT. Thích Minh Châu dịch, tr.230-244)

KINH THÂN HÀNH NIỆM
(Kàyagatàsatisuttam)[21],[22]

Như vầy tôi nghe,

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá Vệ) Jetavana (Kỳ Đà Lâm), tại tinh xá ông Anàthapindika (Cấp Cô  Độc). Rồi một số đông Tỳ Kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong hội trường, câu chuyện này được khởi lên giữa chúng tăng: “Thật vi diệu thay, chư hiền giả! Thật hy hữu thay, chư hiền giả, thân hành niệm,[23] khi được tu tập và làm cho sung mãn, có được quả lớn, có được công đức lớn, như đã được Thế Tôn tuyên bố, bậc tri giả, kiến giả, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.” Và câu chuyện này giữa các vị Tỳ Kheo ấy đã bị gián đoạn. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến ngồi lên chỗ soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các vị Tỳ Kheo: “Ở đây này các Tỳ Kheo, các ngươi hiện nay đang ngồi bàn vấn đề gì?  Câu chuyện gì của các ngươi bị gián đoạn?”

“Ở đây bạch Thế Tôn, sau khi ăn xong, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi tụ họp tại hội trường, và câu chuyện sau này được khởi lên: “Thật vi diệu thay, chư Hiền Giả! Thật hy hữu thay, chư Hiền Giả, thân hành niệm này, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có công đức lớn, đã được Thế Tôn tuyên bố, bậc tri giả, kiến giả, bậc A La Hán. Chánh Đẳng Giác.” Bạch Thế Tôn, câu chuyện này của chúng con chưa bàn xong, thời Thế Tôn đến.”

(Quán niệm hơi thở)

“Và này các Tỳ Kheo, thân hành niệm tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, có quả lớn, có công đức lớn?  Ở đây này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo[24] đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Chánh niệm vị ấy thở vô. Chánh niệm vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”, hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”, hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn” hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”  vị ấy tập, “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra.” vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô” vị ấy tập, “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra” vị ấy tập. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy[25] thuộc về thế tục[26] được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm”.

(Chánh niệm trên bốn tư thế)

“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo đi[27] biết rằng: “Tôi đi” hay đứng, biết rằng: “Tôi đứng”; hay ngồi, biết rằng: “Tôi ngồi”; hay nằm, biết rằng: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân thể như thế ấy. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm”.

(Chánh niệm trên từng động tác cơ thể)

“Lại nữa này các TỳKheo, vị TỳKheo khi bước tới, bước lui biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo tăng già lê (Sanghàti), mang bát, mang y biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng biết rõ việc mình đang làm.”

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.

(Quán thân bất tịnh)

“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da thịt, gân xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu. Này các Tỳ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quan sát: “Đây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, một vị Tỳ Kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.

(Quán tứ đại)

“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới. “Trong thân này có địa đại , thủy đại, hoả đại và phong đại” Này các Tỳ Kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hoả đại và phong đại.”

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.

(Quán tử thi)

“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo, như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Vị Tỳ Kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.

“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn; hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn; hay bị các loài chó ăn; hay bị các loài giả can ăn; hay bị các loài côn trùng ăn. Vị Tỳ Kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.

“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại … với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại…. chỉ còn có xương không dính lại với nhau rãi rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Vị Tỳ Kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy.” Trong khi vị ấy sống không phóng dật….như trên….vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.”

“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc…. chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm…. chỉ còn là xương thối trở thành bột. Vị Tỳ Kheo  quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy.” Trong khi vị ấy sống không phóng dật…… như trên…. vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm”.

(Chứng các bậc Thiền)

“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ly dục,[28] ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm với tứ. Vị Tỳ Kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không do hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.”

“Này các Tỳ Kheo, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử của người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy [29] với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo thắm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân hình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Trong  khi vị ấy sống không phóng dật…. như trên… vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.”

“Lại nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị Tỳ Kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.”

“Này các Tỳ Kheo, ví như một hồ nước, nước tự trong dâng lên, phương Đông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo thấm nhuần tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình, với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân, không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. Trong khi vị ấy sống không phóng đật….như trên….vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm”.

“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và an trú thiền thứ ba. Vị Tỳ Kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân, không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm  nhuần. Như vậy, vị Tỳ Kheo an trú không phóng dật… như trên….vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.”

“Này các Tỳ Kheo, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng, không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo thấm nhuần, tẩm ướt làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Như vậy vị Tỳ Kheo an trú không phóng dật…. như trên….vị Tỳ Kheo, tu tập thân hành niệm”.

“Lại nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị Tỳ Kheo ấy ngồi, thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.”

“Này các Tỳ Kheo, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Trong khi vị ấy sống an trú không phóng dật…. như trên…. vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm[30].”

“Này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập, làm cho sung mãn thân hành niệm, các thiện pháp của vị ấy đi vào nội tâm (Antogadhà?) đều thuộc về minh phần (Vijjàbhàgiyà)[31]. Ví như này các TỳKheo, biển lớn của ai được thấm nhuần bởi tâm[32] thời các con sông của vị ấy đi vào trong biển, đều thuộc về biển lớn (?). Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập làm cho sung mãn thân hành niệm, các thiện pháp của vị ấy đi vào nội tâm, đều thuộc về minh phần. Này các Tỳ Kheo, đối với vị Tỳ Kheo nào không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, thời Ma (Vương) có cơ hội với vị ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với vị ấy. Ví như này ác Tỳ Kheo, có người quăng một hòn đá nặng vào một đống đất sét ướt nhuyễn, này các Tỳ Kheo, các người nghĩ thế nào? Có phải hòn đá nặng ấy có cơ hội (lún sâu) vào đống đất sét ướt nhuyễn ấy?”.

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với ai không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, Ma (Vương) có cơ hội với vị ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với vị ấy. Ví như này các Tỳ Kheo, một cây khô không có nhựa[33] có người đến cầm phần phía trên của đồ quay lửa và nói: “Tôi sẽ làm cho ngọn lửa sanh ra, tôi sẽ làm cho sức nóng hiện lên”. Này các Tỳ Kheo, các ngươi nghĩ thế nào? Người ấy mang đến phần phía trên của đồ quay lửa, quay với cành cây khô không có nhựa ấy, người ấy có làm cho ngọn lửa sanh ra, có làm cho sức nóng hiện  lên không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”

“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với ai không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, Ma (Vương) có cơ hội với người ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với người ấy. Ví như này các Tỳ Kheo, một bình nước, trống rỗng, trống không, được đặt trên cái giá, có một người đi đến, mang theo đầy nước. Này các Tỳ Kheo, các người nghĩ thế nào? Người ấy có thể đổ nước vào (bình) không ?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”

“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, vị nào không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn Ma (Vương ) có cơ hội với  vị  ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với  vị  ấy.”

“Này các Tỳ Kheo, vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma (vương) không có cơ hội với vị ấy, Ma (Vương) không có cơ duyên với vị ấy. Ví như này các Tỳ Kheo, có người quăng một trái banh giây nhẹ vào một cánh cửa (14) làm hoàn toàn bằng lõi cây. Này các Tỳ Kheo, các ngươi nghĩ thế nào? Trái banh giây nhẹ ấy có cơ hội đối với cánh cửa làm hoàn toàn bằng lõi cây  không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn”.

“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào có tu tập thân hành  niệm, làm cho sung mãn, Ma (Vương) không có cơ hội đối với vị ấy, Ma (Vương) không có cơ duyên đối với vị ấy. Ví như này các Tỳ Kheo, một cây ướt có nhựa, (15) rồi một người đi đến mang theo phần trên đồ quay lửa và nói: “Tôi sẽ làm cho lửa sinh ra, tôi sẽ làm cho hơi nóng hiện lên.” Này các Tỳ kheo, các ngươi nghĩ thế nào? Người ấy mang theo phần trên đồ quay lửa, quay với các cây ướt và có nhựa, có thể làm cho lửa sanh ra, làm cho hơi nóng hiện lên được không?

“Thưa không, bạch  Thế Tôn.”

“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn. Ma (Vương) không có cơ hội đối với vị ấy, Ma (Vương) không có cơ duyên đối với vị ấy. Ví như này các Tỳ Kheo một bình nước (16) đầy tràn nước đến nỗi con quạ có thể uống được, được đặt trên cái giá, rồi có người đi đến, mang theo đầy nước. Này các Tỳ Kheo, nhà ngươi nghĩ thế nào? Người ấy có thể đổ được nước vào (bình ấy) không?”

“Thưa không,bạch Thế Tôn.”

“Cũng vậy này các Tỳ kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma (Vương) không có cơ hội đối với người ấy, Ma (Vương) không có cơ duyên đối với người ấy.”

“Này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt đạt được sự tinh xảo, (của pháp ấy?) dầu thuộc giới xứ nào (Sati sati àyatane) (17) (?) Ví như này các Tỳ Kheo, một bình đầy tràn nước đến nỗi con quạ có thể uống được, được đặt trên cái giá và có người lực sĩ đến và lắc qua lắc lại cái bình ấy, như vậy nước có thể trào ra ngoài không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo (của pháp ấy) dầu thuộc giới xứ nào. Ví như có một hồ nước (18) trên một miếng đất bằng, bốn phía có đê đắp làm cho vững chắc, và tràn đầy nước đến nỗi con quạ có thể uống được. Rồi có người  lực sĩ đến và phá một khúc đê, nước có thể tràn ra ngoài không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

“Cũng vậy  này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo (của pháp ấy) dầu với giới xứ nào. Ví như này các Tỳ Kheo (19) trên đất bằng tại chỗ ngã tư có một chiếc xe đậu, thắng với những con ngựa thuần thục, có roi ngựa đặt ngang sẳn sàng, có người mã thuật sư thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm dây cương, tay mặt cầm lấy roi ngựa, có thể đánh xe ngựa ấy đi tới đi lui, tại chỗ nào và như thế nào, theo ý mình muốn. Cũng vậy này các vị Tỳ kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo (của pháp ấy), dầu với giới xứ nào.

“Này các Tỳ Kheo, thân hành niệm được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như thành cỗ xe, được làm như thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành (20), thời mười công đức này có thể được mong đợi. Thế nào là mười?”

Lạc bất lạc (21) được nhiếp phục, và bất lạc không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy sống luôn luôn nhiếp phục bất lạc được khởi lên; khiếp đảm sợ hải (22) được nhiếp phục, và khiếp đảm sợ hải không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy sống luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm sợ hải được khởi lên. Vị ấy kham nhẫn được lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, mặt trời, các loài rắn rết, các cách nói khó chịu, khó chấp nhận. Vị ấy có khả năng chịu đựng được những cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, thô bạo, chói đau, bất khả ý, bất khả ái, đưa đến chết điếng. Tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phiền toái, vị ấy chứng được bốn thiền, thuần túy tâm tư, hiện tại lạc trú. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền. Ngồi  kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể, thân có thần thông bay cho đến Phạm Thiên. Với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài người, ở xa hay gần. Với tâm của vị ấy, vị ấy biết tâm của các chúng sanh, các loài người: Tâm có tham, biết tâm có tham; tâm không tham biết tâm không tham. Tâm có sân, biết tâm có sân; tâm không sân biết tâm không sân. Tâm có si biết tâm có si, tâm không si biết tâm không si. Tâm chuyên chú, biết tâm chuyên chú; tâm tán loạn, biết tâm tán loạn. Tâm đại hành, biết tâm đại hành. Tâm không đại hành, biết tâm không đại hành. Tâm chưa vô thượng, biết tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng, biết tâm vô thượng. Tâm thiền định, biết tâm thiền định. Tâm không thiền định, biết tâm không thiền định. Tâm giải thoát, biết tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát. Vị ấy nhớ đến các đời sốâng quá khứ như một đời, hai đời…, như trên…. vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết. Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của chúng. Với sự diệt trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri với thượng trí, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát không có lậu hoặc”.

“Này các Tỳ Kheo, thân hành niệm được thực hành, được tu tập làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành, thời mười  công đức này có thể mong đợi”.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỳ Kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

KINH THÂN HÀNH  NIỆM[34]
THỨ MỘT TRĂM MƯỜI CHÍN

Chú ý: Phần trong ngoặc đơn () không có ở Chánh Kinh, được thêm vào để tiện việc theo dõi.

——————————————————————————–

[1] Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 324a 27- b1 trích một đoạn thế này: “Khương Tăng Hội chú thích kinh An Ban Thủ yù, đề tựa nói: “Kinh này do Thế Cao dịch, lâu bị chìm che, nhờ gặp Hàn Lâm từ Nam Dương, Bỉ Nghiệp từ Dĩnh Xuyên, Trần Huệ từ Cối Kê, ba vị hiền này tin đạo dốc lòng, Hội cũng xin hỏi. Nên Trần Huệ giải nghĩa. Tôi giúp châm chước”

[2] Kinh này xét bài tựa đầu kinh và xem văn kinh thì hình  như là người chép  lãnh kinh chứ không phân tích ra mà chép liền vào. Đáng lẽ phải cắt ra mà chú, nhưng thường có nhiều chỗ không thể thêm nên không dám tự tiện cắt ra, xin để lại cho các bậc hậu hiền

[3] Về Mâu Tử, xem thêm Lê Mạnh Thát, nghiên cứu về Mâu Tư,û Sài Gòn,Vạn Hạnh ,1974.

[4] Lê Mạnh Thát, Sơ khảo lịch sử Phật giáo Việt Nam II, tu thư Vạn Hạnh, 1974

[5] Kinh Hán tạng tương đương là Trị ý kinh (Đại 1,919).

[6] Trong khi tu thiền với các nghiệp xứ Kammatthana. Xem M.A. iv. 137. D.1.233.

[7] Lễ Tự tứ tổ chức sau mùa an cư.

[8] Araddha, giải thích là Tuttha. M.A. 137.

[9] Komudim Càtumasinim xem B.D.ii. 157. Số 3.iv.137 nói, gọi là Komudi vì có sen trắng và gọi Càtumasini vì là cuối tháng tư mùa an cư.

[10] Sau ngày rằm Kattika.

[11] Putosenàpi M.A. iv . 139 chép Putamsena. Xem G.S.ii .192.số 1.

[12] Xem M.i.424 v.v…

[13] Vijjàvimutti,như S.v. 28.335.

[14] Xem M.Kinh số 10; M.425 A.v. III. Và Anapana Samyutta (S.v.311).

[15] Kàyesu.M.A. iv: 140 – đây chỉ cho một trong bốn đại và đây chỉ cho phong đại ( Vàyokàya). Hay thân này thuộc về sắc pháp. Ở đây hơi thở được xem thuộc về thân vì gồm vào trong các xúc. Vị này hoặc xem phong đại là 1 trong bốn thân hay xem hơi thở là 1 trong 25 sắc pháp.

[16] Sự triền cái của dục vọng là tham,sự triền cái của sân là ưu.

[17] Sau khi biết được đã đoạn trừ, mới đến quán những gì là vô thường, viễn ly đoạn diệt và đọan trừ.

[18] Ajjhupekkhita vị ấy nhìn đối tượng tu hành hay sự vật, không bị chúng ảnh hưởng, với niệm xả ly M.A.iv.142.

[19] Xem M.iii.275.

[20] M.A.iv.144 nói trong kinh này, nhập tức xuất tức niệm, thuộc về thế gian, đưa đến sự viên mãn bốn niệm xứ cũng thuộc thế gian. Và bốn niệm xứ đưa đến sự viên mãn bảy giác chi cũng thuộc thế gian. Và bảy giác chi đưa đến chứng đạt cứu cánh niết bàn và quả giải thoát  nhờ chánh tri.

[21] Kinh hán tạng tương đương là kinh niệm thân kinh (Đại 1.554 c)

[22] Như kinh số 118, kinh số 119 là một phần của kinh satipatthana số 10 cũng xem A. I 43.Vbh 226.

[23] Đây gồm cả Sâmtha (chỉ) và Vipassana (quán) M.A.iv.144.

[24] Xem kinh M.i 56 v.v…

[25] Sarasankappa, như M.i .453.iii 132 S. iv.76.190.

[26] Gehasita, thuộc vào cư sĩ, như tư tưởng thuộc về 5 loại dục lạc.

[27] Xem M.i. 56.

[28] Như M.i.276.278.

[29] Paripphosakam Paripphosakam. Như M.i.276.ii.15.iii,140 D.i.74 xemP.E.D.

[30] Các đoạn văn tương đương ở M. i276-278 chấm dưt ở đây.

[31] Về đoạn này, xem A.i .43, các thiện pháp thuộc minh phần Dhamma Vijabhgi và được kể là sáu. Ở A. iii, 334vô thường  tưởng, khổ tưởng trong vô thường, vô ngã tưởng trong khổ, đọan trù tưởng, viễn ly tưởng, diệt tưởng. Nhưng M.A..iv.145 nói ở đây, quán trí, thần thông do thắng trí, sáu thắng trí đều câu hữu với trí.

[32] Với thiên nhãn. M.A. iv. 145.

[33] Xem M.1. 242

[34] Bài kinh này còn thiếu 9 chú thích!

—————————————————————————————————————————————————————————————

————————————————————————————————————————————————————————————–

Majjhimanikāye

Uparipaṇṇāsapāḷi

2. Anupadavaggo

1. Anupadasuttaṃ

9. Kāyagatāsatisuttaṃ

153. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho sambahulānaṃ bhikkhūnaṃ pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantānaṃ upaṭṭhānasālāyaṃ sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ ayamantarākathā udapādi – ‘‘acchariyaṃ, āvuso, abbhutaṃ, āvuso! Yāvañcidaṃ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena kāyagatāsati [kāyagatā sati (syā. kaṃ. pī.)] bhāvitā bahulīkatā mahapphalā vuttā mahānisaṃsā’’ti. Ayañca hidaṃ tesaṃ bhikkhūnaṃ antarākathā vippakatā hoti, atha kho bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā’’ti? ‘‘Idha, bhante, amhākaṃ pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantānaṃ upaṭṭhānasālāyaṃ sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ ayamantarākathā udapādi – ‘acchariyaṃ, āvuso, abbhutaṃ, āvuso! Yāvañcidaṃ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā mahapphalā vuttā mahānisaṃsā’ti. Ayaṃ kho no, bhante, antarākathā vippakatā, atha bhagavā anuppatto’’ti.

154. ‘‘Kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, kāyagatāsati kathaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā? Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. So satova assasati satova passasati; dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti; rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti; ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā [gehassitā (ṭīkā)] sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti [ekodī hoti (sī.), ekodibhoti (syā. kaṃ.)] samādhiyati. Evaṃ, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ [kāyagataṃ satiṃ (syā. kaṃ. pī.)] bhāveti.

‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu gacchanto vā ‘gacchāmī’ti pajānāti, ṭhito vā ‘ṭhitomhī’ti pajānāti, nisinno vā ‘nisinnomhī’ti pajānāti, sayāno vā ‘sayānomhī’ti pajānāti. Yathā yathā vā panassa kāyo paṇihito hoti, tathā tathā naṃ pajānāti. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ uddhaṃ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṃ pūraṃ nānappakārassa asucino paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye kesā lomā nakhā dantā taco maṃsaṃ nhāru [nahāru (sī. syā. kaṃ. pī.)] aṭṭhi aṭṭhimiñjaṃ vakkaṃ hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ pihakaṃ papphāsaṃ antaṃ antaguṇaṃ udariyaṃ karīsaṃ pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā mutta’nti.

‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, ubhatomukhā putoḷi [mūtoḷī (sī. syā. kaṃ. pī.)] pūrā nānāvihitassa dhaññassa, seyyathidaṃ – sālīnaṃ vīhīnaṃ muggānaṃ māsānaṃ tilānaṃ taṇḍulānaṃ, tamenaṃ cakkhumā puriso muñcitvā paccavekkheyya – ‘ime sālī ime vīhī ime muggā ime māsā ime tilā ime taṇḍulā’ti; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ uddhaṃ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṃ pūraṃ nānappakārassa asucino paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye kesā lomā nakhā dantā taco maṃsaṃ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṃ vakkaṃ hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ pihakaṃ papphāsaṃ antaṃ antaguṇaṃ udariyaṃ karīsaṃ pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā mutta’nti. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ yathāṭhitaṃ yathāpaṇihitaṃ dhātuso paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.

‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṃ vadhitvā catumahāpathe [cātummahāpathe (sī. syā. kaṃ. pī.)] bilaso vibhajitvā [paṭivibhajitvā (sī. syā. kaṃ. pī.)] nisinno assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ yathāṭhitaṃ yathāpaṇihitaṃ dhātuso paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya [sīvathikāya (sī. syā. kaṃ. pī.)] chaḍḍitaṃ ekāhamataṃ vā dvīhamataṃ vā tīhamataṃ vā uddhumātakaṃ vinīlakaṃ vipubbakajātaṃ. So imameva kāyaṃ upasaṃharati – ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti [etaṃ anatītoti (sī.)]. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ kākehi vā khajjamānaṃ kulalehi vā khajjamānaṃ gijjhehi vā khajjamānaṃ kaṅkehi vā khajjamānaṃ sunakhehi vā khajjamānaṃ byagghehi vā khajjamānaṃ dīpīhi vā khajjamānaṃ siṅgālehi vā [gijjhehi vā khajjamānaṃ suvānehi vā khajjamānaṃ sigālehi vā (sī. syā. kaṃ. pī.)] khajjamānaṃ vividhehi vā pāṇakajātehi khajjamānaṃ. So imameva kāyaṃ upasaṃharati – ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ aṭṭhikasaṅkhalikaṃ samaṃsalohitaṃ nhārusambandhaṃ…pe… aṭṭhikasaṅkhalikaṃ nimmaṃsalohitamakkhitaṃ nhārusambandhaṃ…pe… aṭṭhikasaṅkhalikaṃ apagatamaṃsalohitaṃ nhārusambandhaṃ…pe… aṭṭhikāni apagatasambandhāni [apagatanahārūsambandhāni (syā. kaṃ.)] disāvidisāvikkhittāni [disāvidisāsu vikkhitāni (sī. pī.)] aññena hatthaṭṭhikaṃ aññena pādaṭṭhikaṃ aññena gopphakaṭṭhikaṃ [aññena gopphakaṭṭhikanti idaṃ sī. syā. kaṃ. pī. potthakesu natthi] aññena jaṅghaṭṭhikaṃ aññena ūruṭṭhikaṃ aññena kaṭiṭṭhikaṃ [aññena kaṭaṭṭhikaṃ aññena piṭṭhikaṇḍakaṃ aññena sīsakaṭāhaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)] aññena phāsukaṭṭhikaṃ aññena piṭṭhiṭṭhikaṃ aññena khandhaṭṭhikaṃ aññena gīvaṭṭhikaṃ aññena hanukaṭṭhikaṃ aññena dantaṭṭhikaṃ aññena sīsakaṭāhaṃ [aññena kaṭaṭṭhikaṃ aññena piṭṭhikaṇḍakaṃ aññena sīsakaṭāhaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)]. So imameva kāyaṃ upasaṃharati – ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ – aṭṭhikāni setāni saṅkhavaṇṇapaṭibhāgāni [saṅkhavaṇṇūpanibhāni (sī. syā. kaṃ. pī.)] …pe… aṭṭhikāni puñjakitāni terovassikāni…pe… aṭṭhikāni pūtīni cuṇṇakajātāni. So imameva kāyaṃ upasaṃharati – ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

155. ‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi…pe… paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. So imameva kāyaṃ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṃ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho nhāpako [nahāpako (sī. syā. kaṃ. pī.)] vā nhāpakantevāsī vā kaṃsathāle nhānīyacuṇṇāni [nahānīyacuṇṇāni (sī. syā. kaṃ. pī.)] ākiritvā udakena paripphosakaṃ paripphosakaṃ sanneyya, sāyaṃ nhānīyapiṇḍi [sāssa nahānīyapiṇḍī (sī. syā. kaṃ. pī.)] snehānugatā snehaparetā santarabāhirā phuṭā snehena na ca pagghariṇī; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṃ hoti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā…pe… dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. So imameva kāyaṃ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṃ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, udakarahado gambhīro ubbhidodako [ubbhitodako (syā. kaṃ. ka.)]. Tassa nevassa puratthimāya disāya udakassa āyamukhaṃ na pacchimāya disāya udakassa āyamukhaṃ na uttarāya disāya udakassa āyamukhaṃ na dakkhiṇāya disāya udakassa āyamukhaṃ; devo ca na kālena kālaṃ sammā dhāraṃ anuppaveccheyya; atha kho tamhāva udakarahadā sītā vāridhārā ubbhijjitvā tameva udakarahadaṃ sītena vārinā abhisandeyya parisandeyya paripūreyya paripphareyya, nāssa kiñci sabbāvato udakarahadassa sītena vārinā apphuṭaṃ assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṃ hoti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā…pe… tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. So imameva kāyaṃ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṃ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, uppaliniyaṃ vā paduminiyaṃ vā puṇḍarīkiniyaṃ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni udakānuggatāni antonimuggaposīni, tāni yāva caggā yāva ca mūlā sītena vārinā abhisannāni parisannāni [abhisandāni parisandāni (ka.)] paripūrāni paripphuṭāni, nāssa [na nesaṃ (?)] kiñci sabbāvataṃ uppalānaṃ vā padumānaṃ vā puṇḍarīkānaṃ vā sītena vārinā apphuṭaṃ assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṃ hoti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā…pe… catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. So imameva kāyaṃ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṃ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso odātena vatthena sasīsaṃ pārupitvā nisinno assa, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa odātena vatthena apphuṭaṃ assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṃ hoti. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati, sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.

156. ‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, antogadhāvāssa [antogadhā tassa (sī. pī.)] kusalā dhammā ye keci vijjābhāgiyā. Seyyathāpi, bhikkhave, yassa kassaci mahāsamuddo cetasā phuṭo, antogadhāvāssa kunnadiyo yā kāci samuddaṅgamā; evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, antogadhāvāssa kusalā dhammā ye keci vijjābhāgiyā.

‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṃ, labhati tassa māro ārammaṇaṃ [āramaṇaṃ (?)]. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso garukaṃ silāguḷaṃ allamattikāpuñje pakkhipeyya. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu taṃ garukaṃ silāguḷaṃ allamattikāpuñje labhetha otāra’’nti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṃ, labhati tassa māro ārammaṇaṃ. Seyyathāpi, bhikkhave, sukkhaṃ kaṭṭhaṃ koḷāpaṃ [koḷāpaṃ ārakā udakā thale nikkhittaṃ (ka.)]; atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṃ ādāya – ‘aggiṃ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso amuṃ sukkhaṃ kaṭṭhaṃ koḷāpaṃ uttarāraṇiṃ ādāya abhimanthento [abhimanthento (syā. kaṃ. pī. ka.)] aggiṃ abhinibbatteyya, tejo pātukareyyā’’ti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṃ, labhati tassa māro ārammaṇaṃ. Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko ritto tuccho ādhāre ṭhapito; atha puriso āgaccheyya udakabhāraṃ ādāya. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso labhetha udakassa nikkhepana’’nti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṃ, labhati tassa māro ārammaṇaṃ’’.

157. ‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṃ, na tassa labhati māro ārammaṇaṃ. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso lahukaṃ suttaguḷaṃ sabbasāramaye aggaḷaphalake pakkhipeyya. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso taṃ lahukaṃ suttaguḷaṃ sabbasāramaye aggaḷaphalake labhetha otāra’’nti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṃ, na tassa labhati māro ārammaṇaṃ. Seyyathāpi, bhikkhave, allaṃ kaṭṭhaṃ sasnehaṃ [sasnehaṃ ārakā udakā thale nikkhittaṃ (ka.)]; atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṃ ādāya – ‘aggiṃ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso amuṃ allaṃ kaṭṭhaṃ sasnehaṃ uttarāraṇiṃ ādāya abhimanthento aggiṃ abhinibbatteyya, tejo pātukareyyā’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṃ, na tassa labhati māro ārammaṇaṃ. Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko pūro udakassa samatittiko kākapeyyo ādhāre ṭhapito; atha puriso āgaccheyya udakabhāraṃ ādāya. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso labhetha udakassa nikkhepana’’nti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṃ, na tassa labhati māro ārammaṇaṃ’’.

158. ‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, so yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṃ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, ta tatre sakkhibhabbataṃ pāpuṇāti sati satiāyatane. Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko pūro udakassa samatittiko kākapeyyo ādhāre ṭhapito. Tamenaṃ balavā puriso yato yato āviñcheyya, āgaccheyya udaka’’nti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā so, yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṃ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṃ pāpuṇāti sati satiāyatane. Seyyathāpi, bhikkhave, same bhūmibhāge caturassā pokkharaṇī [pokkhariṇī (sī.)] assa āḷibandhā pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā. Tamenaṃ balavā puriso yato yato āḷiṃ muñceyya āgaccheyya udaka’’nti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, so yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṃ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṃ pāpuṇāti sati satiāyatane. Seyyathāpi, bhikkhave, subhūmiyaṃ catumahāpathe ājaññaratho yutto assa ṭhito odhastapatodo [obhastapatodo (ka.), ubhantarapaṭodo (syā. kaṃ.) ava + dhaṃsu + ta = odhasta-itipadavibhāgo]; tamenaṃ dakkho yoggācariyo assadammasārathi abhiruhitvā vāmena hatthena rasmiyo gahetvā dakkhiṇena hatthena patodaṃ gahetvā yenicchakaṃ yadicchakaṃ sāreyyāpi paccāsāreyyāpi; evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, so yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṃ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṃ pāpuṇāti sati satiāyatane’’.

159. ‘‘Kāyagatāya, bhikkhave, satiyā āsevitāya bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya dasānisaṃsā pāṭikaṅkhā. Aratiratisaho hoti, na ca taṃ arati sahati, uppannaṃ aratiṃ abhibhuyya viharati.

‘‘Bhayabheravasaho hoti, na ca taṃ bhayabheravaṃ sahati, uppannaṃ bhayabheravaṃ abhibhuyya viharati.

‘‘Khamo hoti sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṃ duruttānaṃ durāgatānaṃ vacanapathānaṃ, uppannānaṃ sārīrikānaṃ vedanānaṃ dukkhānaṃ tibbānaṃ kharānaṃ kaṭukānaṃ asātānaṃ amanāpānaṃ pāṇaharānaṃ adhivāsakajātiko hoti.

‘‘Catunnaṃ jhānānaṃ ābhicetasikānaṃ diṭṭhadhammasukhavihārānaṃ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.

‘‘So anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccānubhoti. Ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti, āvibhāvaṃ…pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti.

‘‘Dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike ca…pe….

‘‘Parasattānaṃ parapuggalānaṃ cetasā ceto paricca pajānāti. Sarāgaṃ vā cittaṃ ‘sarāgaṃ citta’nti pajānāti, vītarāgaṃ vā cittaṃ…pe… sadosaṃ vā cittaṃ… vītadosaṃ vā cittaṃ… samohaṃ vā cittaṃ… vītamohaṃ vā cittaṃ… saṃkhittaṃ vā cittaṃ… vikkhittaṃ vā cittaṃ… mahaggataṃ vā cittaṃ… amahaggataṃ vā cittaṃ… sauttaraṃ vā cittaṃ… anuttaraṃ vā cittaṃ… samāhitaṃ vā cittaṃ… asamāhitaṃ vā cittaṃ… vimuttaṃ vā cittaṃ… avimuttaṃ vā cittaṃ ‘avimuttaṃ citta’nti pajānāti.

‘‘So anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati, seyyathidaṃ – ekampi jātiṃ dvepi jātiyo…pe… iti sākāraṃ sauddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati.

‘‘Dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti.

‘‘Āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.

‘‘Kāyagatāya, bhikkhave, satiyā āsevitāya bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya ime dasānisaṃsā pāṭikaṅkhā’’ti.

Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.

Kāyagatāsatisuttaṃ niṭṭhitaṃ navamaṃ.


Về ý nghĩa của NIỆM (sati) và CHÁNH NIỆM (sammasati)

Pali Chuyên-Đề
“Pali Chuyên Đề” là một open group của Facebook.
Quí vị có thể tham gia vào group nếu muốn tu tập & nghiên cứu về Phật giáo nguyên thủy ở mọi lãnh vực và khía cạnh
Đây là một trong những đề tài thảo luận của group Facebook “Pali Chuyên Đề”

oooOooo

Về ý nghĩa của NIỆM (sati) và CHÁNH NIỆM (sammasati)

Bhikkhu Indacanda:

 THẮC MẮC: NIỆM VÀ CHÁNH NIỆM KHÁC NHAU CHỖ NÀO ?

Có một hành giả học giả (vì biết vị này có ngồi thiền và cũng có nghiên cứu Kinh điển) làm research cho biết rằng: Ở bản dịch Trung Bộ Kinh có tới 232 chữ chánh niệm, còn chữ sammāsati (23) sammāsatiyā (3) sammāsatiṃ (2) sammāsatissa (2), chỉ gặp có 30 lần. Cũng như đã gặp ở 1 đề tài gần đây về chữ satimā (được dịch là “chánh niệm”, thay vì CÓ NIỆM. khiến số lượng các chữ “chánh niệm” nhiều hơn đến 202 lần. Trong ngôn ngữ thường ngày hình như chữ “chánh niệm” được sử dụng cũng nhiều, ví dụ như vị Trụ Trì của Sư ngày xưa thường hay nhắc nhở rằng: “Mấy Sư phải có chánh niệm một chút.”

Vậy nên hiểu NIỆM VÀ CHÁNH NIỆM như thế nào đây ?

THẢO LUẬN

Áo Trắng Nguời: Thưa Sư: Con nghĩ giữa 2 từ NIỆM va CHÁNH NIỆM chắc sư đã thông hiểu rõ, nhưng sư đặt ra câu hỏi như vậy để củng cố tri kiến và đào sâu thêm vấn đề hơn nữa. Thật ra câu trả lời tức là câu hỏi

Áo Trắng Nguời: Con xin tiếp vì lỡ tại Enter. Theo con hiểu thì NIỆM (có mặt trong NGŨ CĂN, NGŨ LỰC, THẤT GIÁC CHI và CHÁNH ĐẠO) tức là ghi nhận, ghi nhớ, soi sáng đối tượng qua 6 căn (theo thiền minh sát) còn thiền chỉ thi`chỉ riêng một đối tượng là tục đế, một cách chặt chẽ liên tục. Còn CHÁNH NIEM thi` vừa có NIỆM +TRÍ TUỆ , nằm trong chi của 8 CHÁNH ĐẠO. Cho nên NIỆM phải đi trước CHÁNH NIỆM.

Bhikkhu Indacanda To <vị hành giả học giả làm research>: Có nhiều trường hợp từ “sammāsati” được viết rời ra thành “sammā sati” thì computer sẽ không nhận ra.

CÂU HỎI: Làm thế nào để biết được “bản dịch Trung Bộ Kinh có tới 232 chữ chánh niệm”???

Nguyen Huong : Thưa sư, trong một số kinh điển, “chánh niệm” được định nghĩa như sau: “Này chư Hiền, thế nào là chánh niệm? Này chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên các tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này chư Hiền, như vậy gọi là “chánh niệm”. link: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung141.htm. Trong Kinh Đại Niệm xứ của Trương bộ kinh cũng có định nghĩa tương tự. Do đó, khi có chánh niệm là khi tâm đang an trú trên một trong những đối tượng thuộc Tứ Niệm Xứ vốn bao gồm toàn bộ trường (field) có thể quán niệm hay kinh nghiệm trực tiếp. Có thể vì lý do này nên trong những nơi có chữ satimā mà ngữ cảnh trước hay sau đó có gắn với các niệm xứ thì được dịch chung là “chánh niệm”.

141. Kinh Phan biet ve su that www.budsas.org

“Một thời, Thế Tôn ở Baranasi (Ba la nại), Isipatana (chỗ chư Tiên đọa), tại Migadaya (Lộc Uyển). ….”

Vô Vô Không Niệm Phật, Pháp, Tăng, Thân Thọ Tâm Pháp… niệm thần chú, niệm tà ma ngoại đạo: nhớ, giữ tâm ý vào cái gì, có khi chuyện tốt chuyện xấu. Chúng ta có thói quen niệm Phật tức là tụng đọc danh hiệu phật nhưng nó là tùy căn cơ chúng sinh, mặt hạn chế là thói quen suy nghĩ dựa vào ngôn ngữ, Phật thì luôn dạy sự thật cho các tỳ kheo sống một mình: ban đêm phải biết là ban đêm không nên nghĩ nó là ban ngày cho bớt sợ. Chánh niệm: ban đầu là nhớ giữ tâm ý trên thân thọ tâm pháp,nhớ những lời dạy giúp giải thoát mình và người, sau là cái biết biết cái biết( sự đơn thuần ghi nhận và thấy rõ không ngôn từ, hình ảnh) cảm nhận, biết, thấy cái gì sắp khởi lên.(con chỉ trình bày kinh nghiệm, sở học kinh điển còn ngu dốt: không dám search, enter, copy, paste nên không trích dẫn)

phần mềm Instant Document Search; Cwlcount; Text Filter.. mà con đã giới thiệu sư rồi, tiện ích hơn nhiều search google con nghĩ vị đó dùng những phần mềm này hay cũng có thể vị ấy có trí nhớ như ngài Anan. :))cái này phải hỏi vị ấy. Con cảm nhận sư quá vất vả rồi hay sư buông cái giỏ đi cho khỏe, tu giải thoát trước cho mình rồi làm gì làm có tốt hơn không.

Bhikkhu Indacanda To Vô Vô Không: “Niệm Phật, Pháp, Tăng,” NIỆM Thân Thọ Tâm Pháp,” và Niệm thần chú là 3 trường hợp NIỆM khác nhau. Chắc phải chờ VIỆN HÀN LÂM soạn thảo xong từ điển Phật học rồi mới luận được.

Vô Vô Không

Dạ thưa sư! Con chỉ trình bày cách hiểu phổ thông của một người phật tử bình thường đối với mê hồn trận từ niệm để sư xem xét những chỗ đúng sai từ phạn tự:

Niệm 1: nhớ, giữ tâm ý (từ chữ hán);

Niêm 2: tụng, đọc (tịnh độ);

Niệm 3: vọng tưởng( không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm-thiền tông);

niệm 4:có ý tứ (dân gian);

niệm5: biểu đạt sự vận hành thân thọ tâm pháp bằng ngôn từ: đi niệm đi, thở vô niệm vô (nguyên thủy), nhớ nghĩ bàn pháp liên quan giải thoát;

niệm 6: tưởng, quán niệm hình ảnh chư phật bồ tát(tịnh độ-mật tông).

Niệm 7: trực giác, cảm nhận, thấy, biết cái gì diễn ra đúng chánh pháp không; cái biết biết cái biết, đơn thuần ghi nhận kèm theo tỉnh thức. Con kính mong sư và các vị dạy bảo hiểu từ niệm theo kinh điển thế nào cho đúng chánh niệm, chánh kiến ạ!

Vô Vô Không: Còn theo kinh nghiệm con hiểu trước là tự biết cảnh tỉnh những gì xãy ra với căn trần thức sau là biết mình đang suy xét ghi nhận cái gì. Kính mong các vị chỉ bảo. Con xin chân thành cảm ơn sư và con sẽ cố gắng lắng nghe và tu tập nhiều hơn không thì cái nghiệp liên quan rất nặng của con không gánh hết. :)). _()_ _()_ _()_

Bhikkhu Indacanda

‎Vô Vô Không ơi, vào tới cái Group này rồi mà còn kính mong sư và các vị dạy bảo, việc đó phải qua bên paltalk mà giơ tay lên hỏi. Còn 7 niệm mà Vô Vô Không trình bảy ở trên thì làm ơn nói rõ giùm là viết theo tư kiến, hay là viết theo trí nhớ, hoặc ghi lại từ sách vờ, thì cho trích dẫn, nếu quên trích dẫn thì nói là quên. Gần đây, tình trạng phô bày kiến thức mà không nêu rõ nguồn gốc thấy khỏ xử lắm. Delete thì sợ mất lòng, đọc dài lòng thòng thì không có thời gian, còn tiếp thu kiến thức mà chưa xác định thì không dám vì hard disk gần full rồi.

Bhikkhu Indacanda

THỰC HIỆN THEO YÊU CẦU CỦA 1 THÀNH VIÊN CỦA GROUP PALI – CHUYÊN ĐỀ:  

So micchādiṭṭhiyā pahānāya vāyamati, sammādiṭṭhiyā, upasampadāya, svāssa hoti sammāvāyāmo.

So sato micchādiṭṭhiṃ pajahati, sato sammādiṭṭhiṃ upasampajja viharati, sāssa hoti sammāsati.

Itiyime tayo dhammā sammādiṭṭhiṃ anuparidhāvanti anuparivattanti,

seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi, sammāvāyāmo, sammāsati. (Mahācattārīsakasuttaṃ, Majjhimanikaya iii, 72, PTS)

“Ai tinh tấn đoạn trừ tà kiến, thành tựu chánh kiến; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy.

Ai chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm đạt được và an trú chánh kiến; như vậy là chánh niệm của vị ấy.

Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh kiến,

tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.” (Trung Bộ 3, Ðại kinh Bốn mươi, bài 117).

One makes an effort to abandon wrong view and to enter upon right view: this is one’s right effort.

Mindfully one abandons wrong view, mindfully one enters upon and abides in right view: this is one’s right mindfulness.

Thus these three states run and circle around right view,

that is, right view, right effort, and right mindfulness. (Bhikkhu Bodhi, The Middle Length Discourses of the Buddha, trang 935)

CHÚ THÍCH:

– Có lẽ phần tiếng Anh đã giải quyết xong mọi thắc mắc về câu tiếng Việt.

Sato, cũng được dịch là chánh niệm, liên quan đến câu hỏi về số lượng của từ Chánh Niệm trong văn bản tiếng Việt.

Hạnh Trương ‎:  sato, cũng được dịch là “chánh niệm”, liên quan đến câu hỏi về số lượng của từ Chánh Niệm trong văn bản tiếng Việt.

Ý Sư là sao ? “được dịch là chánh niệm” là đúng hay sai ? Sư kết luận đi, rồi con làm tiếp việc của con, hihi

Bhikkhu Indacanda: sato, sati, satimā đều có liên quan đến chữ niệm. Trong đoạn văn này có sự hiện diện của cả 2 từ là sato và sammāsati.

Hạnh Trương: Giời ạ, Sư né gớm, hihi, để con vậy :)

Bhikkhu Indacanda: Bị trúng tên 2 lần rồi, nên bây giờ thấy cái gì cong cong cũng tưởng là cây cung.

Hạnh Trương: Mà Sư không nói thì cứ để mọi người hiểu sai, tập sai mãi vậy sao Sư? Sư không thấy có một cái post ra rả “chánh niệm”, trong khi họ chưa hiểu chánh niệm là gì, mà Sư lại làm ngơ, huhu. Ngoài BS Phạm Doãn giờ HT cũng phải khóc sao :)

Khai Tong: Niệm mà đoạn trừ được tà kiến thì có thể gọi niệm đó là chánh niệm?

Con nghĩ chúng ta cần làm rõ nghĩa chữ “niệm” trước. Theo tiếng Việt “niệm” có nghĩa là gì?

Bhikkhu Indacanda

Theo tài liệu Vi Diệu Pháp Nhập Môn:

109- Sở Hữu Niệm (Sati).

V- Thế nào là Sở Hữu Niệm?

Ð- Sở Hữu Niệm là sự biết ngay, biết đến, biết đặng, biết rõ. Trạng thái nhận thức sự vật hiện hữu tức là tư cách theo dõi, quan sát, chăm chú theo hành động của Thân và Tâm. Niệm có bốn đối tượng: Thân, Thọ, Tâm, Pháp.

Bhikkhu Indacanda Theo tài liệu Siêu Lý Học:

63- SỞ HỮU NIỆM (Sati)

I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Niệm là trạng thái tâm ghi nhớ biết mình, biết những hành vi và cử động của thân và tâm.

– Bốn ý nghĩa của sở hữu Niệm

1- Chơn tướng: Là cách không sơ ý

2- Phận sự: Là làm cho không quên, hay là ghi nhớ.

3- Sự thành tựu: Là cách trao đổi tâm hằng khắn khít với cảnh.

4- Nhân cần thiết: Là nhớ vững chắc.

Thí dụ: Như người lính gác cổng biết rõ kẻ ra người vào.

II. Phân tích chi pháp: Sở hữu Niệm có hai:

1- Tà Niệm

2- Chánh Niệm phân ra có 4: Niệm Thân, Niệm Thọ, Niệm Tâm, Niệm Pháp

Hạnh Trương: Theo cái vi diệu pháp nhập môn không phải Sư ha, có thể nói là sai hoàn toàn , hihi

Theo Siêu Lý Học thì rõ ràng, nhưng chỗ Phân tích chi pháp, thì Chánh Niệm phân ra 4, là 4 chi pháp, không phải đó là định nghĩa (chánh niệm cũng như tà niệm )

Hạnh Trương ‎:

13- Hỏi: Sati (niệm) có những ý nghĩa gì?

Đáp: Xuất phát từ ngữ căn sar, nghĩa là nhớ đến [68] , từ ngữ căn sar có động từ sarati (căn sar + a) là “ghi nhớ, mang theo” [69] .

Sati là một danh từ mang nhiều ý nghĩa, trước tiên là “sự chú ý ghi nhớ”, ngoài ra còn một số ý nghĩa khác như “thận trọng ghi nhận, sự tỉnh táo…”.

Ngài Buddhaghosa có định nghĩa sati (niệm) như sau [70] :

“Sarantitāya, sayaṃ vā sarati saraṇamattameva vā esāti sati: Gọi là niệm vì đã nhớ lại do gìn giữ, hoặc chính nó nhớ lại, hoặc theo dõi (esāti) “.

Hay: “Saraṇakavasena sati: Niệm là trú nơi cần phải nhớ.” [71] . Như Tứ niệm xứ là: “Bốn nơi cần phải nhớ”, Buddhanussati: “Hồng ân Phật là nơi cần phải nhớ thường xuyên” (tùy niệm Phật)…

[ Như Tứ niệm xứ là: “Bốn nơi cần phải nhớ” ( chứ không phải là Chánh Niệm) – HT]

[68]- HT. Thích Minh Châu (d), Thắng pháp tập yếu luận (1971), Viện Đại Học Vạn Hạnh, tr.38.

[69]- Đại Trưởng lão Bửu Chơn (dịch); Từ điển Pāli – Viện Nam (1997), tr. 317.

[70]- Vsm. Mô tả các uẩn.

[71]-Atts. Giải thích mô tả xoay quanh thiện Dục giới (kāmāvacarakusalaṃ niddesavārakathā).

— Tâm Sở Vấn Đáp – Tỳ Kheo Chánh Minh

Định Phúc

‎[251] – Thế nào là niệm trong khi ấy?

Trong khi ấy, có pháp là sự nhớ, sự tùy niệm, sự tưởng niệm, trạng thái ký ức, cách ghi nhận không lơ đãng, không quên; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm, niệm giác chi, chi đạo liên quan đạo. Ðây là niệm trong khi ấy. (Pháp Tụ – HT Tịnh Sự dịch Việt)

Bhikkhu Indacanda: Bhikkhu Bodhi cũng đã dịch bản gốc Pali của Thắng pháp tập yếu luận, nếu có thể tham khảo luôn bản dịch đó thì càng tốt.

Hạnh Trương

‎30. Sati – Derived from Ö sar, to remember.

Sati does not exactly correspond to the Western conception of memory. Mindfulness is a better equivalent for sati. It has to be developed. In the Satipatthāna Sutta are described in detail various methods to develop this sati. When it is highly developed one acquires the power of remembering past births. It is this sati that is regarded as one of the factors of the Noble Eightfold Path.

Sati tends to present before oneself good things without allowing them to be forgotten. Its chief characteristic is ‘not floating away’ (apilāpana). Unlike pumpkins and pots that float on water, sati plunges into the object of thought.

It should be noted that this particular sati is not found in immoral types of consciousness.

What is found in immoral consciousness is micchā sati (wrong mindfulness).

Dhammasangani explains sati as follows:-

“The mindfulness which on that occasion is recollecting, calling back to mind; the mindfulness which is remembering, bearing in mind, the opposite of superficiality and of obliviousness; mindfulness as faculty; mindfulness as power, right mindfulness”.

(Buddhist Psychology, p. 16).

Commenting on sati, Mrs. Rhys Davids says:-

“Buddhaghosa’s comment on sati, in which he closely follows and enlarges on the account in Mil. 37, 38, shows that the traditional conception of that aspect of consciousness had much in common with the Western modern theory of conscience or moral sense. Sati appears under the metaphor of an inward mentor, discriminating between good and bad and prompting choice. Hardy went so far as to render it by ‘conscience’, but this slurs over the interesting divergence’s between Eastern and Western thought. The former is quite unmystical of the subject of sati. It takes the psychological process or representative functioning (without bringing out the distinction between bare memory and judgment), and presents the same under an ethical aspect”. (Buddhist Psychology, p. 16).

Hạnh Trương: Có lẽ tới đây là chúng ta cũng đã thấy NIỆM là gì rồi, và đặc biệt cho đa số, điều này chắc sẽ là một điểm khiến họ phải thay đổi cách nhìn cũ, coi rằng Niệm là cứ nhắc đi nhắc lại hoài một câu, một chữ.

Nếu ai đó muốn nhắc đi, nhắc lại 6 chữ nào đó, và coi đó là cứu cánh thì cũng là việc cá nhân, nhưng chỉ xin lưu ý, xem lại để từ đó không làm sai lạc định nghĩa về “niệm” mà chúng ta gặp nhiều trong kinh Pali. Việc đánh tráo khái niệm như vậy …

“10. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự hỗn loạn (mê mờ) và biến mất của diệu pháp. Thế nào là hai? Văn cú bị đảo ngược và ý nghĩa bị hiểu lầm. Nếu văn cú bị đảo ngược thời ý nghĩa bị hiểu lầm. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp đưa đến hỗn loạn và biến mất của diệu pháp.

11. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến an trú, không biến loạn, không biến mất của diệu pháp. Thế nào là hai? Văn cú phối trí chơn chánh và ý nghĩa được hiểu chơn chánh. Nếu văn cú được phối trí chơn chánh thời ý nghĩa được hiểu chơn chánh. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp đưa đến an trú, không hỗn loạn, không biến mất của diệu pháp.” – Kinh Tăng Chi – Chương hai pháp – Phẩm Tranh luận.

Còn về CHÁNH NIỆM, hiện tại chúng ta có hai định nghĩa về chánh niệm như sau :

1. Rải rác trong tam tạng :

“katamā ca, bhikkhave, sammāsati? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsati.”

2. Trong Đại Kinh Bốn Mươi.

“so sato micchādiṭṭhiṃ pajahati, sato sammādiṭṭhiṃ upasampajja viharati, sāssa hoti sammāsati.”

Các bản dịch

1. Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh niệm?

Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống

quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;

quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;

quán tâm trên các tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;

quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh niệm.

( Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch )

– Có 2 động từ (finite verbs) là viharati (sống) và vineyya (để chế ngự, CÓ THỂ LOẠI TRỪ, CÓ THỂ DỜI ĐI, CÓ THỂ DẸP ĐI, thuộc thể potential, không phải thể affirmative)

– Các từ này được xem tương đương tính từ, bổ nghĩa cho vị tỳ khưu: kāye kāyānupassī (quán thân trên thân, Ý NGHĨA CỦA QUÁN, NÊN HIỂU CHỮ QUÁN NHƯ THẾ NÀO, THẾ NÀO GỌI LÀ QUÁN?) ātāpī (nhiệt tâm) sampajāno (tỉnh giác, Ở ĐÂY CÓ TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG VỚI TỪ TUỆ TRI, TỰ MÌNH TUỆ TRI) satimā (chánh niệm, CÓ NIỆM)

– vineyya loke abhijjhādomanassaṃ: vineyya (để chế ngự, CÓ THỂ LOẠI TRỪ, CÓ THỂ DỜI ĐI, CÓ THỂ DẸP ĐI) abhijjhādomanassaṃ (tham ưu) loke (ở đời).

(Lưu ý của Sư Indacanda)

———

kāyānupassī = kāya + anupassii là nhìn theo hay nhìn sâu vào đối tượng thân, hay quan sát các đối tượng sinh-vật lý (kāya) mà con người chấp thủ vào xem như ‘thân thể của ta’.Con thích ý nghĩa theo thể potential của vineyya = CÓ THỂ LOẠI TRỪ, vì không phải hành giả bao giờ cũng thành công trong việc loại trừ tham-ưu khi liên hệ với thân. Với sự có mặt của ba yếu tố ātāpī (nhiệt tâm) sampajāno (tỉnh giác), và satimā (có niệm), hành giả có thể loại trừ được tham-ưu ở thế giới (tiểu thế giới của một cá thể bao gồm mối liên hệ thân-tâm).

( ý kiến của Sư cô Nguyen Huong)

2. “Ai chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm đạt được và an trú chánh kiến; như vậy là chánh niệm của vị ấy ”

(và tương tự cho các chi khác như tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng)

( Hòa Thượng Thích Minh Châu )

One makes an effort to abandon wrong view and to enter upon right view: this is one’s right effort.

Mindfully one abandons wrong view, mindfully one enters upon and abides in right view: this is one’s right mindfulness.

Thus these three states run and circle around right view,

that is, right view, right effort, and right mindfulness. (Bhikkhu Bodhi, The Middle Length Discourses of the Buddha, trang 935)

CHÚ THÍCH:

– Có lẽ phần tiếng Anh đã giải quyết xong mọi thắc mắc về câu tiếng Việt.

– sato, cũng được dịch là chánh niệm, liên quan đến câu hỏi về số lượng của từ Chánh Niệm trong văn bản tiếng Việt.

( Ý của Sư Indacanda )

Vậy CHÁNH NIỆM là gì? Sau khi chúng ta đã hiểu NIỆM, HT chỉ có thể chắc chắn một điều là chánh niệm đó không phải là từ “chánh niệm” đang phổ biến khắp nơi trong các tài liệu, bài viết về Phật Giáo như hiện tại. Cái này cần sự thảo luận của cả nhóm, mong các Sư ra tay thêm một lần nữa.

Bhikkhu Indacanda

‎(1) Iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati,

(2) bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati,

(3) ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati.

(4) Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati,

(5) vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati,

(6) samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati.

(7) ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.

Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati. (Dīghanikāya, Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ, tập 2, trang 298, PTS.)

 

(1) Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân;

(2) hay sống quán thân trên ngoại thân;

(3) hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân.

(4) Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân;

(5) hay sống quán tánh diệt tận trên thân;

(6) hay sống quán tánh sanh diệt trên thân.

(7) “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân. (Trường Bộ, Kinh Đại Niệm Xứ, bài số 22)

– Các đoạn từ (1) đến (7) được phân ra bởi từ <vā> = <hay, hay là, hoặc là>.

– Ở đoạn (7) phần dịch tiếng Việt không dịch từ <vā> này.

– Lời dịch tiếng Việt của đoạn (7) có vấn đề. Mong quý Bà Con Cô Bác tìm hiểu giúp cho ý nghĩa của đoạn văn số (7) này; tham khảo bản dịch tiếng Anh cũng tốt vậy.

Hạnh Trương: giải quyết chỗ này đi Sư… vụ này rất rất là quan trọng

Định Phúc Với suy nghĩ của cá nhân con, đoạn (7) sẽ dịch như vầy: hay là vị ấy sống an trú niệm rằng “có thân đây” chỉ với mục đích hướng đến chánh trí, chánh niệm, và sống không phụ thuộc, không bám chấp bất cứ vật gì trên đời. Như vậy, này các Tỳ kheo, là vị tỳ kheo sống quán thân trên thân. Xin được chỉ dẫn thêm ạ

Hạnh Trương Sư Định Phúc xem chánh trí và chánh niệm ở trên có chữ sammā không , nếu không có ..

Định Phúc: ah đúng vậy, lọng cọng ở chỗ này. mình cứ nghĩ “sati là chánh” không thì chết thiệt. mà nếu dịch là “hướng đến trí và niệm” thì hơi bị kỳ kỳ

Hạnh Trương

Or his mindfulness that ‘There is a body’ is maintained to the extent of knowledge and remembrance. And he remains independent, unsustained by (not clinging to) anything in the world. This is how a monk remains focused on the body in and of itself.

Bhikkhu Thanissaro

Bhikkhu Indacanda Đoạn này đã nghiên cứu rồi mà không chịu nhớ gì hết trơn. Như vậy là đã đọc rồi mà không để ý, hoặc là chưa thông mà cho qua luôn. Để cho tự đi tìm lấy ở đề tài cũ, không rảnh để giúp. Hahaha.

Hạnh Trương Sư làm khó nhau quá đó, hehe

Định Phúc để con tự xem lại những đề tài cũ, những lần trứơc con chưa vào G

Hạnh Trương

http://www.facebook.com/groups/paliviet/?view=permalink&id=146880535399066

“Như thế, vị ấy HOẶC LÀ sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, HOẶC LÀ sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, HOẶC LÀ sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần, HOẶC LÀ sống có sự quan sát hiện tượng sanh lên ở thân, HOẶC LÀ sống có sự quan sát hiện tượng diệt tắt ở thân, HOẶC LÀ sống có sự quan sát hiện tượng sanh lên và diệt tắt ở thân, HOẶC HƠN NỮA sự ghi nhận của vị ấy về ‘Có cái thân’ là được hiện hữu chỉ với một lượng nhỏ về trí, với một lượng nhỏ về niệm, và (vị ấy) sống không lệ thuộc (vào tham ái, v.v…), và (vị ấy) không bám víu vào bất cứ điều gì ở thế gian. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát về thân là như vậy. (Tk. Indacanda)

anupassati (anu + passati): passati có nghĩa là ‘nhìn, xem, coi,’ còn anu là ‘dõi theo, lần theo’ nên ghi nghĩa của anupassati là ‘quan sát’ thay vì ‘quán’ hay ‘tùy quán.’

————–

Chú ý: CÁCH CHẤM CÂU ở Pali:

– Văn bản của Thái Lan thì cả đoạn văn trên từ iti ajjhattaṃ … viharati không dấu chấm câu ở bên trong, cho dù là dấu phẩy.

– ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti. Yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. (VRI CD, Myanmar)

– Atthi kāyo ti vā pan’ assa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvad – eva ñāṇamattāya paṭissatimattāya, anissito ca viharati na ca kiñci loke upādiyati. (PTS, Anh)”

Bhikkhu Indacanda Bhikkhu Rama cũng có tham gia dịch lại đoạn <với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm>, xem ở những comments ở bên dưới.

Hạnh Trương Câu của Sư Indacanda dịch có “vấn đề”, cần hết sức lưu tâm, hihi. Cái chỗ “một lượng nhỏ về trí” và “một lượng nhỏ về niệm”. Và từ quan sát thay cho tùy quán.

Còn tại sao Sư lại thêm mấy chữ trong ngoặc vào ạ?

Nguyen Huong

‎*‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya
paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. Atthi kāyo’

*Trong văn phạm Pali, hành giả quán sát thân như ngôi thứ ba, nghĩa là tương đối khách quan, thấy thân như một đối tương nghiên cứu, thẩm sát chứ không thấy thân như là một sở hữu của ta.

* Quan niệm như vậy là nhân gần đưa đến sự hiểu biết vừa đủ, giác niệm vừa đủ cho đời sống không bám níu, không phụ thuộc vào thế gian.

Hạnh Trương

Cảm ơn BS Phạm Doãn đã tổng hợp lại.

HT nhớ ra đoạn kinh này liên quan tới Niệm, có 1 ví dụ khá rõ ràng, và có thể giúp chúng ta lần ra manh mối của Chánh Niệm chăng.

“upamā kho me ayaṃ, sunakkhatta, katā atthassa viññāpanāya. ayaṃyevettha attho — vaṇoti kho, sunakkhatta, channetaṃ ajjhattikānaṃ āyatanānaṃ adhivacanaṃ; visadosoti kho, sunakkhatta, avijjāyetaṃ adhivacanaṃ; sallanti kho, sunakkhatta, taṇhāyetaṃ adhivacanaṃ; esanīti kho, sunakkhatta, satiyāyetaṃ adhivacanaṃ; satthanti kho, sunakkhatta, ariyāyetaṃ paññāya adhivacanaṃ; bhisakko sallakattoti kho, sunakkhatta, tathāgatassetaṃ adhivacanaṃ arahato sammāsambuddhassa.

“I have given this simile to convey a meaning. The meaning is this: the wound stands for the six internal sense media; the poison, for ignorance; the arrow, for craving; the probe, for mindfulness; the knife, for noble discernment; the surgeon, for the Tathagata, worthy and rightly self-awakened.
– Translated by Bhikkhu Thanissaro

Này Sunakkhatta, Ta nói ví dụ này với mục đích làm sáng tỏ ý nghĩa. Nghĩa ở đây như sau: Vết thương, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với sáu xúc xứ (phassayatana); thuốc độc, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với vô minh; mũi tên, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với ái; vật dụng dò tìm, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với niệm; con dao, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Vị y sĩ giải phẫu, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

-Kinh Thiện Tinh. Trung Bộ 105. (Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

Definition of PROBE from Merriam-Webster.

1.
: a surgical instrument that consists typically of a light slender fairly flexible pointed metal instrument like a small rod that is used typically for locating a foreign body (as a bullet embedded in a part of the body), for exploring a wound or suppurative tract by prodding or piercing, or for penetrating and exploring bodily passages and cavities

2.
: a device (as an ultrasound generator) or a substance (as radioactively labeled DNA) used to obtain specific information (as detection of a virus or location of specific segments of a nucleic acid) for diagnostic or experimental purposes <the radioactive probe revealed the distribution of molecules in the membrane>

Hình ảnh và tài liệu về probe thời cổ :

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2498212/pdf/annrcse01530-0059.pdf

Có gì BS. Phạm Doãn giải thích thêm chỗ này ạ.

Hạnh Trương Theo con, concept “cho ĐỜI SỐNG không bám víu, lệ thuộc vào thế gian” có lẽ không phù hợp trong hoàn cảnh này.

Bài Kinh đang nói tới việc TU TẬP TUỆ TRI thông qua việc quan sát (mà không bám vào, không chấp vào các khái niệm đã có, hay như Sư Indacanda hay nói, là không label) các sự sanh, diệt, trụ của các HIỆN TƯỢNG trên BỐN NIỆM XỨ thân, thọ, tâm, pháp.

Hạnh Trương

Tiếp tục về đề tài Chánh Niệm…

1. Rải rác trong tam tạng :

“katamā ca, bhikkhave, sammāsati? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsati.”

2. Trong Đại Kinh Bốn Mươi.

“so sato micchādiṭṭhiṃ pajahati, sato sammādiṭṭhiṃ upasampajja viharati, sāssa hoti sammāsati.”

Vì hai định nghĩa đều từ trong Tạng Kinh, từ hai bài kinh do chính Đức Phật thuyết, rất khó để chúng ta bỏ được định nghĩa này, theo định nghĩa kia. Vậy có thể là gì ?

– Tìm nghĩa chung của hai định nghĩa để có thể hiểu được đích thực đâu là chánh niệm ? ( trường hợp ý tại, ngôn ngoại )

– Một định nghĩa nằm trong định nghĩa kia ? ( trường hợp cả hai đều tuyệt đối chính xác)

– Phối hợp cả hai cách.

Mong các Sư và các đạo hữu giúp một tay khai phá nốt đề tài lý thú này, vì từ Chánh Niệm là từ mà hầu như ai cũng nghe hàng ngày, nếu không có một định nghĩa thống nhất về nó thì quả thật là khó cho chúng ta quá.

Kusalaguṇa Bhikkhu

Niệm (sati) là một trong 19 thiện tâm sở, và theoBhikkhu Bodhi, đó là sự hiện diện của tâm hay sự chú tâm trên đối tượng, chứ không phải sự nhớ nghĩ về những gì thuộc quá khứ. Đặc tính của nó là không chao đảo (apilāpana-lakkhaṇa) trên đối tượng, chức năng của nó là ‘không quên’ (asammosa-rasa), sự biểu hiện của nó là bảo vệ (ārakkha-paccuppaṭṭhāna) các thiện tâm sở đi chung với nó, và nguyên nhân gần để nó phát sinh là tứ niệm xứ – thân, thọ, tâm, pháp (kāyādi-satipaṭṭhāna-padaṭṭhāna) (DhsA.165; Vism.ii.94). Gốc từ ‘sar’ (nhớ) của ‘sati’ là nói đến chức năng ‘không quên’ ở trên.

Niệm (sati) và chánh niệm (sammāsati) có nghĩa như nhau. Khi sử dụng chánh niệm là để phân biệt tà niệm (micchāsati) và ngược lại. Còn khi dùng ‘niệm’ (sati) một mình thì nó đồng nghĩa với chánh niệm. Trong phần mở đầu của kinh Tứ Niệm Xứ, ‘satimā’ (có niệm) được dùng riêng rẽ, tương tự như vậy trong Thất Giác Chi, Ngũ Căn, Ngũ Lực… Riêng trong Bát Chánh Đạo, chánh niệm (sammāsati) được dùng để phân biệt với tà niệm. Tà niệm ở đây không liên quan gì với thân thọ tâm pháp và các đề mục thiền, mà theo Chú giải MA.i.192 thì tà niệm là sự nhớ nghĩ đến các bất thiện pháp trong quá khứ.

Chữ ‘niệm’ trong Ngũ Căn (tín, tấn, niệm, định và tuệ) là yếu tố quan trọng nhất để dung hòa 4 căn còn lại, và nó càng nhiều chừng nào càng tốt chừng đó. Riêng từng cá nhân của 4 căn còn lại thì không được vượt mức cho phép. Cặp ‘tín và tuệ’, cặp ‘tấn và định’ phải tương hợp với nhau. Nếu tín nhiều quá sẽ làm tâm mù quánq và tuệ nhiều quá sẽ làm tâm nghi kỵ. Tương tự như vậy, nếu tấn nhiều quá sẽ làm tâm trạo cử và định nhiều quá sẽ làm tâm hôn trầm.

Trong các đề mục thiền ta thường thấy một từ khác liên quan đến ‘niệm’ đó là ‘tùy niệm’ (anussati), ví dụ, tùy niệm ân đức Phật (Buddhānussati), tùy niệm ân đức Pháp (Dhammānussati) vân vân, và ta cũng thấy từ ‘sati’ trong một số đề mục thiền khác, ví dụ, niệm hơi thở vào ra (ānāpānassati), niệm thân bất tịnh (kāyagatāsati) vân vân. Trong trường hợp này thì chữ ‘tùy niệm’ (anussati) khác với ‘niệm’ (sati) ở bản chất của đề mục thiền. Tiền tố ‘anu’ của anussati ở đây có nghĩa ‘lập đi lập lại’ (punappunaṁ). Khi niệm một ân đức Phật, ví dụ, Arahaṁ, ta niệm lập đi lập lại ân đức ‘Arahaṁ, Arahaṁ..’ nhiều lần, và danh từ Arahaṁ không thay đổi. Còn khi niệm hơi thở, ta vẫn chú tâm trên hơi thở, nhưng mỗi hơi thở không giống nhau, có hơi thở dài, có hơi thở ngắn, có hơi thở thô, có hơi thở vi tế. Vì hơi thở mỗi lúc mỗi khác, nên từ ‘niệm’ (sati) được dùng, thay vì từ ‘tùy niệm’ (anussati).

Vô Vô Không ‎”theoBhikkhu Bodhi, đó là sự hiện diện của tâm hay sự chú tâm trên đối tượng, chứ không phải sự nhớ nghĩ về những gì thuộc quá khứ.” Sư cho con xin liên kết liên quan đến kết luận này.

Hoa Nguyen Như vậy, theo phân tích và lý giải của Sư Kusagulana cùng nhiều vị khác, thường chỉ nên sử dụng từ “Niệm”,với nghĩa chú tâm như ở trên ( hay tôi nghĩ còn ý nghĩa là có ý thức, biết rõ), và dùng Chánh niệm trong trường hợp của Bát Chánh đạo, khi muốn nhấn nhận tính chất thiện pháp.

Hạnh Trương :

Không đơn giản như anh Hoa Nguyen nghĩ đâu ạ. Niệm là một vấn đề lớn, ý Sư Kusalaguṇa Bhikkhu đưa ra có nhiều điểm cần phải xem lại. Ví dụ khi Sư nói tới tùy niệm là lặp đi lặp lại.

Nếu như tùy niệm Phật là lặp đi lặp lại ân đức Araham chẳng hạn, thế nhưng khi đó sẽ nói thế nào về tùy niệm Pháp, tùy niệm Tăng. Ta cũng nói là Pháp, Pháp, Pháp, hay Tăng, Tăng, Tăng. Chưa kể tùy niệm Phật thì niệm danh hiệu nào, khi Phật có tới 10 danh hiệu, rồi thứ tự ra sao? Pháp có 37 phẩm trợ đạo, niệm thế nào, Tăng thì niệm những ai… Do đó HT nghĩ chỗ tùy niệm ân đức như Sư Kusalagan trình bày chưa rõ ràng. Chúng ta nên đọc thêm đoạn này trong Thanh Tịnh Đạo, bản dịch của Nanamoli, trang 245 sẽ thấy rõ hơn.

Niệm không đơn giản chỉ là sự chú tâm, HT không dám định nghĩa lại, chúng ta đã có những định nghĩa từ các tài liệu có uy tin do các Sư và các đạo hữu post bên trên, và nếu xem thêm các ví dụ sẽ dễ hiểu hơn về khái niệm đặc biệt quan trọng này.

Điểm thứ nhì, việc đánh đồng niệm và chánh niệm thật khó giải thích. Nếu nó là như nhau, trong kinh đã không dùng hai từ khác nhau.

Có lẽ vì sự đánh đồng này mà bao nhiêu người bỏ qua giới, vì tu giới làm gì, khi chánh niệm là câu cửa miệng của người mới tu. Ai cũng nghĩ rằng chánh niệm là chuyện nhỏ, làm gì chẳng chánh niệm sẵn rồi, Thầy lúc nào chẳng nhắc là “con hãy giữ chánh niệm”. Thế nên bỏ qua giới (các chi thánh đạo trước chánh niệm) mà nhảy ngay vào ngồi thiền cho có “chánh định”. Kết quả là gì, chúng ta đều đã biết.

Chánh Niệm thật là phức tạp, hihi.

Kusalaguṇa Bhikkhu ‎@ Vô Vô Không : Bhikkhu Bodhi, ed., A Comprehensive Manual of Abhidhamma, p. 86.

Kusalaguṇa Bhikkhu

Đức Phật có 9 ân đức (có nơi chia làm 10), như Arahaṁ (Ứng Cúng), Sammāsambuddho (Chánh Biến Tri)… Đức Pháp có 6 ân đức đó là Svākkhāto (khéo thuyết), Ehipassiko (mời đến để thấy)… Pháp ở đây là 9 Pháp Siêu Thế – 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả, Niết-bàn – và Tam Tạng. Ân đức Svākkhāto là ân đức của 10 Pháp kể trên, riêng 5 ân đức sau là ân đức của 9 Pháp Siêu Thế (Path of Purification, VII,69, p. 230). Pháp ở đây không phải 37 phẩm trợ đạo như Hạnh Trương nói. Tăng ở đây là Thánh Tăng, có 9 ân đức, đó là Suppaṭipanno (khéo thực hành thiện hạnh), Ujupaṭipanno (thực hành chánh trực) vân vân. Theo thiền sư Pa Auk Sayadaw thì thiền sinh có thể chọn 1 ân đức Phật tâm đắc nhất khi thực hành đề mục thiền niệm ân đức Phật. Khi thực hành thành công ân đức đó rồi, thiền sinh thực hành tiếp những ân đức còn lại. Đề mục thiền niệm ân đức Pháp và ân đức Tăng cũng tương tự như vậy.
Niệm hay chánh niệm vốn không phức tạp nếu ta trở lại chính mình, lắng nghe những gì rõ ràng nhất đang xảy ra trong cái thân 1 sải này. Nó bắt đầu phức tạp khi ta bắt suy nghĩ.
Vậy theo Hạnh Trương thì giới là gì trong Bát Chánh Đạo? Có lẽ Hạnh Trương định nghĩa theo kinh là:
“Này các Tỷ kheo thế nào là Chánh ngữ? Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh ngữ.
Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cướp, tự chế không tà dâm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh nghiệp.
Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh mạng? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng chánh mạng. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh mạng.” (Trường Bộ Kinh, bài số 22, Kinh Đại Niệm Xứ).
Đây là giới thô đã biểu hiện qua thân và khẩu. Còn giới vi tế tức là tác ý (cetanā) tránh xa sát sanh, trộm cướp vân vân (Path of Purification, I,18, p. 7). Vì vậy khi ta ngồi thiền hay thực hành chánh niệm là ta đã đầy đủ giới rồi, và giới đạt đến mức độ hoàn hảo nhất chính là 3 chi (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng) trong Thánh Đạo Tâm.

Hoa Nguyen

‎@Hanh Truong. Niệm với nghĩa ban đầu là ghi nhớ có thể hiểu rộng ra là ghi nhớ, nhận biết (rõ) đối tượng, nội dung, đề mục, trạng thái Thiền. Tôi không hiểu được các ý nghĩa sâu xa trong Pali, và chỉ hiểu Niệm trong ý nghĩa của Thiền là nh…See More

Hoa Nguyen

Tôi nghĩ (theo người không chuyên) trong “Tứ Niệm xứ”, niệm có nghĩa chú tâm, hay đặt tâm ý lên trên đối tượng Thiền (là thân, thọ, tâm, pháp). Vô Vô Không (ở chỗ khác) còn đưa nghĩa Niệm từ Hán ngữ vào làm vấn đề thêm nhiêu khê. Niệm ngoài nghĩa là nhớ (như họ dùng Niệm để dịch Sati), niệm trong tiếng Hán còn có nghĩa là nghĩ (ý nghĩ), như ý niệm, vô niệm, hay đọc tụng (nhỏ), như niệm chú, niệm Phật. Tôi thấy không nên lẫn lộn nghĩa riêng ở hai ngôn ngữ (khi bàn về Sati).

Hạnh Trương

Ở đây là link tới trang có khái niệm Sati, được Kusalaguṇa Bhikkhu dịch thoáng ở comment trên
http://books.google.com.au/books?id=hxopJgv85y4C&lpg=PP1&dq=a+comprehensive+manual+of+abhidhamma&lr&as_brr=1&pg=PA86#v=onepage&q&f=false
Lưu ý thêm về tác giả của cuốn sách.

HT đồng ý với anh Hoa Nguyen về việc nên sử dụng từ Sati thay cho niệm để không bị lẫn với các nghĩa khác của tiếng Hán (ở trong post này) khi chúng ta đang cần một định nghĩa chính xác.

Về anussati, việc liệt kê và nhắc đi nhắc lại một cái danh từ ở đây theo HT không phải là ý nghĩa của nó. Nó liên quan tới sati, việc lặp đi lặp lại sati với cảm hứng từ ân đức là anussati, có vậy thôi. Sati vẫn còn đó, nếu chưa hiểu được sati thì sẽ hiểu sai anussti.

Trong thanh tịnh đạo có giải thích khá rõ chỗ này. Các đạo hữu có thể xem kỹ hơn.

Về giới, HT không nghĩ như Sư Kusalaguna đã tưởng. Giới là một đề tài khác, chúng ta sẽ đề cập tới chỗ khác để không làm loãng vấn đề.

Sư dẫn các định nghĩa về các chi thánh đạo như vậy là tóm tắt quá, nó được mô tả kỹ hơn và đầy đủ hơn trong đại kinh bốn mươi ở trung bộ.

HT không đồng ý với Sư là sati và sammasati là đơn giản, và với việc không suy nghĩ thì sẽ biết nó. HT không muốn sa đà vào các lý luận kiểu thiền tông. Thiết nghĩ chúng ta cần hết sức cẩn trọng và nghiêm túc, chứ không thể cứ ngồi xuống thiền là giới đã có đủ (để rồi xả thiền ra rồi giới lại chẳng còn).

Những trao đổi này và việc lật ngược lại, đọc kỹ hơn các định nghĩa về sati từ các nguồn đáng tin cậy ban đầu, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sati.

@anh Hoa Nguyen : sati và sammasati không giống như quần áo và y phục được. Chỉ cần nhìn mặt chữ là chúng ta đã thấy không thể đánh đồng. Về việc Thiền Sư Nhất Hạnh gọi nó là gì, có lẽ chúng ta cũng không nên quan tâm, vì Thiền Sư có lãnh vực riêng của mình và khác rất xa với những gì mà chúng ta đang thảo luận trong pali chuyên đề này.

Quay lại một chút, có lẽ anussati sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về một thuộc tính của sati là nhớ. Nó không phải là nhớ suông. Trong anussati, nhớ này là nhớ tới một đặc tính cao thượng, khiến chúng ta luôn hướng mình tới đó, trong khi nhớ như vậy, hướng tới như vậy, có cảm hứng như vậy, sati đạt được một công năng của nó là phòng vệ (khỏi các ác pháp, bất thiện pháp)

Hạnh Trương

thưa anh Hoa Nguyen, có một ý nữa, ý nghĩa ghi nhớ ở đây, một trong những thuộc tính của sati, không phải là ghi nhớ và nhận biết đối tượng.

anh viết “Niệm với nghĩa ban đầu là ghi nhớ có thể hiểu rộng ra là ghi nhớ, nhận biết (rõ) đối tượng, nội dung, đề mục, trạng thái Thiền”

Nhận biết là công năng của các tri, ví dụ khi nhận biết trạng thái của các đối tượng ở thân thọ tâm pháp, thì đó là công năng của pajanati (tuệ tri). Còn vai trò của sati ở đây chỉ là ” ông nhớ đó mới là đối tượng để ông nhận biết”, còn việc nhận biết là việc khác. Vì khái niệm “nhớ đó mới là cái cần nhận biết” hơi hơi giống việc “chú tâm” nên dịch ra nó khó là vậy.

Hoa Nguyen ‎@Anh Hạnh Trương. Có hai tính chất cũng gần mà nhẹ, mạnh khác nhau là chánh niệm và tỉnh giác. Chánh niệm (mindfulness) tôi hiểu là có ý thức, biết (rõ), và tỉnh giác (clear comprehension) là hiểu biết rõ ràng với mức chú tâm cao hơn chánh niệm. Tuệ tri phải cao hơn tỉnh giác về hiểu biết.

Hạnh Trương

Anh Hoa Nguyen >>Chánh niệm (mindfulness) tôi hiểu là có ý thức, biết (rõ), và tỉnh giác (clear comprehension) là hiểu biết rõ ràng với mức chú tâm cao hơn chánh niệm. Tuệ tri phải cao hơn tỉnh giác về hiểu biết.

Chỗ này theo em không phải như vậy anh ạ. Em sẽ lấy ví dụ về người gác cổng để trình bày kỹ hơn, vì anh đã nói tới các khái niệm quan trọng khác mất rồi :)

Ví dụ về người gác cổng.

Người gác cổng là người có nhiệm vụ đảm bảo để những gì được ra vào qua cái cổng là không bị trái với quy định.

1. Việc NHỚ (trách nhiệm; đối tượng cần quan sát) là SATI . Nói cách khác, người gác cổng thông qua việc “nhớ trách nhiệm” của mình, THIẾT LẬP chế độ, cách thức mà mình sẽ làm việc, do việc nhớ rõ này mà anh ta sẽ không xao lãng khỏi công việc của mình (nghe radio, nhìn trời, nhìn mây..). Có nhớ như vậy thì anh ta mới CÓ THỂ làm được việc đúng chức năng (lưu ý là CÓ THỂ thôi)

2. Khi một đối tượng xuất hiện ở cổng, do có sati, nên anh ta liền thấy và biết (theo hướng đã được thiết lập nhờ sati, chứ không phải biết là đẹp hay xấu) . Ở đây nếu anh ta biết một cách hời hợt, nhìn thoáng qua rồi CHO ĐÓ là người mà anh ta ĐÃ BIẾT, thì cái biết đó gọi là TƯỞNG TRI (sañjānati). (và như vậy từ tưởng tri sẽ có thể dẫn tới quyết định sai lầm, người không đáng qua thì cho qua)

3. Nếu anh ta chỉ nhìn là nhìn, quan sát đối tượng luôn như LẦN ĐẦU MỚI GẶP, có cái biết luôn tươi mới, không bị ấn tượng cũ, thông tin cũ xen vào, thì cái biết không qua tưởng đó, được gọi là TUỆ TRI (pajānāti).

4. sampajāno – Tỉnh giác. Với các hiện tượng thô, thì không cần phải có tỉnh giác mới thấy và biết. Nhưng với các hiện tượng vi tế hơn, như hơi thở, sự thở sau khi thân tâm đã an tịnh, sự sanh diệt của các pháp nương theo thân thọ tâm pháp thì tâm không dễ gì mà nhớ rõ được, thấy và biết rõ, tuệ tri được, nên ở đây cần phải có sự trợ giúp của sampajāno. Tất nhiên, với những người có xu hướng hôn trầm, thụy miên thì sampajāno có lẽ lúc nào cũng cần thiết. Sampajāno giúp các tâm sở đồng sanh thực hiện được tốt hơn chức năng của chúng, như khiến sati nhớ được các pháp vi tế hơn, khiến pajanati biết được các quá trình sanh trụ diệt vi tế hơn ở các hiện tượng…
…( có thể thấy là sampajāno sẽ giữ vai trò quan trọng ở những giai đoạn tu tập cao hơn, khi đối tượng của Tuệ Tri là các quá trình sanh, trụ diệt của các bất thiện pháp vi tế như tư tưởng về quốc độ, về nòi giống …)

Qua ví dụ về người gác cổng này, chúng ta có thể thấy, trong mấy công việc thông thường hàng ngày thì tuệ tri ít hữu dụng, cần dùng tưởng tri hơn.

Ngược lại trong Tứ Niệm Xứ và Bát Chánh Đạo, thì TUỆ TRI mới là pháp chính.

“Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”.

Về Tứ Niệm Xứ, như trong post trên HT đã dẫn, là bốn chỗ cần phải nhớ (để tuệ tri), chứ tập Tứ Niệm Xứ không phải là tập CHÁNH NIỆM. Mặc dù trong kinh Đại Niệm Xứ có định nghĩa chánh niệm nhưng các pháp quán trong kinh không phải để tu tập chánh niệm.

Cũng như việc NHỚ (trách nhiệm) của người gác cổng khác với việc anh ta thực hiện trách nhiệm đó như thế nào (qua việc quan sát, rà soát, kiểm tra luồng người, tài sản ra vào qua cái cổng) là sự khác biệt giữa niệm và quán.

Hiếu Nguyễn

Em thấy thường mấy từ này Hán Việt, thậm chí còn không trong sáng và gần gũi bằng tiếng Anh (không hiểu sao đọc sách về Đạo Phật mà đọc tiếng Anh lại dễ hiểu hơn mới kỳ cục).

Niệm (hoặc chánh niệm) dịch là mindfulness: sự có mặt của “mind” là khá hay, có mặt nhưng không xử lý, chỉ “hiện diện” thôi.

Không biết anh Hạnh Trương hoặc chú Hoa Nguyen có biết “tỉnh giác” dịch sang tiếng Anh là gì không?

Khi đọc sách về thiền, thường họ nói: meditation có 2 yếu tố: mindfulness và alertness.

“There are several qualities of themind that are essential in devel-
oping good concentration. One of these is mindfulness, or recol-
lection, which enables us to remember a familiar object (like our
breath) without forgetting it or wandering to other objects.
Mindfulness also enables us to keep inmindwhatwe’re supposed
to be doing while we are sitting there, and not to get completely
spaced out!

Another essential quality is discriminating alertness,which, like
a sentry,watches out for distractions.Alertness knowswhat’s hap-
pening moment by moment—whether our mind is paying atten-
tion to the object ofmeditation, or has wandered off to something
else. It is also able to recognize negative thoughts and emotions
such as anger and desire, which disturb our mind and can lead to
problems for ourselves and others. Developing the ability to rec-
ognize thesewhen they arise in ourmind and do something about
them before they escalate helps us to avoid a lot of suffering.
Mindfulness and alertness are thus essential for successfulmed-
itation; and in our day-to-day lives they keep us centered, alert and
conscientious, helping us to know what is happening in our mind
as it happens and thus to deal skillfullywith problems as they arise.”

McDonald K. (2005) How to Meditate, Massachusetts, US.

Hoa Nguyen ‎@Hiếu Nguyễn. Tôi thấy Chánh niệm Anh dịch bằng hai từ là Mindfulness (thông dụng) và Awereness (cũ). Tỉnh giác dịch là Alertness (cũ) và Clear Comprehension (mới).

Hạnh Trương Sati thường được dịch là Mindfulness = niệm ; Còn Sammāsati thì được dịch là Right Mindfulness = Chánh niệm

Hoa Nguyen

Sửa lại lỗi gõ chữ ở trên là Awareness (thay vì awereness). Tỉnh giác thì sách Âu Mỹ có khi cũng viết là Clarity of Awareness, hay Clear Awareness. Thầy Nhất Hạnh dùng Tỉnh thức thay vì Tỉnh giác, và trong sách tiếng Anh cũng viết Wakefulness. Vậy từ dịch của sách Âu Mỹ cũng thay đổi tuỳ tác giả và theo thời gian. Chánh niệm (dịch cho Sati) đã được HT Minh Châu dùng từ lâu trong các kinh dịch Pali, nên nay chắc khó thay đổi. Giữ từ chánh niệm (cho sati) cũng có lợi khi cần phân biệt nghĩa, vì ở trường hợp này sati mang nghĩa khác với “nhớ”. Nhưng lại gây hiểu lầm về “chánh niệm”, như có người viết (đại ý) “vì thiền Minh sát phát triển chánh niệm nên nhất định đưa đến chánh định” (chánh niệm dẫn tới chánh định).

Hạnh Trương @Hieu Nguyen>>Chánh niệm là đặt niệm lên một trong 4 nơi: thân, thọ, tâm, pháp.

Không phải vậy HN ạ.

1. Em đọc kỹ lại định nghĩa về niệm để tự mình hiểu được niệm là gì và không là gì.

2. Em đọc kỹ định nghĩa chánh niệm, không bỏ qua từ nào.

3. Áp cái định nghĩa về niệm mà em hiểu được đó vào trong định nghĩa về Chánh Niệm. Sau đó em sẽ hình dung ra Chánh Niệm nó là gì và không là cái gì :)

Rất khó đó chứ không phải là dễ đâu.

Hoa Nguyen

Chúng ta gần như cùng đồng ý là Niệm (Sati) trong Tứ Niệm xứ đã được dùng (lẫn lộn) là chánh niệm nhưng không phải Chánh niệm (Right sati) trong Bát Chánh đạo. Chánh niệm của Tứ Niệm xứ dù cho có nghĩa là chú tâm, ý thức, biết, tuệ tri… thì cũng không phải là nghĩa nhớ nghĩ chân chính của Chánh niệm trong Bát Chánh đạo. Vậy cần có một từ ngữ khác để dùng cho (chánh) niệm của Tứ Niệm xứ. Tôi nghĩ tới từ “trú niệm” (hay trụ niệm) với nghĩa đặt tâm vào một đối tượng Thiền. Thí dụ “ Với cảm thọ hân hoan tôi trú niệm vào hơi thở ra,…hơi thở vào”, hay “tôi ăn, đi… trong trú niệm”. Tôi không nghĩ tới chuyện dịch Pali mà tôi không biết gì, chỉ đề nghị làm sáng tỏ hơn trong sử dụng từ Việt (nếu không làm lạc nghĩa tiếng Pali ).

Hạnh Trương

Chánh niệm trong bài kinh Đại Niệm Xứ cũng dùng từ là sammasati như trong định nghĩa của Bát Chánh Đạo anh Hoa Nguyen ạ.

Em xin thử tóm tắt lại thế này anh và các đạo hữu xem có được chưa nhé :

sati có căn là nhớ, nhưng không phải nhớ chuyện này, chuyện nọ, mà là nhớ tới trách nhiệm, nhớ tới mục tiêu, mục đích.

Anh gác cổng thì nhớ tới trách nhiệm là không cho người, vật không được phép ra vào cổng. Vậy khi anh ta gác cổng, thì sati có nhiệm vụ hướng dẫn, định hướng công việc của anh ta như quan sát, dò xét…đối tượng vào ra cổng.

Vậy sati không phải là chú tâm, cũng không phải là quán.

Và khi nói có sati, hiểu là việc mình đang làm là có mục tiêu rõ ràng, không phải làm đại, làm theo hứng. Ví dụ anh gác cổng không phải quan sát cô gái qua cổng vì cô ấy đẹp, mà quan sát có mục đích là xem cô ấy có là đối tượng được qua hay không.

Nếu anh ta quan sát mà không để ý mình quan sát để làm gì, thì là thất niệm (dù rằng vẫn quan sát)

Tương tự như vậy, ở bài tập quán thân trên thân, thì vai trò của niệm là nhớ rõ mục tiêu của việc quán là các trạng thái sanh diệt trụ của các hiện tượng xảy ra nơi thân. Nếu việc quán nó ra chỗ khác thì gọi là thất niệm.

Còn nếu có Chánh Niệm thì khi đó mục tiêu sẽ là NHIẾP PHỤC THAM ƯU. Khi đó việc quán không chỉ là quán nữa, mà nó sẽ quán ĐỂ làm sao THAM ƯU được NHIẾP PHỤC.

Sati là nhớ tới nhiệm vụ phải làm. Nhiệm vụ thì có tà, có chánh.

Tà sati, ví dụ như quán thân trên thân mà thấy thân mình có chỗ nào xấu còn chỉnh, thì là quán dưới định hướng của sati về vẻ đẹp của thân thể, thì sati này là tà sati.

Còn sati nhiếp phục tham ưu thì đó là chánh sati.

Còn cái kiểu không có sati là quán là quán, thì cái đó chẳng thành gì, ví dụ như anh cầm cây bút, mà anh nhìn nó, ngắm nó cho dù có liên tục thì anh cũng chẳng được việc gì. Cái biết mà không có “để làm gì” thì vô nghĩa. Cái biết phải luôn đi kèm với “để làm gì”. Mà nhớ được “để làm gì” thì đó là có niệm. (sati)

Nếu mình kết hợp hai định nghĩa về chánh niệm (đã dẫn trên Post) thì sẽ thấy rõ hơn vai trò này của Chánh Niệm, và vì sao Chánh Niệm là đi cùng Chánh Kiến và Chánh Tinh Tấn.

Kết hợp cả hai định nghĩa, ta sẽ thấy có bốn pháp chạy vòng quanh các chi thánh đạo là

1. Chánh Kiến

2. Chánh Tinh Tấn

3. Chánh Niệm

4. Tuệ Quán.

Qua mấy comment vừa rồi, nếu anh và các đạo hữu đọc THẬT KỸ, thì sẽ thấy được rõ ràng niệm và chánh niệm. Và khi đó sẽ rõ ra ngay thực chất của bài tập tứ niệm xứ là gì, cũng như vai trò của nó.

HT cũng hy vọng nếu Tam Bach đọc kỹ Post này nhiều lần, sẽ hiểu được tại sao HT có suy nghĩ là Tứ Niệm Xứ không phải là bài tập thiền chi cả, nó là bài tập tuệ quán và nó có vai trò dù cực lớn, nhưng nó phải được bắt đầu trước khi vào Bát Thánh Đạo.

HT cũng xin được dừng comment post này ở đây, vì thấy những gì đã viết ra là đã đủ để những đạo hữu thực tâm muốn tìm hiểu về khái niệm cực kỳ quan trọng trong tu tập là Sati có thể hiểu được, và qua đó việc thực hành được hiệu quả.

Xin cám ơn các Sư đã cho phép HT và không la rầy gì.

Hoa Nguyen

‎@Hạnh Trương. Tôi thật không biết “Chánh niệm trong bài kinh Đại Niệm Xứ cũng dùng từ là sammasati” (và như vậy có lẽ nên giữ lại từ “chánh niệm” như Pali). Vậy chánh niệm đang bàn tới đây coi như gặp ở chỗ khác, chỉ để dịch từ Sati trong tiếng Pali. Xin trích một đoạn ở chương 13 , quyển CHÁNH NIỆM CƠ BẢN
của Đại Đức Henepola Gunaratana, người dịch Lương Thanh Bình. Đoạn này hơi dài dù đã được cắt ngắn bớt.

“Chánh niệm là sự theo dõi vô tư, không đứng vào một bên nào, không bị ngăn ngại vào những gì được hiểu ra. Nó chỉ nhận thức. Chánh niệm không bị mê đắm bởi những trạng thái tâm tốt và không cố gắng lẫn tránh những trạng thái tâm không tốt; cũng không đeo bám theo sự dễ chịu hay trốn chạy cảm giác khó chịu. Chánh niệm nhìn tất cả kinh nghiệm một cách bình đẳng, mọi tư tưởng, cảm giác như nhau. Chánh niệm không chơi trò ưa thích, không bưng bít, không ức chế.

Chánh niệm không phải là sự tỉnh giác dựa trên khái niệm. Một thuật ngữ khác cho Sati là “sự chú tâm đơn thuần”. Không phải là suy tư, không hợp tác với tư tưởng hay khái niệm, không trói buộc vào ý niệm hay hồi ức, chánh niệm chỉ ngắm nhìn, để ý đến kinh nghiệm, nhưng không so sánh với bất kỳ gì. Nó không đặt tên hay xếp loại đối tượng, chỉ quan sát mọi thứ giống như nó mới gặp lần đầu, không phân tích dựa trên sự phản ảnh và ký ức. Nó chỉ là kinh nghiệm trực giác về những gì đang xảy ra mà không có sự hiện diện phương tiện truyền đạt của tư duy. Nó đến trước hơn tư tưởng trong quá trình hình thành cảm giác.

Chánh niệm là sự tỉnh giác ở phút giây hiện tại, xảy ra ở đây và bây giờ. Nó là sự quan sát những gì đang xảy ra ở phút giây này. Vĩnh viễn ở trong hiện tại, thay đổi một cách dai dẵng như con sóng bạc không ngừng nhấp nhô theo thời gian. Nếu bạn đang nhớ về vị giáo viên lớp hai của mình, thì đó là ký ức. Khi bạn có chú tâm là mình đang nhớ về thầy cũ, thì đó là chánh niệm. Nếu kế tiếp, bạn khái niệm hóa cả tiến trình và tự nhủ thầm, “Ô, mình đang nhớ,” đó là suy nghĩ.

Chánh niệm có ba hoạt động căn bản. Chúng ta có thể dùng những hoạt động này như là những định nghĩa thực dụng cho từng mệnh đề: (a) Chánh niệm nhắc cho chúng ta về những gì chúng ta nên chú tâm lúc đang làm; (b) Chánh niệm nhìn sự việc như-nó-là; và (c) Chánh niệm nhìn sâu vào bản chất của tất cả mọi hiện tượng. Hãy đi sâu vào chi tiết của những định nghĩa này hơn.”
(Thư viện Hoa Sen)

Hoa Nguyen ‎@ Hạnh Trương: “Tứ Niệm Xứ không phải là bài tập thiền chi cả, nó là bài tập tuệ quán…”.Tôi cũng thấy Tứ Niệm xứ là pháp Quán, và thường nghe nói là “quán Tứ Niệm xứ”.

Vô Vô Không

Từ ‘sati’ xuất phát từ một ngữ căn mang nghĩa là nhớ-để làm gì, ngoài ra nó còn là một nhân tố trí tuệ biểu hiện tâm tức thời (sự nhanh trí), nghĩa là (biểu hiện) sự để tâm vào giây phút hiện tại, hơn làm cái khả năng của trí nhớ để ý (liên…See More

A comprehensive manual of Abhidhamma

books.google.com.au

Tính Nguyễn Huhu… rõ ràng, rõ ràng lắm!!!! Cảm ơn anh Hai thật nhiều!!!!

Ruộng phước, ruộng phước vô thượng ở đời!!!!

Hoa Nguyen

Một từ ngữ khi được nhiều người sử dụng sẽ mở rộng và có khi thay đổi ý nghĩa. Đó là trường hợp của “chánh niệm”, không phải chỉ có nghĩa chú tâm (như anh Hạnh Trương nói). Tôi thấy còn có các nghĩa (mở rộng) như : để tâm lên đối tượng, theo dõi để nhận biết, đồng thời biết tâm mình đang trên đối tượng, và cũng sẽ biết khi tâm không còn trên đối tượng (để kéo tâm trở lại).
Chú tâm là từ hay vì cho thấy phần hoạt động của chánh niệm là như thế nào, trong khi các nghĩa như tuệ tri, ý thức, nhận biết,… chỉ ghi nhận phần chức năng của chánh niệm. Nhưng thử so sánh chú tâm với trú niệm (là từ đề nghị vẫn thấy chưa ổn). “Chú tâm” không giữ được từ ” Niệm” của nghĩa Sati trong tiếng Pali. Chú tâm nghĩa hơi mơ hồ vì trải rộng, không nói được ý đặt tâm lên đối tượng vào lúc này, ngay bây giờ. Niệm là phần rất nhỏ của tâm, hay chỉ là sát-na tâm, nên trú trên từng niệm nói được ý nghĩa về hiện tại hơn (về hiện trú). Chúng ta biết cái gọi là hiện tại chỉ xảy ra ở từng niệm, khi niệm trước đã là quá khứ, và niệm tiếp theo thuộc tương lai. Theo tôi, trú niệm trên hơi thở có độ chính xác hay phân giải cao hơn chú tâm đến hơi thở, giống như dùng đơn vị nhỏ hơn khi đo lường.

Hoa Nguyen Có người dịch Mindfulness là Giác niệm.

Tam Bach

‎”HT cũng hy vọng nếu Tam Bach đọc kỹ Post này nhiều lần, sẽ hiểu được tại sao HT có suy nghĩ là Tứ Niệm Xứ không phải là bài tập thiền chi cả, nó là bài tập tuệ quán và nó có vai trò dù cực lớn, nhưng nó phải được bắt đầu trước khi vào Bát Thánh Đạo.”

Cảm ơn anh HT,

Thực tình MT cũng ko nhận thức TNX là một bài tập thiền (hehe, lại đặt ra câu hỏi thiền là gì?). Nói đúng hơn, TB hiểu TNX, về mặt tột cùng, là một tâm sở chi phần của BCD, và cũng như tất cả các pháp, là vô ngã, nên “mình” không thể thực tập TNX, TNX sẽ sinh khởi khi các nhân duyên của nó đầy đủ. Chẳng hạn như đang ngồi, đi thiền để quan sát thân, tâm, nhưng lại hoàn toàn chạy theo vọng tưởng. Vì vậy, “mình” chỉ có thể nghiên cứu các điều kiện để làm nó sinh khởi và vun bồi những điều kiện ấy. Những điều kiện ấy là:

Bốn Yếu Tố Ðể Phát Triển Chánh Niệm :
1.Chánh Niệm và Giác Tỉnh
2.Tránh Người Không Chánh Niệm
3.Thân Cận Người Chánh Niệm
4.Hướng Tâm Vào Sự Chánh Niệm

Ngoài ra, đây là các đặc tính của chánh niệm theo kinh điển:

Không Hời Hợt Bề Mặt
Giữ Ðối Tượng Trong Tầm Quán Sát
Ðối Diện với Ðề Mục
Thấy Tứ Diệu Ðế
Chánh Niệm Là Nguyên Nhân của Chánh Niệm
( http://www.trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/NgayTrongKiep/NTKSN6.htm)

3 nghĩa của Tứ niệm xứ (satipathana):
– Đối tượng của chánh niệm ( danh, sắc của thực tại chân đế hay thân, thọ tâm, pháp)
– Tâm sở chánh niệm sinh khởi với tâm dục giới đi kèm tâm sở trí tuệ, và hay biết bốn đối tượng thân, thọ, tâm, pháp
– Đạo lộ do Đức Phật chánh đẳng giác cùng các thánh đệ tử đã phát triển.

(theo Survey of Pamatha Dhamma- by SuJin Boriharnwanaket)

Trên đây chỉ là vài kiến thức đóng góp vào doc khảo cứu về chánh niệm này, không mong tranh cãi đúng sai ạ.

Life is Practice is Life
http://www.thienvacuocsong.info/
http://www.trungtamhotong.org/
http://www.accesstoinsight.org/
http://www.buddhanet.net/
http://www.dhammastudygroup.org/
http://sayadawutejaniya.org/teachings/

Hoa Nguyen

Trong đoạn kinh trích sau đây (trích từ bài của Tỳ Khưu Hộ Pháp trên trang trung tâm Hộ tông), chánh niệm có nghĩa là “trực nhận”, và tỉnh giác là “trực giác thấy rõ biết rõ”. Trực nhận, trực giác là thấy biết thẳng, không qua suy nghĩ, suy luận.

Trong bài kinh Đại niệm xứ (Mahāsatipaṭṭhānasutta) Đức Phật dạy về chánh niệm như sau__

“Katamā ca bhikkhave sammāsati?…”.

“Này chư Tỳ khưu, thế nào gọi là chánh niệm?

– Này chư Tỳ khưu, Tỳ khưu hay hành giả trong Phật giáo này:

1- Là người có tâm tinh tấn không ngừng, có chánh niệm trực nhận, có trí tuệ tỉnh giác trực giác thấy rõ biết rõ “thân trong thân” để diệt tham tâm, hài lòng, và sân tâm, không hài lòng trong ngũ uẩn chấp thủ này.
2- Là người có tâm tinh tấn không ngừng, có chánh niệm trực nhận, có trí tuệ tỉnh giác trực giác thấy rõ biết rõ “thọ trong thọ” để diệt tham tâm, hài lòng, và sân tâm, không hài lòng trong ngũ uẩn chấp thủ này.

Hoa Nguyen

Tam Bạch viết :”HT có suy nghĩ là Tứ Niệm Xứ không phải là bài tập thiền chi cả, nó là bài tập tuệ quán… Thực tình MT cũng ko nhận thức TNX là một bài tập thiền (hehe, lại đặt ra câu hỏi thiền là gì?) “.
Tôi nghĩ Tứ Niệm xứ có thể cho là bài tập thiền quán. Đúng là Thiền dịch từ Dhyana (Phạn) hay Jhana (Pali) chỉ có nghĩa là pháp Định Chỉ của Tứ Thiền thuộc Bà la môn giáo, còn quán là của riêng Phật giáo sau đó. Đạo Phật ở Trung Quốc mở rộng nghĩa của Thiền để bao gồm luôn pháp quán hơi thở An ban (anapanasati), theo từ điển Shambhala về Phật giáo và Zen cho biết. Vậy Thiền Phật giáo (từ đó) gồm hai bộ phận bổ sung cho nhau là Định (An chỉ) và Quán là quán chiếu hay quán sát nay thường gọi là Minh sát (Vipassana) (“Minh” không biết dịch từ tiếng nào trong Pali hay chỉ thêm ý ? ). Định để giúp tâm an định, thanh tịnh, và Quán để phát sinh trí tuệ (Phật giáo). Thông thường tu Định trước để có định lực, sau mới tu Quán. Tứ niệm xứ được thiền Minh Sát chuyên dùng, nhưng người tu theo Định cũng tập quán Tứ Niệm xứ, nhất là sau khi tu tập thành công Tứ thiền. Ở Bắc tông trước đây khi hành thiền vẫn tập các pháp quán lấy từ Tứ Niệm xứ (được giản lược) là quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, và cũng thành tựu tam tướng.


Ý nghĩa của NIỆM (Sati)

Trích từ Facebook group “Pali Chuyên Đề”

Bhikkhu Indacanda:

Bài viết này được thấy ở FB của Trinh Duc Vinh, nhưng vì các comments đi qua hướng khác nên không share mà post lại ở đây. Điều thú vị ở đây là những điều vị GS. này viết không khác với những điều mà chúng ta đã bàn luận trước đây, về Niệm, về Tác Ý. Quý vị cũng nên đọc bài này, sẽ củng cố thêm được tri kiến của mình. Tuy nhiên, có một vài chỗ Sư thấy chướng chướng, nhưng nghĩ là do việc chuyển ng…See More

ĐÂU LÀ Ý NGHĨA CHÂN THẬT CỦA NIỆM ĐƯỢC ĐỨC PHẬT DẠY – Alan Wallace – Thanh Hòa biên dịch

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-80_4-13863_5-50_6-1_17-76_14-1_15-1/

 

THẢO LUẬN

Hạnh Trương: Người Tàu kể cũng khôn thật, chắc họ biết trước “đại náo loạn” chữ nghĩa nên dạy cho con cháu họ “bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh”. Chưa thành Phật thì cũng tốt hơn là lạc vào rừng khái niệm u u mê mê do các “đại học giả” quăng đầy Net thế này.

Trinh Duc Vinh: Con post bài này lên facebook vì thấy nhiều người có quan điểm nói niệm là điều duy nhất cần và đủ cho sự giác ngộ, thậm chí Bát Chánh Đạo cũng là thừa thãi và do đức Phật tùy tiện thêm vào. Hi hi. Thực ra chánh niệm là then chốt của thiền học Phật giáo nhưng nếu không có các giáo lý khác đi kèm thì sẽ dễ dẫn đến hiểu sai và hành trì sai. Chánh niệm hay thiền Minh sát do đức Phật đưa ra đầu tiên nhưng hiện nay rất nhiều trường phái khác cũng sử dụng và lắp ghép vớii nhều quan điểm sai lầm (tà kiến) của mình.

Trinh Duc Vinh Thiền sư U Tejaniya có viết 1 cuốn sách nổi tiếng là “Chỉ có chánh niệm thôi thì không đủ” nhưng con thấy bài viết này nói cụ thể và mang màu sắc học thuật nghiêm túc hơn, mặc dù trong đây có cả quan điểm của Đại thừa và Mật tông.

Hoa Nguyen Bài viết của Alan Wallace thật sâu sắc, bao quát, hiểu biết rất rộng về nhiều loại Thiền Phật giáo. Và tác giả có thái độ rất khách quan, vô tư khi đánh giá các loại Thiền Phật giáo (khác nhau không phải vì “sai lầm” mà tôi nghĩ chỉ vì chú tâm phát triển phần cho là quan trọng nhất).

Hạnh Trương Chúng ta hay bị cái mẽ học thuật làm mê mờ, đọc kỹ một chút bài viết sẽ thấy nó là lạ (chướng – theo từ của Sư):

<<Mặt khác, ý nghĩa nguyên thủy của sati là nhớ lại, không quên. Điều này bao gồm sự hồi tưởng về những việc trong quá khứ, nhớ việc cần làm trong tương lai, và ghi nhớ ngay trong hiện tại theo ý nghĩa duy trì sự chú tâm liên tục đến thực tại hiện tiền. Ngược lại với niệm là thất niệm (hay quên), cho nên niệm, chẳng hạn được áp dụng cho hơi thở, bao hàm sự chú tâm liên tục, không dao động đến hơi thở ra vào. Niệm có thể được dùng để giữ sự chú tâm thuần túy (manasikāra – tác ý) nhưng trong văn liệu Phật giáo truyền thống không có chỗ nào đồng nhất niệm với sự chú tâm như thế.>>

Ở đoạn trên, niệm được định nghĩa 2 lần và khác hẳn nhau, mọi người đọc kỹ 1 chút sẽ thấy .

<<Trong tác phẩm Thanh tịnh đạo (The Path of Purification) vào thế kỷ V, ngài Giác Âm (Buddhaghosa) – vị luận sư uy tín nhất trong truyền thống Nguyên Thủy – giải thích rằng: “niệm là tâm sở nhờ nó ta nhớ lại, hoặc chính nó nhớ lại” (The Path of Purification, C. XIV, 141.). Đặc tính của nó, ngài Buddhaghosa nói, là “không dao động”, nhờ đó tâm gắn chặt với đối tượng quán sát. Nhiệm vụ của nó là “không tuột mất”, ngụ ý rằng niệm giúp ta duy trì được sự chú tâm mà không quên mất. Biểu hiện của nó là “canh giữ” hay trạng thái “xúc tiếp với đối tượng”, ngụ ý rằng “rợi dây ghi nhớ” duy trì sự chú mục một cách vững chắc trên đối tượng được hướng đến, cho dù đó là một đối tượng đơn lẻ, tương đối độc lập hay là một chuỗi các sự kiện liên đới nhau>>

Trích dẫn từ Thanh Tịnh Đạo thật tuyệt, nhưng …

<<Có sự khác nhau nào giữa niệm và chánh niệm? Có cái gọi là tà niệm hay không?

Một tay súng nấp mình trong bụi cây, chờ đợi kẻ thù, có thể nhận biết một cách tinh tường những gì đang khởi lên trong mỗi khoảnh khắc trôi qua. Nhưng bởi vì anh ta đang âm mưu sát hại, cho nên anh ta đang thực hành tà niệm. Thực vậy, cái anh ta đang trải qua là sự chú tâm thuần túy nhưng thiếu vắng yếu tố giới.>>

Ví dụ về niệm ở đây lại khác xa những gì được viết và trích dẫn từ Thanh Tịnh Đạo.??? ( lưu ý: thực vậy, cái …. là sự chú tâm thuần túy…)

Ví dụ là cái dùng để vấn đề được định nghĩa được hiểu rõ, nhưng ở đây, ví dụ lại tự mâu thuẫn với định nghĩa và trích dẫn. ???

Tóm lại phần đầu tác giả trình bày là niệm không phải là chú tâm, thế nhưng từ đó trở đi, trong các ví dụ và các vấn đề được đề cập tới, đều thấy tác giả nói niệm là chú tâm?

Vậy người đọc thấy được gì ở đây? Khoan nói việc tác giả nói đúng hay sai, nội việc tự mâu thuẫn trong một đoạn ngắn như vậy đã thấy không đáng tin cậy rồi.

Ghi chú: HT chỉ nhận xét bản dịch, mặc dù qua ví dụ về tay súng, thì có thể thấy đúng là tinh thần của tác giả không sai khác với nội dung được dịch ra tiếng Việt.

Các đạo hữu, trong khi có kinh Phật trong tay, trong kinh Phật đã định nghĩa rõ mà chúng ta không đọc, lại đi tìm hiểu qua mấy tài liệu này thì đúng thật là bỏ lõi cây đi tìm … lá rụng.

Hoa Nguyen: Định nghĩa về niệm, chánh niệm không phải thật sự như nhau giữa các tác giả sách thiền Nam tông, như Bhante Gunaratana (Tích Lan), Ajahn Brahmavamso (Anh hay Úc), Ayya Khemal (Đức). Ít ra cách diển tả không như nhau. Tác giả, dịch giả VN có thể làm cho sự khác biệt thêm khởi sắc. Tôi thấy dường như “chánh niệm” có thể hiểu không như nhau ở thiền An chỉ và thiền Minh sát. Thiền của Mật tông cũng nhấn mạnh về Chánh niệm, Tỉnh giác, nhưng e hiểu cũng không giống hẳn.

Hoa Nguyen: ‎”Chánh niệm là sự quan sát không có phán đoán, nó phản chiếu những gì đang xảy ra trong hiện tại và chính xác như-nó-là, không có một chút gì thiên vị. ” (Bhante Gunaratana). Điều này đúng ở thiền Minh Sát, và cũng ở thiền Minh Sát chánh niệm thường phản ánh sự việc theo trình tự thời gian, mỗi lần một niệm, kế tiếp nhau.Thí dụ các hành động giơ tay ra, gấp thức ăn, đưa lên miệng, nhai, nuốt…được ghi nhận với chánh niệm, mà không đánh giá động tác của thân (tuy có thể đánh giá, nhận dạng tâm sở dấy lên bên trong).

Nhưng mặt khác, theo Alan Wallace, trong chánh niệm có “yếu tố giớí ” hay “mang tính phản kỷ theo tinh thần của giới” (ông thí dụ trường hợp một người mưu sát). Nghĩa là có sự nhận biết sự tốt xấu, thiện ác đi theo sự việc mà chánh niệm biết rõ, để tiếp nhận hay loại trừ. Thử nêu thí dụ trong thiền An Chỉ, khi vào Sơ Thiền chánh niệm giúp nhận ra sự vắng mặt của 5 triền cái và sự xuất hiện của 5 thiền chi. Nhưng mới vào Sơ thiền, các thiền chi có thể còn yếu, chập chờn và bị mất, một vài triền cái tái hiện, khiến định có thể mất. Chánh niệm cũng nhận ra tình trạng này, và giúp làm vững định bằng làm mạnh lên thiền chi liên hệ. Ở đây chánh niệm nhận biết gần như cùng lúc sự có mặt hay vắng mặt của các triền cái hay thiền chi.

Hạnh Trương:‎”Chánh niệm là sự quan sát không có phán đoán, nó phản chiếu những gì đang xảy ra trong hiện tại và chính xác như-nó-là, không có một chút gì thiên vị. ” (Bhante Gunaratana).

Định nghĩa này hoàn toàn sai với các định nghĩa trong Kinh Điển, trong Thanh Tịnh Đạo, Vi Diệu Pháp… thiết nghĩ chúng ta không nên đưa những định nghĩa kiểu thế này lên nhóm. Nó có thể làm nhiều đạo hữu chưa quen khái niệm, chưa nghiên cứu kỹ kinh điển hiểu sai ngay từ đầu.

<<Trong tác phẩm Thanh tịnh đạo (The Path of Purification) vào thế kỷ V, ngài Giác Âm (Buddhaghosa) – vị luận sư uy tín nhất trong truyền thống Nguyên Thủy – giải thích rằng: “niệm là tâm sở nhờ nó ta nhớ lại, hoặc chính nó nhớ lại” (The Path of Purification, C. XIV, 141.). Đặc tính của nó, ngài Buddhaghosa nói, là “không dao động”, nhờ đó tâm gắn chặt với đối tượng quán sát. Nhiệm vụ của nó là “không tuột mất”, ngụ ý rằng niệm giúp ta duy trì được sự chú tâm mà không quên mất. Biểu hiện của nó là “canh giữ” hay trạng thái “xúc tiếp với đối tượng”, ngụ ý rằng “rợi dây ghi nhớ” duy trì sự chú mục một cách vững chắc trên đối tượng được hướng đến, cho dù đó là một đối tượng đơn lẻ, tương đối độc lập hay là một chuỗi các sự kiện liên đới nhau>>

Tìm đâu ra trong định nghĩa này rằng “niệm là sự quan sát”

Niệm chỉ giúp duy trì sự chú tâm, nhờ khả năng ghi nhớ của nó, chứ niệm cũng không phải là sự chú tâm.

Trong Nikaya , HT thấy có 2 ví dụ về niệm:

1. Kinh Trung Bộ 105- Kinh Thiện Tinh, đức Phật lấy ví dụ về việc chữa vết thương, ở đó, niệm được ví dụ như vật dụng dò tìm

2. Kinh Tương Ưng, tập 5- Trong bài kệ về cỗ xe, Đức Phật ví dụ Niệm như người đánh xe, biết hộ trì , phòng hộ. Đánh xe tới mục tiêu là “an ổn khỏi các khổ ách”.

Các định nghĩa về niệm trong Thanh Tịnh Đạo, trong Vi Diệu Pháp cũng rất rõ ràng, HT không hiểu sao người ta cứ vẽ rắn thêm chân :)

Bhikkhu Indacanda : ‎Hoa Nguyen và các members mới: Những vấn đề về Niệm, Chánh Niệm, Tà Niệm, Tác Ý, Như Lý Tác Ý, v.v… đã được bàn luận và đã được lưu lại ở trong số 85 docs ở phía trên, có lý luận, có trích dẫn. Ngoài ra còn có một vài vấn đề khác nữa như: tuệ tri, tưởng tri, liễu tri, v.v… Có nhiều điểm đáng để học hỏi ở các docs này. Nếu người nào có theo dõi kỹ lưỡng các comments trước đây sẽ thấy được những điểm yếu của GS. Allen Wallace trong bài viết về Niệm được post gần đây.

Chuyện tiếu lâm, đọc qua rồi quên đi: Một thời đức Phật ngự tại Trung Quốc và thuyết giảng Giáo Pháp bằng tiếng Tàu, sau đó Ngài ngự sang Anh Quốc và thuyết giảng bằng tiếng Anh!!!

Hoa Nguyen: Đại Đức Bhante Henepola Gunaratana là người Tích Lan học đạo Phật ở Tích Lan, dạy đạo Phật ở Mã Lai trong 10 năm, sau tốt nghiệp tiến sĩ Triết học ở Mỹ, và dạy đạo Phật tại ba trường đại học ở Mỹ (American University, Georgetown University và University of Maryland). Ông có trung tâm dạy thiền riêng ở Mỹ. Sách và bài viết của ông được xuất bản ở Mã Lai, Ấn Độ, Tích Lan, và Mỹ. Cuốn “Mindfulness in Plain English” được dịch ra nhiều thứ tiếng, riêng tiếng Việt có hai bản dịch thấy trên Thư Viện Hoa sen. Đoạn tôi trích của dịch giả Lương Thanh Bình, chương 13. Bản tiếng Việt có lẽ không rõ, khó hiểu, nhưng tiện cho vài độc giả Việt ở đây. Tôi có bản tiếng Anh, khi cần sẽ gõ lại đoạn trên. Xin trích thêm ở chương 13, sách giới thiệu mà Việt dịch là CHÁNH NIỆM CƠ BẢN:

“Chánh niệm nhìn sự việc như-nó-là. Chánh niệm không thêm vô hay bớt ra một điều gì tới sự hiểu biết, không bóp méo gì cả. Sự chú tâm đơn thuần chỉ nhìn vào những gì trổi dậy. …” (Mindfulness sees things as they really are. Mindfulness adds nothing to perception, and it subtracts nothing. It distorts nothing. It is bare attention and just looks as whatever comes up…”.

Bhikkhu Indacanda primary sources và secondary sources.

Hạnh Trương ‎:

1. Hehe, cái đ/c Đại Đức này, sees things as they really are là việc của pajanati (tuệ tri), là động từ thường xuyên xuất hiện trong kinh Niệm Xứ, có lẽ vì lẽ đó mà Đại Đức của chúng ta kết luận nhầm lẫn.

“Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy TUỆ TRI thân thể như thế ấy”

2. Việc dịch Mindfulness thành CHÁNH niệm là sai lầm, vì Chánh Niệm đã có từ của nó trong tiếng Anh là Right Mindfulness.

3. Tại sao Hoa Nguyen dường như cố tình lờ đi các định nghĩa về sati trong kinh điển đã được trích dẫn? các định nghĩa mới này về niệm giúp gì cho chúng ta? hay là đạo hữu muốn chúng ta thấy rằng “đúng là không nên đọc gì ở mấy luận sư đương thời”. HT nghiêng về ý này và nếu như vậy thì đã đủ rồi, hihi, cảm ơn anh.

Hoa Nguyen : Ngài Bhante Henepola Gunaratana là đại đức đáng kính trọng, đã viết nhiều viết sách bàn về thực hành thiền quán Phật giáo cho người mới bắt đầu đến những người muốn hiểu biết sâu hơn. Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm khác của ngài là “Con đường Thiền Chỉ và Thiền Quán” của Mahthera Henepola Gunaratana do Tỳ Khưu Pháp Thông dịch. Đây là bản dịch rất nghiêm túc, giá trị của một bậc tôi nghĩ vừa rất thông hiểu Phật học, vừa chắc chắn hiểu biết thực tiễn thiền quán:

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-cdtctq/tcq-00.htm

Trang đầu có lời giới thiệu về tác giả: “Tác giả của cuốn sách, Hòa thượng Thiền sư Henepola Guṇaratana, sinh năm 1927 tại Tích Lan, xuất gia năm 13 tuổi, hiện đang hướng dẫn những khóa thiền lớn tại Hoa Kỳ và Canada. Cuốn sách đã đem lại ánh sáng hiểu biết cho rất nhiều người, nhất là những hành giả đang lúng túng giữa thiền chỉ và thiền quán, hay những người thường xem nhẹ giá trị của định trong thiền minh sát”.

Nên đọc tác phẩm trên trước khi đáng giá về ngài Gunaratana, và người đọc cẩn thận có thể gặt hái nhiều lợi lạc cho mình.

Thien Chi & Thien Quan

www.buddhanet.net

Lời giới thiệu (1) Lời giới thiệu (2) Lời người dịch

Hạnh Trương : Thưa anh Hoa Nguyen, em vẫn không hiểu tại sao chúng ta, trong khi có tam tạng kinh điển, vốn là lời Phật thuyết, không thì cũng là lời của các đại đệ tử của Phật giảng, mà lại đi tìm đọc những tác phẩm về sau này.

Có phải vì đọc kinh quá khó, nên ta tìm thứ dễ đọc, dễ theo ý mình hay không?

Có phải chúng ta đọc cái gì nó trơn tru, thuận tai thì thích đọc hơn hay không?

Em đọc cũng khá nhiều luận, sách .. trong nhiều năm vừa qua. Càng về sau em càng thấm thía. Thời đại này người tu thì ít, học giả thì nhiều. Vì sao, tu khó lắm anh ạ, ăn ngày một bữa, không ăn phi thời khó, ngủ giường thấp khó, không nói dối khó, không nói phù phiếm khó…. Ly dục khó vô cùng.

Vì tránh khó, chọn dễ nên rảnh quá, mới đi viết sách chỉ bảo cho chúng sanh. Hôm nay em nói thẳng, ai giận em cũng chịu.

Còn nếu anh chọn con đường thực hành, thì anh sẽ thấy phải hết sức cẩn thận với từng câu chữ, từng khái niệm trong kinh. Phật dậy pháp để thực hành diệt khổ, chẳng phải để hý luận. Mà thực hành sai 1 ly thì đi 1 dặm, nhiều khi đi luôn đó anh.

Em chọn con đường diệt khổ đó nên em rất sợ những tác giả này. Anh thông cảm cho em. Cho dù họ là người đáng kính tới đâu, nhưng càng đáng kính thì họ càng nguy hiểm. Vì sự đáng kính của họ làm cho lỗi của họ càng được phổ biến hơn, càng có nhiều người vì tin tưởng, vì kính trọng họ mà làm sai theo họ.

Em xin phép, cho dù họ đáng kính tới đâu, em cũng vẫn sẽ phê bình tác phẩm của họ nếu nó lọt vào mắt em. Vì sự trong sáng của Phật Pháp, cho mình và cho mọi người. Ai nói sao em cũng chịu.

Hoa Nguyen: ‎”Thời đại này người tu thì ít, học giả thì nhiều. Vì sao, tu khó lắm anh ạ, ăn ngày một bữa, không ăn phi thời khó, ngủ giường thấp khó, không nói dối khó, không nói phù phiếm khó…. Ly dục khó vô cùng.”.

Câu trên nghe rất quen, dường như từ trưởng giả Thông Lạc, là người trách cứ tất cả tu sĩ Phật giáo ngày nay là không biết giữ giới nên không ai tu chứng ra sao cả, như không ai làm chủ được chuyện sinh tử ! “Kinh điển Bắc tông là giả mạo, Nam tông hành thiền không ly dục, ăn phi thời, Minh sát quán sát “điên khùng”, không ai sống đúng Phạm hạnh, ba y một bát” vẫn nghe âm vang (xin đọc lại các tác phẩm mới in lại của TL). Tôi không đồng ý điều trên, nhưng không phải chỗ để bàn lúc này, dù sao cũng thấy ngay là thầy TL không đi khất thực, không ngồi thiền ở gốc cây hay vào rừng tu một mình, lại bắt chước Bắc tông không ăn thịt.

Những ai có đọc ít sách đều biết câu “dịch là phản”, vì mỗi người hiểu nghĩa chữ không giống nhau, và dùng chữ dịch cũng khác nhau, có khi không theo đúng ý tác giả. Có bản dịch tương phản, và người đọc đôi khi phải tra cứu nhiều sách để chọn bản dich đúng. Cho nên cái gọi là “primary source” có giá trị hay không là tuỳ bản dịch.

Tôi lấy một thí dụ. Trong bản dịch của HT Thích Minh Châu ,Phật dạy khi ngồi thiền quán đặt niệm ở trước mặt. Thầy Thích Thiện Chơn cũng dạy đặt niệm ở trước mặt, và nói thêm “Phật Thích Ca đặt niệm ở một vùng nhỏ trước mặt”. Trong bản dịch Tăng Nhất A-hàm từ Hán tạng, thầy Thích Thanh Từ cũng dịch “đặt niệm trước mặt” , điều lạ là bản dịch này đã từ chữ Sanscrit dịch qua Hán tự, và căn cứ vào kinh điển của Nhất thiết hữu bộ, không phải của Theravada với chữ pali. Tất cả đều giống nhau. Nhưng ở đây mới thấy giải thích là theo cách hiểu mới từ tiếng Pali, thì không phải có nghĩa niệm ở trước mặt, mà có nghĩa là “có hiện diện của (chánh) niệm”. Không biết tôi nhớ để ghi lại như vậy có đúng không ?. Tôi vẫn theo cách đã biết trước đây, nhưng vì có sẳn mấy bản dịch kinh Pali qua tiếng Anh, hôm nào tôi sẽ đọc để đối chiếu. Dù sao đặt niệm trước mặt hay ở chỗ khác là quan trọng cho mỗi cách thiền, với mục đích khác nhau. Phật có dạy không nên hoàn toàn tin ai (hiểu ở đây dịch giả nào) chỉ vì uy tín của người đó. Tất nhiên có thể tin nhiều hơn ở người mình biết giá trị, tài năng từ trước.

Hạnh Trương: Em hoàn toàn đồng ý với anh Hoa Nguyen là không nên hoàn toàn tin ai, kể cả chính mình ( nhưng phải tin vào sự giác ngộ của Như Lai). Quay về điểm chính của anh về ví dụ ” đặt niệm trước mặt” hay là ” giữ niệm luôn hiện diện”.

Trước kia em cũng chịu chỗ này luôn, không cách nào hiểu nổi cụm từ “đặt niệm trước mặt”. Tra các cách không ra, thế nào là đặt niệm trước mặt.

Đặt niệm trước mặt thì niệm là danh từ, giả sử niệm là danh từ, là cái có thể đặt trước mặt, thì xuất hiện vấn đề : trước mặt nó là chỗ nào? nó có phải là ở thân, ở thọ, ở tâm, hay ở pháp. Nếu đối tượng là thân thọ tâm pháp thì việc đặt cái niệm đó ở trước mặt là vô lý.

Tiếp theo sẽ xuất hiện câu hỏi, vậy niệm là cái gì để mà có thể đặt nó trước mặt? nếu nó là sự ghi nhớ, tại sao lại đặt sự ghi nhớ trước mặt, nó phải có đối tượng của nó chứ ( sự ghi nhớ), nếu nó là chú tâm, thì sao phải đặt sự chú tâm trước mặt, mà không nói đơn giản là “niệm trước mặt”. Nếu nó là quán sát thì cũng thế, sao không nói cho đơn giản là “quán sát trước mặt”. Rồi quán sát cái gì trước mặt chứ?

Nếu niệm không phải là danh từ, mà là động từ thì không thể đem đặt nó ở đâu được. Nó đơn giản là niệm.

anh HN hiểu thế nào về câu đó ạ “đặt niệm trước mặt”. Khi anh ngồi thiền thì anh ứng dụng cái câu ” đặt niệm trước mặt” đó như thế nào?

Hoa Nguyen: Anh Hạnh Trương hỏi thì tôi xin nói hiểu biết ít oi của mình.Theo các sách dạy Thiền (tôi không được học thiền từ thầy ), khi hành Thiền đặt niệm hay để tâm ở đầu mũi, nhân trung, môi trên. Đó là ở trước mặt. Thầy Chơn Thiện nói rõ Phật Thích Ca đặt niệm ở “vùng nhỏ trước mặt”, và tôi tập theo như vậy (lý do riêng là mũi tôi thấp, không cao như người Ấn ). Nimitta cũng hiện ra trước mặt. Đặt niệm ở trước mặt, theo kinh nghiệm của tôi, dễ tránh được hôn trầm. Zen thì (có khi) đặt niệm ở huyệt đan điền (dưới bụng) là để bớt vọng tưởng, tâm dễ an tịnh cho thiền An Chỉ, nhưng chuyển niệm lên huyệt mi tâm khi thấy hôn trầm. Mật tông (có khi) quán tượng ở đỉnh đầu, Minh sát thì nhiều người biết.

Hạnh Trương: Ví dụ khi anh nói là đặt niệm ở huyệt đan điền, thì cụ thể là gì ạ. Anh chú ý tới đan điền, hay là anh chú tâm tới đan điền hay là sao ạ. Anh có thể mô tả cụ thể hơn ví dụ này để em và anh có thể hiểu được niệm là gì và đặt nó như thế nào không ạ.

Hoa Nguyen: Thật ra, Zen cũng dạy đặt niệm ở trước mặt, có khi là một điểm trước mặt trên thảm (chiếu). Nhưng có trường phái hay trường hợp , đặt niệm ở huyệt đan điền, là nơi cách rốn chừng hơn 2-3 cm, mà nếu chú ý kỹ sẽ thấy mạch đập. Mi tâm là điểm giữa hai chân mày, chú ý cũng nghe mạch đập.

Hạnh Trương : Vậy anh hiểu niệm = chú ý phải không ạ?

Hoa Nguyen Tôi đã phân tích Niệm có rất nhiều nghĩa. Như có ý thức, nhận biết rõ, không hẳn là chú tâm (càng không phải nhất tâm). Một từ ngữ càng về sau càng có thể mở rộng nghĩa, bao hàm nhiều ý khác nhau. Chính vì thế nên thấy cần đọc nhiều tác giả để thấy họ hiểu hay giải thích thế nào.

Hạnh Trương : Ái chà, giờ em mới hiểu tại sao, hihi. Cái gọi là Văn Học Phật Giáo. Tại em thì vẫn nghĩ Kinh Phật như CHỈ DẪN cho người tìm đường thoát khổ nên từ ngữ của nó bao giờ cũng chính xác, rõ ràng. Những cái được gọi là THUẬT NGỮ, để người khác có thể hiểu đúng và làm theo mà không băn khoăn về nhiều nghĩa của nó. Chỗ nào có thể hiểu theo nhiều nghĩa, thì sẽ có VÍ DỤ để không thể hiểu theo nghĩa khác.

Cảm ơn anh Hoa Nguyen, lần nào trao đổi với anh cũng giúp em nhìn ra cái gì đó mới mẻ.

Riêng về đề tài “đặt niệm trước mặt” hay “giữ niệm luôn hiện diện”, thì nó phụ thuộc rất nhiều vào việc hiểu niệm là gì. Và hiểu bài kinh như một tác phẩm văn học hay chỉ dẫn thực hành.

Theo ý kiến cá nhân của em, thì cụm từ “đặt niệm trước mặt” cũng như cách hiểu thiền là chú ý, nhận biết rõ, ý thức… tới phía trước mặt, đã dẫn tới 1 tiến hóa vô cùng lý thú của cách diễn giải bài kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm và kèm theo đó phát sinh rất nhiều cách thiền khác nhau, mà HẬU QUẢ của nó thật khôn lường. Khi nào có đủ điều kiện em sẽ phân tích về đề tài này (điều kiện ở đây là về phía em thôi).

Tiện đây, HT thấy nếu Sư Indacanda giúp ai đó trong nhóm làm một nghiên cứu nhỏ về đề tài “sự tiến hóa trong diễn giải kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm qua các THỜI KỲ” thì thật là tuyệt. Có thể dựa trên bản kinh chính, bản chú giải, phân tích đạo, thanh tịnh đạo và ở thời hiện đại là của trường phái thiền Pa-Auk.

Bhikkhu Indacanda: Ý kiến vừa nêu ra của Hạnh Trương được người ta gọi là <sa đà trên văn tự>, thôi để cho các học giả lo, còn Sư thuộc loại <học thiệt> nên không phải lo. Sư có 1 trò chơi là chiêm nghiệm về <quy luật vận hành> của mọi thứ chuyện trên đời. Và có được 1 kết luận như vầy: Nếu thấy vật gì, bị rơi vào quy luật rồi, thì giống như bị rơi vào dòng nước xoáy, mình chỉ ngồi ngó thôi, chớ có nhảy vào theo mà bị cuốn trôi theo dòng nước. Nếu muốn vớt lên thì vớt lên lúc chưa đến vực xoáy hoặc chạy xuống phía dưới chờ cái đó được nước xoáy đẩy ra ngoài rồi hãy vớt lên. Hi hi.

Hoa Nguyen: Hạnh Trương viết :””sự tiến hóa trong diễn giải kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm qua các THỜI KỲ” và Sư Indacanda viết :”<sa đà trên văn tự>, dường như muốn đặt một cái label cho câu chuyện.

Nên nhìn lại để thấy vấn đề bắt đầu từ chánh niệm mà định nghĩa đơn giản nhất là đặt tâm hay niệm lên trên một đối tượng thiền để nhận biết rõ nó. Nếu dùng từ Hán “liễu tri” thì dịch sát nghĩa vẫn là “biết rõ”. Nhưng đặt niệm thế nào để biết rõ, phải là sự “quan sát” với sự để ý, để tâm, chú ý, chú tâm. Trước đây một người đã dựa vào bản dịch từ tiếng Đức chọn từ “chú tâm”, và hồi đó tôi thấy cũng được nhưng dường như có hơi nặng (trong khi từ “để ý” thì hơi nhẹ). Sách dịch Anh ngữ không ngại dùng “observation” cho quan sát, và “attention” cho chú ý, chú tâm khi giữ chánh niệm, nhưng cũng nêu không phải là chú tâm theo nghĩa thường hiểu. Trích:

“Mindfulness is a form of attention that has the capacity to observe what is happening to us and within us during each moment of experience. It is referred to as “bare attention”since it observes whatever is occurring bare of judgement, decision, and commentary. In other words, mindfulness is the direct observation of the medition object without any of the distortions that normally arise from our cognitive processes (Matthew Flickstein, tác giả vài sách thiền Nguyên thuỷ).

Tạm dịch: Chánh niệm (hay Niệm) là một dạng chú ý (chú tâm) có khả năng quan sát những gì đang xảy ra cho chúng ta và ở bên trong chúng ta trong mỗi lúc trải nghiệm. Nó được gọi là sự “chú ý đơn thuần” (trần trụi) vì nó quan sát những gì đang xảy ra mà không phán xét, quyết định, và bình phẩm. Nói cách khác, chánh niệm là sự quan sát trực tiếp đề mục thiền quán mà không có biến dạng nào thường dấy lên từ quá trình nhận thức của chúng ta .

Nói là “một dạng chú ý” thì không phải như là sự chú ý, chú tâm bình thường. Tính cách vô tư, khách quan, không thêm bớt khi quan sát của chánh niệm nói ở trên rất giống với ý tưởng của Bhante Gunaratana đã giới thiệu.

Tôi cũng đồng ý có thứ chánh niệm khác mà Alan Wallace trình bày trong bài viết bàn tới ở đây, dùng cho loại thiền khác. Chuyện đặt niệm ở đâu sẽ bàn sau.

Hoa Nguyen ‎. Hành tướng của Niệm

– Còn Niệm là thế nào, thưa đại đức?

– Niệm cũng có hai chức năng. Thứ nhất là nhắc nhở tâm, thứ hai là giúp tâm cầm nắm.

– Nhắc nhở tâm như thế nào?

– Thưa, bất cứ một pháp nào phát sanh lên, Niệm có bổn phận nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy. Ghi nhận một cách thuần túy khách quan. Chức năng thứ nhất của Niệm là như vậy đó, tâu đại vương!

– Xin đại đức cho thí dụ.

– Vâng! Ví như người canh cửa của đức vua, y phải tự nhắc nhở mình thường xuyên là đừng có lơ đễnh nhiệm vụ, người nào đi vô đi ra phải biết. Như vị quan giữ kho của đức vua, y phải biết rõ đây là kho lương thực, đây là kho vàng bạc, vải vóc, quân nhu, khí giới v.v… Như vậy, Niệm như là người canh cửa, như vị quan giữ kho – đấy là chức năng thứ nhất, tâu đại vương!

– Vậy là trẫm đã hiểu. Còn “cầm nắm” là thế nào hở đại đức?

– Tâu đại vương! Một pháp phát sanh lên, niệm không những nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy mà còn “cầm nắm” trọn vẹn cái thiện, cái ác ấy nữa. Các pháp như tứ niệm xứ, tứ chánh cần, ngũ căn, ngũ lực… nghĩa là ba bảy trợ đạo phẩm, tứ vô lượng tâm cũng phải được hiểu như vậy.

– Trẫm muốn nghe ví dụ để hiểu rõ vấn đề hơn.

– Được thôi, tâu đại vương! Ví như người canh cửa của đức vua, sau khi không lơ đễnh nhiệm vụ thấy rõ người nào đi vô đi ra, mà còn biết đây là quan, đây là dân, đây là người được phép vào, đây là người không được phép vào. Ví như quan giữ kho của đức vua sau khi biết đây là kho vàng, kho bạc, kho lương thực mà còn nắm vững tình trạng của kho ấy, biết kho vàng, kho bạc nhiều hay ít, biết kho lương thực đầy hay vơi, v.v… Để khi vua cần hỏi, vị quan giữ kho có thể cho đức vua nắm rõ tài sản, kim ngân trong cung khố của mình. Chức năng thứ hai của Niệm là có thể trình cho biết các pháp lui tới tâm như thế nào, nó thiện hay ác, tốt hay xấu như vị quan giữ kho trình lên đức vua vậy tâu đại vương

– Cảm ơn đại đức. Ví dụ vậy là tuyệt hảo, trẫm “nắm giữ” được pháp và nghĩa của Niệm rồi.

* * *

Hoa Nguyen: Trên tôi vô ý đưa lên một đoạn trong kinh Mi-Tiên Vấn Đáp do HT Giới Nghiêm dịch (lấy trên trang nhà Buddha Sasana) nói về Niệm, mà chưa có lời nào giới thiệu. Theo ngài Mi-Tiên Niệm có hai chức năng: Thứ nhất là nhắc nhở tâm, thứ hai là giúp tâm cầm nắm. Về chức năng thứ nhất (ghi nhận một cách thuần tuý) tôi đã dẫn ý trong sách Anh ngữ của hai tác giả. Về chức năng thứ hai (“cầm nắm” trọn vẹn cái thiện cái ác) thì gần với ý của Alan Wallace. Tôi biết ngài Mi-Tiên nói về Niệm ở chỗ này nhân đọc một cuốn sách Anh ngữ, nhưng khi định tìm bản dịch tiếng Việt của Sư Indacanda đã thấy hôm nào thì lạc mất link. Ghi vắn tắt hai điều về Niệm đáng chú ý:

1/ bất cứ một pháp nào phát sanh lên, Niệm có bổn phận nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy. Ghi nhận một cách thuần túy khách quan.

2/ Một pháp phát sanh lên, niệm không những nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy mà còn “cầm nắm” trọn vẹn cái thiện, cái ác ấy nữa.

Hoa Nguyen ‎@Anh Hạnh Trương. Vấn đề dịch một câu trong kinh Nhập tức xuất tức đã có người nêu lên rồi, và chúng ta coi như đã được giải thích thoả đáng. Góp ý trên của tôi chỉ lấy đó làm một thí dụ về có nhiều bản dịch khác nhau, và tôi không nói bản dịch nào đúng hơn khi không có và không đọc được hai nguyên bản để so sánh. Cũng không thể so sánh bản dịch nếu hai nguyên bản khác nhau. Nhưng nhân đây chúng ta bàn vấn đề đặt (chánh) Niệm ở đâu khi hành thiền. Thử so sánh hai đoạn dịch sau đây, một của thầy Nhất Hạnh từ Hán tạng, và một của Sư Bhikkhu Indacanda từ tạng Pali. Tôi trích ở mỗi bên hai niệm có số thứ tự như nhau.

Kinh Quán Niệm hơi thở- Thiền sư Nhất Hạnh dịch

“Này đây, quý vị khất sĩ! Người hành giả đi vào rừng hoặc tới một gốc cây, nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thế hoa sen, giữ thân cho thẳng và đặt vững chánh niệm trước mặt mình. Thở vào, người ấy biết rằng mình thở vào; thở ra, người ấy biết rằng mình thở ra.

1. Thở vào một hơi dài, người ấy biết: Ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, người ấy biết: Ta đang thở ra một hơi dài.

……

6. Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc. Ta đang thở ra và cảm thấy an lạc. Người ấy thực tập như thế

Kinh Niệm Hơi Thở Vào – Hơi Thở Ra” – Bhikkhu Indacanda dịch

“Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào.

Kinh Niệm Hơi Thở Vào – Hơi Thở Ra” – Bhikkhu Indacanda dịch

1/ Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra dài.’ Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’

….

6/ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’

Nhận xét chỗ đáng chú ý : Thiền sư Nhất Hạnh dịch “đặt vững chánh niệm trước mặt mình”, giống với nhiều bản dịch tôi dẫn chứng trước, phần nhiều từ Hán tạng.

Bhikkhu Indacanda dịch “thiết lập niệm luôn hiện diện” (giống một bản dịch tiếng Anh tôi có (tác giả Nyanaponoka Thera, người Tích Lan) chỉ viết “keeps his mindfulness alert” , không nói rõ đặt chánh niệm ở đâu.

Sẽ tiếp.

Hiếu Nguyễn: Cách chú Hoa Nguyen tiếp cận vấn đề rất rộng rãi và phóng khoáng, kiến thức của chú cũng rộng rãi như cách chú tiếp cận vấn đề :-)

Anh Hạnh Trương nếu được thì triển khai thêm về việc kinh Nhập Tức Xuất Tức (trong một chủ đề khác) như anh nói ở trên nha. Cám ơn anh. Mấy tuần nay em cũng đọc đi đọc lại về phần tổng kết về niệm anh nói ở chủ đề bên kia, và em cũng có một số quan điểm của riêng em. Để tới khi quan điểm của em chín chắn hơn, em sẽ xin được thảo luận thêm với anh về niệm.

Xin 2 người tiếp tục tranh luận để mọi người được học hỏi.

Hạnh Trương anh Hoa Nguyen, có lẽ anh xem kỹ hơn câu anh viết :

<<1/ bất cứ một pháp nào phát sanh lên, Niệm có bổn phận nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy. Ghi nhận một cách thuần túy khách quan.>>

Bổn phận của Niệm là nhắc nhở tâm. (Dịch đúng phải là nhớ tới trách nhiệm), nhưng mà ý như vậy em thấy là ổn. Đồng ý là nhắc nhở tâm. Nhưng còn ghi nhận là vai trò của tâm, không phải là của Niệm. Anh đọc kỹ hơn chỗ này.

Niệm chỉ nhắc nhở “cần phải ghi nhận” . Còn ghi nhận là việc của tâm khác. Chỗ này không nên nhầm lẫn. Chúng ta đang nhầm lẫn cái gì? nhầm lẫn rằng Niệm ghi nhận . Không, Niệm không ghi nhận đối tượng. Niệm chỉ nhắc nhở là đó là cái cần ghi nhận, Niệm chỉ nhớ tới việc cần phải làm, Niệm nhớ tới đối tượng cần được theo dõi, Niệm nhắc nhở, nhớ tới trách nhiệm của tâm là phải hộ trì, phòng hộ. Niệm nhớ tới việc cần nắm giữ trạng thái thiện đã có để không bị bất thiện tái phát.

Em xin nhấn mạnh lần nữa, Niệm như là người đánh xe, chứ Niệm không trực tiếp làm các việc Ghi nhận, Chú Tâm, Chú Ý,…

Nếu chỗ này ta chưa thông, thì ta chưa thể bàn được về việc dịch là đặt niệm trước mặt là hợp lý, hay giữ niệm luôn hiện diện là hợp lý.

Khi nào chúng ta thông qua được chỗ này , em sẽ nói tại sao việc hiểu niệm sai dẫn tới tu niệm sai , dẫn tới các trường thiền tu Niệm có người bị điên, loạn thần kinh. Cái này là sai 1 ly là đi luôn.

Hiếu Nguyễn ‎”dẫn tới các trường thiền tu Niệm có người bị điên, loạn thần kinh” – anh Hạnh Trương có thể nói rõ thêm về phần này không?

Trường thiền anh nói là trường thiền nào, tu theo pháp nào? Tỷ lệ người bị điên, loạn thần kinh là bao nhiêu? Lý do họ bị điên và loạn thần kinh có phải trực tiếp do tu thiền theo “cách cũ” hay không? Họ có thường xuyên trình pháp và làm theo lời chỉ dạy của Thiền sư hay không?

Trong nghiên cứu khoa học, hẳn anh cũng biết khi có 2 sự việc vô tình cùng xảy ra thì chưa chắc đó là mối quan hệ nhân-quả: sự việc là nguyên nhân xảy ra sự việc kia. Có thể đó là do các nguyên nhân khác mà mình chưa chú ý tới, hoặc sự tổng hợp của nhiều nguyên nhân.

Vấn đề trọng yếu, mong anh trả lời!

Hạnh Trương Vì nó rất ảnh hưởng nên mình đã cố gắng diễn đạt từ nhiều góc độ để chúng ta có thể hiểu Niệm là gì và không là gì. Một trường hợp rất kỳ lạ. Xem lại Kinh Điển, Vi Diệu Pháp, Thanh Tịnh Đạo, rồi ngay cả Mi Tiên vấn đáp đều có định nghĩa rồi giải thích rồi ví dụ rõ ràng về Niệm, mà không hiểu sao thời hiện đại này người ta lại hiểu Niệm là chú tâm, là quán sát…

… Ngài đã ngự sang Anh Quốc và cùng với SATI = CHÁNH NIỆM, ngài đã về Việt Nam… chắc là phải viết thêm câu chuyện vui mà Sư Indacanda đã nhắc tới ( vui mà mặt vẫn thế này :( )

Hiếu Nguyễn Anh Hạnh ơi, anh phải triển khai tiếp khái niệm về Niệm mà anh nhận thấy được từ kinh điển -> sự sai sót trong cách thực hành hiện nay mà anh thấy -> sự điều chỉnh pháp hành: thì mọi người mới thuyết phục.

Nếu anh chỉ chỉ ra định nghĩa về niệm, không thôi thì mọi người sẽ cho là không có liên quan tới pháp hành hoặc chỉ là lý thuyết vì đó chỉ là “cách hiểu kinh” thông qua chữ nghĩa đơn thuần. Em cũng cảm thấy có manh mối chút nào qua cách giải thích của anh rồi, nhưng vẫn còn lấn cấn một số điểm.

Em rất mong anh tiếp tục triển khai mạnh dạn và hoành tráng hơn theo cách hiểu của anh và sư Indacanda. Như vậy lợi lạc hơn cho thành viên trong Pali Việt.

Nhưng khái niệm như: “có niệm tôi thở vào” rất trừu tượng. Nếu niệm chỉ là sự nhớ vậy nó phải có đối tượng: nhớ cái gì. Như anh nói ở trên ghi nhận là việc của tâm. Vậy khi đó mình ghi nhớ là phải thở vào. Như vậy khác gì với pháp hành thông thường là hay biết và “theo dõi” sự thở vào. Khi hành theo pháp hành thông thường, thì tâm mình cũng thường xuyên phải tự nhắc tâm là “không bỏ rơi” hay phải nhớ việc đang làm (thở vào). Như vậy pháp hành thông thường, hiển nhiên là có niệm rồi, nó sai ở đâu?

Một ý kiến nữa anh đề cập là chánh niệm, nghĩa là sự ghi nhớ có mục đích nhưng mục đích này phải phù hợp với chánh kiến (chứ không ghi nhớ như thợ săn ngắm bắn) – và anh ví dụ để nhiếp phục tham dục. Theo kinh nghiệm pháp hành của em thì khi đã có sự “chú tâm” (như pháp hành phổ biến hiện nay) nếu có được sự nhận thấy sự xuất hiện của các tâm bất thiện như tham dục hay sân hận, thì tự các tâm này sẽ tan biến. Như vậy vẫn đạt được mục đích ban đầu. Anh nghĩ sao về vấn đề này?

Hoa Nguyen Anh Hạnh Trương . Tôi copy y chang đoạn kinh đó từ trang Web. Tôi vẫn có ý tiếc không tìm lại được bản dịch khác của Sư Indacanda (tôi nhớ đã đọc đoạn ngài Nagasena nói về mộng trong bản đó). Nhân đây, lại cúi đầu khâm phục trí tuệ siêu phàm của ngài Nagasena. Đọc kinh nhiều khi phải hiểu “ý tại ngôn ngoại”, nhất là ở bản dịch.

Hạnh Trương Anh Hoa Nguyen, anh nghĩ là có ngài Nagasena thật hay sao ?

Bhikkhu Indacanda: Nói chơi mà thiệt, nói thiệt mà chơi:

“Yêu là gì vậy, anh hai?” “Yêu là thế này, yêu là thế nọ.”

“Yêu là vậy sao!” “Vậy em hiểu rồi.”

Em hiểu rồi, vì em đã yêu.

Niệm cũng vậy. “Niệm là thế này, niệm là thế nọ.”

Thật sự “có niệm” thì biết ngay. “Niệm là vậy sao!” “À ha, mình cũng có niệm.”

Hoa Nguyen : Anh Hạnh Trương. Tôi chưa đào sâu chỗ này (cứ để tồn nghi). Nhưng vua Milinda cũng thông minh trí tuệ một cách đáng ngờ. Chưa chắc các cuộc đối thoại thật sự là như vậy (nghi ngờ kinh là tội lớn, xin sám hối). Điều lạ là Bắc tông và Nam tông đều có kinh/luận này (phiên âm là Na-Tiên và Mi-Tiên).

Bhikkhu Indacanda : NIỆM – (Trích từ Milindapanha)

13. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, niệm có gì là tướng trạng?”

“Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng, có sự nắm lấy là tướng trạng?”

“Thưa ngài, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là thế nào?”

“Tâu đại vương, niệm trong khi được sanh lên thì không lơ đễnh các pháp có sự xen lẫn là thiện, bất thiện, có tội, không có tội, hạ liệt, cao quý, đen, trắng rằng: ‘Đây là bốn sự thiết lập niệm, đây là bốn chánh cần, đây là bốn nền tảng của thần thông, đây là năm quyền, đây là năm lực, đây là bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đây là Thánh đạo tám chi phần, đây là chỉ tịnh, đây là minh sát, đây là minh, đây là giải thoát.’ Nhờ đó, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”

“Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, giống như viên quan giữ kho của đức chuyển luân vương sáng chiều nhắc nhở cho đức chuyển luân vương về sự vinh quang rằng: ‘Tâu bệ hạ, bệ hạ có chừng này voi, chừng này ngựa, chừng này cỗ xe, chừng này bộ binh, chừng này vàng khối, chừng này vàng ròng, chừng này tài sản, xin bệ hạ hãy ghi nhớ điều ấy,’ và không lơ đễnh về tài sản của đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm trong khi được sanh lên thì không lơ đễnh các pháp có sự xen lẫn là thiện, bất thiện, có tội, không có tội, hạ liệt, cao quý, đen, trắng rằng: ‘Đây là bốn sự thiết lập niệm, đây là bốn chánh cần, đây là bốn nền tảng của thần thông, đây là năm quyền, đây là năm lực, đây là bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đây là Thánh đạo tám chi phần, đây là chỉ tịnh, đây là minh sát, đây là minh, đây là giải thoát.’ Nhờ đó, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”

“Thưa ngài, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là thế nào?”

“Tâu đại vương, niệm trong khi được sanh lên thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng. Nhờ đó, hành giả bỏ đi các pháp không có lợi ích, nắm lấy các pháp có lợi ích, bỏ đi các pháp không hữu dụng, nắm lấy các pháp hữu dụng. Tâu đại vương, nắm lấy quả là như vậy. Tâu đại vương, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là như vậy.”

“Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, giống như vị tướng quân báu của đức chuyển luân vương biết được điều lợi ích và không lợi ích cho đức vua rằng: ‘Đối với đức vua, các điều này có lợi ích, các điều này không có lợi ích, các điều này hữu dụng, các điều này không hữu dụng,’ nhờ đó bỏ đi các điều không có lợi ích, nắm lấy các điều có lợi ích, bỏ đi các điều không hữu dụng, nắm lấy các điều hữu dụng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm trong khi được sanh lên thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng. Nhờ đó, hành giả bỏ đi các pháp không có lợi ích, nắm lấy các pháp có lợi ích, bỏ đi các pháp không hữu dụng, nắm lấy các pháp hữu dụng. Tâu đại vương, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là như vậy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, ta nói rằng niệm quả là có lợi ích về mọi mặt.’”

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

Hạnh Trương Tuyệt vời!

Bhikkhu Indacanda Trước đây, Sư có tâm sự với Hạnh Trương là <Tu là chính> rồi sau đó mới kiểm tra với kinh điển để khẳng định sự tiến triển và củng cố niềm tin trong việc tu tập. Thì NIỆM cũng vậy, phải tu tập về Tứ Niệm Xứ rồi từ từ nghiệm ra NIỆM là thế nào. Nói thật tình, ai cũng tự hào là bản thân mình là CÓ NIỆM, nhưng coi chừng cái CÓ NIỆM ảo tưởng đó khi đối chiếu với Kinh Điển lại là cái khác. Hoặc có thể CÓ NIỆM nhưng cái CÓ NIỆM đó chỉ là ngọn lửa của cây đèn dầu ở trong cơn gió mạnh.

Hạnh Trương ‎Sư Trung Thiện : có sự ghi nhớ chân chánh về pháp nào đang diễn tiến nơi thân, thọ, tâm hay Pháp….gọi là hướng tới thực hành Tứ Niệm Xứ.

“VỀ PHÁP NÀO ĐANG DIỄN TIẾN …..”, thưa Sư, Sati không phải là sự ghi nhớ về pháp nào đang diễn tiến ạ :) .

<<NHỜ ĐÓ, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”>>

<<“Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, giống như viên quan giữ kho của đức chuyển luân vương sáng chiều NHẮC NHỞ cho đức chuyển luân vương >>

<<Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm TRONG KHI ĐƯỢC SANH LÊN thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng>>

Hạnh Trương ôi chao Sư ơi, mong Sư hoan hỉ, hihi, vì cái thuật ngữ sati này nó … nên con đành phải canh me từng chữ, không lại không biết Phật sẽ qua nước nào nữa, hihi.

Bhikkhu Indacanda ‎Hạnh Trương thấy văn tự nguy hiểm dễ sợ chưa! Nói thật Sư dịch vậy chứ Sư không hiểu tận tường ý nghĩa, cứ việc lắp từ lại với nhau mà thôi. Giờ đọc lại mấy chỗ Hạnh Trương làm thành chữ HOA mới giật mình, “may phước mà mình đã không bỏ đi mấy chữ đó.” Một trong những lý do Sư cứ nằng nặc không chịu bỏ đi phần Pali bên cạnh phần tiếng Việt, là để chạy tội: Lạy Phật, con hiểu sao con ghi vậy, chứ con không có nói đây là ý của Phật ạ.

Sư Trung Thiện: sư Bhikkhu Indacanda “khôn đúng Pháp” ! cần học tập

Bhikkhu Indacanda Pháp chân thật mà Sư.

Sư Trung Thiện Thưa Đ.Đ kính mến, nói đến chân thật mới thấy đây không phải là Pháp dễ thực hiện. hôm rồi, trong khi nói Pháp, đã nói sai 1 câu. ngay lập tức Trung Thiện đã dừng lại và nói rằng, câu vứa rồi sư đã nói sai. Và thấy an vui…khi dám thú nhận ngay tại đó, ngay tức thì….

Vo Trong Phi Người dịch kinh Phật có cái khổ ở chỗ này. Dịch hay, bóng bẫy, trau chuốc thì dễ đi xa nghĩa gốc, dễ mắc phải giới… nói dối. Bám sát nghĩa gốc thì người ta chê dở. Sư Indacanda dịch sát nguyên văn coi bộ an toàn!

Sư Trung Thiện Tỳ khưu nào hoán chuyển thể dạng của Dhamma là phạm giới đó, là câu văn để nguyên là câu văn, là kệ thơ, để nguyên kệ thơ…

Hạnh Trương Thưa Sư Indacanda, rất là phục Sư vì đã Sư đã kiên định dịch kinh đúng từng chữ như thế và còn song ngữ nữa. Với những người tìm pháp hành thì đây là điều quý vô cùng. Mong Sư có sức khỏe để tiếp tục công trình của mình.

Hoa Nguyen Tôi xin chép lại đoạn kinh Na Tiên về Niệm trong bản dịch tiếng Anh để tiện đối chiếu. Tôi thấy không cần dịch đoạn này ra tiếng Việt, vì chỉ một chữ đáng so sánh với bản của Sư Indacanda là “keeping check” với “lơ đễnh” .

Trích từ cuốn “The Heart of Buddhist Medition” của Nyanaponika Thera, trang 188-189:

“The Characteristic Quality of Mindfulness

King Milinda asked: ‘What is the characteristic quality of mindfulness, Venerable Sir?’

The Venerable Nagasena replied: ‘It is the quality of keeping check and of retaining.’

_’In how far, Venerable Sir, is “keeping checking” characteristic of mindfulness?’

_’If mindfulness has arisen, one keeps check of things salutary or unsalutary, blameless or blameworthy, excellent or inferior, and (other) contrasts of dark and bright; and one knows: “These are the four Foundations of Mindfulness, these are the four Right Efforts, the four Roads of Spiritual Success, the five mental Faculties and Powers, the seven Factors of Enlightenment, this is the Noble Eightfold Path”. Knowing this, one practises what ought to be practised, and does not practise what ought not to be practised; one adopts what ought to be adopted, and does not adopt what ought not to be adopted. In that way, great king, has mindfulness the quality of keeping check.’

Như vậy lời giải thích trên là “rất giống” với quan điểm của Alan Wallace trích từ link cho ở đầu đề tài này.

Alan Wallace nói:

“Một khi niệm được đánh đồng với sự chú tâm thuần túy, nó dễ dàng dẫn đến sự nhận thức lệch lạc rằng việc tu tập niệm không liên quan với giới hay với sự tu dưỡng các tâm thiện và sự gạn trừ các tâm bất thiện.”

“Nói chung, chánh niệm phải được kết hợp với sampajañña (sự biết rõ mang tính phản kỷ theo tinh thần của giới) – mặt khác, nội quán phải bao gồm sự nhận thức rõ – và chỉ khi nào 2 yếu tố này hoạt động cùng nhau thì chánh niệm mới có thể hoàn thiện mục đính nó hướng đến. Đặc biệt, trong sự tu tập Tứ Niệm Xứ, chánh niệm phải hoạt động trên nền tảng Bát Chánh Đạo: chẳng hạn, nó phải được hướng đạo bởi chánh kiến, khích lệ bởi chánh tư duy, đặt cơ sở trên chánh giới (ngữ, nghiệp, mạng), và được tu tập cùng với chánh tinh tấn.”

Alan Wallace giải thích ông nhìn vấn đề từ quan điểm của thiền Minh Sát:

“Cho nên, chú tâm thuần túy hoàn toàn không mô tả được ý nghĩa hoàn thiện của Thiền Minh Sát, nó chỉ tương ứng với giai đoạn đầu trong quá trình thực tập thiền chánh niệm”.

Hạnh Trương Em cứ tưởng là có thể đóng cái trao đổi này ở đây được rồi chứ, hihi. Chắc nhờ BS Phạm Doãn đóng giùm một phần đi ạ.

Để có thể làm rõ hơn vấn đề, theo anh Hoa Nguyen, thì Alan Wallace sẽ phân biệt thế nào là Niệm, Chánh Niệm, Tà Niệm và Thất Niệm ạ. Và theo anh hiểu thì thế nào ạ. Và anh cho ví dụ cụ thể để mình cùng nhau hiểu vấn đề.

Hoa Nguyen Xin lỗi, Sư Indacnada dịch là “không lơ đễnh”, tôi khi viết lại thiếu chữ “không”.

Hoa Nguyen Anh Hạnh Trương. Muốn biết AW nghĩ gì tạm thời đọc bài viết trên Thư Viện Hoa Sen có link ở trên. Còn tôi nghĩ gì về AW thì cũng đã nói nhiều (ở đây tôi là người nhắc tới tên AW nhiều nhất). Tôi bày tỏ khâm phục AW , nhưng đồng thời cũng viết trong các comment đầu là AW nêu hay nhấn mạnh một trong hai quan điểm khác nhau về Chánh niệm (nếu chưa có quan điểm thứ 3 thứ 4). AW cho Niêm phải hướng về thiện và xa rời bất thiện, còn quan điểm kia cho Niệm là “chú ý trần trụi”, vô tư, khách quan. Phần tôi nghĩ tuỳ giai đoạn Thiền mà chánh niệm sẽ là thế này hay thế kia, và cũng tuỳ loại Thiền, hay mục đích của hành thiền.

Hoa Nguyen Quan điểm chánh niệm “đơn thuần” hay thuần tuý (trái với quan điểm của AW) có thể hiểu qua đoạn kinh sau đây:

“Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ, tưởng sẽ chỉ là thọ tưởng; trong cái thức tri sẽ chỉ là thức tri. Như vậy là đoạn tận khổ đau” (Tiểu bộ kinh I, trang 398, bản dịch của HT Minh Châu, 1982, theo chú thích của Thích Chơn Thiện).

Thầy Chơn Thiện giải thích thêm: Cho đến khi nào chánh niệm tỉnh giác không còn việc gì để làm nữa, nghĩa là cho đến khi nào mà các phản ứng tâm lý tham ái và chấp thủ bị loại ra hết ngoài cái nhìn, ngoài sự quan sát hay theo dõi các pháp của hành giả, thì cho đến khi ấy khổ đau được hoàn toàn đoạn tận, đấy là điểm cuối cùng của lộ trình tu tập giải thoát.

Hà Anh Nguyễn con luôn hoan hỷ với các bài post của bác Phạm Doãn Sadhu Sadhu

Phạm Doãn ‎@ Nguyen Dieu Ha Anh: Chỉ là giúp gom các comments vào một chủ đề thôi. Sau này dễ tìm lại để đọc!

Hiếu Nguyễn ‎@Anh Hạnh: Hôm nay, sau khi hành thiền, em bắt đầu hiểu được: niệm (sự ghi nhớ nhắc nhở), và sự chú tâm là 2 thứ khác nhau. Em cũng bắt đầu hiểu ý nghĩa của từ “thiết lập” và tác dụng “phòng hộ”. Cách dịch và dùng từ rất tuyệt vời. Xin cảm ơn Sư Bhikkhu Indacanda.

Phạm Doãn Hơn tháng nay tôi bệnh nặng. Không kịp đọc đủ các comments. Hôm nay mới khỏe lại. Lưu ý các vị admins, nên cùng chung sức, ví dụ khi thấy các đề tài quan trọng được thảo luận, thì nên bỏ chút thì giờ gom chúng lại thành một document để làm tài sản cho group. Như vậy cả người mới và người cũ đều có thể truy cập lại khi cần thiết. Kính.

Hiếu Nguyễn

Tình cờ mình đọc được đoạn này của ngài Thiền Sư Ajahn Chah, có liên quan tới niệm, rất sát sao với những gì mọi người đã thảo luân:

[…] The trick is to have sati taking control and supervising the mind. Once the mind is unified with sati a new kind of awareness will emerge. The mind that has developed calm is held in check by that calm, just like a chicken held in a coop…the chicken is unable to wander outside, but it can still move around within the coop. Its walking to and fro doesn’t get it into trouble because it is restrained by the coop. Likewise the awareness that takes place when the mind has sati and is calm does not cause trouble. None of the thinking or sensations that take place within the calm mind cause harm or disturbance. […]

Trong bài gốc tiếng Anh, sati để nguyên, không được dịch. Awareness, mindfulness là những từ khác. Ngài thiền sư cũng nêu rõ tác dụng của thiết lập niệm, tạo một “hàng rào bảo vệ”.

Đây là link của bài viết đầy đủ: http://www.what-buddha-taught.net/Books/Ajahn_Chah_Meditation.htm

Hiếu Nguyễn Bài này tương ứng với Chương 17: Thiền định, của cuốn sách “Suối nguồn tâm linh”. Nhưng người dịch trong sách dịch Sati là Rama Bhik

Không có sự khác biệt giữa Niệm( Sati) và Chánh Niệm( Sammāsati). Trong Pali từ niệm (Sati) không có trường hợp nào là xấu cả.
Theo Abhidhamma thì Niệm ( Sati) là Tâm sở Tịnh Hảo( Sobhanacetasika) liên kết với 59 tâm Tịnh hảo. Nêu những tâm Thiện như khi làm phước bố thí, giữ giới, hành Thiền đều có bóng dáng của Niệm. Còn sự chú tâm đơn thuần có trường hợp là Niệm, có trường hợp không có Niệm. Sự chú tâm này đôi lúc là Tầm( Vitakka) và Tứ ( Viāra).< Các vị học VDP xin kiểm lại>.
Trường hợp ví dụ như trên mà Hanh Truong đã đề cập, hoặc một ví dụ khác là con hổ chú tâm để săn mồi. Nó luôn hướng đến đối tượng< Tầm-Vitakka> và giữ tâm liên tục trên đối tượng là con mồi< Tứ-Vicāra>.
Sự chú tâm này có khi là nguy hiểm, khi một số vị hành Thiền họ nhớ lại những tư tưởng về Dục, hoặc những tư tưởng bất thiện khởi lên liên tục làm cho vị này có vẻ ” Định” trong vài tiếng đồng hồ.Nhưng mà định tâm này là Tà Định ( Micchāsamadhi).
Một điều rất khó cho ta biết là khi nào sự chú tâm đó là có Niệm hay không, có lẽ là phải căn cứ vào mục đích của hành động đó là Thiện hay Bất Thiện.
Với nhiều vị hành Thiền Minh sát , họ có thể thấy rõ những hoạt động tưởng như vô thức như duỗi chân co tay hay thở vào thở ra đều có sự tác động của tâm, và họ có thể thấy ra cái tác ý đó Thiện hay là Bất Thiện.