Phân Tích về Người

Trích từ;

Đường vào Thắng pháp

Tỳ khưu Chánh Minh


Phân tích Người


(Puggalabheda).

 

180 – Hỏi. Người được hiểu như thế nào?

Đáp.  Puggala xuất nguyên từ ngữ căn Pun + gala.

Ngữ căn pun theo một số địa phương ngữ có nghĩa là “địa ngục”.

Ngài Buddhaghosa trong sách Thanh Tịnh Đạo cũng giải thích: “Pun ti vuccati nirayo, tasmiṃ galantīti puggalā: Địa ngục gọi là Pun, thêm gala, gọi là người”[1].

“Người” là danh từ gọi chung cho  “danh sắc được sinh lên do  nghiệp chi phối”, đồng thời “mang tính chỉ định”. Như Đức Thế Tôn thuyết:

“Sace panāyaṃ, bhikkhave, puggalo …: Này các Tỳkhưu, nếu người nào[2]

Puggala (người) được hiểu theo hai khía cạnh: Chế định và chân đế.

Theo nghĩa chế định (sammutisacca); người được hiểu là nhân loại (đồng nghĩa với manussa), là chúng sinh trung bình, không cao cấp cũng không thấp kém.

Những chúng sinh ở dạng cao được định danh là chư Thiên, Phạm thiên, những chúng sinh ở dạng thấp kém được định danh là “ma đói” (peta), thú, địa ngục, Atula (asura).

Theo nghĩa chân đế (paramatthasacca); người được hiểu là “danh sắc” hoặc “năm uẩn”.

Tức là theo Tạng Thắng Pháp “người” được nói đến theo pháp thực tính.

Tùy theo tâm tục sinh (paṭisandhiviññāṇa), người được phân ra 4 hạng: Người khổ, người lạc vô nhân, người nhị nhân, người tam nhân. Từ người Tam nhân phát sinh 8 Thánh.

Nói cách khác, có bốn hạng phàm nhân là: Người khổ, người lạc vô nhân, người nhị nhân.

*- Bốn người đạo là: Người Sơ đạo, người Nhị Đạo, người Tam Đạo, người Tứ đạo.

*- Bốn người quả là: Người Sơ quả, người Nhị quả, người Tam quả và người Tứ quả.

 

181 – Hỏi. Thế nào  là người khổ?

Đáp. Người khổ là hạng người không thể có sự tiến hóa.

Lại nữa, trong đời sống bình nhật luôn chịu những nổi khổ nhiều hơn là được hưởng sự an lạc.

Như chúng sinh cõi địa ngục đêm ngày luôn bị hành hạ, tra tấn bởi quỷ sứ (nirayapāla)…

Chúng sinh “ma đói” luôn bị thiêu đốt, bị khổ thân đêm ngày, nhẹ nhất là “bị đói khát” suốt kiếp sống.

Chúng sinh là loài thú, phải vất vả tìm sự sống, luôn sống trong lo sợ vì bị những tai họa do loài thú khác hay do loài người sát hại, ngay cả khi ở trong tổ ấm, trong hang, trong bọng cây cũng luôn bị đe dọa đến sự sinh tồn …

Hay chúng sinh là Atula (asura).

Sở dĩ gọi là “người khổ”, vì;

– Những chúng sinh này sinh vào bốn cõi khổ là: Cõi địa ngục (nirayabhūmi), cõi súc sinh (tiracchānabhūmi), cõi ma đói (petabhūmi) và cõi Atula (asurabhūmi).

– Không có sự tiến hóa; ngay cả sự phát sinh tâm thiện cũng rất khó khăn, còn nói gì đến sự chứng đắc Thiền định hay Nípbàn.

Như có Pāli sau đây:

“Tāsu, nirayo, tiracchānayoni, pettivisayo, asurakāyo apāyabhūmi catubidhā hoti:

Có bốn cõi “bất hạnh (apāya)” là: Địa ngục, súc sinh, ma đói và Atula (thần quỷ)[3].

Nói rõ hơn: Người khổ có bốn hạng là: Chúng sinh địa ngục, chúng sinh súc sinh, chúng sinh ma đói và chúng sinh Atula.

182 – Hỏi. Người khổ tục sinh bằng tâm gì? Trong đời sống bình nhật có bao nhiêu tâm khởi lên cho người khổ?

Người khổ tục sinh bằng tâm Quan sát xả thọ quả bất thiện.

Đây là quả khác thời kỳ (vipāka) của nghiệp bất thiện.

Nói cách khác, đó là quả của 11 tâm bất thiện (tâm si hợp Phóng dật không cho tâm quả làm việc tục sinh, nhưng trong đời sống bình nhật, tâm Si hợp phóng dật vẫn cho đủ 7 loại tâm quả bất thiện).

Mười một tâm bất thiện này, mỗi tâm tạo ra được 7 tâm quả bất thiện, trong đó tâm Quan sát thọ xả quả bất thiện có sức mạnh hơn cả nên làm việc tục sinh, cho tái sinh vào 1 trong bốn cõi khổ.

Có Pāli như sau: Ettha akusalakammaṃ uddhaccarahitaṃ apāyabhūmiyaṃ paṭisandhi janeti:

Ở đây, trừ tâm Si hợp phóng dật, các bất thiện nghiệp còn lại khiến tái sinh (paṭisandhi) vào cõi bất hạnh.

-“Pavattiyaṃ pana sabbampi dvādasavidhaṃ sattākusalapākāni sabbathā pi kāmaloke rūpaloke ca yatthārahaṃ vipaccati:

“Nhưng tất cả 12 bất thiện nghiệp phát sinh 7 tâm. Những tâm này có thể khởi tâm  ở Dục giới và ở Sắc giới, trong sự diễn tiến của tâm, tùy theo trường hợp” (HT. TMC dịch)[4].

Nên hiểu đoạn Pāli trên như sau: Trong đời sống bình nhật 12 tâm bất thiện, mỗi tâm cho 7 tâm quả bất thiện.

Bảy tâm quả bất thiện này có đầy đủ trong cõi Dục giới, còn cõi Sắc giới không hề có 3 tâm quả bất thiện là: Tỷ thức quả bất thiện, Thiệt thức quả bất thiện và Thân thức quả bất thiện.

Trong đời sống bình nhật, người khổ có được 37 tâm là: 29 tâm vô tịnh hảo (trừ tâm Sinh tiếu) + 8 tâm đại thiện.

Như có Pāli sau: Duggatiyaṃ pana ñāṇavippayuttāni ca mahāvipātāni na labbhati:

“Chúng sinh ở khổ cảnh, tâm Đại quả không hợp với trí cũng không có”[5].

182 – Hỏi. Vì sao trên cõi Sắc giới lại phát sinh Nhãn thức  quả bất thiện và Nhĩ thức quả bất thiện?

Đáp. Ở Phạm thiên giới không hề có cảnh sắc xấu, cũng không hề có ấm thanh xấu; nhưng lại có Nhãn thức quả bất thiện hay Nhĩ thức quả bất thiện, là do các vị Phạm thiên cõi Sắc giới chứng đạt được các Thắng trí (abhiññāṇa), như Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông.

Với Thiên nhãn thông thì các sắc thô hay tế, thù thắng hay thấp kém,  bên trong hay bên ngoài, xa hay gần; đều nhìn thấy được. Khi thấy những sắc xấu, tất nhiên Nhãn thức quả bất thiên sinh lên.

Vớ Thiên nhĩ thông, các  âm thanh thô hay tế, thù thắng hay hạ liệt, bên trong hay bên ngoài, xa hay gần, đều nghe được. Nghe được âm thanh xấu, tất nhiên Nhĩ thức quả bất thiện sinh lên.

184 – Hỏi. Có phải chúng sinh Asura đều là người khổ không?

Đáp. Atula (asura) có nhiều loại, tựu trung  có ba hạng: Deva asura (Atula thiên), peta asura (Atula ngạ quỷ) và niraya – asura (Atula địa ngục).

*- Atula chư thiên, là những chúng sinh có nhiều uy lực, sống ở đáy biển dưới chân núi Sinera (Tudi), hằng năm thường đánh nhau với chư thiên cõi Ba mươi ba (Tāvatiṃsa).

Vào ngày mùng 8 của mỗi nửa tháng[6], các Đại thần của Tứ đại vương (Catutha mahārāja) đi tuần du bốn châu[7], để ghi chép những người tạo nhiều thiện nghiệp như “hiếu kinh cha mẹ, cung kỉnh các Samôn, Bàlamôn, hành trì Bát quan giới…”[8]

Ngày 14 mỗi nửa tháng thì Hoàng tử của Tứ đại vương đi tuần du,  và ngày 15 mỗi nửa tháng Tứ đại vương đi tuần du.

Nếu nhân loại ít người làm việc lành, vào ngày hội chư thiên ở cõi Ba mươi ba, Tứ Đại vương báo lên vua Trời Đế Thích.

Vua Trời không hoan hỷ, nói rằng: “Thật vậy, thiên chúng bị tổn giảm, chúng Atula được sung mãn”.

Nếu nhân loại nhiều người làm việc lành, vua Trời hoan hỷ: “Thật vậy, thiên chúng sẽ sung mãn, chúng Atula bị tổn giảm” (sđd).

Có tất cả 6 nhóm Atula thiên, mỗi nhóm được gọi theo tên của chúa Atula là[9]:

– Nhóm Vepacitti – asura: Chúa của nhóm Atula này là Vepacitti[10].

– Nhóm Subati – asura: Chúa của nhóm Atula này là Subati.

– Nhóm Rāhu – asura: Chúa của nhóm Atula này là Rāhu[11].

– Nhóm Pahārāda – asura: Chúa của nhóm Atula này là Pahārāda[12].

– Nhóm Samparatī – asura: Chúa của nhóm Atula này là Samparatī.

– Nhóm Vinipātika – asura: Chúa của nhóm Atula này là Vinipātika.

Trong 6 nhóm trên[13], năm nhóm đầu chống lại chư thiên cõi Ba mươi ba.

Tuy gọi là Atula chứ kỳ thật họ là những vị chư thiên, sở dĩ  gọi là Atula vì “đời sống của họ không chói sáng, không đầy đủ lạc thú như những chư thiên”.

Đời sống của họ thường hay nóng nảy trong tâm; nam Atula rất xấu, trái lại nữ Atula rất xinh đẹp.

Chính vị thiên hậu thứ tư của vua Trời Đế Thích là con gái Atula vương Vepacitti, có tên là Sujātā[14].

Nhóm Vinipātika (Atula đọa lạc) có chỗ ở bất định, sống phiêu bạt ở rừng núi, cây cối nơi địa cầu, nhóm này được xem là tùy chúng của chư thiên ở Địa cầu, do đó nhóm này cũng được xếp vào Atula chư thiên.

*- Atula ngạ quỷ. Nhóm này được phân ra ba hạng:

Kāḷakañcikapeta: Hạng ngạ quỷ có thân hình mềm nhảo và đen.

Vemānikapeta: Hạng ngạ quỷ ban đêm hưởng lạc như chư thiên cõi Đạo lợi, ban ngày khổ như ngạ quỷ. Diêm chúa cũng thuộc hạng Atula này.

Đây là hậu quả của việc “vừa làm thiện xong lại tạo ác ngay” hay “vừa làm ác lại tạo thiện nghiệp ngay”.

– Āvudhikapeta (Khí giới ngạ quỷ). Hạng Atula này trang bị vũ khí trên người, chúng đi tìm nhau để  đánh.

*- Atula địa ngục. Chỉ cho chúng sinh trong địa ngục không gian (lokantarika).

Nhóm Atula ngạ quỷ và Atula địa ngục được gọi là người khổ, riêng nhóm Vemānikapeta thì bất định.

185 –  Hỏi. Nguyên nhân nào tái sinh vào cảnh giới Atula?  [15].

Đáp. Trong thế gian, có hạng người có quyền thế, có danh vọng, có nhiều tài sản… nhưng là người kém trí hiểu biết về nhân quả, có tâm không tốt.

Đối với người có giới hạnh, là bậc hiền trí đáng được tán thán, nhưng họ không tán thán, trái còn phỉ báng hay dùng quyền lực của mình để bức hại người đáng cung kỉnh, đáng tán thán.

Đối với kẻ ác giới không đáng tán thán, họ lại tán thán, giúp đở cho những người ấy.

Hoặc có hạng người tạo thiện nghiệp trong lúc tâm không hài lòng, như bố thí trong lúc “tâm khó chịu”, hay trì giới, tu thiền một cách miễn cưởng, hoặc cung kỉnh lơ là …

Sau khi mệnh chung phải tái sinh vào cảnh giới Asura.

186 – Hỏi.Thế nào là người lạc vô nhân?

Đáp. Gọi là lạc vì tục sinh bằng tâm quả thiện, nhưng tâm quả thiện này không có nhân tương ưng, nên gọi là vô nhân.

Người lạc vô nhân và người khổ được gọi chung là “người vô nhân”. Vì tâm tục sinh của hai hạng người này không có nhân tương ưng (hetu saṃpayttaṃ).

Do nương theo tâm tục sinh này nên định danh là “người lạc vô nhân”.

Mặt khác, người lạc vô nhân là người có dị tật bẩm sinh.

187 – Hỏi. Người lạc vô nhân tục sinh bởi tâm nào? Trong đời sống bình nhật, người lạc vô nhân có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Người lạc vô nhân là người tục sinh bởi tâm Quan sát thọ xả quả thiện.

Trong đời sống bình nhật, người lạc vô nhân có được 41 tâm là: 37 tâm như người khổ + 4  tâm đại quả  [16] không có trí.

188 – Hỏi. Vì sao người lạc có thêm được bốn tâm đại quả ly trí?

Đáp. Trước tiên nên hiểu về cách cho quả của các tâm đại thiện như sau:

– Tâm đại thiện hợp trí có đầy đủ 3 sự “cố ý”[17]. Mỗi tâm tạo ra được 16 tâm quả = 8 tâm quả vô nhân + 8 tâm đại quả.

– Tâm đại thiện hợp trí thiếu 1 trong ba sự cố ý và tâm đại thiện ly trí đầy đủ 3 sự cố ý. Mỗi tâm cho được 12 tâm đại quả (trừ 4 đại quả hợp trí).

– Tâm thiện ly trí thiếu một trong ba “cố ý”, mỗi tâm cho được 8 tâm quả thiện vô nhân.

Một số Giáo thọ sư như Đại Đức Mahādhammarakkhita ở chùa Moravapi xứ Tích Lan[18], cho rằng: “Những tâm Đại thiện vô trợ (asaṅkhārika) không thể cho tâm Đại quả hữu trợ, những tâm đại thiện hữu trợ (sasaṅkhārika) không thể cho tâm Đại quả vô trợ.

Như vậy mỗi tâm Đại thiện có trí đủ tam Tư chỉ cho 12 tâm đại quả.

Tức là: 2 tâm đại thiện có trí vô trợ, đủ 3 sự “cố ý”, cho 12 tâm đại quả = 8 tâm quả thiện vô nhân + 4 tâm đại quả vô trợ.

– 2 tâm đại thiện có trí hữu trợ, đủ ba sự “cố ý”, cho 12 tâm đại quả = 8 tâm quả thiện vô nhân + 4 đại quả hữu trợ.

Người lạc vô nhân tục sinh bằng tâm Quan sát thọ xả quả thiện; trong đời sống bình nhật chính tâm này làm việc hữu phần. Bốn tâm Đại quả ly trí gần với tâm Quan sát thọ xả quả thiện vì sinh ra tử “thiện ly trí”[19]

Khi cảnh có sức mạnh, bấy giờ một trong 4 Đại quả ly trí có thể sinh lên làm phận sự Na cảnh.

Trái lại, tâm hữu phần của người khổ là tâm Quan sát xả thọ quả bất thiện, nên người khổ không thể sinh khởi 4 tâm Đại quả ly trí để làm việc Na cảnh.

189 – Hỏi.Người lạc vô nhân có bao nhiêu hạng?

Đáp. Có 11 hạng người được gọi là người lạc vô nhân[20]. Đó là:

1- Người mù bẩm sinh (jaccandha). Khi sinh ra không có thần kinh nhãn, gọi là người mù bẩm sinh.

Nếu phân tích thì:

– Đối với chúng sinh thai sinh (gabbhaseyyaka)[21]. Kể từ khi tục sinh cho đến 11 tuần lễ (gần 3 tháng) sau, không có sắc thần kinh Nhãn sinh lên, gọi là “mù bẩm sinh”.

– Đối với chúng sinh hóa sinh (opapātika) và thấp sinh (samsedaja), ngay giây phút tục sinh không có sắc thần kinh Nhãn sinh lên, gọi là “mù bẩm sinh”.

Đó thật sự là “người lạc vô nhân”, trong kiếp sống người này không thể chứng đắc thiền định hay đạo quả.

*- Có hạng thai sinh, tục sinh bằng tâm quả Dục giới tam nhân, nhưng sau 3 tháng do một ác nghiệp chen vào trả quả, khiến bị mù mắt.

Cũng là hạng người “mù bẩm sinh”, nhưng vẫn có khả năng chứng thiền hay Đạo quả, tuy nhiên xác xuất này rất thấp.

2- Người điếc bẩm sinh (jaccabadhiraka). Là người khi sinh ra không có thần kinh Nhĩ, cách hiểu tương tự như người “mù bẩm sinh”.

3- Người không có thần kinh mũi bẩm sinh (jaccāghānaka). Là người khi sinh ra không có thần kinh mũi, cách hiểu tương tự như 2 hạng trên.

4- Người đần độn bẩm sinh (jaccajaḷaka). Là người khi sinh ra, đã ngớ ngẫn, chẳng có chút thông minh, thậm chí không thể đếm được từ 1 đến 10.

5- Người câm bẩm sinh (jaccamūgaka). Là người khi sinh ra đã bị câm.

6- Người điên bẩm sinh (jaccummattaka).

7- Người vô tính (paṇdaka). Là người không có bộ phận sinh dục nam hay sinh dục nữ.

8- Người lưỡng tính (ubhatobyañjanaka). Là người không có bộ phận sinh dục cố định.

Khi nam tính mạnh thì bộ phận sinh dục nam xuất hiện, khi nữ tính mạnh thì bộ phận sinh dục nữ hiển lộ.

Đây là kết quả của nghiệp tà dâm trong quá khứ.

Có hai loại người lưỡng tính: Nam lưỡng tính và nữ lưỡng tính.

Nam lưỡng tính, có thân hình như người nam, nhưng khi gặp người nam dục cảm phát sinh thì bộ phận sinh dục nữ xuất hiện.

Nữ lưỡng tính, có thân hình như người nữ, nhưng khi gặp nữ nhân phát sinh dục cảm thì bộ phận sinh dục nam xuất hiện.

Người nữ lưỡng tính có thể làm cho nữ nhân khác mang thai hoặc chính họ cũng mang thai.

Người nam lưỡng tính chỉ có thể làm cho người nữ khác mang thai, riêng họ thì không.

9- Người trung tính (napuṃsakapaṇḍaka). Tương tự như người vô tính[22], hay là “người Vô tưởng”.

10- Người cà lăm bẩm sinh (mammaka).

11- Người phi hảo lạc Atula (vinipātikāsura). Là hạng Atula sống theo núi non, rừng rậm, sông rạch … nhưng có thân hình quái dị.

Đời sống những chúng sinh này không khác với ngạ quỷ là mấy.

190 – Hỏi. Vì sao người Vô tưởng được xem là người lạc vô nhân?

Đáp. Bậc chứng đắc Ngũ thiền Sắc giới, nhưng chán nản tâm thức, cho rằng “vì có tâm thức mới có khổ”. Vị ấy nguyện “kiếp sau đừng có tâm thức”, do thiền lực nên sau khi mệnh chung, tái sinh về cõi Vô tưởng.

Làm việc tái sinh này là bọn sắc Mạng quyền.

Sắc Mạng quyền là sắc pháp, không có nhân tương ưng nên gọi là “vô nhân”.

Vì tái sinh vào cõi Vô tưởng, nên gọi là “lạc”; vì có sắc mạng quyền nên gọi là “người”.

191 – Hỏi. Thế nào là người nhị nhân(duhetuka)?Trong đời sống bình nhật người nhị nhân có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Người nhị nhân là người tục sinh bằng một trong 4 tâm đại quả ly trí, đó là loại tâm quả có 2 nhân là nhân vô tham và nhân vô sân.

Do nương theo tâm tục sinh nên định danh là người nhị nhân; nói cách khác “người nhị nhân là người không có trí bẩm sinh trong cơ tánh (ám chỉ trong tâm hữu phần).

Trong đời sống bình nhật, người nhị nhân có được 41 tâm như người lạc vô nhân.

192 –  Hỏi. Thế nào là người tam nhân?

Đáp. Người tam nhân là người tục sinh bằng tâm quả có ba nhân là : Nhân vô tham, vô sân và vô si. Do nương theo tâm tục sinh nên định danh là người tam nhân (tihetuka).

Có 13 tâm làm việc tục sinh để trở thành người tam nhân, đó là: 4 tâm đại quả có trí + 9 tâm quả Đáo đại.

Người tam nhân là người có khả năng chứng đắc thiền định hay Đạ0, Quả Siêu thế trong kiếp sống ấy.

Bốn hạng người: Người khổ, người lạc vô nhân, người nhị nhân và người tam nhân, gọi chung là phàm nhân.

Trong đó ba hạng người trước, trong kiếp sống ấy không thể chứng được thiền định hay Đạo quả Siêu thế, vì sao? Vì ba hạng người này không có “trí bẩm sinh trong cơ tánh”.

Có Pāli như sau: Duhetukām’ahetukāmañca pan’ ettha kiriyājavanāni c’eva appanājavanāni ca na labhanti:

“Ở đây, đối với người nhị nhân và người vô nhân, đổng lực duy tác và đổng lực an chỉ (appanā)[23] không hề có”[24].

193 – Hỏi. Trong đời sống bình nhật, người tam nhân có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Trong đời sống bình nhật:

Người tam nhân cõi dục. Là người tục sinh bằng một trong 4 tâm đại quả có trí.

Cơ bản người tam nhân này có được 45 tâm là: 41 tâm như người nhị nhân + 4 tâm đại quả có trí. Nếu chứng đắc thiền định thì tính thêm.

Người tam nhân cõi Sắc giới hữu tưởng. Là người tục sinh bằng một trong 5 tâm quả Sắc giới.

Cơ bản trong đời sống bình nhật có được 30 tâm là: Tâm quả Sắc giới hữu phần + 1o tâm bất thiện (trừ 2 tâm sân) + 2 tâm nhãn thức + 2 tâm nhĩ thức + 2 tâm Tiếp thu + 3 tâm Quan sát + 2 tâm Hướng môn + 8 tâm Đại thiện. Nếu đắc thiền thì tính thêm.

Người tam nhân cõi Vô sắc giới. Là người tục sinh bằng một trong bốn tâm quả Vô sắc giới.

Trong đời sống bình nhật, cơ bản có được 20 tâm là: 1 tâm quả Vô sắc giới (tâm hữu phần) +10 tâm bất thiện (trừ 2 tâm sân) + tâm Hướng ý môn + 8 tâm Đại thiện. Nếu đắc thiền tính thêm, cụ thể là:

*- Người tam nhân cõi Không vô biên xứ, có khả năng chứng đạt bốn từng thiền, như vậy có 24 tâm = 20 tâm cơ bản + 4 tâm thiện Vô sắc giới.

*- Người tam nhân cõi Thức vô biên xứ, có khả năng chứng đạt ba tầng thiền Vô sắc giới là: Thiền Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ, như vậy có được 23 tâm = 20 tâm cơ bản + 3 tâm Thiện Vô sắc giới.

*- Người tam nhân cõi Vô sở hữu xứ, có khả năng chứng đạt 2 tầng thiền Vô sắc là thiền Vô sở hữu xứ và thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ, như vậy có 22 tâm = 20 tâm cơ bản + 2 tâm Thiện Vô sắc giới.

*- Người tam nhân cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chỉ có khả năng chứng đạt thiền Phi tương phi phi tưởng xứ, nên có được 21 tâm.

Nên nhớ: Đối với cõi Vô sắc, cõi cao không chứng thiền bậc thấp.

194 – Hỏi. Thế nào là người Đạo? Có bao nhiêu người đạo?

Đáp. Người Đạo là người chứng đắc Nípbàn đang sát trừ phiền não.

Nói cách khác, người đạo chỉ cho tâm Đạo siêu thế. Người đạo sống chỉ một sátna tâm.

Có tất cả bốn người Đạo là : Người Sơ Đạo, người Nhị Đạo, người Tam Đạo, người Tứ Đạo.

194 – Hỏi. Thế nào là người quả? Có bao nhiêu người Quả?

Đáp. Người Quả là người là người “đã sát trừ được phiền não”.

Có bốn hạng người quả là:

Người Sơ quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ nhất, sát trừ 2 loại phiền não tà kiến và hoài nghi, hay đã diệt trừ được 3 sợi giây trói buộc (saṃyojana) là: Thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ.

Người Sơ quả được tính từ sátna Sơ quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm đắc Sơ đạo cho đến sátna tâm Tiến bậc (vodanā) trong lộ chứng Nhị đạo.

Cho dù trải qua nhiều kiếp sống, nhiều kiếp trái đất vẫn được xem là người Sơ quả.

Người Nhị Quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ hai, đã làm giảm nhiều 2 phiền não là sân và tham dục.

Người Nhị quả được tính kể từ tâm Nhị quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm đắc Nhị Đạo cho đến khi xuất hiện sátna tâm Tiến bậc trong lộ tâm đắc Tam Đạo.

Người Tam Quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ ba, đã sát trừ được 3 phiền não: Tà kiến, hoài nghi, sân, hay đã trừ diệt được năm sợi dây trói buộc vào cõi thấp (là dục giới) là: Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, sân và tham dục.

Người Tam Quả được tính kể từ sátna Tam Quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm chứng đắc Tam Đạo cho đến khi xuất hiện tâm Tiến bậc trong lộ tâm chứng đắc Tứ Đạo.

Người Tứ quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ tư, sát trừ mọi phiềrn não, mọi ô nhiễm (āsava – lậu hoặc).

Người Tứ Quả ám chỉ bậc thánh Alahán, Đức Độc Giác Phật và Đức Phật Chánh Giác.

Người Tứ quả được kể từ sátna Tứ quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm chứng đắc Tứ Đạo cho đến khi Ngài viên tịch (parinibbāna).

196 – Hỏi. Trong đời sống bình nhật, người Quả có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Trong đời sống bình nhật:

1- Người Sơ quả.

*- Người Sơ quả ở 7 cõi vui Dục giới.

Có được 41 tâm là: Lấy 45 tâm phàm tam nhân cơ bản trừ đi (4 tâm tham hợp với tà kiến + tâm si hợp hoài nghi) + tâm Sơ quả.

Nếu đắc thiền thì tính thêm.

*- Người Sơ quả ở cõi Sắc giới hữu tưởng.

Có được 26 tâm là: Lấy 30 tâm cơ bản của phàm tam nhân trừ đi (4 tâm tham hợp với tà kiến + tâm si hợp hoài nghi) + tâm Sơ quả. Nếu đắc thiền thì tính thêm.

*- Người Sơ quả cõi Vô sắc. Có được 16 tâm là: Lấy 20 tâm cơ bản của phàm tam nhân trừ đi 5 tâm bị sát trừ + tâm Sơ quả.

2- Người Nhị quả. Tương tự như người Sơ quả.

3- Người Tam quả. Lấy 41 tâm của người Sơ quả ở 7 cõi vui Dục giới trừ đi (2 tâm sân + tâm Sơ quả)+ tâm Tam quả = 39 tâm. Nếu đắc thiền thì tính thêm.

Cần phân tích theo cõi như đã giải ở phần người Sơ quả.

4- Người Tứ quả. Lấy 39 tâm của người Tam quả trừ đi (5 tâm bất thiện còn lại + tâm Tam quả) + tâm Tứ Quả + tâm Sinh tiếu = 35 tâm.

Nếu đắc thiền thì tính thêm và cần phân tích theo cõi.

197 – Hỏi. Mười hai hạng người được phân bố theo cõi như thế nào?

Đáp. Người khổ có trong bốn cõi khổ.

*- Người lạc vô nhân có trong ba cõi: Người, Tứ đại vương và cõi Vô tường.

*- Người nhị nhân có trong 7 cõi vui Dục giới.

*- Người tam nhân có trong 21 cõi là: 7 cõi vui Dục giới, 3 cõi Sơ thiền, 3 cõi nhị thiến, 3 cõi tam thiền, cõi Quảng quả và 4 cõi Vô sắc giới.

*- Người Sơ đạo có trong 17 cõi là: Lấy 21 cõi của phàm tam nhân trừ thêm 4 cõi Vô sắc. Vì muốn chứng đắc Sơ đạo phải nương sắc pháp để minh quán.

*- Người nhị đạo và người Tam Đạo có trong 21 cõi như phàm tam nhân.

*- Người Tứ đạo có trong 26 cõi, là thêm 5 cõi tịnh cư (Suddhavāsā).

*- Người Sơ quả, người Nhị quả có trong 21 cõi như phàm tam nhân.

*- Người Tam quả và người Tứ quả có trong 26 cõi như người Tứ đạo.

Dứt 12 hạng người.

 

Nguồn: http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-chanhminh/dvtp13.htm

Advertisements


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s