Pháp môn Tịnh-Độ trong kinh điển Pali

Pháp môn Tịnh Độ trong kinh điển Pàli

Toại Khanh

Người Phật tử Việt Nam xưa nay thường biết đến khái niệm Tịnh Độ qua các kinh nói về Phật Di Đà (Amitàbhasutra và Sukhavativyùhasutra ) từ Hán Tạng, vốn được phiên dịch từ kinh điển Sanskrit. Ở đó, cõi Tịnh Độ hay Cực Lạc (từ Phạn ngữ là Sukhavatì) được mô tả là một cảnh giới tuyệt vời với tất cả những thứ du dương, mát mẻ, thơm ngát và không có chuyện đói lạnh. Con đường dẫn đến cõi này có thể chỉ gói gọn trong công phu trì niệm hồng danh Phật Di Đà. Ngoài sự thanh tịnh có được từ việc nhất tâm trong lúc niệm Phật Di Đà, oai lực của Ngài cũng thừa sức tiếp dẫn vong linh đương sự (tức người niệm Phật) vãng sinh về thế giới Tịnh Độ của Ngài để họ tiếp tục tu hành trong điều kiện thuận lợi hơn xưa gấp triệu lần. Trên ấy giữa người với người không hề biết tương tranh, thù hận vì ở đó không có chuyện chiếm hữu lợi danh như ở cõi Sa Bà nhiều kiếp nạn này.

Nhưng đó là theo Hán tạng, nguồn giáo lý chủ đạo của hệ Phật giáo Bắc truyền. Trong bài viết này ta thử tìm hiểu vấn đề qua kinh điển Pàli, nguồn giáo lý căn bản của Phật Giáo Nam phương, xem sao. Dĩ nhiên, trong Tam Tạng Pàli cũng có khái niệm Tịnh Độ (nếu ta muốn gọi thế) với những những trình bày thật rõ ràng về cảnh giới này, những cư dân ở đó và con đường dẫn đến cảnh giới Tịnh Độ, tức phép cầu vãng sanh theo kinh điển Nam Truyền.

I- CÕI TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI

Trước hết, cõi Tịnh Độ được biết đến trong kinh điển Pàli qua danh từ Suddhàvàsa, còn được dịch là Tịnh Cư, theo lối chiết tự Suddha (thanh tịnh) và Àvàsa (chổ ở ). Vậy Suddhàvàsa cũng có thể được dịch là Tịnh Độ, Tịnh Thổ. Thậm chí chữ Pàli này còn gần gũi với chữ Tịnh Độ, Tịnh Thổ hơn là Sukhavati (Chốn An Lạc), một chữ chỉ có thể xem là tương đương với từ Sugati (Lạc Cảnh, Thiện Thú) trong kinh điển Pàli, chỉ chung cho các cõi nhân thiên.

Theo các Chú Sớ A Tỳ Đàm, có tất cả 5 cõi Tịnh Độ, nằm trong 16 cõi Phạm thiên Hữu Sắc, và là chổ tái sanh của các bậc Thinh Văn Bất Lai hay còn gọi là A-Na-Hàm (Anàgàmi, Người-Không-Còn-Trở-Lại-Các-Cõi-Dục-Giới). Tuy cảnh giới này chỉ gồm toàn các vị Bất Lai và La Hán (chứng La Hán sau khi sanh về đây), nhưng trên căn bản vì vẫn là cõi Hữu Sắc nên ở 5 cõi Tịnh Độ này vẫn có những lâu đài, hoa viên rất trang nghiêm, dĩ nhiên không phải là nơi chốn hưởng thụ, mà đó chỉ là những dấu vết tối thiểu của một cõi Ngũ Uẩn [*]. Về tuổi thọ, chư thánh Bất Lai ở cõi thấp nhất trong 5 cõi Tịnh Độ là cõi Vô Phiền (Avihà) có thọ mạng 1000 đại kiếp, cõi kế đến là Vô Nhiệt (Àtappà) có thọ mạng 2000 đại kiếp, cõi thứ ba là Thiện Hiện (Sudassà) có thọ mạng 4000 đại kiếp, cõi thứ tư là Thiện Kiến (Sudassì) có thọ mạng 8000 đại kiếp và cõi Sắc Cứu Cánh (Akanittha) có thọ mạng 16000 đại kiếp.

Do có những lúc trãi qua một thời gian quá dài không có chư Phật ra đời độ sinh, nhân số trên 5 cõi Tịnh Độ chỉ có giảm mà không được bổ sung nên cũng có những thời điểm 5 cõi này không tiếp tục tồn tại.

II -CƯ DÂN TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI

Trước tiên là vài hàng trình bày đại lược về 4 tầng Thánh Trí làm nên 4 bậc thánh nhân và chính đức Phật cũng được kể vào đó. Sơ Quả hay Tu Đà Huờn (Sotàpatti, Dự Lưu ), còn được gọi là Thất Lai, người không thể tái sanh quá 7 lần, là vị đã chấm dứt hoàn toàn 3 thứ phiền não Thân Kiến (nôm na là chấp kiến trong 5 Uẩn), Hoài Nghi (nghi ngờ về Phật Pháp nói chung) và Giới Cấm Thủ (chấp trước các tín điều mù quáng). Ở một số vị, thánh trí Sơ Quả chỉ là một giai đoạn thoáng qua trước khi hoàn tất các tầng thánh trí cao hơn. Như trường hợp đức Phật hoặc các vị Thinh Văn tốc chứng. Nhưng cũng có lúc giai đoạn này kéo dài trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều năm hoặc vài kiếp sống (dĩ nhiên không quá 7 kiếp). Sớ Giải Trường Bộ ghi rằng thiên vương Đế Thích hiện nay là một vi thánh Sơ Quả. Khi hết tuổi thọ, ngài sẽ sinh xuống nhân gian làm Chuyển Luân Vương và chứng đắc Nhị Quả Tư Đà Hàm. Sau đó sanh lên Đao Lợi Thiên chứng Tam Quả A Na Hàm và lần lượt tái sanh ở đủ 5 cõi Tịnh Độ, bắt đầu là cõi Vô Phiền. Cuối cùng ngài sẽ chứng quả La Hán và nhập diệt ở cõi Sắc Cứu Cánh.

Tầng thánh trí thứ hai là Nhị Quả Tư Đà Hàm. Ngoài 3 phiền não đã chấm dứt ở tầng thánh trước, quả vị này còn làm giảm nhẹ Dục Ái và Sân Hận. Do chỉ còn có thể tái sanh cõi Dục Giới một lần nữa thôi, nên quả vị này còn được gọi là Nhất Lai (Sakadàgàmì).

Tầng thánh thứ ba là Tam Quả A na Hàm, chữ phiên âm từ tiếng Pàli là Anàgàmi, nghĩa là bậc Bất Lai, người không còn trở lui các cõi Dục Giới nữa ( có tất cả 11 cõi Dục Giới). Theo A Tỳ Đàm Tạng Pàli thì do đã chấm dứt Dục Ái (niềm tham luyến trong ngũ trần) và Sân Hận nên vị thánh Tam Quả trong trường hợp không thể chứng La Hán rồi nhập diệt ngay đời này thì chỉ có hai con đường để đi:

A- Nếu đã chứng đắc Ngũ Thiền thì sẽ tùy theo khả năng mạnh yếu của Ngũ Quyền (Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ) mà sanh về cõi nào đó trong 5 cõi Tịnh Độ. Tín Quyền nổi trội thì sanh về cõi Vô Phiền, Tấn Quyền hùng hậu thì về cõi Vô Nhiệt, Niệm Quyền hùng hậu về cõi Thiện Hiện, Định Quyền hùng hậu thì về cõi Thiện Kiến, Tuệ Quyền thâm hậu thì sanh về cõi Sắc Cứu Cánh (Pàli gọi là Akanittha, Không-Thứ-Gì-Yếu-Kém). Ở cõi Tịnh Độ thứ năm này toàn bộ Ngũ Quyền đều được sung mãn, vì đây là nơi chốn sau cùng để một vị Bất Lai chứng quả La Hán và nhập diệt.

B- Trong trường hợp vị thánh Bất Lai chưa chứng qua một tầng thiền định nào, tức chỉ có trí tuệ Thiền Quán (Vipassanà) mà không từng tu tập thiền Chỉ (Samatha) thì lúc mạng chung, vị này do khả năng ly dục vô sân tuyệt đối nên tối thiểu cũng thành tựu Sơ Thiền trước khi mạng chung ở cõi Dục giới và như vậy cũng đủ để sanh về cõi Phạm Thiên thấp nhất là Phạm Thiên Sơ Thiền.

Do túc duyên và trình độ tu chứng có khác nhau nên giữa các bậc thánh Tam Quả cũng có vài sai biệt, theo Manorathapurani, Chú Sớ Tăng Chi Bộ (Phần Tika):

– Antaràparinibbàyì (Tiền Bán Niết Bàn): vị Bất Lai chứng La Hán khi chưa sống hết phân nửa thọ mạng cõi Tịnh Độ nào đó trong 5 cõi.

– Upahaccaparinibbàyì (Hậu Bán Niết Bàn): Chứng La Hán sau khi sống hơn nửa thọ mạng ở cõi Tịnh Độ nào đó.

– Uddhamsoto Akanitthagàmì (Luân Lưu Niết Bàn): Do căn tánh không xuất sắc, có vị Bất Lai phải lần lượt sanh đủ 5 cõi Tịnh Độ mới chứng quả La Hán rồi nhập diệt ở cõi Tịnh Độ cao nhất.

– Asankhàraparinibbàyì (Bất Lao Niết Bàn): Vị Bất Lai có thể chứng La Hán mà không cần nhiều cố gắng.

– Sasankhàraparinibbàyì (Cần Lao Niết Bàn): Vị Bất Lai phải nhiều nổ lực mới có thể chứng La Hán.

Tầng thánh trí thứ tư chính là quả vị La Hán, người chấm dứt toàn bộ phiền não. Theo A Tỳ Đàm Pàli thì có 3 quả vị La Hán: Chư Phật Chánh Đẳng Giác (sammàsambuddha hay Sabbannubuddha – Toàn Giác) cũng là những vị La Hán nhưng do tự mình chứng đắc và là đạo sư hướng dẫn cho những người hữu duyên chứng đắc La Hán. Những vị La Hán đệ tử này được gọi là Thinh Văn Giác (Sàvakabuddha). Quả vị La Hán thứ ba là Độc Giác Phật (Paccekabuddha), những vị tự mình chứng ngộ La Hán nhưng không thể hướng dẫn người khác chứng ngộ La Hán. Kinh điển Hán Tạng còn gọi Độc Giác Phật là Duyên Giác Phật vì cho rằng các ngài nhờ liễu ngộ nguyên lý Duyên Khởi mà giác ngộ (cách nghĩ này bắt nguồn từ những giai thoại về chư Phật Độc Giác trong Chú Sớ Tiểu Bộ Kinh, một trong những bộ phận kinh điển từng làm nền tảng cho nhiểu kinh luận hậu tác, ai từng đọc kỹ các bộ A Hàm sẽ thấy rõ điều này). Kỳ thực, nếu đọc kinh Đại Duyên trong Trường Bộ Kinh, ta sẽ thấy lý Duyên Khởi và lý Tứ Đế (vẫn bị hiểu lầm là dành riêng cho Thinh Văn) vốn dĩ chỉ là một. Trong Trung Bộ Kinh, đức Phật đã xác định ai thấy lý Duyên Khởi chính là thấy Pháp và ngược lại. Đồng thời, không hề có chuyện một người giác ngộ lý Tứ Đế mà lại mơ hồ về lý Duyên Khởi hay ngược lại. Tất cả quả vị La Hán vừa nêu trên đây luôn giống nhau về khiá cạnh giác ngộ các pháp cần yếu (như Tứ Đế, Duyên Khởi,..), chỉ khác ở hai điểm chính: Tự mình hiểu ra hay phải nhờ thầy hướng dẫn, và điểm thứ hai là ngoài trí tuệ giác ngộ có còn khả năng hiểu biết sâu rộng những gì nằm ngoài lý tưởng giác ngộ hay không. Xét về khía cạnh này, chỉ có chư Phật Chánh Đẳng Giác là viên mãn. Trong bài viết này chúng ta chỉ đặc biệt nhấn mạnh quả vị Bất Lai, vì đề tài ở đây là các cõi Tịnh Độ.

III- PHÉP VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI

Vãng sanh vẫn được dùng song song với chữ siêu sanh, nhưng theo tinh thần A Tỳ Đàm Pàli mà nói thì Siêu Sanh còn có thể được hiểu là vượt thoát tái sanh, một điều chỉ thực hiện được bởi một vị La Hán. Như vậy trong trường hợp vị Bất Lai sanh về các cõi Tịnh Độ chỉ có thể gọi là Vãng Sanh. Và nếu phải trả lời câu hỏi về con đường vãng sanh Tịnh Độ, thì như tất cả những gì vừa nêu phần trên, ta hoàn toàn có thể nói rằng Vãng Sanh Tịnh Độ chỉ là một phần đường trên hành trình giải thoát của một vị Thinh Văn, và như thế cái gọi pháp môn Tịnh Độ hay con đường vãng sanh trong trường hợp này cũng đồng nghĩa với hành trình Tam Học, hành trình Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, nói chung là hành trình 37 Bồ Đề Phần. Các pháp trong 37 Bồ Đề Phần đối với nhau chỉ là mối quan hệ Tương Tức: Cái này chính là cái kia, trong cái kia có cái này.

Đã nói rõ ràng như vậy thì lời đáp cho câu hỏi về con đường vãng sanh lúc này đã là toàn bộ những gì mà ta vẫn gọi là Phật Pháp và theo cách hiểu này, pháp môn Tịnh Độ cần thiết cho tất cả mọi người, chỉ trừ những vị nuôi hạnh Bồ Tát, muốn trở thành một đức Phật Chánh Đẳng Giác trong tương lai. Một khi đã chấp nhận ghé bến Tịnh Độ thì không thể đi xa hơn nữa. Bởi theo kinh điển Pàli chỉ có hàng Thinh Văn mới có thể rơi vào trường hợp kéo dài thời gian sau khi chứng ngộ một quả vị Hữu Học nào đó, chỉ vì khiếm khuyết túc duyên. Bởi rõ ràng 5 cõi Tịnh Độ chỉ là trạm trung chuyển cho những người chậm bước và điều này dĩ nhiên không thể xảy ra đối với chư Phật.

Đồng thời, chiếu theo tinh thần căn bản của Phật Giáo mà nói thì khi nhắc đến pháp môn Tịnh Độ, ta còn phải định nghĩa lại chữ CẦU trong CẦU VÃNG SANH vì Cầu Vãng Sanh không hề có nghĩa là chờ đợi sự tiếp dẫn của bất cứ ai, mà phải là sự lên đường bằng chính đôi chân của mình. Vì sao lại thế? Xin thưa: Khi ta nói ai đó đã sáng thế có nghĩa là ta đang gián tiếp nguyền rủa kẻ đã tạo nên một thế giới khổ nhiều hơn vui, và khi ta cường điệu cái gọi là oai lực gia trì của chư Phật có nghĩa là ta đang thầm trách các Ngài khi Phật lực thì trùng trùng nhưng người khổ vẫn cứ điệp điệp.

Mong thay!

TOẠI KHANH

FLORIDA, MÙA TỰ TỨ 2005

 

[*] Theo A Tỳ Đàm Pàli, trong cái gọi là thế giới này gồm có 31 cõi với 11 cõi Dục giới (có đủ 5 uẩn), 16 cõi Sắc giới (trong đó có cõi Vô Tưởng, chỉ có Sắc uẩn mà thôi), và 4 cõi Vô Sắc (chỉ có 4 uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Xin xem thêm trong các sách Abhidhammatthasangaha (Thắng Pháp Tập Yếu Luận, bản dịch của ngài Minh Châu), The Essence Of Buddha Abhidhamma của giáo sư Mehm Ti Mon (sách miễn phí trên Internet), Chúng Sanh và Sinh Thú của ngài Jotikàcariya (bản tiếng Việt của Toại Khanh)…

-ooOoo-

Advertisements

Về việc hồi hướng phước báu

Về việc hồi hướng phước báu

Bhikkhu Indacanda

HỒI HƯỚNG PHƯỚC BÁU ĐẾN THÂN BẰNG QUYẾN THUỘC ĐÂ QUÁ VÃNG:

(Trích Petavatthu – Chuyện Ngạ Quỷ, xem ở www.paliviet.info)

 

Nhân lúc đọc kiểm tra lại tập Kinh Petavatthu – Chuyện Ngạ Quỷ, thấy câu chuyện này hay và súc tích nên post trọn vẹn để thuận tiện cho Bà Con Cô Bác đọc và suy nghĩ. Ở Sri Lanka, sau khi cúng dường cơm nước, thí chủ được hướng dẫn đọc câu Pali này 3 lần, đọc rõ thành tiếng: ‘Idaṃ me ñātīnaṃ hotu sukhitā hontu ñātayo = ‘‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’

3. 2.

413. Vị trưởng lão của thành phố Kuṇḍi có sự cư ngụ ở núi Sānuvāsī, có tên là Poṭṭhapāda, là vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập.

414. Mẹ, cha, em trai của vị ấy bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.

415. Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ hãi, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.

416. Người em trai của vị ấy, lõa lồ, một mình trên lối đi bộ, quỳ chống hai tay, đã vội vã tiến đến và hiện hình ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.

417. Và vị trưởng lão không để ý đến, có trạng thái im lặng, đã bước đi. Và người ấy đã cho vị trưởng lão biết rằng: ‘Tôi là em trai, đã trở thành ngạ quỷ.

418. Thưa ngài, mẹ và cha của ngài bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.

419. Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ hãi, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.

420. Là người có lòng bi mẫn, xin ngài hãy thương xót. Xin ngài hãy bố thí rồi chỉ định (việc ấy là) dành cho chúng tôi. Nhờ vào vật thí đã được ngài bố thí, những kẻ có nghiệp ghê rợn sẽ được nuôi sống.

421. Sau khi đi khất thực, vị trưởng lão và mười hai vị tỳ khưu khác nữa đã tụ tập tại một chỗ vì nguyên nhân phân phối vật thực.

422. Vị trưởng lão đã nói với toàn bộ tất cả các vị ấy rằng: ‘Xin các vị hãy cho tôi phần đã nhận được, tôi sẽ thực hiện bữa ăn dâng đến Hội Chúng, vì lòng thương xót các thân quyến.’

423. Các vị đã trao cho vị trưởng lão. Vị trưởng lão đã thỉnh mời hội chúng. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:

424. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì vật thực đã được sanh lên ngay lập tức.

425. (Vật thực) là sạch sẽ, hảo hạng, được đầy đủ, có nước xúp với nhiều gia vị. Kế đó, người em trai đã hiện ra, có sắc vóc, có sức mạnh, có sự an lạc.

426. ‘Thưa ngài, có nhiều thức ăn rồi. Xin ngài hãy nhìn xem chúng tôi bị lõa lồ. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được vải vóc.’

427. Sau khi góp nhặt những mảnh vải rách từ nơi đống rác, vị trưởng lão đã chế biến vải vụn thành y phục rồi dâng đến Hội Chúng bốn phương.

428. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’

429. Khi được chỉ định thì các vải mặc đã được sanh lên ngay lập tức. Kế đó, được mặc vải đẹp, (người em trai) đã hiện thân ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.

430. ‘Thưa ngài, các vải vóc ở lãnh thổ của đức vua Nanda nhiều chừng nào, thì các vải vóc và các y phục của chúng tôi còn nhiều hơn thế ấy.

431. Chúng bằng tơ lụa, sợi len, sợi lanh, và bông vải. Chúng dư thừa và có trị giá cao, hơn nữa chúng treo lòng thòng ở không trung.

432. Chúng tôi đây chỉ khoác vào cái nào thích ý. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nhà ở.’

433. Sau khi làm cái cốc bằng lá, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:

434. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì các ngôi nhà đã được sanh lên ngay lập tức.

435. Những ngôi nhà mái nhọn và các chỗ ngụ là được phân chia thành từng phần cân xứng. Các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây như thế nào thì ở loài người không có như thế này.

436. Ở các cõi trời như thế nào thì các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây như thế ấy. Trong lúc tỏa sáng rực rỡ, chúng chiếu sáng bốn phương ở xung quanh.

437. ‘Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nước uống.’ Sau khi làm đầy bình đựng nước, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương.

438. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’

439. Khi được chỉ định thì nước uống đã được sanh lên ngay lập tức. Có các hồ sen sâu thẳm, hình chữ nhật, đã khéo được hóa hiện ra.

440. Có nước trong, có những bến bãi xinh đẹp, mát mẻ, có mùi thơm, được che phủ bởi nhiều loại sen đỏ và sen xanh, tràn ngập nước và phấn hoa.

441. Sau khi tắm và uống nước ở nơi ấy, họ đã xuất hiện cho vị trưởng lão thấy (nói rằng): ‘Thưa ngài, có nhiều nước uống rồi. Các bàn chân của chúng tôi bị nứt nẻ đau đớn.

442. Trong khi lang thang, chúng tôi đi khập khiễng ở nơi sỏi đá, ở gai nhọn của cỏ kusa. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được phương tiện di chuyển.’

443. Sau khi nhận được chiếc giày, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:

444. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì ngay lập tức các ngạ quỷ đã đi đến bằng cỗ xe.

445. ‘Thưa ngài đại đức, chúng tôi đã được thương xót với vật thực, với y phục, với ngôi nhà, với sự bố thí nước uống, với sự bố thí phương tiện di chuyển, và cả hai. Thưa ngài, chúng tôi đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.”

Chuyện Ngạ Quỷ ở Núi Sānuvāsī là thứ nhì.

THẢO LUẬN

Anh Phan:

Giữa việc dân gian đốt vàng mã là áo quần, mũ nón, giày dép, mô hình ngôi nhà và xe hơi,…với việc làm phước bố thí các vật dụng thiết yếu cho Hội chúng có liên hệ gì không? Theo câu chuyện trên thì sự hồi hướng sau khi bố thí là có hiệu quả tức thì và có lợi lạc. Còn việc đốt vàng mã nghe nói chỉ làm thỏa mãn tâm tính của người thân đã quá vãng thôi, tức chỉ cho họ cái Tưởng là người thân còn sống có quan tâm đến họ.

Con xưa nay trong tư gia không bao giờ đốt vàng mã, mặc dù trong xóm họ đốt như cháy rừng, thà làm một việc phước nhỏ mà hồi hướng xung quanh ngôi nhà còn hơn :)

Hiếu Nguyễn:

Xin thành kính tri ân Sư đã dịch bộ Petavatthu.

Từ khi đọc bộ Petavatthu này, con đã làm được nhiều điều phước thiện để hồi hướng phước cho các thân bằng quyến thuộc 2 bên nội ngoại.

Thực không có bộ Kinh nào khuyến khích/cưỡng ép/thúc đẩy (:D) mọi người làm các việc phước thiện bằng bộ Petavatthu này.

Ngoài ra sau khi đọc trọn bộ xong, con đã có thêm kiến thức về các cảnh, cõi và về loại chúng sinh Peta này, theo kinh điển Pali.

Hoa Nguyen:

Hồi hướng công đức, phước đức đã có từ thời Phật giáo Nguyên Thuỷ (hay từ Theravda), như thấy ở đây, qua các chuyện kể về ngạ quỷ. Ở Bắc tông, hồi hướng đi xa hơn, vì chịu thêm ảnh hưởng của nhiều tín ngưỡng, tôn giáo có trước Phật giáo ở các điạ phương. Từ niềm tin về hồi hường đi tới niềm tin ở tha lực (hồi hưóng là tác động của tha lực), cho nên dễ thấy có sự phát triển về các hình thức niệm Phật để được Phật , Bồ tát hộ trì, hay niệm chú để tâm tương ưng với chư Phật.

Phạm Doãn:

Tôi tin là có sự câu thông giữa các cá thể, nhất là khi cùng huyết thống. Các đạo sư Ấn Độ hay nói “Tất cả là một, một là tất cả”. Nhưng để hình dung sự cúng dường, hồi hướng với sự hiện lên các vật thực, nhà cửa v.v.. thì quả là lúc này tôi chưa hiểu thấu được! Tôi chỉ hình dung được là: khi ta làm được nhiều công đức, thành tâm thương tưởng, có ý giúp đỡ thân nhân quá vãng thì các vong hốn trong cõi Peta đó sẽ được an ủi, bớt khổ đau, sớm được giải thoát lên các cảnh giới tốt hơn…và chỉ hình dung được như thế thôi!

Phạm Doãn:

Đoạn kinh này:

“413. Vị trưởng lão của thành phố Kuṇḍi có sự cư ngụ ở núi Sānuvāsī, có tên là Poṭṭhapāda, là vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập. …”

mô tả trải nghiệm trong cõi Peta của một người tu tập thiền định thành tựu!

Có lẽ vì thế, mà khi cúng dường, hồi hướng cho thân nhân, thì thần thông của ngài có thể thực hiện được như vậy!

Phạm Doãn:

Vài ngày nữa là đến giỗ cha tôi.

– Cả nhà vẫn giữ truyền thống thờ phụng, cúng bái ông bà. Con cháu vẫn mong làm gì đó để hồi hướng cho người đã chết.

– Nếu người đã mất, có được những con cháu đức hạnh, hay làm được nhiều điều thiện trong đời, thì chắc họ cũng được an ủi phần nào (qua tương ưng của tâm), có thể là được sớm thoát khỏi cảnh giới khổ!

– Còn về những nghi lễ được đẩy lên đến mức tin tưởng tha lực, dị đoan, tệ nạn: Thày tụng, thày cúng, cầu siêu, đốt vàng mã v.v…(mong thực hiện giải thoát cho người đã chết) thì Đức Phật đã có giải thích rõ về những tà kiến này trong: Kinh: Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết (S.iv,311). Đại ý kinh: Chẳng ai có thể xóa nghiệp hay thực hiện giải thoát cho người khác được!

– Kinh Tương Ưng, Tập 4, thiên 6 xứ, [42] chương 8, Tươngưng thôn trưởng

http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-42.htm

Tuong Ung – Tap 4 – Chuong 42

Hoa Nguyen

‎”Thày tụng, thày cúng, cầu siêu” có thể giúp thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỷ hay địa ngục. Vì hương linh khi nghe kinh Phật có thể sinh tâm sám hối (có tụng kinh sám hối trong các lễ đó), quy ngưỡng Phật pháp, tội sẽ nhẹ đi vàđược siêu thoát. Chắc chắn siêu thoát không phải nghĩa “giải thoát” , mà chỉ là thoát ra khỏi cảnh khổ đang sống trong đó. Tâm từ của người theo Bồ tát đạo rải rộng khắp mọi chúng sinh, không phân biệt (đó là nói theo nguyên tắc, đạo lý chung). Ngay trong đời sống, một người bình thường có thể giúp được một người bình thường khác gặp khổ nạn nếu dùng đúng phương tiện, nên suy ra con người có thể giúp vong linh với phương tiện thích hợp. Kinh Nam tông không thể ghi chép hết lời Phật dạy về hơn 84 ngàn trường hợp klhác nhau ở 6 cõi luân hồi. Cho nên không thể dựa vào điều kinh Nam tông không ghi chép mà cho là không nên làm, chỉ không làm khi nào trái với lời ghi là Phật dạy.

Phạm Doãn

‎- Nghiệp chướng vừa là cái riêng, vừa là cái sở hữu tập thể của mọi sinh linh. Do đó, nghiệp của người này có thể tương tác với nghiệp người kia. Ở mức độ nào thì chỉ có bậc toàn giác mới thấu hiểu triệt để.

– Việc nhấn mạnh khái niệm “cứu rỗi” (Catholique) hay “cầu siêu” (PG phát triển) thành phương pháp tiêu trừ nghiệp chướng chắc chắn sẽ làm lệch con đường Chánh. Một người tự mình đã “siêu” rồi thì may ra mới có thể giúp cho người khác “siêu” được. Tâm phàm phu làm sao có thể cầu siêu cho ai được!

– Bỗng nhớ đến Thanh Hải Vô Thượng Sư, một vị cổ phật, một tái sinh của phật Quán âm (như đệ tử của ngài xưng tụng!). Sau mỗi buổi lễ “truyền tâm ấn”, ngài tuyên bố đã rửa sạch nghiệp quá khứ cho tất cả các đệ tử thọ pháp. Sau thời điểm tâm ấn, thì ai tạo nghiệp người ấy tự gánh chịu. Chính vì khả năng rửa sạch nghiệp cho người khác, mà đệ tử của ngài rất đông!

Hoa Nguyen

Tôi vừa tìm vào trang nhà Buddhanet ở bài KINH TỤNG của THERAVĀDA của PHẬT GIÁO

Dịch giả: TỊNH TÂM

(Hòa thượng HỘ TÔNG)

Ấn bản 2005

Thấy có phần (41) sau đây nhưng toàn tiếng Pali. Không dám nói là như vậy không dành cho vong VN, nhưng thật đáng tiếc vì không hiểu được nghĩa.

VI DIỆU TẠNG (PHÁP TỤ) KINH TỤNG TRONG ĐÁM CÚNG VONG NHÂN

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-nhat-tung/ktung04.htm

Kinh Tung – HT Ho Tong

www.buddhanet.net

Hoa Nguyen

Tôi đồng ý với ông Phạm Doãn là không có ai, hay đấng nào có thể giúp con người rửa sạch hết tội, trừ hết những sai phạm của chúng ta trong quá khứ (nhiều kiếp). Nhưng theo Phật giáo (mà tôi hiểu) khi chân thành sám hối và hứa nguyện không tái phạm thì tội sẽ được giảm rất nhiều, tâm sẽ an hơn (không còn ray rứt, buồn phiền), và như thế mới có thể làm được việc thiện trong tương lai để bù đắp, chuộc lại lỗi lầm với những người mình đã có hành động không tốt. Tất nhiên có những cái quả xấu trước kia vẫn phải trả, nhưng cũng được thêm nhiều quả thiện sau lần sám hối thực tâm đó. Thật ra, luật nhân quả không phải dễ hiểu vì do nhiều nhân duyên chằng chịt tác động (kinh Hoa Nghiêm gọi là trùng trùng duyên khởi), chỉ những bậc chứng đạo mới thấy hết các đầu mối và hậu quả. Dù sao cũng không nên hiểu một cách đơn giản, máy móc. Còn về từ “siêu thoát” chỉ có nghĩa là thoát cảnh khổ ở dưới để vượt lên cõi trên sung sướng, và cái trên này có thể là cõi trời, thậm chí là cõi người cho các loài chúng sanh ở các cõi thấp hơn. Trong các chuyện ngạ quỷ ở đây, tôi nhớ có chuyện một vong được lên cõi trời. Như thế là siêu thoát. Trong kinh ông Doãn dẫn chứng, Phật cũng dạy kẻ ăn ngay ở lành sẽ được sinh Thiên. Tôi chỉ biết ở Bắc tông có pháp tu Thập Thiện , giữ và làm 10 điều lành (khiến liên tưởng đến 10 điều răn của đạo Do Thái và Thiên Chúa), khi chết có thể lên cõi Thiên, nhưng thuộc Dục giới, thấp hơn người tu Định thành tựu được lên từ cõi Trời Sắc giới trở lên. Còn “Giải thoát” theo đạo Phật là nhập Niết Bàn, thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, ra khỏi lục đạo. Có thể người theo Bắc tông dùng chữ “siêu thoát” cũng để chỉ về cõi Cực Lạc của tông Tịnh Độ. Nhưng Cực Lạc chỉ như cõi Trời (lên được đó còn phải tu nhiều), chưa phải Niết Bàn, nhưng vong khi còn sống không niệm Phật khi chêt rồi làm sao vãng sinh về nơi đó được (theo giáo thuyết Tịnh Độ tông).

Anh Phan:

Nói về chuyện “Hộ niệm vãng sanh cực lạc quốc”, Sư phụ PA có giải thích như sau: Theo như pháp môn này, chỉ cần hộ niệm cho người sắp chết hay người đã chết thì người đó – là kẻ ác, kẻ bất nhân, kẻ cướp, kẻ giết người, kẻ suốt đời không tu tập thiện pháp,…(Không ai biết chắc tất cả xác chết kia đều là người hoàn toàn thiện) sẽ đến Nước Cực Lạc, thì chắc chắn nước ấy không còn là nơi cực lạc nữa. Vì những người này sẽ mang các tập khí, bản tính tham lam, hung hăng, trộm cắp, ngu muội lên trên đó, và như vậy trên đó cũng có những đội quân bảo an như cảnh sát, quân đội,…để canh chừng những người này. Vì vậy đừng nghĩ rằng sống làm tất cả điều ác mà chỉ cần tụng niệm một tiếng gì đó khi sắp chết là rửa sạch tất cả tội lỗi. Điều này không đúng với sự vận hành tự nhiên của Pháp.

Tứ Diệu Đế Dạ, Tứ Diệu Đế khi nghe kinh hoặc đọc kinh còn chưa siêu được, tâm sân si mạn nghi còn đầy, huống chi là lúc mình chết được nghe kinh.

Hoa Nguyen:

Pháp Hộ niệm là của tông Tịnh Độ cũng rất có ý nghĩa.

Người lúc sắp chết thường sợ hãi, luyến tiếc cuộc sống, gia đình, tài sản nên rất đau khổ khi “biết” sẽ phải lìa khỏi cõi đời, sẽ mất tất cả. Ai có thể giúp họ lúc đó vượt khỏi những đau đớn thân xác và đau khổ tinh thần như vậy là người có lòng nhân ái (còn bỏ mặc họ thế nào có phải thiếu lòng nhân không ?). Hộ niệm, tụng đọc kinh Phật trước người sắp lâm chung sẽ có giá trị lớn nếu ngày thường người đó có lòng tin ít nhiều ở kinh Phật họ đã quen nghe, quen đọc, vì câu niệm lời kinh có thể tác động lên tâm trí không còn tỉnh táo, gần mê mang của họ. Đối với người (hay có gia đình) theo Bắc tông mà đọc kinh Pali hay làm phép rửa tội thì chắc không được nhiều hiệu quả (trong việc làm giảm đau khổ) vì người sắp chết không hiểu được gì. Nhưng đa số người VN (xin dè dặt với chữ đa số” này) quen thuộc với kinh kệ Bắc tông ngay từ nhỏ, ít ra nghe và thuộc được câu niệm hồng danh Phật A Di Đà, thì nếu có nhiều người bên cạnh đồng thanh niệm danh hiệu đó, gọi là hộ niệm, chắc chắn sẽ có kết quả lên tâm trí, tâm tình, và tâm linh người sẽ ra đi. Người sắp mất sẽ nghe, có thể niệm thầm theo, và với niềm tin trong cơn tuyệt vọng, không biết bấu víu vào đâu, họ ít ra thấy đỡ sợ hãi, đau khổ hơn. Bắc tông còn tin, giai đoạn cận tử rất quan trọng đối với người phải đi đầu thai theo nghiệp, nên nếu tâm ý họ được an tịnh hơn do thiện nghiệp vừa phát sinh, họ sẽ được đầu thai vào những nơi an lạc (tin là có thể gặp lại Phật pháp dù không được vãng sinh), còn nếu tâm mang nặng sợ hãi, đau buồn sẽ dẫn họ vào còn đường luân hồi xấu ác. Với Nam tông nếu tin chết là đầu thai liền, thì có lẽ việc hộ niệm, tụng kinh cho người sắp chết nghe là không cần thiết, điều này tôi hiểu và không tranh cãi.

Với vong lời niệm Phật có tác dụng gì không ? Bắc tông giải thích là niệm Phật cho người sắp chết và cả cho vong nghe là để đánh thức chủng tử (hạt giống) Phật pháp đang nằm sâu trong tiềm thức hay thức A-lại-da của họ. Khi còn sống do nhân duyên nào đó, họ đã có dịp vun trồng, nuôi dưỡng các chủng tử thiện đó, và sau này có thể quên mất, bỏ mặc cho chủng tử thiện khô cằn, thui chột. Nhưng nếu được nhắc lại bằng hộ niệm, người sắp mất hay vong sẽ nhớ lại.

Hoa Nguyen

‎”Điều này không đúng với sự vận hành tự nhiên của Pháp” (Anh Phan). Vận hành tự nhiên của Pháp là thế nào, ai dám chắc mình hiểu được.

“Tứ Diệu Đế khi nghe kinh hoặc đọc kinh còn chưa siêu được, tâm sân si mạn nghi còn đầy, huống chi là lúc mình chết được nghe kinh.” Câu viết vớ vẩn như thế này (lấy mình ra làm nhân chnứg của đệ tử TL) mà có người “Like” thì lạ thật. Làm sao biết chắc mình không “siêu” khi mình còn chưa chết, và có thể vì đọc kinh như két, dẫn chứng kinh tràng giang đại hải, mà không hiểu nghĩa kinh. Còn vong cũng có nhiều loại hạng (giống như loài người) làm sao chắc là không có vong nào siêu thoát lên cõi người hay cõi trời khi nghe kinh. Kinh Nam tông kể chuyện Phật giảng kinh ở cõi Trời, kinh Bắc tông kể chuyện Bồ tát Điạ Tạng giảng kinh ở nơi điạ ngục, tin cả hai hay tin thế nào là tuỳ người.

Karmalaw Net nếu dâng lên Hội chúng ở bốn phương với lòng hồi hướng cho chúng sinh khắp nơi thì sao nhỉ? Vì nếu luân hồi suy rộng ra thì chúng sinh nào cũng từng có quan hệ cha mẹ với chúng ta cả mà?

Hoa Nguyen:

Hồi hướng cần có Tín tâm và Định lực. Nếu không có niềm tin vững về hiệu quả của hồi hướng và thiếu khả năng tập trung tâm ý cao, việc hồi hướng tuy phát khởi từ lòng thành, từ thiện tâm, cùng với công đức tạo được cũng có thể không đạt …See More

Karmalaw Net: của thiên trả địa thôi mà…

Anh Phan

Bác Hoa Nguyen: “Vận hành tự nhiên của Pháp là thế nào?” Lấy dẫn chứng như việc học văn hóa chẳng hạn (Pháp là bao trùm mọi lĩnh vực), một học sinh ban đầu phải đăng ký vào học lớp 1, không học sinh nào đốt cháy giai đoạn như ngay từ đầu đăng ký vào học đại học liền được. Nên khái niệm “siêu thoát” nghe có vẽ đốt cháy giai đoạn quá, người mà không lo tu tập thiện pháp gì cả, buông lung, làm ác thì để cho người ta trả quả khổ sau khi chết cho rồi, siêu thoát cho họ làm chi, cứ để cho họ biết khổ mà học ra bài học xương máu về cái sai trái của mình để rồi nghiệm ra cách thoát cái khổ này, người khác siêu thoát cho họ thì họ sẽ ỉ lại và cứ thế họ khổ hoài, không tự thoát khổ được, rồi lại nhờ siêu thoát giùm hoài. Đạo Phật là đạo tự mình giác ngộ mà, không ai giác ngộ giùm được ngay cả Đức Phật huống hồ là những phàm nhân, Đức Phật chỉ đường cho mà đi thôi. Siêu thoát cũng vậy, tự lo mà siêu đi không ai siêu giùm cho được.

PA hiểu “siêu” là siêu cái tâm sân, si, mạn, nghi của mình đi, chứ người khác hộ niệm cho rồi siêu lên cảnh giới an lạc như cảnh người, cảnh trời thì ai dám chắc mình làm được, kiểm chứng được.

Anh Phan

Hay “siêu” có nghĩa là “hồi hướng phước” như trên? Như vậy thì vẫn có tác dụng nho nhỏ (chỉ có một ít chúng sanh nhận được quả hồi hướng phước). Hôm nay PA có đi dự một lễ hộ niệm, nhìn kỹ thấy quý Thầy oai nghi tế hạnh rất thô tháo trong cuộc lễ, kết quả có thể tác dụng ngược, vì các vong rất nhạy cảm các trạng thái tâm lý của người sống. Tóm lại, mục đích tối thượng của đạo Phật là giải thoát khổ luân hồi, còn luân hồi còn khổ.

Hoa Nguyen

‎”PA hiểu “siêu” là siêu cái tâm sân, si, mạn, nghi của mình đi, chứ người khác hộ niệm cho rồi siêu lên cảnh giới an lạc như cảnh người, cảnh trời thì ai dám chắc mình làm được, kiểm chứng được.”

Cái tâm sân, si, mạn, nghi ở đây có ai dám chắc là “siêu” được. “Ai” là những ngjười đọc dòng chữ này. Chỉ là mong cầu như thế thôi, dù đang tu luyện Minh sát hay An chỉ. Dù qua được cái sân thì cái si vẫn còn nặng lắm. Còn Niết bàn làm sao kiểm chứng được, khi những điều trong Vi Diệu pháp cũng thấy là khó kiểm chứng, chỉ đón nhận bằng niềm tin. Nên khiêm tốn để nhận đạo Phật là tôn giáo nên đầy dẫy niềm tin không kiểm chứng được hết. Ai tin thì theo, hay tin gì thì làm theo nấy, đừng tưởng mình “duy lý” mà chê bai kẻ khác “mê tín”. Thật ra cái gọi là “duy lý” đó là do tinh thần duy vật được rao giảng, ép buộc phải tin trong thời gian gần đây thôi.

Hoa Nguyen

Trong lần giảng về Thiền ở Đài Loan, có người hỏi thiền sư Pa-Auk Tawya Sayadaw (U Acinna) về trường hợp cận tử và ngài trả lời như sau.

Hỏi : Trường hợp một người sắp chết, nếu có chánh niệm mạnh mẽ, họ có thể ngăn một nghiệp tướng (kamma nimitta) thuộc bất thiện nghiệp hay thiện nghiệp trước đó không cho khởi lên được không?

Đáp: Niệm mạnh và vững chắc có thể ngăn các nimitta (tướng) như vậy không cho khởi lên; nhưng niệm mạnh và vững chắc là như thế nào? Nếu một hành giả nhập thiền (jhāna), và duy trì thiền ấy hoàn toàn vững chắc cho đến thời điểm chết, hành giả có thể nói rằng niệm thuộc thiền ấy là mạnh và vững chắc. Loại niệm đó có thể ngăn một tướng bất thiện hoặc một tướng thuộc thiện dục giới không cho khởi lên. Nó chỉ bắt lấy đối tượng thiền, như tợ tướng hơi thở hoặc tợ tướng kasiṇa trắng chẳng hạn.

Một loại niệm mạnh và vững chắc khác là niệm kết hợp với Minh Sát Tuệ. Nếu Minh Sát Tuệ của hành giả là Hành Xả Tuệ (sankhārupekkhañāṇa), và nếu hành giả hành Minh sát (vipassanā) cho đến sát-na cận tử, thì tốc hành tâm cận tử của hành giả là minh sát tuệ kết hợp với niệm mạnh và vững chắc. Loại niệm đó cũng có thể ngăn các tướng bất thiện không cho xuất hiện, cũng như ngăn các tướng thiện khác xen vào thay thế tướng Minh sát của hành giả. Tướng Minh sát ở đây là tính chất vô thường, khổ và vô ngã của một “hành” (sankhāra) đã chọn. Hành giả có thể chết với một tướng như vậy làm đối tượng cho tốc hành tâm cận tử (maranasanna javana) của mình. Nó có thể tạo ra một kiết sanh thức thuộc chư thiên (deva paṭisandhicitta) nhờ vậy hành giả được tái sanh tức thời như một vị chư thiên.

Đọc đoạn trên có thể hiểu tác dụng của Hộ Niệm đối với người đang lâm chung. Vài người không hiểu hay cố ý hiểu lầm “hộ niệm” để chỉ trích pháp này. Trước 1975, tôi nhớ ở miền Nam có từ (nữ) “hộ sinh” và được chế diễu khi gán cho có nghĩa là “đẻ dùm”. Thật ra có nghĩa là giúp đỡ việc sinh nở. Hộ niệm không phải niệm dùm mà giúp cho người sắp mất niệm Phật khi người đó quá yếu sức không tự niệm thành tiếng được. Người bệnh lắng nghe và có thể niệm thầm theo. Bây giờ cũng có máy niệm Phật, mà người nghe bằng earphone có thể niệm thầm theo (không gây trở ngại cho người khác ở chung quanh). Ai nghi ngờ về “pháp” nghe kinh, niệm Phật bằng máy phát , có thể đọc lời Đức Phật nói trong kinh “Sotānugata” (Người Nghe Kinh) :

“So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjhati. Tassa tattha sukhino dhammapadā plavanti. Dandho bhikkhave satuppāto, atha so sutto khippameva visesagāmīhoti.

(Này các tỳ khưu, một kẻ phàm phu (puthujjana) được nghe Pháp, thường lập lại Pháp, suy tư về Pháp, thể nhập trọn vẹn Pháp với minh sát tuệ, nếu người ấy chết, người ấy có thể tái sanh vào một trong những cảnh giới chư thiên, ở đấy các hành

Anh Phan

Phương tiện gì cũng có cái dụng ít nhiều của nó, vì thế nó mới tồn tại được, vấn đề cần bàn là tính tự lực hay tha lực, tính hiệu quả trong việc hộ niệm hay hồi hướng phước. Hồi hướng phước cũng có hạn chế như tác dụng quá nhỏ bé hay vô tác dụng tùy việc phước lớn nhỏ, sự thành tâm, sự chấp nhận và số lượng đối tác được nhận.

Vấn đề chánh niệm đúng sai hay mạnh chừng nào để ngăn ngừa tâm tán loạn. Cách đây khoảng 1 tháng, PA tự nhiên khởi lên một bệnh đau đôi chân từ mông trở xuống (lần đầu tiên từ nhỏ đến giờ, không biết lý do), 3 đêm liên tiếp không ngủ được, nằm ngồi không được, chỉ đi và đứng thì giảm đau, thử các cách như niệm hơi thở, trú trợ tướng hơi thở, đọc kinh niệm “Araham Đức Phật trọn lành” thì đều rất khó chịu (cũng không muốn đi bác sỹ, vì xưa nay bệnh nặng nhẹ chỉ dành hành thiền 1,2 ngày là tự khỏi), đêm thứ 3 cắn răng nhìn trực diện cái đau của đôi chân, mặc kệ cơn đau (Niệm Thọ Đau như thực) thì tự nhiên khỏi, mai đi làm lại bình thường. Điều này nói lên rằng nếu không dựa vào chính mình và đúng phương pháp thì khổ đau vẫn dài dài, cận tử nghiệp thì cảm thọ vô cùng khổ, tâm rất dễ lao xao, không khéo nghe Kinh người sắp chết lại nổi sân (như tác ý “Đau muốn chết, không đưa người ta đi chữa trị, cứ ở đó mà tụng niệm hoài”)

Anicca Anatta

Hộ niệm xuất phát từ Tịnh Độ bên Bắc Tông, phương cách hộ niệm cũng rất đơn giản ,nhờ mấy thầy cùng với thân nhân của người đang hấp hối cùng nhau niệm phật với mục đích như “trợ sức” cho người hấp hối có bớt sợ hãi và có thêm niềm tin .Nhờ đó có thể “ hên xui” mà vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc của Phật ADIĐÀ.Theo một số kinh nghiệm tôi nghe được là họ có thể thấy Phật ADIĐÀ phóng quang để rước người sắp chết về nước Tây Thiên. Những người hộ niệm thì tụng liên tục cả tiếng thậm chí cả mấy tiếng,cường độ tụng vào giờ phút cuối càng mãnh liệt đến khi nào người đang hấp hối “ lạnh” đi mà thôi …Bác Hoa Nguyen có kiến thức về Phật học rất là “thâm sâu”…bác còn có thể đem kinh pali và cả bài pháp của ngài Pa Auk ra để đối chiếu nữa. Tôi thật bái phục bác. Và hiện tại trong thời “Mạc Phap” có rất nhiều thầy Bắc Tông đã vận dụng hay “ mượn” những giáo lý bên Nguyên Thủy đem ra để hùng hồn giảng dạy nhưng sau cuối thời thì chung quy chỉ có việc niệm danh hiệu ADIĐÀ để “ vãng sanh”. Chúng ta suy nghĩ thế nào về vấn đề này? Tôi xin phép “chuộc lại” “Pháp” từ bác Hoa Nguyên chút về đoạn …………”So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjhati. Tassa tattha sukhino dhammapadā plavanti. Dandho bhikkhave satuppāto, atha so sutto khippameva visesagāmīhoti.

(Này các tỳ khưu, một kẻ phàm phu (puthujjana) được nghe Pháp, thường lập lại Pháp, suy tư về Pháp, thể nhập trọn vẹn Pháp với minh sát tuệ, nếu người ấy chết, người ấy có thể tái sanh vào một trong những cảnh giới chư thiên, ở đấy các hành xuất hiện rõ ràng trong tâm vị ấy… ) Bên Nguyên Thủy có vài bài kinh hay thường tụng cũng tương tư như phương thức cầu siêu hay bên Bắc Tông là những bài như Samvejaniyagatha(kệ động tâm), Paticcasamuppada( Y tương sinh), Năm điều quán tưởng, và nhất là kệ Vô Thường-Khổ-Vô Ngã. Tôi nghĩ bác Hoa Nguyen nên đọc xem những bài này trước khi bác muốn nói về “ Pháp” mà Đức Phật muốn ngụ ý kẻo bác lại mang nghiệp xuyên tạc Giáo Pháp mà tôi lấy làm đáng tiếc cho bác về sau. Đức Phật có nói: “Hãy lấy mình làm nơi nương tựa cho chính mình , đừng nương tựa vào bất cứ nơi nào khác.” Tất cả những giáo lý của ngài chung quy để chỉ ra Vô Thường, Khổ, Vô Ngã,… Tam tướng này có thể dùng tư duy để lập lại, suy tư, còn việc thể nhập trọn vẹn và chắc chắn chỉ qua Thiền Minh Sát…bởi Đức Phật có dạy: “Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh tri kiến? Này các Tỷ kheo, tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tri kiến”. Khi lập

lại, suy tư và thể nhập vào pháp như vậy , (Pháp ỡ đây chính là Vô Thường , Khổ, Vô Ngã) tâm sẽ khởi sanh Chánh Kiến ,Chánh Kiến là yếu tố quan trọng và được xếp hàng đầu trong Bát Thánh Đạo,bởi sau khi Chánh kiến được sanh thì bảy chi phần còn lại cũng khởi sanh đúng theo trật tự của nó. Thiếu Chánh kiến làm sao sanh được Chánh tư duy,Chánh tinh tấn, …và nhất là Chánh Niệm .Tà kiến không bao giời khởi sanh Chánh Tư Duy hay Chánh Niệm được.Tâm có Chánh Kiến hay các tâm thiện (vô tham, vô sân và vô si), chính những tâm thiện này mới có thể giúp người đó tái sanh làm chư thiên ..chứ không phải cái tâm kinh sợ , trông đợi mình được cứu vớt bởi ai đó hay nôn chờ mình được sống an vui vĩnh hằng ở miền đất hứa nào đó. Hơn nữa trong Giaó Pháp của Đức Phật ngài chưa bao giờ thuyết về ADIĐÀ, thậm chí bên Bắc Tông cũng thừa nhận tụng niệm danh hiệu ADIĐÀ chỉ là “phương tiện” giúp những người có “căn cơ thấp tu tập mà thôi” . Nếu bac Hoa Nguyen đã có lần bệnh nặng như thế nào bác nên quán tưởng tâm một người sắp lâm chung cũng gần như vậy, rất khổ sở và yếu ớt họ cần sự yên tĩnh để Chánh Niệm, hay những tư duy thiện về Pháp chứ không phải ráng tai lên mà nghe tụng Namo ADida Phat….inh ỏi như vậy . Người đang sống khỏe mạnh nghe nữa tiếng còn thấy mệt huống chi người sắp chết. Có thể một số người muốn được như vậy nhưng một số người thì không cần thiết. Nhưng tôi nghĩ , tất cả chúng ta đều là con người như nhau, đều có trí tuệ như nhau, nên phương tiện “ hạ cấp” đó cũng không cần thiết để sử dụng trong khi có vô số các “ chánh phương tiện” mà Đức Phật đã đưa ra mà chúng ta có thể sử dụng ngay bây giờ chứ không phải chờ đến giấy phút lâm chung. …

Anicca Anatta

Tôi muôn trích thêm một số ý của Bác Hoa Nguyen đã nói là “Còn Niết bàn làm sao kiểm chứng được, khi những điều trong Vi Diệu pháp cũng thấy là khó kiểm chứng, chỉ đón nhận bằng niềm tin. Nên khiêm tốn để nhận đạo Phật là tôn giáo nên đầy dẫy niềm tin không kiểm chứng được hết. Ai tin thì theo, hay tin gì thì làm theo nấy, đừng tưởng mình “duy lý” mà chê bai kẻ khác “mê tín”. Thật ra cái gọi là “duy lý” đó là do tinh thần duy vật được rao giảng, ép buộc phải tin trong thời gian gần đây thôi” Bác hãy cẩn thận về những lời nói của mình bằng không sau này bác sẽ phải mọc rễ chịu khổ trong luân hồi dài dài, không những vậy bác còn gieo rắc hoài nghi và những tâm bất thiện khác cho nhiều người như vậy là không tốt… Nếu bác lấy Pa Auk ra để nói thì hãy nói cho đúng, đối với Vi Diệu Pháp, có thể nhiều người xem là nó quá xa vời hay không thực tế hay không đáng tin…thậm chí bên Nguyên Thủy thì đó chỉ là lý thuyết suông nằm trong chương trình giảng dạy Pháp học vì trong cách thực hành của họ chưa thể đạt đến mức độ để đối chiếu Vi Diệu Pháp.. không thấy được sự áp dụng của Abhidhamma …nhưng bên Pa Auk thì khác, họ tu tập đúng trong Tam học Giới Định Tuệ và dùng định làm nền tảng để phát triển tuệ. Do việc Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai đúng với 11 loại ngũ thủ uẫn do Đức Phật đề cập.Do vậy họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp.Và nhiều người đã chứng ngộ được Niết Bàn. Còn việc ai muốn kiểm chứng thì cứ hành theo rồi tự mình kiểm chứng chứ đừng có dùng tư kiến quá hạn hẹp của mình để lý luận về Pháp.

Phạm Doãn

– Phần đông đa số người vì không đủ trí nên đời sống tâm linh chỉ biết dựa vào tín ngưỡng, cúng bái, lễ lạy, cầu xin. Lúc chết chỉ biết dựa vào sự hộ niệm của người khác để đến một nơi gọi là “cõi A Di Đà” mà giáo pháp của Đức Phật không hề đề cập tới. Đây là cách tu tập và là một sự chọn lựa “bất đắc dĩ” của những người không đủ trí.

– Một người có đủ trí, biết phân biệt và nhận ra giáo pháp chân thực của Đức Phật thì sẽ không có ai đi theo con đường “Nam mô A di đà phật”, sẽ không có ai tin vào tính hiệu quả của cách hộ niệm A Di Đà, sẽ không có ai tin là có “Đức Tiếp dẫn đạo sư” hiện ra đưa vong hồn lên cõi cực lạc. Tất cả hình ảnh thấy được không là gì khác hơn sự tự kỉ ám thị (auto-suggestion) do tâm hôn trầm mệt mỏi của người sắp chết.

– Mỗi người có căn nghiệp riêng, trí tuệ riêng và sự lựa chọn riêng.

Không ai phải thuyết phục ai trên con đường tâm linh cả!

Mười Hai Nhân Duyên: tại sao chúng ta không sống một đời sồng đạo đức nhân bản nhân quả đẻ rồi lúc lâm chung làm chuyện tào lao mà chúng ta tự vấn KHÔNG BIẾT VIỆC LÀM ĐÓ ĐÚNG HAY SAI? phí cho kiếp người

Hiếu Nguyễn

Hòa thượng Hộ Pháp, trong cuốn Nghiệp và Quả của Nghiệp, có giải thích về Nghiệp Cận Tử rất chi tiết (theo Vi Diệu Pháp). Về đại ý, có 4 loại nghiệp quyết định sự tái sinh, sắp xếp theo thứ tự từ mạnh tới yếu:

1. Garukakamma: Nghiệp trọng yếu, loại nghiệp nặng là nghiệp nặng nhất có quyền ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau trước tiên, không có nghiệp nào có thể ngăn cản được (VD: 5 ác nghiệp vô gián, hoặc thiện nghiệp đã chứng các bậc thiền) Nếu không có nghiệp trọng yếu này, thì kế tiếp nghiệp cận tử (āsannakamma) cho quả tái sinh kiếp sau.

2. Āsannakamma: Loại nghiệp cận tử là nghiệp phát sinh lúc lâm chung. Nếu không có nghiệp trọng yếu, thì nghiệp cận tử này có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau.  Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì kế tiếp nghiệp thường hành (āciṇṇakamma) cho quả tái sinh kiếp sau.

3. Āciṇṇakamma: Loại nghiệp thường hành là nghiệp thường được hành hằng ngày đêm đã trở thành thói quen. Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì nghiệp thường hành này có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau. Nếu không có cả 3 loại nghiệp trên (nghiệp trọng nhẹ, nghiệp cận tử và nghiệp thường hành), thì kế tiếp nghiệp loại thường (kaṭattākamma) cho quả tái sinh kiếp sau.

4. Kaṭattākamma: Loại nghiệp loại thường là nghiệp yếu hơn 3 loại nghiệp trên, nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hoặc nghiệp đã được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau.

4 loại nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau theo tuần tự nhất định. Trong mỗi loại nghiệp, nghiệp nào có nhiều năng lực nhất, thì nghiệp ấy có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau.

http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/NghiepVaQuaCuaNghiep/Nghiep3.htm

Như vậy, nếu không tạo nghiệp trọng yếu, thì vẫn có một khả năng là Nghiệp Cận Tử > Nghiệp Thường Hành. Cũng ở những phần sau trong sách này thì Hòa Thượng Hộ Pháp ví dụ thêm đó là những trường hợp tuy được tái sinh ở cõi giới tốt (người) nhưng yểu mạng hoặc sinh ra tàn phế (do các nghiệp khác quá nặng).

Theo thiển ý cá nhân, ý kiến như vậy hợp lý hơn. Trong trường hợp rất hiếm hoi khi mà 1 nghiệp cận tử (xảy ra được) cho tái sinh vào cảnh tốt lành thì vẫn phải gánh nghiệp quá khứ.

—-

Riêng vấn đề thanh lọc nghiệp, kinh 61 của Trung Bộ (Giáo Giới Rahula) có ghi rõ, chỉ có thanh lọc bằng cách phản tỉnh (reflect):

[…] Này Rahula, trong thời quá khứ, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã tịnh hóa thân nghiệp, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, đã tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần đã tịnh hóa thân nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa ý nghiệp. Này Rahula, trong thời vị lai, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sẽ tịnh hóa thân nghiệp, sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sẽ tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy; sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, sẽ tịnh hóa thân nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, sẽ tịnh hóa ý nghiệp. Này Rahula, trong thời hiện tại, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tịnh hóa thân nghiệp, tịnh hóa khẩu nghiệp, tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, tịnh hóa khẩu nghiệp; sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, tịnh hóa ý nghiệp. Do vậy, này Rahula: “Sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa thân nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa ý nghiệp”. Như vậy, này Rahula, Ông cần phải tu học […]

Cách phản tỉnh thì được ghi rõ ở đoạn trên của kinh.

Hoa Nguyen:

‎Spymaster TheShadows.”Hơn nữa trong Giaó Pháp của Đức Phật ngài chưa bao giờ thuyết về ADIĐÀ, thậm chí bên Bắc Tông cũng thừa nhận tụng niệm danh hiệu ADIĐÀ chỉ là “phương tiện” giúp những người có “căn cơ thấp tu tập mà thôi” .

Kinh Tiểu A Di Đà là tiền thân của kinh A Di Đà (đầy đủ hơn) đã được viết khoảng thế kỷ 1, hoặc 2 trước Công Nguyên, nghĩa là còn trước hay it ra đồng thời với kinh Pali khi bắt đầu được viết xuống ở Tích Lan. Có thể tìm đọc trên Thư Viện Hoa Sen về công trình nghiên cứu của một học giả Nhật về kinh Tiểu ADĐ. Pháp niệm Phật A Di Đà theo kinh Tịnh Độ được Phật dạy đầu tiên cho người dì (cũng là kế mẫu) của Phật, tức không phải trong hàng xuất gia, cho nên có thể vì thế mà trong các lần kết tập kinh các bậc A-la-hán và chư tăng thời đó không nhắc tới (và biết đâu có nhắc mà 500 năm sau không ghi lại trong kinh Pali ).Kinh Pali chỉ ghi chép lời Phật, chuyện Phật do một bô phái ghi nhớ, so với kinh Sanskrit của Nhất thiết hữu bộ cũng có chố bất đồng, chỉ ưu thế ở còn giữ lại đầy đủ sau 2000 năm. Phần chắc kinh ADĐ là kinh Phật vì pháp niệm Phật bao gồm đủ Giiới, Định và Tuệ, và phù hợp vơi kinh dạy pháp Niệm Phật trong Pali (kinh Một kinh , cũng có thể đi tới giải thoát, ngay cả khi niệm chư Thiên). Giới là thanh tịnh thân, khẩu, ý, Định là niệm danh hiệu Phật với chánh niệm và đến “nhất tâm bất loạn” (là từ Phật dùng trong kinh), còn Tuệ là kết quả của giới và Định. Nam tông cũng tin có hơn 20 vị Phật (ngoài Phật Thích Ca).Trong Thanh Tịnh Đạo và một kinh khác mà tôi đọc, Phật dạy tỳ kheo nào tu tập ở nơi vắng vẻ sinh lòng sợ hãi thì niệm danh hiệu Phật sẽ được an tâm. Tịnh Độ tông căn cứ theo kinh ADĐ mà niệm danh hiệu một vị Phật có danh hiệu khác.

Nhiều người cho nếu những gì không ghi chép trong kinh Pali thì không phải lời Phật dạy. Nên biết rằng theo lịch sử Phật giáo, đạo Phật ở Tích Lan không phài trưc tiêp từ Theravada (Thượng Toạ bộ), mà từ một bộ phái phát sinh từ đó gọi là Đồng Diệp bộ (theo ghi chép của Bắc tông), đồng thời còn có một bộ phái khác là Nhất thiết hữu bộ, cũng phát sinh từ Theravada, nhưng ghi chép kinh điển bằng Sanskrit, và từ đó được dịch ra Hán ngữ rất sớm. Ngoài ra còn có nhiều bộ phái khác sau chia làm hai nhóm gọi là Mahayana và Hinayana, có giáo nghỉa giống và khác nhau. Dựa vào một câu nói của Phật (đừng dựa vào đâu mà chỉ tu một mình) là rởm, hay của người chỉ biết một câu kinh, vì không ai, ngoài Phật có thể tự tu để thành đạo. Ít ra phải dựa vào thầy, mà thời Phật cũng đã có thầy rởm, không chứng đắc được. Tôi không muốn đi xa hơn.

Hoa Nguyen: Karmalaw net. “nghe thì có vẻ là vậy, nhưng ng chết ko có tai làm sao mà nghe? Chưa kể các thày đọc tụng kiểu gì mà cả ng sống nghe còn ko hiểu thì lấy gì ng chết hiểu?”.

Tật nhiên KN chỉ nói theo ý nghĩ của người bên ngoài. Nhưng hôm nào thử đi chùa Nam tông nghe các sư (VN) đọc kinh tiếng Pali thấy có hiểu gì không. Phải cần học biết tiếng Pali mới hiểu được. Với kinh Bắc tông phải cần nghe, học quen, và có khi cũng biết nhiều từ Hán Việt.

Hoa Nguyen Phần trả lời ông Doãn tôi đã nói trong góp ý với comment của Spymaster. Không phải Phật chỉ dạy những điều được ghi chép trong kinh Pali. Đó là chắc chắn phải nhìn nhận sự thật như vậy bằng trí tuệ mở rộng, vì ngay xưa không có phương tiện ghi âm chính xác như ngày nay. Ngay kinh Pali cnũg có nhiều chỗ đáng nghi là thêm vào sau này, hay không chắc đúng như lời Phật dạy (nói trùng lặp một ý nhiều lần). Dễ chê người khác là không đủ trí, mà khó nhận ra chính mình kém trí tuệ vì không giải thích được tại sao Phật Thích Ca nói về cõi Trời, và dạy cách sống thiện, tu Định thế nào để khi chết được sanh Thiên.

Hoa Nguyen:@ Anicca Anatta. “thậm chí bên Nguyên Thủy thì đó chỉ là lý thuyết suông nằm trong chương trình giảng dạy Pháp học vì trong cách thực hành của họ chưa thể đạt đến mức độ để đối chiếu Vi Diệu Pháp.. không thấy được sự áp dụng của Abhidhamma …nhưng bên Pa Auk thì khác, họ tu tập đúng trong Tam học Giới Định Tuệ và dùng định làm nền tảng để phát triển tuệ”.

Lòi nói trên có giá trị gì không, có là đúng thật như vậy không, hãy để mọi người phán đoán, trươc khi tôi có ý kiến riêng. Ai cũng cho mình hiểu Nguyên Thuỷ là thế này, hiểu Pa Auk là thế kia, nhất là Phật giáo phải là theo cách mình hiểu, còn tội nghiệp cho tôi phải luân h2ôi (mà không tội nghiệp cho bản thân) thì kinh dị lắm. Một thái độ giả đạo đức đáng sợ. Theo tôi thấy một điều nhỏ: Pa Auk dùng An chỉ để dạy Minh sát trong bài giảng đó. Nhưng không phải ai cũng cho cách dạy là vậy là (duy nhất) đúng.

Hoa Nguyen: Tôi xin lỗi về một chử dùng nều Anicca Anatta là tăng sĩ. Thật ra, tôi phản ứng như thế vì “tội nghiệp” hay thương hại tôi là lời rất ngạo mạn, trịch thượng.

Hoa Nguyen: ‎@Anicca Anatta. “Do việc Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai đúng với 11 loại ngũ thủ uẫn do Đức Phật đề cập.Do vậy họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp”

Xin dẫn chứng kinh hay luận, như Thanh tịnh đạo, để chứng cho câu viết “Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế”. Tôi nghĩ Danh và Sắc này là do thiền Minh sát nói tới và mới cho có khả năng đem lại, không phải là đối tượng đạt tới của thiền An Chỉ, tức Định . “Ngũ thủ uẩn” theo nghĩa (chính danh) chỉ cho 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) về sau nếu ai thêm vào thành 11 thủ ngũ uẩn thì dẫn chứng kinh từ đâu Phật dạy như vậy, để làm sáng tỏ từ ngữ.

AnittaAnatta : “họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp.” Họ (những nhà tu Định Chỉ) có nói họ thấy đúng như vậy không, hay là, ngay như Pa Auk chĩ dẫn Abhidhamma để làm chứng cho điều ông nói là đúng (mà không nói rõ là ông thấy đúng như Vi Diệu pháp). Lý luận tiếp theo là thuộc về thần thông: “họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai”. Nhưng mà thiền Minh sát có nói tới thần thông không (và thiền An chỉ không nói tới Danh và Sắc). Anitta Anatta:” nhiều người đã chứng ngộ được Niết Bàn. Còn việc ai muốn kiểm chứng thì cứ hành theo rồi tự mình kiểm chứng chứ đừng có dùng tư kiến quá hạn hẹp của mình để lý luận về Pháp”. Tôi chưa hề dám hý luận Pháp Phật, và về Niết Bàn tôi biết Phật không nói tới (tức không nói rõ). Tôi chỉ dùng chuyện Vi Diệu pháp và Niết Bàn để đáp lại một hoặc hai người cho không thể biết “vong nghe kinh mà siêu thoát được hay không”, và chứng minh cho cái ý tưởng là đạo Phât cũũg cần đến nhiêu lòng tin (mà nhiều người tự cao không thấy vây). Tôi thấy thậm chí có một thứ đạo Phật duy vật ra đời: không tin cõi Trời, chư Thiên, không tin vong, địa ngục, và không tin cảnh giới Niết Bàn.

Hiếu Nguyễn:

Lưu ý các bạn đang tham gia thảo luận: cuộc thảo luận đang nảy sinh ra nhiều ý kiến hay, đang thử thách niềm/đức tin của nhiều người vào pháp môn mình đang theo.

Mong rằng mọi người tiếp tục thảo luận với đầu óc rộng mở và hạn chế sân si trong khi viết bài, dễ dẫn đến việc lăng mạ (khẩu nghiệp) và topic sẽ lại bị closed :-) thật đáng tiếc.

Ngoài ra, để tránh biến cuộc thảo luận, thành tranh luận, bất cứ khi nào có thể, xin vui lòng trích dẫn nguồn để bảo vệ ý kiến cá nhân, và hãy chánh niệm tỉnh giác khi còm men, hì hì.

Phạm Doãn:

Comments trong nhiều trường hợp là động não (rất mệt) để trình bày tóm tắt cái hiểu biết của mình (qua học tập gian khó) cho mọi người mà không cần nhận lại cái gì cả. Mọi người thường hay gọi là “chia sẻ”! Trên “Pali chuyên đề” chuyện chia sẻ luôn là vui vẻ, là bình thường! Vì trên tinh thần học hỏi ai cũng được ít nhiều lợi ích! Nếu comments mà căng thẳng quá thì… thôi. Anh đi đường anh, tôi đường tôi! Comment đến thế cũng …vậy thôi! Hì hì… Có nhiều trường hợp vào đọc mà cảm thấy “làm biếng” comment quá!

Hoa Nguyen

‎@Anicca Anatta:”Hơn nữa trong Giaó Pháp của Đức Phật ngài chưa bao giờ thuyết về ADIĐÀ, thậm chí bên Bắc Tông cũng thừa nhận tụng niệm danh hiệu ADIĐÀ chỉ là “phương tiện” giúp những người có “căn cơ thấp tu tập mà thôi” .

Tôi thấy các tu sĩ Công giáo hay Tin Lành được dạy đàng hoàng về các tôn giáo khác, như về Hồi hay Phật giáo, có thể để thấy đạo của họ không kém đạo nào, nếu không hơn. Chính mắt tôi thấy ở phòng làm việc của một mục sư VN (tại Mỹ) có vài cuốn sách Phật giáo. Thậm chí còn biết vài ông linh mục đi học Thiền. Nhưng một người như Anicca Anatta có thể là biết nhiều về kinh Pali mà không biết gì về kinh điển Phật giáo Bắc tông. Dù sao tôi cũng đã trả lời Spymaster về kinh A Di Đà. Trong đó tôi nhớ nhầm Phật dạy pháp Niệm Phật A Di Đà cho di mẫu, sau nhớ lại là cho bà hoàng hậu Vi-đề-hi ở xứ Magadha, nên đã viết thêm vài hàng đính chính lại, nhưng bị xoá comment đó. Viết thêm nữa chẳng ích cho ai.

Karmalaw Net: ko biết trong tạng Nikaya có bài kinh Phật thuyết A Di Đà ko nhỉ?

Anicca Anatta

‎@Hoa Nguyen” Xin dẫn chứng kinh hay luận, như Thanh tịnh đạo, để chứng cho câu viết “Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế”. Tôi nghĩ Danh và Sắc này là do thiền Minh sát nói tới và mới cho có khả năng đem lại, không phải là đối tượng đạt tới của thiền An Chỉ, tức Định . “Ngũ thủ uẩn” theo nghĩa (chính danh) chỉ cho 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) về sau nếu ai thêm vào thành 11 thủ ngũ uẩn thì dẫn chứng kinh từ đâu Phật dạy như vậy, để làm sáng tỏ từ ngữ.”

AnittaAnatta : “họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp.” Họ (những nhà tu Định Chỉ) có nói họ thấy đúng như vậy không, hay là, ngay như Pa Auk chĩ dẫn Abhidhamma để làm chứng cho điều ông nói là đúng (mà không nói rõ là ông thấy đúng như Vi Diệu pháp). Lý luận tiếp theo là thuộc về thần thông: “họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai”. Nhưng mà thiền Minh sát có nói tới thần thông không (và thiền An chỉ không nói tới Danh và Sắc).

Tôi không nghĩ là bác có thể hiểu được Giaó Pháp với sự chấp thủ ngoan cố của mình , nhưng tôi cũng xin trích dẫn tóm tắt và đơn giản nhất về 11 loại ngũ thủ uẩn hay danh và sắc vì lợi ích của những người khác..

Trong “Khandha Sutta” (Uẩn Kinh) Đức Phật giải thích và phân tích năm thủ uẩn thêm nữa thành ra mười một loại:

“Và, thế nào này các Tỳ khưu, là năm thủ uẩn? Bất cứ sắc nào, hoặc

[1-3] quá khứ, vị lai hay hiện tại (atītā nāgata paccuppannaṁ);

[4-5] bên trong hay bên ngoài (ajjhattaṁ vā bahiddhāvā);

[6-7] thô hay tế (oḷārikaṁ vā sukkumaṁ vā);

[8-9] cao thương hay hạ liệt (lānaṁ vā paṇītaṁ vā);

[10-11] xa hay gần (yam” dūre santike vā);

có lậu hoặc, được chấp thủ, thì được gọi là sắc thủ uẩn. Bất cứ loại thọ nào… tưởng… hành… thức nào dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, xa hay gần, cao thượng hay hạ liệt, có lậu hoặc

sāsava), được chấp thủ (upādāniya), đây gọi là thức thủ uẩn.Này các Tỳ khưu, như vậy được gọi là năm thủ uẩn.

Năm thủ uẩn này là Thánh Đế về Khổ và như Đức Phật giải thích, mỗi uẩn gồm mười một loại. Như thế có nghĩa rằng muốn biết và thấy năm uẩn thì phải biết và thấy được mười một loại của mỗi uẩn này.

Uẩn đầu tiên của năm thủ uẩn cũng còn gọi là Sắc (rūpa), và bốn thủ uẩn còn lại (Thọ, Tưởng, Hành và Thức) gọi chung là Danh (nāma). Như vậy năm thủ uẩn cũng còn gọi là Danh-Sắc (nāma-rūpa) .

Chúng ta có Ba loại định là:

1. Chuẩn bị định – parikamma-samādhi. Đôi khi định này còn được gọi là sát-na định (khaṇika-samādhi)

2. Cận định – upacāra-samādhi

3. An chỉ định – appanā-samādhi Cũng còn gọi là định của bậc thiền như tám thiền chứng

Do vậy an chỉ định chỉ là phương tiện để cũng cố sức mạnh của định mà thôi còn việc dùng định đễ thấy danh và sắc thì phải dùng sát na định hay cận định qua việc tu tập thiền tứ đại.

Còn tại sao thiền minh sát phải quán danh và sắc thì trong 11 Pháp duyên khởi có đề cập:

Vô minh (1) duyên hành (2)

– Hành duyên thức (3)

– Thức duyên danh-sắc (4)

– Danh-sắc duyên lục nhập (5)

– Lục nhập duyên xúc (6)

– Xúc duyên thọ (7)

– Thọ duyên ái (8)

– Ái duyên thủ (9)

– Thủ duyên hữu (10)

– Hữu duyên sanh (11)

– Sanh duyên lão, tử , sầu, bi, khổ thân, khổ tâm và tuyệt vọng

Hơn nữa mục đích và ý nghĩa tu tập minh sát để làm khởi sanh 16 tuệ minh sát từ Phàm đến Thánh, và Tuệ đầu tiên chính là Phân Tích Danh Sắc (Nāma-rūpa pariccheda ñāṇa) do đó không thấy được danh và sắc chơn đế thì không thể nào gọi là tu thiền minh sát(vipassana)… 16 Tuệ Minh sát là:

1. Tuệ Phân Tích Danh Sắc (Nāma-rūpa pariccheda ñāṇa)

2. Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (Paccaya – pariggaha ñāṇa)

3. Tuệ Thẩm Sát (Sammasana ñāṇa)

4. Tuệ (quán) Sự Sanh Diệt (Udayabba ñāṇa)

5. Tuệ (quán) Sự Tan Hoại (Bhanga ñāṇa)

6. Tuệ (quán) Sự Kinh Úy (Bhaya ñāṇa)

7. Tuệ (quán) Sự Nguy Hiểm (dīnava ñāṇa)

8. Tuệ Yểm Ly (Nibbidā ñāṇa)

9. Tuệ Dục Thoát (Muñcitukamyatā ñāṇa)

10. Tuệ Giản Trạch (Paṭisankhā ñāṇa)

11. Tuệ Xả Hành (Sankhārupekkhā ñāṇa)

12. Tuệ Thuận Thứ (Anulama ñāṇa)

13. Tuệ Chuyển Tộc (Gotrabhù ñāṇa)

14. Tuệ Đạo (Magga ñāṇa)

15. Tuệ Quả (Phala ñāṇa)

16. Tuệ Phản Khán (Paccavekkhana ñāṇa)

Những gì tôi muốn nói thì người khác đã nói thay rồi, do đó tôi cũng chẳng có gì để bận tâm về những lời của Bác Hoa Nguyen.Đức Phật cũng đã đưa ra ví dụ về người khách đến nhà mang quà tặng vị chủ nhà,nhưng vị chủ nhà không nhận thì món quà đó thuộc về ai? Tôi nghĩ bác Hoa Nguyen cũng hiểu rõ…Tôi chỉ thấy tội nghiệp thật sự cho Bác vì đang cố vùng vẫy ,đào bới trong “mớ kiến thức hỗn độn” của mình để khẳng định cái đúng thuộc về mình và người khác cần phải học hỏi kiến thức từ mình. Tuy nhiên chẳng có ai quan tâm và hoan nghênh cả.. Bác nên xem lại và tự hỏi tại sao hơn là bực tức để nói những điều hàm hồ như vậy…

@Hoa nguyen,@ Spymaster TheShadows.”Người đệ tử Phật sợ nhất là việc gây ra các nhân bất thiện trong hiện tại vì đúng theo sự vận hành tự nhiên của Pháp mà bác đã đề cập thì khi nghiệp ác chính mùi , chẳng có một ai, chư thiên , PhạmThiên hay ông Phật ADIĐÀ nào hiện ra để cứu Bác cả… Hãy tự có trách nhiệm trong luân hồi của chính mình và đừng gieo rắc tà kiến và hoài nghi cho người khác.

Anicca Anatta ‎@Spymaster TheShadows: Tôi không hiểu anh đắc gì ?nhưng anh từ đâu đến thì hãy trở về đó..nếu anh nghĩ anh “siêu phàm” như vậy thì anh không nên ở lại chốn “phàm trần” này mà hô hào về sự “tự đắc” của mình .Một bậc Thánh không bao giờ có một phẩm chất kém cõi như vậy.. Hãy nói những điều lợi ích cho mình và người khác.


Thảo luận về Peta (Ngạ Quỷ)

Trích từ Documents của Group Pali-Chuyên Đề

Hiếu Nguyễn

Nhân việc đang đọc bộ chuyện Ngạ Quỷ của Sư Indacanda hay quá. Nay con xin phép hỏi các Sư, Sư Cô và các vị Cư Sĩ: vậy Ngạ Quỷ chính xác là loài gì?

Thắc mắc xuất phát từ “Chuyện vong nhân dâng sợi chỉ” – http://paliviet.info/VHoc/30b/30_Pv_068-069.pdf

Con không thấy đề cập tới ngạ quỷ nào, mà cô gái trong chuyện này hình như là ở cõi trời. Vậy là ngạ quỷ cũng có khả năng ở những cõi sướng hay không? (vì vốn Ngạ Quỷ được coi là một trong các ác đạo)

Đọc trong bộ Ngạ Quỷ cũng gặp tình huống rất phổ biến là khi nhận được phước báu hồi hướng của một hành động phước thiện, người Ngạ Quỷ lập tức có y áo mới, thân sắc tốt đẹp. Vậy khi đó họ có còn là Ngạ Quỷ không? Hay đã thành một người mới ở kiếp khác?

Thảo Luận

Vo Trong Phi Theo tri kiến cá nhân thì khi có quả an lạc (y áo mới, thân sắc tốt đẹp…) là lúc Ngạ Quỷ đã trở thành/tái sanh thành người khác (người lạc), ở cảnh giới khác (cõi lạc, vd: thiên giới), chứ không còn là ngạ quỷ ở cõi khổ.

Bhikkhu Indacanda Thông thường các xứ quốc giáo sử dụng lại các từ loại này, rất nhiều, khỏi phải dịch, và cũng không có vấn đề về khía cạnh ngôn ngữ học ,vì các ngôn ngữ đó được xếp chung vào một hệ thống (vd. từ đa âm, âm dài âm ngắn, v.v…). Riêng tiếng Việt thuộc hệ thống khác (vd. từ đơn âm, âm lên xuống, v.v…), nên việc du nhập từ ghi âm, vd. Chuyện pê-ta, thì không chuyển tải được 1 khái niệm nào vào đầu óc người đọc, và

Hiếu Nguyễn Nhưng mà peta này là giống gì hả Sư? Lúc thì có thần thông, lúc thì thân tướng đẹp đẽ, lúc thì khổ sở, thiếu ăn, thiếu mặc. Vậy rốt cục là làm peta sướng hay khổ? Peta có thần thông thì khác gì chúng sinh cõi Trời?

Bhikkhu Indacanda Đã có 1 tài liệu tiếng Việt về Peta có cả hình vẽ ở VN.

Hiếu Nguyễn À con tìm ra rồi: http://yume.vn/hotructhuy/article/tai-lieu-ve-loai-nga-quy.35D049E2.html

Tài Liệu Về Loài Ngạ Quỷ – YuMe.vn

YuMe.vn – CHUYỆN NGẠ QUỈ QUỶ LÀ GÌ Trong cuộc sống, chắc hơn một lần trong chúng ta có nhắc đến từ Quỷ. Ví dụ: + Một đứa bé phá phách không chịu… – DIỆU ÂM NGUYÊN THANH

Binh Anson Wikipedia có 1 trang tiếng Anh định nghĩa về Peta (Pali) hay Preta (Sanskrit), tương đối khá rõ ràng: http://en.wikipedia.org/wiki/Preta , qua đó, Peta có thể hiểu là “các loài hồn ma” (ghosts) hơn là “các loài quỷ” (demons). Điều lưu ý là theo Wikipedia, chỉ có người Tàu dịch là “ngạ quỷ – 餓鬼” . Theo tôi biết, người Thái Lan phiên âm Peta là “phỉ”.

Nếu hiểu Peta là “hồn ma”, những hiện tượng của các nhà “ngoại cảm” gây xôn xao dư luận trong mấy năm gần đây có thể giải thích là những vị ấy có một khả năng đặc biệt nào đó để có thể tiếp xúc với các loài Peta / Hồn Ma này.

Hà Anh Nguyễn em coi link của anh Hiếu Nguyễn up rồi. Trong 24 loại Petas này thì e thấy Ngạ Quỉ Thứ Mười Hai: MAHIDDHIKA chắc là ngạ quỷ có phước nhất

Binh Anson Đính chính: Người Thái phiên âm Peta/Preta là “Phret” (เปรต). Còn “Phỉ” (ผี) là từ dân gian

Ven Adhiṭṭhāna Ý kiến cá nhân, theo cách dịch của Ngài Bhikkhu Indacanda, chữ Peta vốn nghĩa là người đã chết, người chết, hay vong nhân là chuẩn nhất. Chẳng hạn như chữ Petakicca được hiểu với nghĩa làm đám ma, hay đám tang, việc an táng cho người đã chết; chỉ Peta nhằm mục đích hướng đến người đã chết.
Trong 12 hạng người, Peta được xếp vào người khổ vô nhân(được xếp đồng với những chúng sanh ở địa ngục, súc sanh và A-tu-la). Họ tái tục bằng tâm akusala vipāka upekkhāsahagata santīrana, vì ác nghiệp đã tạo nên phải tái tục bằng tâm này. Tuy nhiên, không biết có phải đa phần chúng sanh ở cõi Peta điều phải chịu khổ đói khát, mà các Ngài trưởng lão như Ngài Bửu Chơn dùng từ Ngạ-Quỷ (quỷ đói) nhầm để dễ gọi và dễ nhớ đến loại chúng sanh này hay không?
Ở Myanmar, người ta cũng dùng từ ပြိတ္တာ (Pyeitta) cho từ Peta, chữ Pyeitta lại được hiểu là ma đói hay quỷ đói.

Hiếu Nguyễn A ý kiến này của Ven Adhiṭṭhāna hay quá. Sư Bhikkhu Indacanda ơi, con thấy để là CHUYỆN VONG NHÂN nghe cũng hay.

Hà Anh Nguyễn dạ nhân câu hỏi của anh Hiếu, con xin được hỏi là khi 1 chúng sanh qua đời, sự tái sanh sang các cõi đời khác xảy ra ngay sau khi chúng sanh đó tắt hơi thở cuối cùng, hay phải 1 thời gian sau rồi mới tới sanh.?

Vo Trong Phi Trong cuốn “The Workings of Kamma” (Sự Vận Hành của Nghiệp” của Ngài Pa Auk, ngạ quỷ và a tu la được gọi chung là “ghost” (ma). Xin trích một câu trong đó: “The ordinary person may be reborn in many destinations (gati): the hells, the ghost and animal world, and the human and deva worlds.” Tạm dịch: Phàm nhân có thể tái sanh ở nhiều cảnh giới: Địa ngục, ma, súc sanh, người và trời”.

Vô Thường Vạn sự do tâm, tâm ma thì ma đến, tâm phật thì phật hiện. Đồng thanh tuơng ứng…đồng khẩu ứng cầu

Hoa Nguyen ‎”Địa ngục, ma, súc sanh, người và trời”, vậy là 5 đường. Kinh Phật thường nói tới 6 cõi (lục đạo) luân hồi. Atula (Asura) được coi như là “Thần”, dưới Tiên (thiên, nhưng trên người). Trung Hoa có khi dịch là Phi Thiên (còn quỷ là phi nhân) . Thần thoại Hy Lạp cũng nói tới bán thần (ở giữa Trời và người). Sách thấy ghi có ba loại A tu la cao thấp khác nhau: thuộc thiên đạo, quỷ đạo, và súc đạo (nên có khi thấy nói A tu la cao hơn loài ngưiờ, và có khi nói thấp hơn). A tu la thường đánh nhau, đàn ông hình tướng xấu, nhưng đàn bà rất đẹp, nếu lập được phước đức sẽ sanh lên cõi Trời, hay làm người cao sang, hưởng sung sướng ở cõi người, còn nếu ngu muội, phá hại sẽ sanh xuống địa ngục làm ngạ quỷ, hay làm súc sanh. Nhưng có thể A-tu-la không ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống loài người, nên bị bỏ quên. Kinh Bắc tông (như Pháp Hoa) thường kể A tu la dẫn quyến thuộc cùng đến cúng dường Phật, nghe Pháp.

Ven Adhiṭṭhāna Xin phép trả lời câu hỏi của Nguyễn Diệu Hà Anh là khi 1 chúng sanh qua đời, sự tái sanh sang các cõi đời khác xảy ra ngay sau khi chúng sanh đó tắt hơi thở cuối cùng, hay phải 1 thời gian sau rồi mới tới sanh.?

1 người đang vào giờ phút cận tử sẽ có 3 cảnh hiện lên là: 1)kamma – nghiệp, 2)kammanimitta – nghiệp tướng, và 3)gatinimitta – thú tướng (Dvāravimuttānañca patisandhibhavaṅga-cutisankhātānaṃ chabbidhampi yathāsambhavaṃ yebhuyyena bhavantare cha-dvāragahitaṃ paccuppannamatītaṃ pannattibhūtaṃ vā kamma-kammanimitta-gatinimittasammatam ārammanaṃ hoti ).
Thứ nhất về cảnh nghiệp(kamma) một hành động mà mình thường hay làm trong đời này hay đời trước. Thứ hai về cảnh nghiệp tướng(kammanimitta) là hình ảnh hay cảnh của đồ vật liên hệ với hành động mà mình thường hay làm. Thứ ba về thú tướng(gatinimitta) là hình ảnh hay cảnh mà người đang đang trong giây phút cận tử sẽ tái sanh. Do đó, theo khái niệm của bộ môn Abhidhamma, 1 chúng sanh sẽ tái tục ngay khi chúng sanh đó chấm dứt hơi thở và tái tục bằng 1 trong 19 loại tâm quả, và cũng không có khái niệm chờ đợi nào trong việc tái sanh. Dấu phẩy cho kiếp sống này bằng một tâm tử (cuti) để viết tiếp và bắt đầu 1 kiếp sống mới bằng 1 kiết sanh thức (paṭisandhi).

Vô Thường Không phải tái sinh ngay tức thời. Có người tái sinh ngay có người 49 ngày mới tái sinh đó, có người 100 năm rồi vẫn ko tái sinh. Tất cả do nghiệp lực của mỗi người…

Hà Anh Nguyễn dạ cảm ơn sư Ven Adhiṭṭhāna _()_

Anh PhanVô Thường, xin hỏi thời gian 49 ngày, 100 năm trước khi tái sinh, người đã chết đi đâu, làm gì trong 6 cõi? Nếu không giải thích được thì quan điểm này rơi vào tà kiến (tức đoạn kiến).

Anh Phan Có trường hợp này khá hy hữu, Ven Adhiṭṭhāna! Có người chấm dứt hơi thở rồi nhưng vẫn chưa chết:
http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Doi-song/540094/bat-ngo-tinh-day-sau-6-ngay-trong-quan-tai.htm

Bất ngờ tỉnh dậy sau 6 ngày trong quan tài

Vô Thường Kiến thức nhiều chẳng giải quyết được vấn đề gì. Muốn tìm câu trả lời, bạn nên đọc thêm kinh điển đi sẽ có câu trả lời đó.

Anh Phan Theo kinh tạng Pali, thế gian (tam giới) đề cập đủ 6 cõi gồm 4 cõi khổ (4 đường ác đạo) là Niraya (Địa ngục), Pettivisaya (Ngạ quỷ), Asara (A-tu-la), Súc sanh (Tiracchāna); 2 cõi an vui là cõi Người (Manussa) và cõi Chư Thiên (Deva).
Đối với mắt người thường chỉ thấy cõi người và súc sanh thôi, 4 cõi kia mờ mờ ảo ảo nêu không thể thống nhất các quan điểm khác nhau được. Cõi địa ngục thì tận đâu trong vũ trụ bao la, có thể họ bị hút vào trong các Lỗ đen theo quan điểm Vật lý thiên văn hiện đại; Atula và ngạ quỷ thì cộng trú với con người; chư Thiên thì ở trên không trung, rất hiếm đến cõi người vì họ không cần thiết. Tóm lại những vong linh vất vơ xung quanh chúng ta chỉ có ngạ quỷ và atula thôi, có thể gọi chung là Ma, hình sắc của họ rất mờ nhạt, mỏng manh. Có người thấy được họ trong hình dáng của kiếp trước nhưng xấu đẹp thay đổi dần nếu nhận được phước mà con người hồi hướng cho.

Vô Thường Đó câu trả lơi có trong phần bạn vừa viết đó: nhiều người chết oan ức, chết bất đắc kỳ tử, không siêu thoát được trở thành những vong linh trải qua rất nhiều năm tháng nếu ko có ngươi siêu đọ cho họ thì họ ko đi tái sinh được đâu….

Hiếu NguyễnVô Thường vui lòng đọc kỹ: “Tóm lại những vong linh vất vơ xung quanh chúng ta chỉ có ngạ quỷ và atula thôi, có thể gọi chung là Ma, hình sắc của họ rất mờ nhạt, mỏng manh.”
Cái bạn gọi là vong linh đó, có thể là vong nhân/ngạ quỷ (như chúng ta đang bàn) hay không? Đó là mục đích muốn tìm hiểu của topic này.

Anh PhanVô Thường! Quan điểm của mình giống của Ven Adhiṭṭhāna ở trên rồi. Đó là căn cứ theo Abhidhamma của Đức Phật, chắc nịch. Còn quan điểm người chết mà không tái sanh liền thì không phải của Đức Phật.

Anh Phan Vong nhân theo cách gọi Vong linh đa số là ngạ quỷ (hình tướng rất xấu, kỳ dị) và A-tu-la (hình tướng tốt hơn, nhưng có thể biến hóa) và một ít chư thiên bậc thấp (có thể gọi là Thần). Đây là cái thấy của người khác và họ mô tả lại, không phải của Anh Phan, nhưng đáng tin cậy và phù hợp với thế giới quan của Đạo Phật.

Vô Thường Nên tìm hiểu thêm nhiều kinh điển để biết thêm nhiều điều bổ ích hơn. Nghiêng hẳn về một phía không tốt đâu. Trung đạo mới tốt bạn ah. Tinh tấn tu hành các bạn nhé

Karmalaw Net Cốt lõi của những câu chuyện Ngạ Quỷ là luật nhân quả mà thôi. Vong nhân chỉ là cái duyên để nói lên cái ý, cái tổng thể. 6 cõi và luật nhân quả đã có trong Upanishad từ lâu trước thời Đức Phật.

Hiếu Nguyễn Bạn Karmalaw không phiền trích dẫn và cho thêm 1 ít thông tin chứ? :-)

Karmalaw Net tài liệu tiếng Anh cả nguyên bộ: http://www.sacred-texts.com/hin/sbe01/index.htm
Tài liệu Việt dịch (vài phần trong đó) của NXB DH QG Hà Nội 2001, Doãn Chính chủ biên 808 trang (sách giấy nên ko share dc)
Tóm tắt thì nhiều lắm, bạn có thể tham khảo ở đây: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-94_4-10122_5-50_6-1_17-45_14-1_15-1/

The Upanishads, Part 1 (SBE01) Index

www.sacred-texts.com

Sacred Books of the East Volume I: The Upanishads, Part 1, by Max Müller, [1879], full text etext at sacred-texts.com

Karmalaw Net theo tài liệu Việt dịch (của NXB DH QG Hà Nội 2001, Doãn Chính chủ biên 808 trang) ở trang 712-714 có nói về sống chết và các con đường sau khi chết.

Hiếu Nguyễn Thank you Karmalaw nghen!!! Appreciate that ;)

Hà Anh Nguyễn

có nhiều người nói rằng họ đã từng “thấy” ma. Đặc biệt là trong những ngôi nhà cổ lâu đời. Chả hạn mẹ Nhung Ho con làm trong viện Pasteur vốn là 1 nơi cổ kính đã có tuổi thọ 120 năm. Xa xưa, nơi đây là 1 nghĩa trang. Xa xưa, nơi đây là 1 nghĩa trang. Rất nhiều người làm trong viện này nói rằng đã thấy “ma”. Khi thì là 1 em bé, khi thì là 1 người phụ nữ lớn tuổi, có khi lại là 1 bà Xơ (vì viện PAsteur xưa kia là 1 nhà dòng tu Catholic). Vậy có phải mấy người “ma” này là vong nhân ko ạ.?

Hà Anh Nguyễn nếu sau khi tắt hơi tái sanh ngay lập tức rồi sao họ còn “lang thang” ở đây ạ?

Hoa Nguyen

Trong cuốn Lược sử Phật giáo (A Short History of Buddhism), E. Conze viết là vấn đề chết rồi đi luân hồi liền hay vong phải chờ 49 ngày là hai quan điểm rất chia rẻ ngay từ thời bộ phái , ông cho có 5 bộ phái theo “thuyết” này và 5 bộ phài theo thuyết kia. Đó là cuốn sử ngắn, sơ lược, nên Conze không nói chi tiết nhiều, không kể rõ bộ phái nào đã ủng hộ thuyết nào, nhưng sau này Bắc tông (nhất là Mật tông Tây Tạng) theo thuyết “thân trung ấm” (bardo) kéo dài 49 ngày. Dường như đạo Lão của Trung Quốc cũng tin như vậy, thấy như trong cách làm ma chay của họ (xả tang sau 49 ngày vì cho hồn đã đi đầu thai).
Tôi tôn trọng việc Sư Ven Adhiṭṭhāna dẫn chứng từ Abhidhamma (ngoài lòng kính trọng riêng Sư), nhưng bộ đó tôi hiểu là luận hơn là kinh. Điều này thật ra không quan trọng lắm đối với người theo Bắc tông như tôi, thường cho dù luận giải của bậc đạt đạo mà đúng, hay phù hợp với đạo Phật thì giá trị cũng không khác gì lời kinh.Thế nhưng làm sao có thể biết rõ 3 cảnh hiện ra như trên lúc cận tử, nhất là khi sự việc xảy ra nhanh như vậy? Cho đó là cái thấy biết của người đã đạt tới Tam Minh hay thần thông gì thì về sau có ai đủ khả năng kiểm nghiệm lại điều đó không? Tôi nêu câu hỏi (hay thắc mắc) của mình trong trường hợp này khi thấy mình có cơ hội làm thế, vì thật ra tôi đã thắc mắc một điều khác về thiền định được giải thich theo Vi Diệu pháp (Abhidhamma). Các sách luận giải Tứ Thiền từ cuốn Thanh Tịnh đạo trở về sau thường dựa vào Vi Diệu pháp cho lộ trình của tâm khi vào định là trải qua các giai đoạn: hộ kiếp tâm (hay hữu phần, Bhavangacitta), hộ kiếp tâm rung động, Ý môn hướng tâm, Chuẩn bị, Cận thiền tâm (Upacara), Thuận dòng, Chuyển giới, Thiền tâm, trở lại hộ kiếp tâm …, mà mỗi giai đoạn trên chỉ xảy ra trong một hoặc vài sát na cực ngắn thì làm sao hành giả có thể quan sát để nhận biết được. Vi Diệu pháp (hay Duy thức tông ở Bắc tông) được coi là công trình trí tuệ siêu tuyệt của Phật giáo (và của loài người nữa, ít ra vào giai đoạn đó), nhưng muốn thấy có giá trị thực sự cần được người khác kiểm nghiệm lại. Có ai đã chứng nghiệm lại được các trạng thái biến chuyển của tâm nhanh như vậy chưa (để thấy là đúng) ? Xin cám ơn câu trả lời dù thế nào.Anh Phan

Nguyễn Diệu Hà Anh, “nếu sau khi tắt hơi tái sanh ngay lập tức rồi sao họ còn “lang thang” ở đây”: Sự thắc mắc này hiện nay rất phổ biến! Phân tích rogic để thấy vấn đề cho rõ là: những em bé, cụ già, bà Xơ gọi là hồn ma đó chắc chắn không phải là của người đã chết mà là một chúng sanh khác rồi. Người chết đó tái sanh thành những hồn ma này. Có điều lạ là họ vẫn giữ hình dáng cũ thôi. Những hồn ma này như trên có đề cập thuộc vào hàng ngạ quỷ, atula và chư thiên gọi là địa tiên hay thần; nếu họ chết tái sanh thành thân người khác thì chắc chắn họ không xuất hiện ở đây. Những hồn ma này nếu xanh xao, xấu xí là ngạ quỷ; nếu xinh đẹp hơn là atula hoặc chư thiên bậc thấp. Người chết tái sanh thành người và chư thiên vô cùng hiếm, còn đa số tái sanh vào các cảnh thấp hơn. Tuổi thọ của những hồn ma này bất định, có vị vài ngày, có vị vài trăm hoặc vài ngàn năm. Có thể bên Tây Tạng cho rằng những vong linh này là thân trung ấm (Bardo) đây!

Hà Anh Nguyễn Người chết tái sanh thành người và chư thiên vô cùng hiếm, còn đa số tái sanh vào các cảnh thấp hơn.——-> vậy hả anh??? đáng sợ quá :(((((

Anh Phan

‎:) Trong “Kinh người khác, S.V.XII”: Đức Phật lấy 1 ít đất trên đầu móng tay và so sánh với đất trên quả địa cầu. Dùng như 1 ẩn dụ, Ngài giải thích: “Cũng vậy, này các Tỷ kheo, ít hơn là các chúng sanh (chết như những con người) được tái s…See More

Hoa Nguyen Tô nghĩ thông suốt Tứ Diệu đế sẽ không trở lại làm người, mà đã ít ra vào quả vị Bất Lai (không trở lại nữa).

Binh Anson

‎… Sau đó, Đức Thế Tôn bảo các vị tỳ-khưu “Nầy các tỳ-khưuo, bởi vì không thông hiểu, không thấu đạt Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế) mà ta cũng như quý vị từ lâu đã phải trải qua nhiều kiếp luân hồi trong vòng sinh tử. Bốn sự thật ấy là gì?

Vì không thông hiểu Sự Thật về Khổ (Khổ Đế) mà chúng ta luân hồi, không thông hiểu Sự Thật về Nguồn Gốc của Khổ (Tập Đế), không thông hiểu về Sự Thật về Đoạn Diệt Khổ (Diệt Đế), không thông hiểu Sự Thật về Con Đường Diệt Khổ (Đạo Đế), mà chúng ta đã phải luân hồi trong vòng sinh tử. Bằng cách thông hiểu, bằng cách thấu đạt Sự Thật về Khổ, Sự Thật về Nguồn Gốc của Khổ, Sự Thật về Đoạn Diệt Khổ, Sự Thật về Con Đường Diệt Khổ, lòng tham thủ về sinh hữu được đoạn tận, sự hỗ trợ để sinh hữu được phá hủy, và từ đó không còn phải tái sinh nữa.”

— Trích Đại kinh Bát-niết-bàn (Trường bộ, 16)

Hoa Nguyen:

‎@Karmalaw Net, Upanishads, tiếp nối truyền thống kinh điển Veda, đã khởi đầu từ thời trước Phật không xa và kéo dài (trong thời Phật) cho tới khoảng gần Công nguyên, mở đường cho Ấn Độ giáo (chuyển từ Bà la môn giáo đã có trước từ thời Veda). Có nhiều chứng cớ Đức Thích ca không biết tới Upanishads, nên không thể cho là chịu ảnh hưởng của nó, hay vay mượn quan điểm về triết học, đạo lý. Trước hết, giáo lý Upanishads (dịch là Áo nghĩa thư) không được Phật nhắc đến trong các kinh (mà chỉ nói về tu sĩ, giáo lý Bà la môn, Phạm thiên), kế là Phật không thuộc giai cấp Bà la môn nên chắc không học biết giáo lý Upanishads mới thành hình mà chỉ một số ít, ở cấp cao giới Bà la môn mới học được khi chưa trở thành phổ thông, truyền bá rộng. Phật thuyết về nghiệp, luật nhân quả, giải thoát là những điều cũng đã có nói trong Veda hay Upanishads, nhưng không giống, và có chỗ hoàn toàn trái hẳn như lý tưởng giải thoát (vào Niết bàn chớ không phải tiểu ngã thể nhập Đại ngã). Ở chỗ sau cùng này thấy Phật giáo như là “phản đề” của Ấn giáo.
Cũng nhằm thể hiện, giảng dạy về luật nhân quả nhưng khi Phật giáo viết thành những chuyện kể về ngạ quỷ như vậy là đã chuyển giáo lý, giáo điều qua một hình thức văn học để thấm sâu vào tâm hồn người nghe hay đọc, mà không thấy có chỗ tương tự trong Upanishads. Anh thử tìm một chuyện kể trong hệ (văn học) Upanishads để so sánh với một chuyện ngạ quỷ của Phật giáo kể ở đây.

Vô Thường Vậy địa ngục có được nhắc đến trong kinh điển pali không?

Karmalaw Net:

Đúng vậy, PG là phản biện của Ấn Giáo khi khẳng định Niết Bàn là tịch diệt “củi hết lữa tắt” trong khi AG thì cho rằng con ng ta tái sinh mãi vì có Atman. Đức Phật thì bảo là không có Atman (hình như gọi là anatta). Đây là câu hỏi khó nhất mà KN gặp phải từ khi học PG: “có phải là thiền định sẽ là con đường đưa ng ta tới Niết Bàn, hay là thiền định là cách để ng ta thấy Niết Bàn? Chỉ có Alahán mới biết NB hay NB là công bằng đối với mọi ng, tức là khi bản ngã ko có, ai chết cũng tan rã như nhau?”, “luật Nhân Quả là khách quan hay chủ quan?” câu trả lời sẽ bị tất cả mọi ng ném đá!

KN đọc Nikaya hay các bản Luận sau này với một tinh thần rất khắc khe và đối chiếu thực hành. KN ko phải thuộc hệ tư tưởng của TT Thông Lạc, nhưng càng đi sâu vào PG, càng nghiên cứu và thực hành thì càng thấy rằng chuyện Vong và Luân Hồi chỉ là bị thêm thắt vào sau khi Phật nhập diệt nhằm cho những mục đích khác nhau, hoặc Phật có nói nhưng với những hạng thích nghe, và dù có kể trên trời dưới đất thì đức Phật luôn lấy đó là chuyện để nói về những điều cốt lõi hơn.

KN khá liều lĩnh khi hành thiền tới ranh giới giữa sống và chết. KN đành phải nhìn nhận rằng “sau khi chết ko có gì nữa cả!”.

KN xin lỗi Sư Bhikkhu Indacanda khi khẳng định điều ấy.

Bhikkhu Indacanda KN xin lỗi Sư Bhikkhu Indacanda khi khẳng định điều ấy??? Không hiểu vì sao lại bị lôi vào đây nữa, Karmalaw Net ơiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiii???

Karmalaw Net vì Sư đã dịch xong một quyển sách rất hay, rất công phu. Trong khi KN lại cho rằng những truyện trong đó có sau khi Phật nhập diệt, và là lời kể của các tỳ kheo sau này cho những ng bình dân nghe. KN cho rằng chuyện vong nhân là của “người sống” kể.

Vô Thường Nên đọc thêm câu chuyện con cá và con rùa cạn nói chuyện với nhau. Con cá đâu biết đời sống trên cạn là gì, và con rùa cạn cũng ko biết đời sống dưới nước la gì. Kêt luận hơi sớm vấn đề khi mà chỉ căn cứ vào một số điều. Thế giới còn nhiều điều bạn chưa biết đâu…cứ chuyên hành tu tập đi, chứng đắc các tầng thiền rồi mọi sự sẽ sáng tỏ

Vô Thường Nhưng thứ đang bàn luận không giúp ích gì cho quá trình chứng ngộ các tầng thiền đâu mà chỉ thêm hý luận, biết nhiều loạn tâm, cản trở đường đạo thôi. Mình nói thật long đó. Hi vọng có bạn sẽ hiểu.

Phạm Doãn Dear Sư Bhikkhu Indacanda: Trách nhiệm của Sư là phải dịch hết những bộ kinh còn chưa dịch, để mọi người nghiên cứu. Nghiên cứu rồi …bàn tán phê bình. Về sau, có tìm ra và phân biệt được chỗ nào là chính kinh, đoạn nào là do đời sau thêm vào, thì đó là chuyện của các tu sĩ hoc giả đời sau! (không phái chuyện của dịch giả). Mong mọi người động viên mạnh mẽ để Sư còn ráng đi tiếp con đường gian khó của mình!

Phạm Doãn:

Thảo luận vối Karmalaw Net: Những cấu hỏi như Karmalaw vừa hỏi rất chân thật và rất hay nếu được tiếp tục khai triển.
– Những câu chuyện về ma , quỷ, phi nhân này rất có thể có sau lúc Đức Phật nhập diệt. Tuy nhiên không vì thế mà là chuyện hoang tưởng. Nếu thế giới ma quỷ rất gần với ta mà đã là hoang tưởng thì các thế giới khác như cỏi thiên, cõi tịnh thổ mà người tu tập như chúng ta đang nổ lực hướng đến có lẽ càng xa vời và hoang tưởng hơn nhiều lần như thế nữa.
– Sau khi Phật nhập diệt là thời kì kết tập các nguồn tư liệu quý giá của tất cả các vị A La Hán chứ không phải của riêng Đức Phật. Ví dụ “Phân Tích Đạo” (patisambhidamagga)của Ngài Xá Lợi Phật mãi đến hơn 200 năm sau với được xếp vào chánh tạng (Tiểu bộ kinh). Tôi nói thế có nghĩa là nếu biết sử dụng thông tin thì ngay các nguồn có sau thời Đức Phật vẫn có thể sử dụng được!
– Hiện giờ giới học giả cũng nghi ngờ “chuyện tiền thân Đức Phật” (Jātakapāḷi) là do đời sau biên tập!
Trở lại với “Chuyện Ngạ Quỷ”, nếu bị nghi ngờ là không có thật thì cũng là một nghi vấn thường tình thôi. Các tu sĩ học giả sẽ làm sáng tỏ vấn đề này trong tương lai.
– Đối với tôi, thì thế giới rộng lớn này không thể chỉ có một. Có rất nhiều chiếu không gian khác nhau. Có rất nhiều thế giới khác nhau. Có rất nhiều kiểu tồn tại khác nhau. Chỉ là hiện nay (tu tập chưa đủ) nên ta chưa có đủ năng lực tâm linh để tiếp xúc với các thế giới đó.

Karmalaw Net Quả là những điều ấy thật khó nói, KN tôn trọng ý kiến số đông, nên ko bàn chuyện này nữa.
Với Vô Thường: bạn nói lạc đề quá.

Phạm Doãn:

‎- “trong khi AG thì cho rằng con ng ta tái sinh mãi vì có Atman. Đức Phật thì bảo là không có Atman (hình như gọi là anatta). Đây là câu hỏi khó nhất mà KN gặp phải từ khi học PG…..câu trả lời sẽ bị tất cả mọi người ném đá!
Dear Karma Law:
– Câu hỏi này thực sự khó và vì vậy chẳng ai dám ném đá đâu! Vì trên Internet ta thấy rất nhiều người câu hỏi này, nhưng với hình thức khác. Ví dụ: Đạo Phật nói không có Ngã: Không có Ngã thì lấy ai mà chịu nghiệp. Không có Ngã thì lấy gì mà tái sinh? Đối với câu hỏi này thường ít có câu trả lời được rõ ràng.
– Vậy group có thể trả lời cho Karma Law như một cơ hội cho nhiều người học hỏi chung không?

Phạm Doãn:

“Đây là câu hỏi khó nhất mà KN gặp phải từ khi học PG: “có phải là thiền định sẽ là con đường đưa ng ta tới Niết Bàn, hay là thiền định là cách để ng ta thấy Niết Bàn? Chỉ có Alahán mới biết NB hay NB là công bằng đối với mọi ng, tức là khi bản ngã ko có, ai chết cũng tan rã như nhau?”, “luật Nhân Quả là khách quan hay chủ quan?”
TRẢ LỜI Karma Law (theo những điều tôi học hỏi được trên chính Group này):
– Thiền Định được coi như phương tiện giải thoát của rất nhiều tôn giáo khu vực Ấn Độ.
– NHƯNG, Thiền Định không có khả năng đưa đến giải thoát tối thượng của Đạo Phật (vì thiền định không sinh ra đủ Tuệ cần thiết cho sự trức nhận Nibbana)
– Để đi đến Giác Ngộ và thấy được Níp bàn cần tới 10 bước còn gọi 10 chi phần. Bát chánh Đạo là 8 bước đầu tiên, trong đó Chánh Định là mức cao nhất. Muốn đạt đến giác ngộ cao nhất phải cần hai bước cuối cùng là Chánh Trí và Chánh Giải thoát. Trong một số kinh có đề cập đến “A La Hán Đạo mười chi”.
– Chánh Định (sammasamadhi) chỉ là “điều kiện” để thực hiện bước Chánh Trí (Tuệ Giác Ngộ), và bước cuối cùng là Chánh Giải Thoát tức gia đoạn thấy được Nibbana.
– Chỉ có A La Hán mới thấy Nibbana (Cả lúc sống và lúc chết)
– Khi chết, tứ đại tan rã, A La Hán không tái sinh ở bất cứ cõi nào vì ngài không có Ngã, không còn Nghiệp.
– Người bình thường thì khi chết thân thể cũng tan rã, nhưng luôn có nghiệp để đi tái sinh. (Sẽ giải thích tại sao “không ngã” và tại sao “có ngã” vào comment khác).

Tứ Diệu Đế Cau hoi that kho tra loi, chi co Duc Phat va bac Thanh A La Han moi nhin ro su tai sinh cua tat ca chung sanh.
Nhieu luc trong hien tai ta con khong ro hanh dong ac thien cua ta lam dan den qua thien ac nao, huong chi la mot su tai sanh cua doi truoc. That kho, that kho.

Nguyen Dang Quy

‎”Peta hay Ngạ quỷ chính xác là gì?”
Peta = Pa + i + ta.
1. Hàm nghĩa người đã chết, người chết, vong linh….:
“Yathaapi daarako candam gacchandam anurodati. Evam sampadamevetam yo petamanusocati. (petamanusocati = petam + anusocati)
(tạm hiểu: Ví như đứa trẻ khóc vòi vĩnh mặt trăng trên trời như thế nào, thì người khóc than đến ‘người đã quá vãngi’ cũng như thế ấy.) …
2. Ám chỉ một loại chúng sanh có tên chung là Peta. Với hình tướng và bản chất của loại chúng sanh này là “không có hạnh phúc an lạc”, “lìa xa sự hạnh phúc an lạc”
Do đó, tùy trường hợp để hiểu cho đúng.
Khi bắt gặp mỗi một từ Peta nhưng đang bàn ở đây thì nên hiểu theo nghĩa thứ 2.

Tứ Diệu Đế Da, Nghiep di tai sanh, vay nghiep do than khau y, vay noi than khau y di tai sanh nhu vay co duoc khong? (thien nghiep va ac nghiep)

Bhikkhu Rama

Có 12 loại Peta:
1/ Vantāsa: Loại chuyên ăn những đồ bẩn của người khác như nước miếng, mủ, máu. ( Trong dân gian ông bà mình thường khuyên không nên phơi đồ ban đêm ngoài trời, nhất là đồ lót),
2/Kuṇāpāsa: Loại chuyên ăn những xác chết thố…See More

Bhikkhu Rama Ngạ Quỷ có thể thọ nhận Phước với 3 điều kiện:
1/ Người làm phước hồi hướng phước đó đến ngạ quỷ ( bằng cách gọi tên)
2/Người nhận vật cúng dường phải có giới đức trong sạch.
3/ Chính Ngạ Quỷ đó phải hoan hỉ phước báu đó.
(Theo chú giải Petavatthu)

Hà Anh Nguyễn Người làm phước hồi hướng phước đó đến ngạ quỷ ( bằng cách gọi tên)———>dạ sư Bhikkhu Rama cho con hỏi là mình phải gọi tên gì?

Bhikkhu Rama To Hà Anh Nguyễn: Chị thử dùng câu này thử( Nếu không biết chính xác tên của người thân quyến của mình):
“Con xin hồi hướng phước báu này đến ông bà cha mẹ, thân bằng quyến thuộc, nội ngoại hai bên của con từ nhiều đời nhiều kiếp đã quá vãng.
Do nhờ hoan hỉ phần phước này mà sớm sinh vào nơi nhàn cảnh,…”

Phạm Doãn:

“KN ko phải thuộc hệ tư tưởng của TT Thông Lạc, nhưng càng đi sâu vào PG, càng nghiên cứu và thực hành thì càng thấy rằng chuyện Vong và Luân Hồi chỉ là bị thêm thắt vào sau khi Phật nhập diệt nhằm cho những mục đích khác nhau,…”
* * *
Thảo luận với Karmalaw: Có một điều mà Karmalaw muốn nói nhưng chưa nói ra đó là “Chánh Kiến” của Thầy Thông Lạc. “Chánh Kiến” của Thày như sau:
– Con người ta không có linh hồn- không có “Ngã” (đã in thành sách)
– Không có các cõi giới nào cả. Nếu tu tập thành công, chết sẽ nhập vào Níp Bàn. Nếu không tu tập, hoặc tu tập chưa thành công, thì sau chết lại tái sinh ngay trên địa cầu này!
Đối với tôi, thày Thông Lạc đã đem lại một số quan điểm làm lợi lạc cho sự tu tập của tôi. Tôi rất biết ơn Thày. Tuy nhiên có những quan điểm triết lý (như đã nêu) thì tôi không thể nào thông hiểu được.
– Hiện nay Group Pali chuyên đề có rất nhiều vị tu học với thày Thông Lạc và có lẽ nắm vững về quan điểm “không có các cõi giới”. Tha thiết xin mới các vị tham gia thảo luận để làm sáng tỏ quan điểm này. Đây là lời mời chân tình của tôi gởi đến các vị trong tinh thần học hỏi.

Anh Phan ‎”Không có các cõi giới nào cả”! Chắc Thầy Thông Lạc chưa bao giờ gặp Ma, phải không bác Phạm Doãn hè! :)
Trong kinh, luận Đức Phật có đề cập đến các tầng thiền, nếu hành giả chứng đắc thì sau khi mạng chung sẽ sanh lên cõi trời Sắc Giới, Vô Sắc Giới mà, không phải tái sanh thành người ở trên trái đất này.

Hoa Nguyen

TL Thông Lạc dẫn chứng kinh Căn bản pháp môn để cho chư thiên, cõi thiên là không thật có vì là tưởng tri. Ông dựa theo ý câu kinh là: Kẻ phàm phu tưởng tri chư Thiên là chư thiên nên không thật biết chư Thiên. .(trích đại lược ý kinh)
Tưởng tri là nhận thức bằng tri giác (perception) dựa vào trí nhớ về sự vật đã thành hình từ quá khứ, hoặc do nghe người khác kể, đọc mô tả từ sách…, tất cả đều thiếu sót và có thể không đúng với thực trạng (khi đối diện thật sự). Ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi xúc cảm, như mong cầu, lo lắng, sợ hãi…khi nhận thức, để dễ thấy sai lạc sự vật. TL cho tưởng tri ở trên có nghĩa là biết “bằng tưởng tượng”, và gán cho Phật bảo chư Thiên, cõi Thiên là cái biết do tưởng tượng của phàm phu nên không thật có. Thế ở ngay câu mở đầu kinh CBPM Phật nói “kẻ phàm phu tưởng tri đất là đất, nên không biết rõ đất”, thì có phải Phật muốn nói là ” không thật có đất” ? Ý Phật muốn nói vì tưởng tri đất nên phàm phu không thấy được đất đúng như đất thật sự là (“như thị”).
Thật ra, tiếp theo Phật cũng nói ở bậc hữu học có cái biết liễu tri, và ở Như Lai có cái biết thắng tri về đất, cũng như về chư Thiên, cõi Thiên, nên biết rõ đất là đất , chư Thiên là chư Thiên.
Tóm lại, không thể dẫn sai ý kinh Căn bản Pháp môn như ông TL để kết luận cõi thiên, chư thiên cho vì là tưởng tri, nên không thật; mà kinh chỉ nói là không thấy biết đúng được như người liễu tri, thắng tri nên không biết rõ. Không biết rõ chớ không phải không có thật. Tôi cũng thấy nhiều người không thật hiểu nghĩa của “tưởng tri” (khi cho là do tưởng tượng mà có), và cũng chấp nhận cái ý tưởng về “thiền tưởng” của ngài Thông Lạc.

Karmalaw Net

KN ko dựa vào ý kiến của thầy nào cả. KN dựa trên thực hành theo Tứ Niệm Xứ và Bát Chánh Đạo.

Từ bé tới giờ KN chưa thấy Vong. Và cũng xin thành thật hỏi mọi ng “các vị đã nghe, đọc rất nhiều, chứ có bao giờ gặp vong thật sự, tức là có nhi…See More

Karmalaw Net quan điểm của KN là sau khi chết thì bản ngã (cái tôi) sẽ tan hoại cùng với thân xác. Chẳng thể có chuyện tái sinh, dù ở Địa Cầu hay cõi khác. Vũ trụ “khác quan khoa học với các chiều khác nhau” là phản ảnh của tâm thức, khi tâm thức tan thì nhận thức về vũ trụ (vũ trụ quan) cũng mất.

Tứ Diệu Đế KN: Neu khong co tai sinh thi hien tai ta dang hien huu do dau? Tai sao khi sanh ra co nguoi thi benh tat, co nguoi khoe manh, co nguoi thi di tat bam sinh,…

Karmalaw Net tại sao cùng 1 cành mai mà có bông to bông nhỏ?

Tứ Diệu Đế De co cay mai ra bong to bong nho la tren troi roi xuong hay la co nhan la hat hay la canh chiet?

Karmalaw Net tại sao cùng 1 cây mà lá to lá nhỏ, quả chín trước chín sau?

Tứ Diệu Đế Muon co cay co qua to, qua nho, qua chin truoc chin sao thi cay do tu tren troi roi xuong hay no hien huu cung phai co nhan?

Karmalaw Net dù là cây cỏ tiến hóa, cũng ko thể nói cái lá, cái hoa này là kiếp trước của cái lá cái hoa kia. Con người cũng vậy mà thôi. Mưa giọt to giọt nhỏ, giọt rơi lâu giọt tan mau. Hoa tuyết cũng vậy. Có cái Ngã nào trong từng giọt nước hay ko?

Tứ Diệu Đế Tat ca hien tuong su vat deu co nguyen nhan cua no, khong co su dot xuat hay thinh linh.

Tứ Diệu Đế Tat ca hien tuong su vat deu co nguyen nhan cua no, khong co su dot xuat hay thinh linh.

Karmalaw Net và nếu ng ta ko giải thích dc thì ng ta cứ gán cho nó cái

Tứ Diệu Đế

Đức Phật dạy trong kinh Sa Môn Quả:
“Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng: Này các Hiền giả, những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến, những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm các thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh, vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng. Này Ðại vương, đó là quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.”
Việc Karmalaw Net nói không có sự tái sanh đó là quan điểm của KN, còn Tứ Diệu Đế có quan điểm là có sự tái sanh luân hồi, tuy nhiên Tứ Diệu Đế cũng không thể nào kết luận một chiều quan điểm của mình là: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều sai lầm.”

Karmalaw Net Đừng trích dẫn 1 đoạn, vì nó chỉ là 1 phần của con voi, nó ko thể tả con voi. Hãy xem bài kinh này Phật nói cho ai nghe, và cách hành văn biện chứng để dẫn từ từ tới Sa Môn Quả mà đức Phật muốn nói. Haizzzz

Tứ Diệu Đế

Karmalaw Net kính!
“Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai…See More

Tính Nguyễn

‎@Hoa Nguyen:
“TL Thông Lạc dẫn chứng kinh Căn bản pháp môn để cho chư thiên, cõi thiên là không thật có vì là tưởng tri. Ông dựa theo ý câu kinh là: Kẻ phàm phu tưởng tri chư Thiên là chư thiên nên không thật biết chư Thiên. …. ”
Việc phải chăng Thầy TL chỉ dẫn chứng bài kinh này còn chưa khẳng định được, huống hồ gì việc chú bảo rằng Thầy dựa vào câu kinh cụ thể nào trong bài kinh CBPM thì đó chính là… Tưởng Tri của chú đó!

“TL cho tưởng tri ở trên có nghĩa là biết “bằng tưởng tượng”, và gán cho Phật bảo chư Thiên, cõi Thiên là cái biết do tưởng tượng của phàm phu nên không thật có. Thế ở ngay câu mở đầu kinh CBPM Phật nói “kẻ phàm phu tưởng tri đất là đất, nên không biết rõ đất”, thì có phải Phật muốn nói là ” không thật có đất” ? Ý Phật muốn nói vì tưởng tri đất nên phàm phu không thấy được đất đúng như đất thật sự là (“như thị”).
Thật ra, tiếp theo Phật cũng nói ở bậc hữu học có cái biết liễu tri, và ở Như Lai có cái biết thắng tri về đất, cũng như về chư Thiên, cõi Thiên, nên biết rõ đất là đất , chư Thiên là chư Thiên.”
Đương nhiên đã là phàm phu thì “thấy” các cõi bằng Tưởng chứ không phải bằng Liễu hay Thắng rồi. Ý ở đây giữa Thầy và Phật không khác. Đã bằng Tưởng thì khó có thể đúng và thật được.

“Tóm lại, không thể dẫn sai ý kinh Căn bản Pháp môn như ông TL để kết luận cõi thiên, chư thiên cho vì là tưởng tri, nên không thật; mà kinh chỉ nói là không thấy biết đúng được như người liễu tri, thắng tri nên không biết rõ. Không biết rõ chớ không phải không có thật. Tôi cũng thấy nhiều người không thật hiểu nghĩa của “tưởng tri” (khi cho là do tưởng tượng mà có), và cũng chấp nhận cái ý tưởng về “thiền tưởng” của ngài Thông Lạc.”
Lời Thầy Thông Lạc ở đây vẫn phù hợp với bài kinh CBPM và phù hợp khi nói về cái thấy của chúng sanh phàm phu.
Chú có cái hiểu tương đối hợp lý về bài kinh CBPM, tuy nhiên, vì chú có thành kiến và phiến diện với lời nói của Thầy TL nên “cái hiểu tương đối” kia của chú và lời của Thầy cứ “chạy song song nhau”. Sao chú không thử hiểu rằng: “à, hoá ra ông Thông Lạc bảo các cõi không có nghĩa là không có qua lăng kính của Tưởng, mà chỉ có thể có khi thấy bằng Thắng Tri”?!

Anyway, hầu hết chúng ta ở đây đều vẫn còn Tưởng sâu dày, cần “chiến đấu” nhiều hơn nữa để bỏ bớt Tưởng. Còn quan điểm về các cõi giới thì nên TIN. Cũng như Tin vào Nhân Quả thiện ác. Chứ ai cũng đòi thấy hết (trong khi chẳng tu hành, thực chứng bao nhiêu) thì e là…. té sông!

Hoa Nguyen

TL Thông Lạc thật sự dẫn bài kinh Căn Bản pháp môn để kết luận “Phật nói chư Thiên là tưởng tri của phàm phu nên không có thật”. TL có hơn 30 đầu sách in kể cũng khó tìm lại đoạn TL trích dẫn, thế nhưng bai viết đó ChanhPhatphap NguyenThuy đã đưa lên FB và tôi có ý kiến vào vào trang riêng của anh ấy, nên chính CPP NT tìm lại thì rất dễ. Về bài kinh CBPM này tìm trên trang web BuddhaSasana với tựa “Chú giải kinh Căn Bản pháp môn”, Tỳ Khưu Giác Lộc.
Chuyện khác thì không cần bàn thêm vì khi TL không hiểu rõ nghĩa “tưởng tri” thì các đệ tử làm sao hiểu được, nên tất cà đều quy về “tưởng” là đủ đả kích thiên hạ. Điều quan trọng tôi nêu lên: “tưởng tri” là thấy không đúng thực tại, nhưng thực tại vẫn có thật dù được nhìn bằng tưởng tri, liễu tri, hay thắng tri. TL phủ nhận thực tại dựa vào cái thấy cho là tưởng tri của phàm phu.

Anh Phan

Các Định luật Tái sanh luân hồi, Nhân Quả thuộc vào chi phần Chánh Kiến của Bát Chánh Đạo. Ai chưa rõ về nó thì Chánh Kiến còn yếu. Giải thích các định luật này trực tiếp khó thì có thể dùng cách gián tiếp. Ví dụ trong Vật lý giải thích các lực tác dụng qua lại với nhau, Lực A sẽ không tự nhiên mấy đi về giá trị 0 mà nó đã chuyển hoàn toàn sang lực B về độ lớn, chỉ khác phương chiều mà thôi. Giải thích sự chuyển hóa các dạng năng lượng cũng tương tự. Vấn đề tái sinh của chúng sanh có tồn tại hay không cũng khó giải thích tực tiếp trừ khi người đó đắc các Thắng Trí như Túc Mạng Minh. Cách giải thích gián tiếp là đặt câu hỏi đại loại như Vì sao tất cả 7 tỷ người trên thế giới này không kiếm đâu ra 2 người giống hệt nhau hoàn toàn? Cái gì tạo ra sự khác biệt đó? Có phải lực quán tính hay nghiệp cũ đời trước tạo ra sự khác biệt này không? Có 2 người nào mà tất cả hành động, nói năng và suy nghĩ đều giống y hệt nhau không? Còn vô số cách liên hệ khác nữa hành giả tu tập tâm linh tự hỏi sẽ rõ vấn đề.

Anh Phan

Có Chánh Kiến, Chánh Tư Duy tức hành giả tạm hiểu về Nhân Quả: Nhân xấu cho quả tái sinh đời sau khổ, nhân tốt cho quả tái sinh đời sau được an vui, không gây nhân (trong 6 nhân) gì nữa thì tái sinh lần cuối là tịch tịnh Niết-bàn. Hiểu được như vậy hành giả mới có Tàm, có Quý (tức hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi), tiếp đến họ mới tu sửa bản tính như giữ giới, làm phước, tu thiền,…tức tu tập các chi phần tiếp theo trong Bát Chánh Đạo. Rốt ráo nhất là hành giả củng cố Chánh Kiến vững chắc, không còn tự hỏi câu hỏi như “Có tái sanh hay không, Có đời sau hay không?” nữa :)

Mời tham khảo thêm về PETA (Ngạ Quỷ):

TAM TẠNG PĀLI – VIỆT

CHUYỆN NGẠ QUỶ

Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda

http://www.paliviet.info/VHoc/VHoc_30b.htm

*


Phân tích về các Cõi-Giới

Trích từ: Đường vào Thắng pháp

Tỳ khưu Chánh Minh

Cõi

(Bhūmi).

 

198 – Hỏi. Cõi là gì? Có bao nhiêu cõi?

Đáp. Chữ bhūmi xuất nguyên từ ngữ căn bhū nghĩa là “nổi lên”.

Bhūmi là nơi có chúng sinh sinh sống. Như có Pāli giải thích:

“Bhavanti sattā etthāti bhūmi: Chúng sinh hiện khởi nơi nào, nơi đó gọi là cõi”.

Nói gọn có ba cõi là: Cõi Dục giới, cõi  Sắc giới và  cõi Vô sắc giới.

Nếu phân tích rộng thì có 31 cõi: Dục giới có 11 cõi, Sắc giới có 16 cõi, Vô sắc giới có 4 cõi.

199 – Hỏi. Hãy kể ra 11 cõi Dục?

Đáp. Mười một cõi Dục là: 4 cõi khổ + cõi người + 6 cõi trời Dục.

Có Pāli như sau: Tāsu, nirayo, tiracchānayoni, pettivisayo, asurakāyo apāyabhūmi catubidhā hoti:

Có bốn cõi “bất hạnh (apāya)” là: Địa ngục, thú (tiracchāna), ma đói (peta) và “thần quỷ (asura)”.

Manussā, cātummahārājikā, tāvatiṃsā, yāmā, tusitā, nimmānarati, paranimmitavasavattī c’āti kāmasugatibūmi sattavidhā hoti:

“Có 7 cõi vui Dục giới (kāmasugatibhūmi) là: Cõi người (manussa), cõi Tứ đại vương(catummahārājā), cõi Ba mươi ba (tāvatiṃsa), cõ iDạma (yāmā), cõi Hóa lạc thiên (nimmānarati), cõi Tha hóa tự tại (paranimmitavasavattī) ” [25].

200 – Hỏi. Vì sao gọi là”cõi bất hạnh”( apāyabhūmi).

Đáp. Apāyabhūmi = apa (lìa bỏ, tách rời) + aya (công đức, công hạnh – kusalakamma) + bhūmi.

Pāli giải thích chữ aya (vacanattha) như sau:

“Tividhasampattiyo ayanti gacchanti pavattanti etenāti = ayo:

“Thành tựu được hạnh phúc nhân, thiên và Nípbàn, gọi là aya (công đức).

Ayati vaḍḍhātīti = ayo: Sự an lạc, gọi là aya (hạnh phúc).

Ayitabbo sāditabboti = ayo: Sự an lạc đáng hài lòng, gọi là aya.

Ayato apagato = apāyo: Lìa bỏ sự đi đến hạnh phúc, gọi là “bất hạnh – apāya”.

Apāyo eva būmi = apāyabhūmi: Nơi chúng sinh sống không có hạnh phúc, gọi là cõi bất hạnh[26].

Cõi bất hạnh (apāyabhūmi) là chỉ chung cho bốn cõi khổ.

Chúng sinh sống trong bốn cõi này, tuy có tâm thiện khởi lên, nhưng rất khó.

Ngay cả chúng sinh cõi nhân loại tuy tâm thiện khởi lên dễ dàng, nhưng phần nhiều lại có khuynh hướng tạo ác nghiệp, còn nói chi đến chúng sinh đang sống nơi khổ cảnh. Đức Phật có dạy:

“Sududdasaṃ sunipuṇaṃ; yatthakāmanipātinaṃ

Cittaṃ rakkhetha medhavī; cittaṃ guttaṃ sukhāvahaṃ

“Khó nắm giữ, khinh động; theo các dục quay cuồng.

Lành thay, điều phục tâm; tâm điều an lạc đến” (HT. TMC dịch)[27].

Hay:

“Abhittharetha kayāne; pāpā cittaṃ nivāraye.

Dandhaṃ hi karoto puññaṃ; pāpasmiṃ ramati mano.

“Hãy gấp làm điều lành; ngăn tâm làm điều ác.

Ai chậm làm điều lành, ý ưa thích việc ác” (HT. TMC dịch)[28].

Một từ khác chỉ cho 4 cõi bất hạnh này là duggati.

Duggati theo nghĩa đen là “đi đến khổ”.

Có Pāli giải thích từ duggatibhūmi (cõi khổ) như sau:

*-Du (xấu, bất hạnh)+ gati (đi đến, nơi đến) + bhūmi = duggatibhūmi.

Dukkhassa gati paṭisaraṇanti = duggati:

Đi đến nơi khổ đề nương tựa, gọi là “khổ cảnh”.

*- Dukkhena gantabbāti = duggati:

Đã đi đến nơi khổ, gọi là “khổ cảnh”.

Có 3 trường hợp gọi là “đi đến khổ cảnh”:

Āgāriyapaṭipatti = duggati:

Đời sống ác hạnh của người cư sĩ, gọi là “đi đến khổ”.

Tức là người cư sĩ không giữ gìn 5 giới, hay tạo ác nghiệp do mãnh lực của phiền não.

– Anagāriyapaṭipatti = duggati:

“Đời sống tà vạy của người xuất gia, gọi là “đi đến khổ”.

Tức là bậc xuất gia nuôi mạng không chân chính, nuôi mạng theo 21 cách sống tà mạng được ghi trong tạng Luật, hay là người phá hoại niềm tin của Phật tử.

– Gatiduggati. Chỉ cho 4 cõi bất hạnh[29].

201 – Hỏi. Cõi địa ngục (nirayabhūmi) ra sao?

Đáp. Chữ niraya phân tích thành: Ni (không có) + aya (an lạc).

Niraya (địa ngục) là nơi chúng sinh sống hoàn toàn không có sự an lạc, luôn bị sự khổ thiêu đốt thân tâm.

Chúng sinh sống trong địa ngục là loại chúng sinh hóa sinh, do đó cõi địa ngục cũng là sắc tế.

Theo bộ Sớ giải Người và cõi thì chúng sinh sống trong địa ngục có 3 hạng: Hạng tội nhân, hạng quỷ sứ (nirāyapāla) và Diêm vương (yamarāja).

*- Hạng tội nhân: Là những chúng sinh tạo ác nghiệp, khi mệnh chung phải sinh ra tại chính cảnh giới ấy.

*- Hạng quỷ sứ (nirayapāla). Đây là những chúng sinh không phải sinh ra tại cảnh giới địa ngục, vì tâm tục sinh của họ không phải là tâm Quan sát thọ xả quả bất thiện, mà là quả của tâm đại thiện thấp.

Hạng chúng sinh này là chư thiên tùy chúng của Tứ Đại vương, là những Rakkhasa (Lasát).

Trong địa ngục có những con kên kên, quạ, diều hâu … đó chính là những Dạxoa có thân hình kỳ dị, chứ trong địa ngục không có súc sinh.

*- Diêm vương (yamarāja). Chính là vua của hạng ngạ quỷ vemānika, khi thì sống an lạc như chư thiên cõi Ba mươi ba, khi thì phải chịu khổ trong cảnh giới địa ngục.

Bồtát cũng có lần tái sinh làm Diêm vương  [30].

Theo Sớ giải Tăng chi kinh, pháp 3 chi (Tikaṅguttara – atthakathā); Diêm vươnglà người lạc vô nhân cũng có, là người nhị nhân cũng có, là người tam nhân cũng có.

Khi còn là phàm nhân thì thọ hưởng như đã nói; khi chứng được Thánh quả thì không còn xuống địa ngục nữa, chỉ thọ hưởng quả an lạc như chư thiên mà thôi.

Cõi địa ngục bao gồm 8 đại địa ngục, nằm sâu trong lòng địa cầu, mỗi đại địa ngục cách nhau 15 ngàn do tuần (yojana), nằm chồng lên nhau theo thứ tự, mỗi đại địa ngục có 32 tiểu địa ngục hay “đa khổ địa ngục (ussada)”.

Diêm chúa là người cai quản tiểu địa ngục, mỗi đại địa ngục có 8 vị Diêm chúa, như vậy có tất cả là 256 Diêm chúa (xin xem  thêm Chú giải người và cõi do Đại Đức Thiện Phúc dịch, hay Chúng sinh và sinh thú do Đại Đức Giác Nguyên dịch).

2o2 – Hỏi. Do nhân nào tái sinh làm quỷ sứ (nirayapāla)?

Đáp. Đây là hạng chúng sinh khi là người, thích hành hạ chúng sinh khác, nhưng cũng biết tạo phước lành.

Nhờ phước lành ấy giúp họ sinh vào cõi Tứ đại vương, nhưng loại phước lành này có khuynh hướng (nikantitaṅhā) thích hành hạ người khác.

Chính bản tính hung dữ ấy khiến các Lasát (rakkhita) này xuống địa ngục hành hạ tội nhân để tiêu khiển, các quỷ sứ hành hạ tội nhân không biết chán, tội nhân càng nhiều đau khổ họ càng thích thú.

203 – Hỏi.  Hãy giải thích về cảnh giới thú (tiracchānabhūmi).

Đáp. Có Pāli giải thích từ tiracchāna như sau:

*- Tiro añjantīti = tiracchāna: Đi ngang hàng, gọi là thú”

Câu giải tự trên đây có 2 ý:

– Nhân loại hay các chúng sinh khác, khi đi thường đầu cao hơn thân mình và đầu ngẫng lên cao. Còn những chúng sinh nào, khi đi đầu cúi xuống ngang với thân mình, gọi là thú.

– Khi đã sinh vào sinh chủng này, cho dù là Bồtát Chánh giác cũng không có đủ trí để chứng đắc Đạo – quả. Thánh trí đã bị ngăn lại, chí đến thiền định cũng không chứng đắc, nên gọi là “ngang hàng”.

Loài thú rất đa dạng với nhiều hình thức và tên gọi khác nhau, nhưng tựu trung gom vào 4 loại:

*- Loài không chân (apadatiracchāna). Như cá, rắn, trùn (giun)… Cao nhất trong loài không chân là loài rồng (nāga).

Bồtát cũng có những kiếp làm Long vương, như Long vương Bhūridatta khi Ngài thực hành trì giới Balamật[31].

*- Loài hai chân (dvipadatiracchāna): Như chim, gà, vịt…

Những loài này tuy có 2 chân như người, nhưng khi đi đầu chúi xuống, thân không đứng thẳng  gần như ngang hàng với đầu, nên xếp vào loài thú.

Cao nhất trong loài thú 2 chân là chim Kim xí điểu (garuda – Đại bàng).

*- Loài bốn chân (catuppadatiracchāna): Như, nai, cọp… Cao nhất trong loài bốn chân là sư tử và voi.

Bồtát cũng có lúc làm voi như voi Chaddanta có hiếu với mẹ, hay làm sư tử chúa…[32]

*- Loài nhiều chân (bahuppadatiracchāna): Như rết, châu chấu…

Loài thú có hai loại: Loại thấy được bằng mắt và loại quá nhỏ đến nổi mắt thường không thấy được.

Loài thú dưới nước nhiều hơn loài thú sống trên cạn.

Chỗ trú của loài thú ở khắp nơi, nhưng không lên đến cõi Tứ đại vương, tuổi thọ của chúng bất định.

204 – Hỏi. Hãy giải thích về cảnh giới “ma đói” (petabhūmi)?

Đáp.  Chữ Peta là hợp từ của pa + ita.

Theo nghĩa của ngữ nguyên thì peta là “những chúng sinh đã chết” hay “những chúng sinh không có hạnh phúc”[33].

Chúng sinh “ma đói – peta” thuộc hạng hóa sinh, nên thân xác họ là sắc tế, mắt thường không thể thấy được.

Chỗ ở của hạng chúnng sinh này thì bất định, chúng ở cùng khắp như  rừng, núi, đảo, ven biển, vực thẳm, ở quanh nhà…

Trong dãy Hy mã lạp sơn, có khu rừng tên là Vijjhaṭavī, là thành phố của 12 loại ngạ quỷ[34]; chúa của nhóm ngạ quỷ là loài ngạ quỷ Mahiddha.

Trong bộ Lokapaññatti (Thế gian chế định) có ghi nhận:

Yattha petanagare petamahiddhiko sabbapetānam issoyādhipaccaṃ karoti:

“Bất luận nơi nào là thành phố ngạ quỷ, ngạ quỷ Mahiddhika là chúa của tất cả ngạ quỷ ở nơi ấy”.

Nói gọn thì có bốn hạng ngạ quỷ:

*-Paradattupajīkapeta: Ngạ quỷ sống bằng thực phẩm của người khác.

*- Khuppipāsikapeta: Ngạ quỷ luôn luôn đói khát.

*- Nijjhāmataṅhikapeta: Ngạ quyên thường xuyên bị lửa đốt.

*- Kāḷakañcikapeta: Atula ngạ quỷ .

Bồtát khi được Đức Chánh giác thọ ký, chỉ có thể sinh làm ngạ quỷ Paradattupajīkapeta, không sinh vào 3 hạng ngạ quỷ kia.

Tuổi thọ của ngạ quỷ bất định, tùy thuộc vào ác quả nặng hay nhẹ tuổi thọ lâu dài hay ngắn hạn.

205 – Hỏi. Hãy giải thích về cõi “Atula” (asurabhūmi).

Đáp. Có Pāli định nghĩa về asura (atula) như sau:

“- Na suranti issariyakilaadihi na dibbhantīti = asurā:

“Chúng sinh nào không sáng chói về quyền lực, không hân hoan, gọi là Atula”.

– “Asurānaṃ kāyo = asurakāyo: Tập hợp những Atula, gọi là nhóm Atula”[35].

“Sáng chói”,  ở đây không mang ý nghĩa “hào quang sáng chói”, mà chỉ cho cuộc sống cơ cực. Như những người nghèo khổ, do kiếp trước có tâm bỏn xẻn không tạo phước bố thí, kiếp này may mắn sinh làm người nhưng nghèo khổ, cuộc sống vất vả.

Không hân hoan”, cho dù những người này có được vật thực để nuôi mạng sống, nhưng là loại vật thực kem cõi, đời sống luôn ưu tư về “chen cơm manh áo”, tâm trí không có sự hân hoan vui thích như những người có phước khác. Đức Phật có dạy:

Người ví như  chúng sinh địa ngục. Là hạng người phạm quốc luật, bị giam cầm trong ngục…

Người ví như loài thú. Là hạng nô lệ.

Người ví như ngạ quỷ. Là hạng hành khất, cô lão… thường bị đói khát.

Người ví như Atula. Là hạng người vất vả trong cuộc sống.

Người ví như người. Là hạng người tâm trí hân hoan, vui thích trong cuộc sống.

Người như chư thiên. Như vua, quan, Hoàng hậu…

Cảnh giới khổ Atula, ám chỉ cho nhóm Kāḷakañcikapeta (có giải thích ở trên). Chỗ ở của nhóm Atula (asurakāyo) này bất định.

Atula ngạ quỷ (petti asura) có 3 loại là:

– Kāḷakañcikapeta-asura. Là nhóm asura ngạ quỷ được trính bày ở trên.

– Vemānikapeta-asura.

– Āyuvaddhikapeti-asura. Là loại Atula trang bị vũ khí để tìm đánh nhau.

Tuổi thọ nhóm Atula này bất định tùy theo ác nghiệp nặng nhẹ mà tuổi thọ dài ngắn khác nhau. Có Pāli  như sau:

“Tesu catummaṃ apāyānaṃ manussāṃ vinipātikāsurānañ ca āyuppamāāgaṇanāya niyamo natthi:

“Không có cố định tuổi thọ đối với những chúng sinh trong khổ cảnh, Atula đọa lạc và người”[36].

206 – Hỏi. Hãy giải thích 7 cõi vui Dục giới?

Đáp. Bảy cõi vui Dục giới là:

1- Cõi người (manussabhūmi).

Cõi người bao gồm những chúng sinh sống ở bốn châu là: Nam thiện bộ châu (Jampūdīpa), Bắc cưu lư châu (Uttarakurudīpa). Đông thắng thần châu (Pubbavidehadīpa) và Tây ngưu hóa châu (Aparagoyānadīpa).

Nhưng chữ Manussa (nhân loại) thường chỉ cho người ở Nam thiện bộ châu.

Có Pāli giải thích manussa như sau:

Mano ussannaṃ etesanti = mamussa:

“Có tâm chói sáng và dũng cảm, gọi là manussa (người)”.

Người Nam thiện bộ châu có tâm dũng cảm với 2 tính cách: Thiện và ác.

Về thiện. Người Nam thiện bộ châu khi tu tiến,  có khả năng thành tựu được Chánh đẳng giác, Bích chi, Thượng thủ thinh văn, Đại thinh văn, bậc Alahán thường, thành tựu Thiền định, Thắng trí hay có bậc Chuyển luân vương xuất hiện.

Về ác. Có thể phạm vào 5 tội đại nghịch : Giết cha, giết mẹ, giết vị Thánh Alahán, làm chảy máu Phật và chia rẻ Tăng chúng.

Người ba châu kia không có được tâm dũng mãnh cả tốt lẫn xấu như người Nam thiện bộ châu.

Tuổi thọ người Nam thiện bộ châu bất định, có khi sống rất lâu, có khi sống rất ngắn.

Như trong thời Đức Phật Vipassī, chúng sinh có tuổi thọ là 80.000 tuổi; trong thời Đức Phật Sikhī, tuổi thọ loài người là 70.000 tuổi, trong thời Đức Phật của chúng ta, tuổi thọ loài người là 100 tuổi[37].

Người Đông thắng thần châu có tuổi thọ ổn định là 700 năm; người Tây ngưu hóa châu có tuổi thọ ổn định là 500 năm; người Bắc cưu lư châu có tuổi thọ ổn định là 1000 năm.

2- Cõi Tứ đại vương (Catummahārājabhūmi).

Cõi này có bốn vị chúa mỗi vị hộ trì một châu:

*- Thiên vương Dhataraṭṭha (Trì quốc thiên vương), ở hướng Đông, cai quản nhóm Hương thần (gandhabba – Cànthátbà), hộ trì Đông Thắng thần châu.

*- Thiên vương Viruḷhaka (Tăng trưởng thiên vương), ở hướng Nam, cai quản nhóm Kumbhaṇḍa (Thế quỷ – Cưubàntrà, là hạng chư thiên có bụng to), hộ trì Nam thiện Bộ châu.

*- Thiên vương Virūpakkha (Quảng mục thiên vương), ở hướng Tây, cai quản loài rồng, hộ trì Tây ngưu hóa châu.

*- Thiên vương Kuvera hay Vessavana (Đa văn thiên vương), ở hướng Bắc, cai quản nhóm Dạxoa (yakkha), hộ trì Bắc Cưu lư châu.

Một ngày đêm ở cõi Tứ đại vương bằng 100 năm cõi nhân loại.

Chư thiên cõi Tứ đại vương có tuổi thọ là 500 năm, tính theo nhân loại là 9 triệu năm[38].

Cõi Tứ Đại vương ở nửa núi Tudi (Sineru), cách xa cõi nhân loại là 42 ngàn do tuần, cách xa cõi Đao lợi là 42 ngàn do tuần.

3- Cõi Ba mươi ba (Tāvatiṃsabhūmi).

Cõi này có 33 vị thiên chủ, đứng đầu là vua Trời Đế Thích (sakka). Cõi Ba mươi ba cách xa cõi Tứ Đại vương là 42 ngàn do tuần.

Từ cõi này trở lên là khoảng hư không; chư thiên cõi Ba mươi ba có 2 hạng là:

*- Địa cư thiên (bhummaṭṭhadevatā). Là những vị chư thiên có thiên cung trên mặt đất.

*- Không cư thiên (ākāsaṭṭhadevatā). Là những vị chư thiên có thiên cung lơ lửng giữa hư không.

Kể từ cõi này trở lên chỉ có một hạng chư thiên là “không cư thiên”.

Một ngày đêm cõi Ba mươi ba bằng 100 năm cõi nhân loại, tuổi thọ chư thiên cõi Ba mươi ba là 1.000 năm, tính theo nhân loại là 36 triệu năm (sđd).

4- Cõi Dạma (Yāmābhūmi).

Chữ yāma xuất nguyên từ ngữ căn YAṂ, nghĩa là “tiêu diệt”.

Yāma là “tiêu diệt nóng bức, khó chịu”.

Cõi này dành cho những người làm việc lành với tâm mát mẻ; chư thiên ở cõi này không có sự nóng bức.

Vị chúa cõi này có tên là Suyāma hay Yāma

Cõi Dạma cách cõi Ba mươi ba là 42 ngàn do tuần; một ngày đêm trên cõi này tương đương với 200 năm cõi nhân loại. Tuổi thọ chư thiên cõi Dạma là 2.000 năm, tương đương với 144 triệu năm cõi nhân loại (sđd).

5- Cõi Đẩu-suất (Tusitabhūmi).

Cõi này dành cho những người tạo phước thiện balamật (pāramī). Bồtát Chánh đẳng giác, Bồtát Bích chi (paccekabodhisatta) Bồtát Thượng thủ thinh văn, kiếp áp chót thường tái sinh về cõi này.

Chúa cõi này có tên là Santusiya, cõi này cách cõi Dạma là 42 ngàn do tuần, một ngày đêm cõi này bằng 400 năm cõi người; tuổi thọ chư thiên cõi này là 4.000 tuổi, tương đương với 516 triệu năm cõi nhân loại (sđd).

6- Cõi Hóa lạc (Nimmānarati).

Đây là quả của sự tu tập thiền tịnh còn non kém, nhưng cũng đạt đến chi hỷ của thiền.

Chúa cõi này có tên là Sunimmita, cõi này cách cõi Đẩu-suất là 42 ngàn do tuần.

Một ngày đêm ở cõi này bằng 800 năm cõi người, tuổi thọ chư thiên ở cõi này là 8.000 tuổi, tương đương với 2064 triệu năm cõi nhân loại (sđd).

7- Cõi Tha hóa tự tại (paranimmitavasavatti).

Đây là quả phước của sự tu tập thiền chỉ đạt đến cận định.

Chúa cõi này có tên là Paranimmita, cõi này cách cõi Hóa lạc 42 ngàn do tuần.

Một ngày đêm ở cõi này bằng 1.600 năm cõi nhân loại; tuổi thọ chư thiên ở cõi này là 1600 năm, tương đương với 8256 triệu năm cõi nhân loại (sđd).

207 – Hỏi. Cõi Sắc giới (rūpavacarabhūmi) ra sao?

Đáp. Cõi Sắc giới là chỗ nương trú của các vị Phạm thiên. Như Pāli  giải thích:

-“Rūpabrahmanaṃ avacarā bhūmi =  rūpavacarabhūmi:

“Nơi Phạm thiên nương trú, gọi là cõi Sắc giới”.

Phạm thiên là “người thành tựu ân đức thù diệu, như ân đức thiền…”

Có câu giải thích về Phạm thiên (brahmana) như sau:

“Brūhanti vaḍḍhanti adhipanītehi jhānādiguṇehīti = brahmāno:

“Những vị chứng đạt, phát triển các pháp tính ưu việt như ân đức thiền.., gọi là Phạm thiên”.

Nói cách khác, vị chứng đạt được thiền định, không bị hoại thiền, sau khi mệnh chung tái sinh về một cảnh giới tương ứng với tầng thiền chứng đạt, vị ấy được gọi là Phạm thiên.

208 – Hỏi. Có bao nhiêu cõi Sắc giới? Hãy kể ra.

Đáp. Có tất cả là 16 cõi Sắc giới, như sau:

*- Tầng Sơ thiền có 3 cõi là: Cõi Phạm chúng thiên (Brahmapārisajjabhūmi), cõi Phạm phụ thiên (Brahmapurohitabhūmi) và cõi Đại phạm thiên (Mahābrahmābhūmi).

Có Pāli như sau: Brahmapārisajjā, brahmapurohitā, mahābrahmanā c’āti pathamajjhābabhūmi:

“Cõi Sơ thiền là: Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại phạm thiên”[39].

*- Tầng Nhị thiền có 3 cõi là: Cõi Thiểu quang thiên (Parittābhābhūmi), cõi Vô lượng quang thiên (Appamāṇābhābhūmi) và cõi Quang âm thiên (Ābhassarābhūmi).

Có Pāli như sau: Parittābhā, appamāṇābhā, ābhassarā c’āti dutiyajjhānabhūmi:

“Cõi Nhị thiền là: Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên và Quang âm thiên” (sđd).

*- Tầng Tam thiền có 3 cõi là: Cõi Thiểu tịnh thiên (Parittasubhābhūmi), cõi Vô lượng tịnh thiên (Appamāṇasubhābhūmi) và cõi Biến tịnh thiên (Subhākiṇṇābhūmi).

Có Pāli như sau:

“Parittasubhā, appamāṇasubhā, subhakiṇnā c’āti tatiyajjhānabhūmi:

“Cõi Tam thiền là: Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên và Biến tịnh thiên.”(sđd)”.

*- Tầng Tứ thiền có 7 cõi là: Cõi Quảng quả (Vehappalābhūmi), cõi Vô tưởng (Asaññasattabhūmi) và 5 cõi Tịnh cư (Suddhāvāsa). Có Pāli như sau:

-“Vehapphalā, asaññasattā, suddhāvāsā c’āti catutthajjhaanabhūmī’ti:

“Cõi Tứ thiền là: Quảng quả, Vô tưởng và Tịnh cư” (sđd).

Năm cõi Tịnh cư là nơi dành cho bậc Thánh Anahàm và bậc thánh Alahán.

Phàm nhân hay bậc Thánh Sơ quả, Nhị quả không thể tái sinh về nơi này, nên 5 cõi này còn được gọi là Thánh cư (ariyavāsa).

Đó là: Cõi Vô phiền (Avihābhūmi), cõi Vô nhiệt (Atappābhūmi), cõi Thiện kiến (Sudassābhūmi, cõi Thiện hiện (Sudassī bhūmi) và cõi Sắc cứu cánh (Akaniṭṭhabhūmi).

Có Pāli như sau: “Avihā, atappā, sudassī, sudassā, akaniṭṭhā c’āti suddhāvāsabhūmi pañcavidhā hoti:

Cõi Tịnh cư có năm là: Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến và Sắc cứu cánh”.

“Puthujjhanā na labbhanti suddhāvāsesu sabbattā. Sotāpannā ca sakadāgāmino cāpi puggalā:

“Phàm nhân, bậc Dự lưu, bậc Nhất lai không sinh vào Tịnh cư thiên trong mọi trường hợp”(sđd).

209 – Hỏi. Ba cõi tầng Sơ thiền ra sao?

Đáp.Tầng Sơ thiền có 3 cõi là:

*- Cõi Phạm chúng thiên (Brahmapārisajjabhūmi).

Có Pāli như sau:Parisati bhavā = pārisajjā:

Trong nhóm đồ chúng, gọi là pārisajjā.

Tức là hạng Phạm thiên thông thường, không có quyền lực gì đáng kể.

Gọi là Phạm chúng thiên, nghĩa là Phạm thiên tùy tùng của Đại Phạm thiên. Ví như “dân chúng” trong một nước.

“Brahmānaṃ pārisajjā = brahmapārisajjā: Phạm thiên đồ chúng, gọi là “Phạm chúng thiên”.

Tên gọi “Phạm chúng thiên” là do nương theo chỗ trú của các Phạm thiên mà định danh như thế.

Như các Ngài dẫn ra:

“Brahmapārisajjānaṃ nibbātāti = brahmapārisajjā:

“Chỗ trú của Phạm thiên đồ chúng, gọi là Phạm chúng thiên”.

Vị Thánh Anahàm không đắc thiền, khi mệnh chung sinh về cõi này, do mãnh lực diệt trừ được tham dục và sân hận.

*- Cõi Phạm phụ thiên (Brahmapurohitabhūmi).

“Pure ucce tīhāne chanti tiṭṭhantīti = purohitā:

Người phụ giúp, có chức vụ cao, gọi làcố vấn”.

Hay: Brahmānaṃ purohita = brahmapurohitā:

“ Phạm thiên cố vấn, gọi là Phạm phụ thiên”.

Các vị Phạm phụ thiên ví như các quan đại thần trong quốc độ.

Chỗ nương trú của các Phạm phụ thiên, gọi là cõi Phạm phụ thiên.

Như có Pāli sau: Brahmapurohitānaṃ nibbattāti = brahmapurohitā:

“Chỗ trú của Phạm thiên cố vấn, gọi là Phạm phụ thiên.

*- Cõi Đại Phạm thiên (mahābrahmābhūmi).

“Mahanto brahmā = mahābrahmā: “Phạm thiên lớn nhất, gọi là Đại phạm thiên.”

Đại Phạm thiên là vị cai quản cõi Sơ thiền, giống như vua của một nước.

Khi vũ trụ này mới hình thành, vị Phạm thiên sinh ra trước nhất trong tầng Sơ thiền, vị ấy được gọi là Đại Phạm thiên[40].

Như vậy, Đại Phạm thiên chỉ có một vị, điều này được tìm thấy qua đoạn Phật ngôn trong bộ Tương ưng kinh, phẫm ương ưng Phạm thiên (brahmasaṃyutta) như sau:

“Tatra sudaṃ bhikkhave brahmā (mahābrahmā) ca brahmaparisā ca brahmapārisajjā ca ujjhāyanti khīyanti…”

Theo đoạn Pāli trên, từ chỉ vị Đại Phạm thiên dùng số ít, còn từ chỉ Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên thì dùng số nhiều[41].

Có 3 hạng Đại Phạm thiên:

*- Đại Phạm thiên có hào quang chói sáng cả 1.000 vũ trụ (cakkavāla), gọi là Sahassabrahma.

*- Đại Phạm thiên có hào quang chói sáng cả 2.000 vũ trụ, gọi là Dvisahassabrahma.

*- Đại Phạm thiên có hào quang chói sáng cả 3.000 vũ trụ, gọi là tisahassabrahma.

Tuy gọi là 3 cõi Sơ thiền, thật ra ba cõi này nằm ngang hàng nhau, cách cõi Tha hóa tự tại 5.508.000 do tuần.

Các Phạm thiên có những phạm cung xinh đẹp (Kinh Phạm Võng), nằm lơ lửng, trôi nổi giữa hư không, nền bằng 7 loại ngọc báu, có vườn hoa, ao hồ…

Trong tầng Sơ thiền ấy có ranh giới để phân chia khu vực của 3 bậc Phạm thiên trong tầng ấy.

Các Phạm thiên tầng Sơ thiền tục sinh bằng tâm quả Sơ thiền Sắc giới.

Tuổi thọ của Phạm Chúng thiên là một phần ba kiếp trái đất, tuổi thọ của Phạm phụ thiên là nửa kiếp trái đất, tuổi thọ vị Đại Phạm thiên là một kiếp trái đất.

Đây là tính kể từ vũ trụ hình thành cho đến khi vũ trụ bị hoại, nếu vị Phạm thiên sinh lên vào lúc tuổi thọ trái đất là một nửa thì tuổi thọ ngắn lại. Vì khi vũ trụ bị hoại thì cả tầng Sơ thiền cũng bị hoại theo.

Có Pāli như sau: Tesu brahmapārisajjānaṃ devānaṃ kappassa[42] tatiyo bhāgo āyuppamāṇaṃ:

“Ở các cảnh giới này, thọ mạng của các chư thiên Phạm chúng thiên là một phần ba kiếp trái đất (kappa)”.

“Brahmapurohitānaṃ upaddakappo, mahābrahmānaṃ eko kappo:

Phạm phụ thiên là nửa kiếp, Đại Phạm thiên là 1 kiếp”[43].

210 – Hỏi. Ba cõi tầng Nhị thiền ra sao?

Đáp. Tương tự như tầng Sơ thiền, tầng Nhị thiền cũng có 3 cõi và tên gọi do nương theo chỗ ngụ và tính chất của các vị Phạm thiên ấy.

*- Cõi Thiểu quang thiên (Parittasubhābhūmi).

Là những vị Phạm thiên có hào quang tỏa ra ít hơn so với những Phạm thiên cao hơn.

Có Pāli giải thích như sau:

Parittā ābhā etesanti = parittābhā:

Hào quang ít hơn, gọi là parittābhā (thiểu quang)”.

Parittābhāvaṃ nibbattāti = parittābhā:

Trú xứ của các Phạm thiên ít hào quang, gọi là Thiểu quang thiên.

Các Phạm thiên này giống dân chúng  trong “xứ nhị thiền”.

*- Cõi Vô lượng quang thiên (appamāṇābhūmi).

Là những vị Phạm thiên có hào quang tỏa ra nhiều vô số.

Có Pāli giải thích như sau:

Appamāṇā ābhā etesanti = appamāṇābhā:

“Hào quang nhiều vô số, gọi là vô lượng quang.

Appamāṇābhānaṃ nibbattāti = appamāṇābhā:

Trú xứ của Phạm thiên có hào quang tỏa ra vô số, gọi là cõi Vô lượng quang thiên.

Các vị Phạm thiên ở cõi này ví như các quan đại thần trong xứ “Nhị thiền”.

*- Quang âm thiên (ābhassarābhūmi).

Là những Phạm thiên có hào quang tỏa ra từ thân rất xinh đẹp.

Có Pāli giải thích như sau:

Sarati nissaratīti = sarā:

Hào quang có chỗ chiếu ra, gọi là sarā (tia sáng).”

Ābhāsarā etesanti = ābhassarā:

Phạm thiên có hào quang từ thân xẹt ra, gọi là “Quang âm ”.

Ābhassarā nibbattāti = ābhāsarā:

Trú xứ của các Phạm thiên Quang âm, gọi là Quang âm thiên.

Các Phạm thiên Thiểu quang có vai trò như Phạm chúng thiên tầng Sơ thiền.

Các Phạm thiên Vô lượng quang có vai trò như các Phạm phụ thiên ở tầng Sơ thiền.

Các Phạm thiên Quan âm có vai trò như Đại phạm thiên ở tầng Sơ thiền.

Theo kinh Khởi thế nhân bổn (Aggañña suttanta) trong Trường bộ kinh, thủy tổ loài người chính là những vị Phạm thiên cõi Quang âm này.

Các vị Phạm thiên Quang âm, có tâm tràn đầy hỷ lạc sung mãn rất tinh khiết, nên tạo ra sắc tâm tinh khiết, chính do sắc tâm này làm duyên cho sắc thời tiết sinh lên rồi hiển lộ thành hào quang rất xinh đẹp.

Các Phạm thiên ở tầng Nhị thiền tục sinh bằng tâm quả Nhị thiền Sắc giới và tâm quả Tam thiền Sắc giới.

Với tâm quả Nhị thiền Sắc giới làm việc, các vị Phạm thiên này là Phạm thiên Thiểu quang, hay Phạm thiên Vô lượng quang.

Với tâm quả Tam thiền Sắc giới làm việc tục sinh, các vị Phạm thiên này là Quang âm phạm thiên

Tầng Nhị thiền cách xa tầng Sơ thiền 5. 508.000 do tuần, cấu trúc tầng Nhị thiền giống như tầng Sơ thiền nhưng chói sáng hơn.

Tuổi thọ các vị Phạm thiên tầng Nhị thiền như sau:

– Tuổi thọ các vị Phạm thiên Thiểu quang thiên là 2 kiếp trái đất.

– Tuổi thọ các vị Phạm thiên Vô lượng quang là 4 kiếp trái đất.

– Tuổi thọ các vị Phạm thiên Quang âm là 8 kiếp trái đất.

Có pāli như sau:

Parittābhānaṃ dve kappāni; appamāṇābhānaṃ  cattāri kappāni; ābhassarānaṃ aṭṭha kappāni:

“Thiểu quang thiên có (tuổi thọ) 2 kiếp trái đất; Vô lượng quang thiên là 4 kiếp trái đất; Quang âm thiên là 8 kiếp trái đất” (sđd).

Sự hoại vũ trụ được ghi nhận là: 7 lần hoại do lửa có một lần hoại do nước.Khi vũ trụ bị hoại do nước sẽ hủy diệt hết cõi Nhị thiền.

Do đó số lượng tuổi thọ các vị Phạm thiên Quang âm là 8 kiếp trái đất.

Nhưng nếu các vị ấy sinh sau hơn thì tuổi thọ không đến 8 kiếp trái đất.

211 – Hỏi. Ba cõi tầng Tam thiền ra sao?

Đáp. Tương tự như tầng Sơ hay Nhị thiền, tầng Tam thiền cũng có ba cõi là:

*- Cõi Thiểu tịnh thiên (parittasubhābhūmi).

Là trú xứ của những vị Phạm thiên có hào quang kém xinh đẹp nhất trong tầng Tam thiền.

Tuy các Phạm thiên ở tầng Sơ thiền, Nhị thiền đều có hào quang chói sáng, nhưng không được xinh đẹp so với hào quang của những Phạm thiên tầng Tam thiền.

Có Pāli  giải thích như sau:

Parittā subhā etesanti = parittashubhā:

Hào quang kém xinh đẹp, gọi là thiểu tịnh.

Parittasubhānaṃ nibbattāti = parittasubhā:

Trú xứ của những Phạm thiên có hào quang kém xinh đẹp, gọi là Thiểu quang thiên”.

*- Cõi Vô lượng tịnh thiên (appamāṇasubhābhūmi).

Là trú xứ của những Phạm thiên có hào quang vô cùng xinh đẹp.

Có Pāli giải thích như sau:

Appamāṇā subhā etesanti = appamāṇasubhā:

Hào quang vô cùng xinh đẹp, gọi là vô lượng tịnh.

Appamāṇasubhānaṃ nibbattāti = appamāṇasubhā:

“Trú xứ của những vị Phạm thiên có hào quang vô cùng xinh đẹp, gọi là Vô lượng tịnh thiên.”

*- Cõi Biến tịnh thiên (subhakiṇṇābhūmi).

Là cõi của những vị Phạm thiên có hào quang rất xinh đẹp bọc quanh thân. Có Pāli giải thích như sau:

Subhāti ākiṇnāti = subhakiṇṇā (subhakiṇhā):

“Có hào quang xinh đẹp khắp châu thân, gọi là biến tịnh.

Subhakiṇṇānaṃ nibbattāti = subhakiṇṇā:

“-Trú xứ của các vị Phạm thiên Biến tịnh, gọi là Biến tịnh thiên.

Các phạm thiên Thiểu tịnh có vai trò như các Phạm chúng thiên.

Các phạm thiên Vô lượng tịnh có vai trò như các Phạm phụ thiên.

Các phạm thiên Biến tịnh có vai trò như Đại phạm thiên.

Tầng Tam thiền cách tầng Nhị thiền là 5.508.000 do tuần, cấu trúc giống như tầng Nhị thiền nhưng xinh đẹp hơn.

Các Phạm thiên tầng tam thiền tục sinh bằng tâm quả Tứ thiền Sắc giới. Tuổi thọ các vị Phạm thiên ở tầng này như sau:

– Phạm thiên Thiểu tịnh có tuổi thọ là 16 kiếp trái đất.

– Phạm thiên Vô lượng tịnh có tuổi thọ là 32 kiếp trái đất.

– Phạm thiên Biến tịnh có tuổi thọ là 64 kiếp trái đất.

Có Pāli như sau:

Parittasubhāṇaṃ soḷasa kappāni; appamāṇasubhānaṃ dvattiṃsa kappāni; subhakiṇhānaṃ catusaṭṭhi kappāni:

“Thiểu tịnh thiên có (tuổi thọ) là 16 kiếp trái đất; Vô lượng tịnh thiên là 32 kiếp trái đất; Biến tịnh thiên là 64 kiếp trái đất” (sđd).

Sở dĩ có số 64 kiếp trái đất là vì: Sau 7 lần vũ trụ bị hoại do nước, đến một lần hoại do gió; bấy giờ tầng Tam thiền cũng bị hoại theo.

Cách lý giải tương tự như trên.

212 – Hỏi. Bảy cõi tầng Tứ thiền ra sao?

Đáp. Tầng Tứ thiền có hai lãnh vực: Hữu tưởng và Vô tưởng.

Cõi Vô tưởng là nơi trú của những vị Phạm thiên không có tâm.

Trong lãnh vực hữu tưởng có cõi Quảng quả có cả phàm nhân lẫn bậc thánh.

Riêng 5 cõi Tịnh cư chỉ dành riêng cho bậc Thánh Anahàm và Thánh Alahán.

Tức là bậc Anahàm chứng đắc được ngũ thiền Sắc giới, có được một quyền (indriya) vượt trội so với 4 quyền kia, sẽ sinh về cõi tương ứng với quyền vượt trội. Tại một trong 5 cõi này vị Thánh chứng đắc Alahán rồi viên tịch.

Nếu 5 quyền ngang nhau thì vị ấy sinh về cõi Quảng quả và vị Thánh hữu học ấy sẽ viên tịch tại chính cõi này.

213 – Hỏi. Cõi Quảng quả và cõi Vô tưởng ra sao?

Đáp.*- Cõi Quảng quả (vehapphalabhūmi).

Là nơi trú của những vị Phạm thiên có quả phước vô cùng rộng lớn.

Sở dĩ gọi là Quảng quả vì không bị tiêu hoại bởi lửa, nước, gió như các tầng thiền bên dưới.

Trong các tâm thiền, tâm thiền xả thọ là tâm thiền thù thắng bất động so với các tâm thiền thọ hỷ, nên có quả phước vô cùng rộng lớn.

Có Pāli giải thích như sau:

Vipulaṃ phalaṃ etesanti = vehapphalā:

Có quả (phước) rộng lớn, gọi là quảng quả.

Vehapphalānaṃ nibbatīti = vehapphalā:

Trú xứ của Phạm thiên Quảng quả, gọi là Quảng quả thiên”.

Các Phạm thiên cõi Quảng quả tục sinh bằng tâm quả Ngũ thiền Sắc giới, có tuổi thọ là 500 kiếp trái đất.

Trong cõi Quảng quả có cả phàm nhân lẫn bậc Thánh.

* – Cõi Vô tưởng (asaññasattabhūmi).

Là cõi của những Phạm thiên không có tâm thức.

Có Pāli giải thích như sau:

Natthi saññā etesanti = asaññā:

Không có tưởng, gọi là vô tưởng.

Natthi saññāmukhena cattāro arūpakkhandhā etesanti = asaññā:

“Không có tưởng trong bốn vô sắc uẩn, gọi là vô tưởng”.

Asaññasattānaṃ  nibbattāti = asaññāsattā:

“Trú xứ của Phạm thiên Vô tưởng, gọi là cõi Vô tưởng”.

Tuy các Phạm thiên này không có tâm thức nhưng vẫn được gọi là “chúng sinh – satta”, vì có sắc Mạng quyền.

Các Phạm thiên này tục sinh bằng nhóm sắc Mạng quyền[44].

Đời sống các Phạm thiên Vô tưởng là 500 kiếp địa cầu.

Có Pāli như sau: Vehapphalānaṃ asaññasattānañ ca pañcakappasatāni:

“Phạm thiên cõi Quảng quả và cõi Vô tưởng có (tuổi htọ) là 500 kiếp trái đất”(sđd).

Hai cõi này nằm ngang nhau, Phạm thiên cõi Quảng quả có thể thấy Phạm thiên Vô tưởng, khác với các Phạm thiên ở 3 tầng thiềp thấp, các Phạm thiên thấp không thể thấy Phạm thiên bậc cao dù nằm ngang nhau. Như Phạm chúng thiên không thể thấy Phạm phụ thiên… chỉ có thể thấy được Phạm thiên bậc cao khi vị ấy hóa thân thô tướng.

214 – Hỏi. Năm cõi Tịnh cư (suddhāvāsā) ra sao?

Đáp. *- Năm cõi Tịnh cư.

Là cõi dành riêng cho Bậc Thánh Anahàm và Thánh Alahán.

Có Pāli như sau:

– Suddhānaṃ anāgāmi arahantānameva āvāsāti = suddhavāsā:

“Trú xứ thanh tịnh của bậc Anahàm và Alahán, gọi là tịnh cư”.

Không như những cõi của tầng thiền bên dưới nằng ngang nhau, các cõi Tịnh cư nằm xếp chồng lên nhau từ thấp đến cao.

1 – Cõi Vô phiền (avihābhūmi).

Vị Thánh Anahàm có tín quyền mạnh (saddhindrya), chứng đạt Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh vể cõi này.

Gọi là cõi Vô phiền, vì các Phạm thiên Anahàm ở cõi này sống hết tuổi thọ của mình, không như những cõi Tịnh cư cao hơn.

Ở cõi Tịnh cư cao hơn, các Phạm thiên Anahàm không sống hết tuổi thọ có được nơi cõi ấy.

Đồng thời những thiên sản mà các Ngài có được cũng không hề bị tổn giảm bất cứ loại nào.

Các Giáo thọ sư có giải thích như sau:

Appakena kālena attano ṭhānaṃ na vijjahantīti = avihā

“Không lìa bỏ trú xứ của mình dù chỉ khoảnh khắc, gọi là Vô phiền.

Nghĩa là “không chết trước tuổi thọ có được trong cõi ấy”.

Hay “Attano sampattiyā na hāyantīti = avihā:

“Giữ nguyên sự thành đạt của mình, không bị hư hoại, gọi là vô phiền”.

Avihānaṃ nibbattāti = avihā:

“Trú xứ của Phạm thiên “không thất thoát”, gọi là Vô phiền thiên.

2- Cõi Vô nhiệt (atappābhūmi).

Vị Thánh Anahàm có tấn quyền (viriyindriya) vượt trội, chứng đạt Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.

Gọi là “Vô nhiệt” vì các Ngài không có sự “nóng bức” ở nội tâm.

Nguyên nhân là do “các Ngài thường xuyên nhập “Quả định  – phalasamādhi”, nên các phiền não trong nội tâm khó có cơ hội dấy lên, nội tâm của các Ngài luôn an tịnh mát mẻ.

Có Pāli như sau:

Na tappantīti = atappā : Không có nóng bức, gọi là vô nhiệt”.

Atappānaṃ nibbattāti = atappā:

Trú xứ của các Phạm thiên không có nóng bức, gọi là Vô nhiệt thiên”.

*- Cõi Thiện kiến (sudassābhūmi).

Vị Thánh Anahàm có niệm quyền (satindriya) mạnh, chứng đạt Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.

Gọi là “Thiện kiến” vì khi người khác nhìn thấy các vị Phạm thiên ở đây, đều phát sinh tâm hoan hỷ, do vì thân tướng của các Ngài rất xinh đẹp.

Có Pāli giải thích như sau:

Sukhena dissantīti = suddassā:

Nhìn thấy phát sinh an lạc, gọi là thiện kiến.

Và: “Parisuddhehi pasādadibbadhammapaññā cakkhūhi sam pannattā suṭṭhu passantīti = sudassā:

“Thấy mọi vật rất rõ ràng, do có nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn và tuệ nhãn thanh tịnh, gọi là thiện kiến”.

Nghĩa là các vị Phạm thiên ở cõi này có đủ bốn loại nhãn là: Mắt thịt (nhục nhãn), mắt chư thiên (thiên nhãn), mắt pháp (pháp nhãn) và mắt trí tuệ (tuệ nhãn), nên nhìn thấy mọi vật rất dễ dàng.

Sudassānaṃ nibbattāti = sudassā:

“Chỗ ở của Phạm thiên Thiện kiến, gọi là cõi Thiện kiến”.

*- Cõi Thiện hiện (sudassībhūmi).

Vị Thánh Anahàm có định quyền (samādhindriya) mạnh, chứng đắc Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.

Gọi là cõi Thiện hiện vì các vị Phạm thiên ở đây khéo thấy trọn vẹn mọi vật hơn các Phạm thiên cõi Thiện hiện.

Các Phạm thiên ở cõi này tuy vẫn có 4 loại nhãn như Phạm thiên cõi Thiện hiện, nhưng  ba loại nhãn: Nhục nhãn, thiên nhãn và pháp nhãn thì vượt trội hơn, còn Pháp nhãn thì ngang nhau.

Có Pāli giải thích như sau:

Sukhena passantīti = sudassī:

“Nhìn thấy mọi vật dễ dàng, gọi là Thiện hiện”.

Sudassīnaṃ nibbattāti = sudassī:

“Chỗ trú của Phạm thiên Thiện hiện, gọi là Thiện hiện thiên”.

*- Cõi Sắc cứu cánh (akaniṭṭhābhūmi).

Vị Thánh Anahàm có tuệ quyền (paññidriya) mạnh, chứng đắc Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.

Gọi là cõi Sắc Cứu cánh, vì đây là trú xứ của các vị Phạm thiên có ân đức Giới – định – tuệ cao nhất so với bất cứ vị Phạm thiên nào trong cõi Sắc, kể cả 4 cõi Tịnh cư thấp.

Vị Phạm thiên Anahàm cõi Sắc Cứu cánh sẽ viên tịch ngay chính chỗ ấy, tức là trong kiếp Phạm thiên ở Sắc cứu cánh vị ấy sẽ chứng quả Alahán.

Nơi cõi Sắc Cứu cánh có Bảo tháp Cūḷamanī tôn trí bộ vương phục cùng tóc của Bồtát Siddhattha (Sĩ-đạt-ta).

Khi Bồtát xuất gia, Đại Phạm thiên Ghaṭikāra từ cõi Sắc Cứu cánh xuống, dâng cho Bồtát 8 món y cụ của bậc xuất gia và mang bộ vương phục cùng tóc cắt bỏ của Bồtát mang về tôn trí trong Bảo tháp Cūḷamanī, Bảo tháp này cao 12 do tuần.

Có Pāli  giải thích như sau:

Natthi kaṇiṭṭho etesanti = akaniṭṭhā:

“Không có nhỏ nhoi, dù chút ít, akaniṭṭhā”.

Natthi rūpīnaṃ sattānaṃ majjhe kenaci guṇena kaniṭṭhabhāvo etesanti = akaniṭthā:

“Ân đức pháp tánh không nhỏ nhoi, dù chút ít so với những chúng sinh bình thường, gọi là akaniṭṭhā (sắc Cứu cánh)”.

Akaniṭṭhānaṃ  nibbattāti = akaniṭṭhā:

“Trú xứ của Phạm thiên Sắc cứu cánh, gọi là Sắc Cứu cánh thiên.

Tuổi thọ các Phạm thiên cõi Tịnh cư.

Các Phạm thiên cõi Tịnh cư đều tục sinh bằng tâm quả Ngũ thiền Sắc giới.

– Chư Phạm thiên cõ Vô phiền có tuổi thọ là 1.000 kiếp trái đất.

– Chư Phạm thiên cõi Vô nhiệt có tuổi thọ là 2.000 kiếp trái đất.

– Chư Phạm thiên cõi Thiện kiến có tuổi thọ là 4.000 kiếp trái đất.

– Chư Phạm thiên cõi Thiện hiện có tuổi thọ là 8.000 kiếp trái đất.

– Chư Phạm thiên cõi Sắc Cứu cánh có tuổi thọ là 16.000 kiếp trái đất.

Có Pāli như sau:

– Avihānaṃ kappasahassāni:(Cõi) Vô phiền là 1.ooo kiếp trái đất.

– Atappānaṃ dve kappasahassāni:(Cõi) Vô nhiệt là 2.000 kiếp trái đất.

Sudassānaṃ cattāri kappasahassāni: (Cõi) Thiện kiến là 4.000 kiếp trái đất.

– Sudassīnaṃ aṭṭhakappasahassāni: (Cõi) Thiện hiện là 8.000 kiếp trái đất.

– Akaniṭṭhānaṃ soḷasa kappasahassāni āyupamāṇaṃ: (Cõi) Sắc Cứu cánh là 16.000 kiếp trái đất”[45]

215 – Hỏi. Bốn cõi Vô sắc ra sao?

Đáp. Bốn cõi Vô sắc tuy gọi là cõi, nhưng không hiện rõ bất luận với dạng thức nào, vì chỉ khoảng “chân không” bao la.

Vị Phạm thiên Vô sắc chỉ có bốn danh uẩn: Thọ, tưởng, hành và thức uẩn.

Các Ngài không có sắc pháp, nên chỗ trú của các Ngài cũng không có sắc pháp.

Sở dĩ gọi là cõi, vì có “lời nói sai” rằng: “Chúng sinh có danh, nhưng không có sắc thì không gọi là cõi”.

Để xóa bỏ quan điểm sai lầm này, Ngài Anuruddha nêu lên “cõi Không vô biên xứ (Ākāsānañcāyatanabhūmi)…”.

Lại có quan điểm sai lầm khác là: “Vị Phạm thiên Vô sắc cũng có thiên cung, ao hồ …”.

Thật ra, các Phạm thiên Vô sắc là những vị tu tiến thiền chỉ tịnh (samādhijhāna), có ý lìa bỏ sắc pháp, do mãnh lực thiền khi mệnh chung vị ấy tái sinh trở thành chúng sinh vô sắc[46], Thiên cung, ao hồ, vườn tược … là sắc pháp, làm sao có thể có trên cõi Vô sắc.

Lại nữa, nếu có thiên cung, ao hồ… thì làm sao gọi là “cõi Vô sắc” được.

Có Pāli như sau:

Arūpabrahmānaṃ avacarā bhūmi = arūpavacarabhūmi:

“Cõi lui tới của Phạm thiên Vô sắc, gọi là cõi Vô sắc .”

Vô sắc giới có bốn cõi là:

*- Cõi Không vô biên xứ (ākāsānañcāyatanabhūmi).

Là trú xứ của vị Phạm thiên thành tựu thiền Vô sắc với đề mục “không vô biên xứ”, khi mệnh chung sinh về cõi này.

Vị Phạm thiênKhông vô biên xứ tục sinh bằng tâm quả Không vô biên xứ.

*- Cõi Thức vô biên xứ (viññāṇañcāyatanabhūmi).

Là trú xứ của vị Phạm thiên thành tựu thiền vô sắc với đề mục “thức vô biên xứ”, khi mệnh chung tái sinh về cõi này.

Vị Phạm thiên cõi Thức vô biên xứ tục sinh bằng tâm quả Thức vô biên xứ.

*- Cõi Vô sở hữu xứ (ākiñcāyatanabhūmi).

Là trú xứ của vị Phậm thiên thành tựu thiền vô sắc với đề mục “Vô sở hữu xứ”. Khi mệnh chung, tái sinh về cõi này.

Vị Phạm thiên Vô sở hữu xứ tục sinh bằng tâm quả Vô sở hữu xứ.

*- Cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ (nevasaññānāsaññāyatana bhūmi).

Là trú xứ của vị Phạm thiên thành tựu thiền Vô sắc với đề mục “phi tưởng phi phi tưởng xứ”, khi mệnh chung tái sinh về cõi này,

Vị Phạm thiên phi tưởng phi phi tưởng xứ tục sinh bằng tâm quả phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Tuổi thọ của các vị Phạm thiên ấy như sau:

– Phạm thiên cõi Không vô biến xứ có tuổi thọ là 20.000 kiếp trái đất.

– Phạm thiên cõi Thức vô biên xứ có tuổi thọ là 40.000 kiếp trái đất.

– Phạm thiên cõi Vô sở hữu xứ có tuổi thọ là 60.000 kiếp trái đất.

– Phạm thiên cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ có tuổi thọ là 84.000 kiếp trái đất.

Như có Pāli sau:

“Tesu pama ākāsānañcāyatanūpagānaṃ devānaṃ vīsati kappasahassaani āyuppamāṇaṃ:

Trong các cảnh giới này, tuổi thọ những vị Không bô biên xứ là 20.000 kiếp trái đất.

Viññānañcāyatanūpagānaṃ devānaṃ cattāḷisakappasahassāni:

Các vị Thức vô biên xứ là 40.000 kiếp trái đất.

Ākiñcaññāyatanūpaganaṃ devānaṃ saṭṭhikappasahassasāni.

Các vị Vô sở hữu xứ là 60.000 kiếp trái đất.

Nevasañānāsaññāyatanūpagānaṃ devānaṃ caturāsītikappasahassāni āyuppamānaṃ:

Các vị Phi tưởng phi tưởng xứ là 84.000 kiếp trái đất” (sđd).

Phụ chú.

– Khoảng cách từ Địa ngục Vô gián đến cõi nhân loại là 120 ngàn do tuần.

– Nhân loại cách cõi Tha hóa tự tại là 252 ngàn do tuần.

– Nhân loại cách cõi Phi tưởng phi tưởng xứ là 71 triệu 856 ngàn do tuần.

-Địa ngục Vô gián cách cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ là 71 triệu 876 ngàn do tần.

216 – Hỏi. Người được phân bố theo cõi như thế nào? Có bao nhiêu hạng người tính theo cõi?

Đáp. Người được phân bố theo cõi như sau.

*- Bốn cõi khổ, mỗi cõi chỉ có 1 hạng người khổ => có 4 hạng người khổ.

*- Cõi nhân loại  và cõi  Tứ đại vương, mỗi cõi  có 11 hạng người (trừ người khổ) => 22 hạng người.

*- Năm cõi trời Dục giới (từ cõi Ba mươi ba đến cõi Tha hóa tự tại), mỗi cõi có 10 hạng người (trừ người khổ và người lạc vô nhân) =>  5 cõi x 1o hạng người = 55 hạng người.

*- Ba cỏi Sơ thiền, ba cõi Nhị thiền, ba cõi Tam thiền và cõi Quảng quả; mỗi cõi có 9 hạng người (trừ người khổ, người lạc vô nhân và người nhị nhân) =>  10 cõi x 9 hạng người = 90 hạng người.

* Cõi Vô tưởng, chỉ có người Lạc vô nhân.

*- Năm cõi Tịnh cư, mỗi cõi có ba hạng người: Người Tam quả, người Tứ đạo và người Tứ quả => 5 cõi x 3 hạng người = 15 hạng người.

*- Bốn cõi Vô sắc, mỗi cõi có 8 hạng người là: Phàm Tam nhân, 3 người Đạo (trừ người Sơ đạo) và 4 người Quả => 4 cõi x 8 hạng người = 32 hạng người. Như vậy tổng cộng có 218 hạng người (tính theo cõi).

217 – Hỏi. Mỗi cõi có được bao nhiêu tâm?  

Đáp. *- Bốn cõi khổ mỗi cõi có được 37 tâm.

*- Bảy cõi vui Dục giới, mỗi cõi có 112 tâm là: 54 tâm Dục giới +18 tâm thiền hiệp thế[47] + 40 tâm Siêu thế.

*- Ba cõi Sơ thiền Sắc giới, mỗi cõi có 97 tâm là: Tâm quả Sơ thiền (tâm hữu phần) + 38 tâm Dục giới[48] + 18 tâm thiền Đáo đại hiệp thế + 40 tâm Siêu thế.

*- Ba cõi Nhị thiền, mỗi cõi có 93 tâm là: Tâm quả Nhị thiền (tâm hữu phần) + tâm quả Tam thiền + 38 tâm Dục giới + 18 đổng lực Đáo đại + 35 tâm Siêu thế (trừ 4 tâm Đạo Sơ thiền và tâm Tứ quả Sơ thiền)[49].

*- Ba cõi Tam thiền, mỗi cõi có 82 tâm là: Tâm quả Tứ thiền (hữu phần) + 38 tâm Dục giới + 18 đổng lực Đáo đại + 25 tâm Siêu thế  [50].

*- Cõi Quảng quả có được 77 tâm là: Tâm quả Ngũ thiền (tâm hữu phần) + 38 tâm Dục giới + 18 đổng lực Đáo đại + 20 tâm Siêu thế[51].

*- Cõi Vô tưởng không có tâm nào cả.

*- Năm Cõi Tịnh cư, mỗi cõi có được 55 tâm là: Tâm quả Ngũ thiền (tâm hữu phần) +33 tâm Dục giới[52] + 18 tâm đổng lực Đáo đại+ tâm Tam quả Ngũ thiền + tâm Tứ đạo ngũ thiền và tâm Tứ quả Ngũ thiền.

*- Cõi Không vô biên xứ có được 43 tâm là: Tâm quả Không vô biên xứ (tâm hữu phần), 10 tâm bất thiện (trừ 2 tâm sân) + tâm Hướng ý môn + 8 đại thiện + 8 Đại tố + 8 tâm đổng lực thiền Vô sắc +7 tâm Siêu thế Ngũ thiền (trừ tâm Sơ Đạo ngũ thiền).

*- Cõi Thức vô biên xứ có được 41 tâm là: Lấy 43 tâm ở cõi Không vô biên xứ trừ đi 3 tâm Không vô biên xứ,  rồi cộng thêm tâm quả Thức vô biên xứ ( tâm hữu phần).

* –  Cõi Vô sở hữu xứ có được 39 tâm là: Lấy 41 tâm ở cõi Thức vô biên xứ trừ đi 3 tâm thức vô biên xứ , rồi cộng thêm tâm quả Vô sở hữu xứ (tâm hữu phần).

*- Cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ có được 37 tâm là: Lấy 39 tâm ở cõi Vô sở hữu xứ trừ đi ba tâm Vô sở hữu xứ, rồi cộng thêm tâm quả Phi tưởng phi phi tưởng xứ (tâm hữu phần).

218 – Hỏi. Tâm sinh được trong mấy cõi?

Đáp. *- Bốn tâm quả Vô sắc, mỗi tâm chỉ cho trong một cõi.

*-Tâm quả Sơ thiền chỉ có trong 3 cõi Sơ thiền.

*- Tâm quả Nhị thiền, tâm quả tam thiền chỉ có trong cõi Nhị thiền.

*- Tâm quả Tứ thiền chỉ có trong cõi tam thiền.

*- Tâm quả Ngũ thiền có trong 6 cõi: Cõi Quảng quả và 5 cõi Tịnh cư.

*- Tâm Đạo và tâm Quả Siêu thế không thiền[53]  chỉ có trong 7 cõi vui Dục giới.

*- Ba đôi thức (tỷ, thiệt, thân thức) + 2 tâm sân có trong 11 cõi Dục giới.

*- Bốn tâm Đạo Sơ thiền + tâm Tứ quả Sơ thiền có trong 10 cõi là : 7 cõi vui Dục giới + 3 cõi Sơ thiền.

*- Bốn tâm Đạo Nhị thiền + 4 tâm Đạo Tam thiền + tâm Tứ quả Nhị thiền + tâm Tứ quả Tam thiền, có trong 13 cõi là: 7 cõi vui Dục giới + 3 cõi Nhị thiền + 3 cõi Tam thiền.

*- Bốn tâm Đạo Tứ thiền + tâm Tứ quả Tứ thiền, có trong 16 cõi là: & cõi vui Dục giới + 3 cõi Sơ thiền + 3 cõi Nhị thiền + 3 cõi Tam thiền.

*- Tâm Sơ đạo Ngũ thiền, có trong 17 cõi là: 7 cõi vui Dục giới + 10 cõi Sắc giới phàm hữu tưởng (3 cõi Sơ thiền + 3 cõi Nhị thiền + 3 cõi Tam thiền = cõi Quảng quả).

*- Năm tâm Sơ quả ngũ thiền, 5 tâm Nhị quả ngũ thiền , tâm Nhị đạo ngũ thiền , tâm Tam Đạo ngũ thiền, có trong 21 cõi là: 7 cõi vui Dục giới + 10 cõi Sắc giới phàm hữu tâm + 4 cõi Vô sắc.

*- Năm tâm thiền thiện Sắc giới, năm tâm thiền Duy tác Sắc giới, tâm Sinh tiếu, có trong 22 cõi vui ngũ uẩn là: 7 cõi vui Dục giới+ 15 cõi Sắc giới hữu tưởng.

*- Tâm thiện Không vô biên xứ, tâm Duy tác Không vô biên xứ, có trong 23 cõi là : 22 cõi vui ngũ uần + cõi Không vô biên xứ.

*- Tâm thiện Thức vô biên xứ, tâm Duy tác Thức vô biên xứ, có trong 24 cõi là: 22 cõi vui ngũ uẩn + cõi Không vô biên xứ + cõi Thức vô biên xứ.

*- Tâm thiện Vô sở hữu xứ, tâm Duy tác Vô sở hữu xứ, có trong 25 cõi là: 22 cõi vui ngũ uần + cõi Không vô biên xứ, cõi Thức Vô biên xứ, cõi Vô sở hữu xứ.

*- Tâm thiện Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tâm duy tác phi tưởng phi phi tưiởng xứ, có trong 26 cõi là: 22 cõi vui ngũ uẩn + 4 cõi Vô sắc.

*- Bốn tâm tham hợp tà kiến + tâm si hợp hoài nghi, có trong 25 cõi phàm hữu tâm là: 31 cõi trử (5 cõi Tịnh cư + cõi Vô tưởng).

*- Bốn tâm ly tà + tâm si hợp phóng dật, có trong, tâm Hướng ý môn, 8 tâm đại thiện, có trong 30 cõi hữu tâm.

*- Hai tâm nhãn thức, 2 tâm nhĩ thức, tâm Hướng ngũ môn, 2 tâm Tiếp thu, 3 tâm Quan sát, có trong 26 cõi ngũ uẩn = 11 cõi Dục giới + 15 cõi Sắc giới hữu tưởng.

*- Tám tâm đại tố, 5 tâm Tam quả Siêu thế (có thiền), 2 đổng lực Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tâm Tứ đạo ngũ thiền, tâm Tứ quả ngũ thiền, có trong 26 cõi vui hữu tâm = 7 cõi vui Dục giới + 15 cõi Sắc giới hữu tưởng + 4 cõi Vô sắc.

219 –  Hỏi. Các bậc Thánh Hữu học đối với các cõi như thế nào?

Đáp. Theo quy luật, bậc Thánh Hữu học không bao giờ tái sinh vào cõi thấp hơn cõi mà vị ấy đang sống, vị Thánh hữu học chỉ tái sinh lại ngay chính cõi ấy hoặc cõi cao hơn.

Vị Thánh hữu học ở cõi Dục, chứng đắc thiền chỉ tịnh (samādhi), xem như trở thành bậc Bất lai, vì các Ngài không còn trở lại cõi Dục cho dù vị ấy là Thánh Sơ quả.

Đối với các cõi vui phàm thì như vậy, riêng bậc Thánh ở cõi 4 Tịnh cư thấp không còn tái sinh lại chính cõi cũ, mà tái sinh lên cõi cao hơn theo từng cấp, như vị Thánh Anahàm cõi Vô phiền, khi mệnh chung sẽ tái sinh lên cõi Vô nhiệt… cho đến cõi Sắc Cứu cánh thì kiếp ấy sẽ viên tịch ngay tại cõi ấy.

220 – Hỏi. Các vị Thánh hữu học nơi cõi Quảng quả và cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ thì như thế nào?

Đáp. Trong 31 cõi, có 3 cõi được gọi “kết thúc (bhavagga)” đối với bậc Thánh hữu học, đó là cõi Quảng quả, cõi Sắc Cứu cánh và cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Vị Thánh Anahàm chắc chắn sẽ viên tịch ở cõi Sắc Cứu cánh trong kiếp ấy.

Riêng vị Thánh hữu học ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng, nếu chưa chứng quả Alahán thì chỉ tái sinh lại cõi ấy cho đến khi viên tịch.

Vị Thánh hữu học ở cõi Quảng quả cũng như thế ấy, cho dù vị ấy có chứng thiền Vô sắc giới, khi mệnh chung vẫn phải tái sinh lại cõi Quảng quả, cho đến khi vị ấy viên tịch.

Nguồn:

http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-chanhminh/dvtp13.htm


Phân Tích về Người

Trích từ;

Đường vào Thắng pháp

Tỳ khưu Chánh Minh


Phân tích Người


(Puggalabheda).

 

180 – Hỏi. Người được hiểu như thế nào?

Đáp.  Puggala xuất nguyên từ ngữ căn Pun + gala.

Ngữ căn pun theo một số địa phương ngữ có nghĩa là “địa ngục”.

Ngài Buddhaghosa trong sách Thanh Tịnh Đạo cũng giải thích: “Pun ti vuccati nirayo, tasmiṃ galantīti puggalā: Địa ngục gọi là Pun, thêm gala, gọi là người”[1].

“Người” là danh từ gọi chung cho  “danh sắc được sinh lên do  nghiệp chi phối”, đồng thời “mang tính chỉ định”. Như Đức Thế Tôn thuyết:

“Sace panāyaṃ, bhikkhave, puggalo …: Này các Tỳkhưu, nếu người nào[2]

Puggala (người) được hiểu theo hai khía cạnh: Chế định và chân đế.

Theo nghĩa chế định (sammutisacca); người được hiểu là nhân loại (đồng nghĩa với manussa), là chúng sinh trung bình, không cao cấp cũng không thấp kém.

Những chúng sinh ở dạng cao được định danh là chư Thiên, Phạm thiên, những chúng sinh ở dạng thấp kém được định danh là “ma đói” (peta), thú, địa ngục, Atula (asura).

Theo nghĩa chân đế (paramatthasacca); người được hiểu là “danh sắc” hoặc “năm uẩn”.

Tức là theo Tạng Thắng Pháp “người” được nói đến theo pháp thực tính.

Tùy theo tâm tục sinh (paṭisandhiviññāṇa), người được phân ra 4 hạng: Người khổ, người lạc vô nhân, người nhị nhân, người tam nhân. Từ người Tam nhân phát sinh 8 Thánh.

Nói cách khác, có bốn hạng phàm nhân là: Người khổ, người lạc vô nhân, người nhị nhân.

*- Bốn người đạo là: Người Sơ đạo, người Nhị Đạo, người Tam Đạo, người Tứ đạo.

*- Bốn người quả là: Người Sơ quả, người Nhị quả, người Tam quả và người Tứ quả.

 

181 – Hỏi. Thế nào  là người khổ?

Đáp. Người khổ là hạng người không thể có sự tiến hóa.

Lại nữa, trong đời sống bình nhật luôn chịu những nổi khổ nhiều hơn là được hưởng sự an lạc.

Như chúng sinh cõi địa ngục đêm ngày luôn bị hành hạ, tra tấn bởi quỷ sứ (nirayapāla)…

Chúng sinh “ma đói” luôn bị thiêu đốt, bị khổ thân đêm ngày, nhẹ nhất là “bị đói khát” suốt kiếp sống.

Chúng sinh là loài thú, phải vất vả tìm sự sống, luôn sống trong lo sợ vì bị những tai họa do loài thú khác hay do loài người sát hại, ngay cả khi ở trong tổ ấm, trong hang, trong bọng cây cũng luôn bị đe dọa đến sự sinh tồn …

Hay chúng sinh là Atula (asura).

Sở dĩ gọi là “người khổ”, vì;

– Những chúng sinh này sinh vào bốn cõi khổ là: Cõi địa ngục (nirayabhūmi), cõi súc sinh (tiracchānabhūmi), cõi ma đói (petabhūmi) và cõi Atula (asurabhūmi).

– Không có sự tiến hóa; ngay cả sự phát sinh tâm thiện cũng rất khó khăn, còn nói gì đến sự chứng đắc Thiền định hay Nípbàn.

Như có Pāli sau đây:

“Tāsu, nirayo, tiracchānayoni, pettivisayo, asurakāyo apāyabhūmi catubidhā hoti:

Có bốn cõi “bất hạnh (apāya)” là: Địa ngục, súc sinh, ma đói và Atula (thần quỷ)[3].

Nói rõ hơn: Người khổ có bốn hạng là: Chúng sinh địa ngục, chúng sinh súc sinh, chúng sinh ma đói và chúng sinh Atula.

182 – Hỏi. Người khổ tục sinh bằng tâm gì? Trong đời sống bình nhật có bao nhiêu tâm khởi lên cho người khổ?

Người khổ tục sinh bằng tâm Quan sát xả thọ quả bất thiện.

Đây là quả khác thời kỳ (vipāka) của nghiệp bất thiện.

Nói cách khác, đó là quả của 11 tâm bất thiện (tâm si hợp Phóng dật không cho tâm quả làm việc tục sinh, nhưng trong đời sống bình nhật, tâm Si hợp phóng dật vẫn cho đủ 7 loại tâm quả bất thiện).

Mười một tâm bất thiện này, mỗi tâm tạo ra được 7 tâm quả bất thiện, trong đó tâm Quan sát thọ xả quả bất thiện có sức mạnh hơn cả nên làm việc tục sinh, cho tái sinh vào 1 trong bốn cõi khổ.

Có Pāli như sau: Ettha akusalakammaṃ uddhaccarahitaṃ apāyabhūmiyaṃ paṭisandhi janeti:

Ở đây, trừ tâm Si hợp phóng dật, các bất thiện nghiệp còn lại khiến tái sinh (paṭisandhi) vào cõi bất hạnh.

-“Pavattiyaṃ pana sabbampi dvādasavidhaṃ sattākusalapākāni sabbathā pi kāmaloke rūpaloke ca yatthārahaṃ vipaccati:

“Nhưng tất cả 12 bất thiện nghiệp phát sinh 7 tâm. Những tâm này có thể khởi tâm  ở Dục giới và ở Sắc giới, trong sự diễn tiến của tâm, tùy theo trường hợp” (HT. TMC dịch)[4].

Nên hiểu đoạn Pāli trên như sau: Trong đời sống bình nhật 12 tâm bất thiện, mỗi tâm cho 7 tâm quả bất thiện.

Bảy tâm quả bất thiện này có đầy đủ trong cõi Dục giới, còn cõi Sắc giới không hề có 3 tâm quả bất thiện là: Tỷ thức quả bất thiện, Thiệt thức quả bất thiện và Thân thức quả bất thiện.

Trong đời sống bình nhật, người khổ có được 37 tâm là: 29 tâm vô tịnh hảo (trừ tâm Sinh tiếu) + 8 tâm đại thiện.

Như có Pāli sau: Duggatiyaṃ pana ñāṇavippayuttāni ca mahāvipātāni na labbhati:

“Chúng sinh ở khổ cảnh, tâm Đại quả không hợp với trí cũng không có”[5].

182 – Hỏi. Vì sao trên cõi Sắc giới lại phát sinh Nhãn thức  quả bất thiện và Nhĩ thức quả bất thiện?

Đáp. Ở Phạm thiên giới không hề có cảnh sắc xấu, cũng không hề có ấm thanh xấu; nhưng lại có Nhãn thức quả bất thiện hay Nhĩ thức quả bất thiện, là do các vị Phạm thiên cõi Sắc giới chứng đạt được các Thắng trí (abhiññāṇa), như Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông.

Với Thiên nhãn thông thì các sắc thô hay tế, thù thắng hay thấp kém,  bên trong hay bên ngoài, xa hay gần; đều nhìn thấy được. Khi thấy những sắc xấu, tất nhiên Nhãn thức quả bất thiên sinh lên.

Vớ Thiên nhĩ thông, các  âm thanh thô hay tế, thù thắng hay hạ liệt, bên trong hay bên ngoài, xa hay gần, đều nghe được. Nghe được âm thanh xấu, tất nhiên Nhĩ thức quả bất thiện sinh lên.

184 – Hỏi. Có phải chúng sinh Asura đều là người khổ không?

Đáp. Atula (asura) có nhiều loại, tựu trung  có ba hạng: Deva asura (Atula thiên), peta asura (Atula ngạ quỷ) và niraya – asura (Atula địa ngục).

*- Atula chư thiên, là những chúng sinh có nhiều uy lực, sống ở đáy biển dưới chân núi Sinera (Tudi), hằng năm thường đánh nhau với chư thiên cõi Ba mươi ba (Tāvatiṃsa).

Vào ngày mùng 8 của mỗi nửa tháng[6], các Đại thần của Tứ đại vương (Catutha mahārāja) đi tuần du bốn châu[7], để ghi chép những người tạo nhiều thiện nghiệp như “hiếu kinh cha mẹ, cung kỉnh các Samôn, Bàlamôn, hành trì Bát quan giới…”[8]

Ngày 14 mỗi nửa tháng thì Hoàng tử của Tứ đại vương đi tuần du,  và ngày 15 mỗi nửa tháng Tứ đại vương đi tuần du.

Nếu nhân loại ít người làm việc lành, vào ngày hội chư thiên ở cõi Ba mươi ba, Tứ Đại vương báo lên vua Trời Đế Thích.

Vua Trời không hoan hỷ, nói rằng: “Thật vậy, thiên chúng bị tổn giảm, chúng Atula được sung mãn”.

Nếu nhân loại nhiều người làm việc lành, vua Trời hoan hỷ: “Thật vậy, thiên chúng sẽ sung mãn, chúng Atula bị tổn giảm” (sđd).

Có tất cả 6 nhóm Atula thiên, mỗi nhóm được gọi theo tên của chúa Atula là[9]:

– Nhóm Vepacitti – asura: Chúa của nhóm Atula này là Vepacitti[10].

– Nhóm Subati – asura: Chúa của nhóm Atula này là Subati.

– Nhóm Rāhu – asura: Chúa của nhóm Atula này là Rāhu[11].

– Nhóm Pahārāda – asura: Chúa của nhóm Atula này là Pahārāda[12].

– Nhóm Samparatī – asura: Chúa của nhóm Atula này là Samparatī.

– Nhóm Vinipātika – asura: Chúa của nhóm Atula này là Vinipātika.

Trong 6 nhóm trên[13], năm nhóm đầu chống lại chư thiên cõi Ba mươi ba.

Tuy gọi là Atula chứ kỳ thật họ là những vị chư thiên, sở dĩ  gọi là Atula vì “đời sống của họ không chói sáng, không đầy đủ lạc thú như những chư thiên”.

Đời sống của họ thường hay nóng nảy trong tâm; nam Atula rất xấu, trái lại nữ Atula rất xinh đẹp.

Chính vị thiên hậu thứ tư của vua Trời Đế Thích là con gái Atula vương Vepacitti, có tên là Sujātā[14].

Nhóm Vinipātika (Atula đọa lạc) có chỗ ở bất định, sống phiêu bạt ở rừng núi, cây cối nơi địa cầu, nhóm này được xem là tùy chúng của chư thiên ở Địa cầu, do đó nhóm này cũng được xếp vào Atula chư thiên.

*- Atula ngạ quỷ. Nhóm này được phân ra ba hạng:

Kāḷakañcikapeta: Hạng ngạ quỷ có thân hình mềm nhảo và đen.

Vemānikapeta: Hạng ngạ quỷ ban đêm hưởng lạc như chư thiên cõi Đạo lợi, ban ngày khổ như ngạ quỷ. Diêm chúa cũng thuộc hạng Atula này.

Đây là hậu quả của việc “vừa làm thiện xong lại tạo ác ngay” hay “vừa làm ác lại tạo thiện nghiệp ngay”.

– Āvudhikapeta (Khí giới ngạ quỷ). Hạng Atula này trang bị vũ khí trên người, chúng đi tìm nhau để  đánh.

*- Atula địa ngục. Chỉ cho chúng sinh trong địa ngục không gian (lokantarika).

Nhóm Atula ngạ quỷ và Atula địa ngục được gọi là người khổ, riêng nhóm Vemānikapeta thì bất định.

185 –  Hỏi. Nguyên nhân nào tái sinh vào cảnh giới Atula?  [15].

Đáp. Trong thế gian, có hạng người có quyền thế, có danh vọng, có nhiều tài sản… nhưng là người kém trí hiểu biết về nhân quả, có tâm không tốt.

Đối với người có giới hạnh, là bậc hiền trí đáng được tán thán, nhưng họ không tán thán, trái còn phỉ báng hay dùng quyền lực của mình để bức hại người đáng cung kỉnh, đáng tán thán.

Đối với kẻ ác giới không đáng tán thán, họ lại tán thán, giúp đở cho những người ấy.

Hoặc có hạng người tạo thiện nghiệp trong lúc tâm không hài lòng, như bố thí trong lúc “tâm khó chịu”, hay trì giới, tu thiền một cách miễn cưởng, hoặc cung kỉnh lơ là …

Sau khi mệnh chung phải tái sinh vào cảnh giới Asura.

186 – Hỏi.Thế nào là người lạc vô nhân?

Đáp. Gọi là lạc vì tục sinh bằng tâm quả thiện, nhưng tâm quả thiện này không có nhân tương ưng, nên gọi là vô nhân.

Người lạc vô nhân và người khổ được gọi chung là “người vô nhân”. Vì tâm tục sinh của hai hạng người này không có nhân tương ưng (hetu saṃpayttaṃ).

Do nương theo tâm tục sinh này nên định danh là “người lạc vô nhân”.

Mặt khác, người lạc vô nhân là người có dị tật bẩm sinh.

187 – Hỏi. Người lạc vô nhân tục sinh bởi tâm nào? Trong đời sống bình nhật, người lạc vô nhân có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Người lạc vô nhân là người tục sinh bởi tâm Quan sát thọ xả quả thiện.

Trong đời sống bình nhật, người lạc vô nhân có được 41 tâm là: 37 tâm như người khổ + 4  tâm đại quả  [16] không có trí.

188 – Hỏi. Vì sao người lạc có thêm được bốn tâm đại quả ly trí?

Đáp. Trước tiên nên hiểu về cách cho quả của các tâm đại thiện như sau:

– Tâm đại thiện hợp trí có đầy đủ 3 sự “cố ý”[17]. Mỗi tâm tạo ra được 16 tâm quả = 8 tâm quả vô nhân + 8 tâm đại quả.

– Tâm đại thiện hợp trí thiếu 1 trong ba sự cố ý và tâm đại thiện ly trí đầy đủ 3 sự cố ý. Mỗi tâm cho được 12 tâm đại quả (trừ 4 đại quả hợp trí).

– Tâm thiện ly trí thiếu một trong ba “cố ý”, mỗi tâm cho được 8 tâm quả thiện vô nhân.

Một số Giáo thọ sư như Đại Đức Mahādhammarakkhita ở chùa Moravapi xứ Tích Lan[18], cho rằng: “Những tâm Đại thiện vô trợ (asaṅkhārika) không thể cho tâm Đại quả hữu trợ, những tâm đại thiện hữu trợ (sasaṅkhārika) không thể cho tâm Đại quả vô trợ.

Như vậy mỗi tâm Đại thiện có trí đủ tam Tư chỉ cho 12 tâm đại quả.

Tức là: 2 tâm đại thiện có trí vô trợ, đủ 3 sự “cố ý”, cho 12 tâm đại quả = 8 tâm quả thiện vô nhân + 4 tâm đại quả vô trợ.

– 2 tâm đại thiện có trí hữu trợ, đủ ba sự “cố ý”, cho 12 tâm đại quả = 8 tâm quả thiện vô nhân + 4 đại quả hữu trợ.

Người lạc vô nhân tục sinh bằng tâm Quan sát thọ xả quả thiện; trong đời sống bình nhật chính tâm này làm việc hữu phần. Bốn tâm Đại quả ly trí gần với tâm Quan sát thọ xả quả thiện vì sinh ra tử “thiện ly trí”[19]

Khi cảnh có sức mạnh, bấy giờ một trong 4 Đại quả ly trí có thể sinh lên làm phận sự Na cảnh.

Trái lại, tâm hữu phần của người khổ là tâm Quan sát xả thọ quả bất thiện, nên người khổ không thể sinh khởi 4 tâm Đại quả ly trí để làm việc Na cảnh.

189 – Hỏi.Người lạc vô nhân có bao nhiêu hạng?

Đáp. Có 11 hạng người được gọi là người lạc vô nhân[20]. Đó là:

1- Người mù bẩm sinh (jaccandha). Khi sinh ra không có thần kinh nhãn, gọi là người mù bẩm sinh.

Nếu phân tích thì:

– Đối với chúng sinh thai sinh (gabbhaseyyaka)[21]. Kể từ khi tục sinh cho đến 11 tuần lễ (gần 3 tháng) sau, không có sắc thần kinh Nhãn sinh lên, gọi là “mù bẩm sinh”.

– Đối với chúng sinh hóa sinh (opapātika) và thấp sinh (samsedaja), ngay giây phút tục sinh không có sắc thần kinh Nhãn sinh lên, gọi là “mù bẩm sinh”.

Đó thật sự là “người lạc vô nhân”, trong kiếp sống người này không thể chứng đắc thiền định hay đạo quả.

*- Có hạng thai sinh, tục sinh bằng tâm quả Dục giới tam nhân, nhưng sau 3 tháng do một ác nghiệp chen vào trả quả, khiến bị mù mắt.

Cũng là hạng người “mù bẩm sinh”, nhưng vẫn có khả năng chứng thiền hay Đạo quả, tuy nhiên xác xuất này rất thấp.

2- Người điếc bẩm sinh (jaccabadhiraka). Là người khi sinh ra không có thần kinh Nhĩ, cách hiểu tương tự như người “mù bẩm sinh”.

3- Người không có thần kinh mũi bẩm sinh (jaccāghānaka). Là người khi sinh ra không có thần kinh mũi, cách hiểu tương tự như 2 hạng trên.

4- Người đần độn bẩm sinh (jaccajaḷaka). Là người khi sinh ra, đã ngớ ngẫn, chẳng có chút thông minh, thậm chí không thể đếm được từ 1 đến 10.

5- Người câm bẩm sinh (jaccamūgaka). Là người khi sinh ra đã bị câm.

6- Người điên bẩm sinh (jaccummattaka).

7- Người vô tính (paṇdaka). Là người không có bộ phận sinh dục nam hay sinh dục nữ.

8- Người lưỡng tính (ubhatobyañjanaka). Là người không có bộ phận sinh dục cố định.

Khi nam tính mạnh thì bộ phận sinh dục nam xuất hiện, khi nữ tính mạnh thì bộ phận sinh dục nữ hiển lộ.

Đây là kết quả của nghiệp tà dâm trong quá khứ.

Có hai loại người lưỡng tính: Nam lưỡng tính và nữ lưỡng tính.

Nam lưỡng tính, có thân hình như người nam, nhưng khi gặp người nam dục cảm phát sinh thì bộ phận sinh dục nữ xuất hiện.

Nữ lưỡng tính, có thân hình như người nữ, nhưng khi gặp nữ nhân phát sinh dục cảm thì bộ phận sinh dục nam xuất hiện.

Người nữ lưỡng tính có thể làm cho nữ nhân khác mang thai hoặc chính họ cũng mang thai.

Người nam lưỡng tính chỉ có thể làm cho người nữ khác mang thai, riêng họ thì không.

9- Người trung tính (napuṃsakapaṇḍaka). Tương tự như người vô tính[22], hay là “người Vô tưởng”.

10- Người cà lăm bẩm sinh (mammaka).

11- Người phi hảo lạc Atula (vinipātikāsura). Là hạng Atula sống theo núi non, rừng rậm, sông rạch … nhưng có thân hình quái dị.

Đời sống những chúng sinh này không khác với ngạ quỷ là mấy.

190 – Hỏi. Vì sao người Vô tưởng được xem là người lạc vô nhân?

Đáp. Bậc chứng đắc Ngũ thiền Sắc giới, nhưng chán nản tâm thức, cho rằng “vì có tâm thức mới có khổ”. Vị ấy nguyện “kiếp sau đừng có tâm thức”, do thiền lực nên sau khi mệnh chung, tái sinh về cõi Vô tưởng.

Làm việc tái sinh này là bọn sắc Mạng quyền.

Sắc Mạng quyền là sắc pháp, không có nhân tương ưng nên gọi là “vô nhân”.

Vì tái sinh vào cõi Vô tưởng, nên gọi là “lạc”; vì có sắc mạng quyền nên gọi là “người”.

191 – Hỏi. Thế nào là người nhị nhân(duhetuka)?Trong đời sống bình nhật người nhị nhân có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Người nhị nhân là người tục sinh bằng một trong 4 tâm đại quả ly trí, đó là loại tâm quả có 2 nhân là nhân vô tham và nhân vô sân.

Do nương theo tâm tục sinh nên định danh là người nhị nhân; nói cách khác “người nhị nhân là người không có trí bẩm sinh trong cơ tánh (ám chỉ trong tâm hữu phần).

Trong đời sống bình nhật, người nhị nhân có được 41 tâm như người lạc vô nhân.

192 –  Hỏi. Thế nào là người tam nhân?

Đáp. Người tam nhân là người tục sinh bằng tâm quả có ba nhân là : Nhân vô tham, vô sân và vô si. Do nương theo tâm tục sinh nên định danh là người tam nhân (tihetuka).

Có 13 tâm làm việc tục sinh để trở thành người tam nhân, đó là: 4 tâm đại quả có trí + 9 tâm quả Đáo đại.

Người tam nhân là người có khả năng chứng đắc thiền định hay Đạ0, Quả Siêu thế trong kiếp sống ấy.

Bốn hạng người: Người khổ, người lạc vô nhân, người nhị nhân và người tam nhân, gọi chung là phàm nhân.

Trong đó ba hạng người trước, trong kiếp sống ấy không thể chứng được thiền định hay Đạo quả Siêu thế, vì sao? Vì ba hạng người này không có “trí bẩm sinh trong cơ tánh”.

Có Pāli như sau: Duhetukām’ahetukāmañca pan’ ettha kiriyājavanāni c’eva appanājavanāni ca na labhanti:

“Ở đây, đối với người nhị nhân và người vô nhân, đổng lực duy tác và đổng lực an chỉ (appanā)[23] không hề có”[24].

193 – Hỏi. Trong đời sống bình nhật, người tam nhân có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Trong đời sống bình nhật:

Người tam nhân cõi dục. Là người tục sinh bằng một trong 4 tâm đại quả có trí.

Cơ bản người tam nhân này có được 45 tâm là: 41 tâm như người nhị nhân + 4 tâm đại quả có trí. Nếu chứng đắc thiền định thì tính thêm.

Người tam nhân cõi Sắc giới hữu tưởng. Là người tục sinh bằng một trong 5 tâm quả Sắc giới.

Cơ bản trong đời sống bình nhật có được 30 tâm là: Tâm quả Sắc giới hữu phần + 1o tâm bất thiện (trừ 2 tâm sân) + 2 tâm nhãn thức + 2 tâm nhĩ thức + 2 tâm Tiếp thu + 3 tâm Quan sát + 2 tâm Hướng môn + 8 tâm Đại thiện. Nếu đắc thiền thì tính thêm.

Người tam nhân cõi Vô sắc giới. Là người tục sinh bằng một trong bốn tâm quả Vô sắc giới.

Trong đời sống bình nhật, cơ bản có được 20 tâm là: 1 tâm quả Vô sắc giới (tâm hữu phần) +10 tâm bất thiện (trừ 2 tâm sân) + tâm Hướng ý môn + 8 tâm Đại thiện. Nếu đắc thiền tính thêm, cụ thể là:

*- Người tam nhân cõi Không vô biên xứ, có khả năng chứng đạt bốn từng thiền, như vậy có 24 tâm = 20 tâm cơ bản + 4 tâm thiện Vô sắc giới.

*- Người tam nhân cõi Thức vô biên xứ, có khả năng chứng đạt ba tầng thiền Vô sắc giới là: Thiền Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ, như vậy có được 23 tâm = 20 tâm cơ bản + 3 tâm Thiện Vô sắc giới.

*- Người tam nhân cõi Vô sở hữu xứ, có khả năng chứng đạt 2 tầng thiền Vô sắc là thiền Vô sở hữu xứ và thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ, như vậy có 22 tâm = 20 tâm cơ bản + 2 tâm Thiện Vô sắc giới.

*- Người tam nhân cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chỉ có khả năng chứng đạt thiền Phi tương phi phi tưởng xứ, nên có được 21 tâm.

Nên nhớ: Đối với cõi Vô sắc, cõi cao không chứng thiền bậc thấp.

194 – Hỏi. Thế nào là người Đạo? Có bao nhiêu người đạo?

Đáp. Người Đạo là người chứng đắc Nípbàn đang sát trừ phiền não.

Nói cách khác, người đạo chỉ cho tâm Đạo siêu thế. Người đạo sống chỉ một sátna tâm.

Có tất cả bốn người Đạo là : Người Sơ Đạo, người Nhị Đạo, người Tam Đạo, người Tứ Đạo.

194 – Hỏi. Thế nào là người quả? Có bao nhiêu người Quả?

Đáp. Người Quả là người là người “đã sát trừ được phiền não”.

Có bốn hạng người quả là:

Người Sơ quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ nhất, sát trừ 2 loại phiền não tà kiến và hoài nghi, hay đã diệt trừ được 3 sợi giây trói buộc (saṃyojana) là: Thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ.

Người Sơ quả được tính từ sátna Sơ quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm đắc Sơ đạo cho đến sátna tâm Tiến bậc (vodanā) trong lộ chứng Nhị đạo.

Cho dù trải qua nhiều kiếp sống, nhiều kiếp trái đất vẫn được xem là người Sơ quả.

Người Nhị Quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ hai, đã làm giảm nhiều 2 phiền não là sân và tham dục.

Người Nhị quả được tính kể từ tâm Nhị quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm đắc Nhị Đạo cho đến khi xuất hiện sátna tâm Tiến bậc trong lộ tâm đắc Tam Đạo.

Người Tam Quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ ba, đã sát trừ được 3 phiền não: Tà kiến, hoài nghi, sân, hay đã trừ diệt được năm sợi dây trói buộc vào cõi thấp (là dục giới) là: Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, sân và tham dục.

Người Tam Quả được tính kể từ sátna Tam Quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm chứng đắc Tam Đạo cho đến khi xuất hiện tâm Tiến bậc trong lộ tâm chứng đắc Tứ Đạo.

Người Tứ quả. Là người đã chứng đạt Nípbàn lần thứ tư, sát trừ mọi phiềrn não, mọi ô nhiễm (āsava – lậu hoặc).

Người Tứ Quả ám chỉ bậc thánh Alahán, Đức Độc Giác Phật và Đức Phật Chánh Giác.

Người Tứ quả được kể từ sátna Tứ quả Siêu thế thứ nhất trong lộ tâm chứng đắc Tứ Đạo cho đến khi Ngài viên tịch (parinibbāna).

196 – Hỏi. Trong đời sống bình nhật, người Quả có được bao nhiêu tâm?

Đáp. Trong đời sống bình nhật:

1- Người Sơ quả.

*- Người Sơ quả ở 7 cõi vui Dục giới.

Có được 41 tâm là: Lấy 45 tâm phàm tam nhân cơ bản trừ đi (4 tâm tham hợp với tà kiến + tâm si hợp hoài nghi) + tâm Sơ quả.

Nếu đắc thiền thì tính thêm.

*- Người Sơ quả ở cõi Sắc giới hữu tưởng.

Có được 26 tâm là: Lấy 30 tâm cơ bản của phàm tam nhân trừ đi (4 tâm tham hợp với tà kiến + tâm si hợp hoài nghi) + tâm Sơ quả. Nếu đắc thiền thì tính thêm.

*- Người Sơ quả cõi Vô sắc. Có được 16 tâm là: Lấy 20 tâm cơ bản của phàm tam nhân trừ đi 5 tâm bị sát trừ + tâm Sơ quả.

2- Người Nhị quả. Tương tự như người Sơ quả.

3- Người Tam quả. Lấy 41 tâm của người Sơ quả ở 7 cõi vui Dục giới trừ đi (2 tâm sân + tâm Sơ quả)+ tâm Tam quả = 39 tâm. Nếu đắc thiền thì tính thêm.

Cần phân tích theo cõi như đã giải ở phần người Sơ quả.

4- Người Tứ quả. Lấy 39 tâm của người Tam quả trừ đi (5 tâm bất thiện còn lại + tâm Tam quả) + tâm Tứ Quả + tâm Sinh tiếu = 35 tâm.

Nếu đắc thiền thì tính thêm và cần phân tích theo cõi.

197 – Hỏi. Mười hai hạng người được phân bố theo cõi như thế nào?

Đáp. Người khổ có trong bốn cõi khổ.

*- Người lạc vô nhân có trong ba cõi: Người, Tứ đại vương và cõi Vô tường.

*- Người nhị nhân có trong 7 cõi vui Dục giới.

*- Người tam nhân có trong 21 cõi là: 7 cõi vui Dục giới, 3 cõi Sơ thiền, 3 cõi nhị thiến, 3 cõi tam thiền, cõi Quảng quả và 4 cõi Vô sắc giới.

*- Người Sơ đạo có trong 17 cõi là: Lấy 21 cõi của phàm tam nhân trừ thêm 4 cõi Vô sắc. Vì muốn chứng đắc Sơ đạo phải nương sắc pháp để minh quán.

*- Người nhị đạo và người Tam Đạo có trong 21 cõi như phàm tam nhân.

*- Người Tứ đạo có trong 26 cõi, là thêm 5 cõi tịnh cư (Suddhavāsā).

*- Người Sơ quả, người Nhị quả có trong 21 cõi như phàm tam nhân.

*- Người Tam quả và người Tứ quả có trong 26 cõi như người Tứ đạo.

Dứt 12 hạng người.

 

Nguồn: http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-chanhminh/dvtp13.htm