– Kushinagar (Câu Thi Na)

Bản đồ hành trình cuối đời của Đức Phật

Kinh Đại Bát Niết Bàn (Maha parinibbana sutta, DN 16)

ghi lại các sự kiện trong năm cuối cùng của cuộc đời Đức Phật.

Từ thành Vương Xá (Rajagaha) Đức Phật đi bộ khoảng 90 km đến Xá Vệ (Vesali, Vaishali). Ngài nghỉ lại đó trong vài tháng mùa mưa. Sau đó từ Xá Vệ ngài đi lên phía bắc. Trên bản đồ lộ trình đi, có vẻ như ngài muốn đi về thành phố quê hương Kapilavastu của mình gần đó. Một thày tu 80 tuổi, già nua yếu bệnh, qua cuộc bộ hành gần 400 km, hoàn toàn kiệt sức. Ngài đã đến Kushinagar và nhập diệt tại đây.

Vào thời Đức Phật, Kushinagar (Kusinara) là kinh đô của nước Mala. Bây giờ Kushinagar là một ngôi làng thuộc quận Kushinagar, bang Uttar Pradesh của Ấn Độ, rất gần biên giới với Nepal.

Khi Phật sắp nhập Niết bàn, Anan rất lo lắng cho tương lai, khi các đệ tử Phật không còn có sự hiện diện của đấng Thế Tôn trên cõi đời này. Đức Phật đã dăn dò lúc cuối rằng sau khi ngài nhập diệt, kẻ thiện tín nên viếng thăm bốn nơi được gọi là thánh tích:

Này Ananda, có bốn Thánh tích kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn?

Ðây là chỗ Như Lai đản sanh“. Này Ananda, đó là thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác“, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư Niết-bàn”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

Này Ananda, đó là bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư si nữ sẽ đến với niềm suy tư: “Ðây là chỗ Như Lai đản sanh”, “Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”, “Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, “Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, Nhập Vô dư y Niết-bàn”.

Này Ananda, và những ai, trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên [1].

Kushinagar

Đường dẫn đến khu di tích Kushinag

Chúng tôi đến viếng nơi Phật nhập diệt, Kusinagar, vào lúc sáng sớm. Trời thật lạnh và dày đặc sương mù. Mới tờ mờ sáng mà con đường đến tháp tưởng niệm đã rất đông người. Cách đây không lâu Kushinagar chỉ là một làng xơ xác hoang vắng không ai biết. Bây giờ nó đã trở thành một điểm tham quan mà nhiều người hằng mong muốn được đến tận nơi.

Trong đám đông trước cổng, hai đứa trẻ trẻ hát rong đang vỗ trống và ngân vang bài tụng:

Buddham saranam gacchami!

Dhammam saranam gacchami!

Sangham saranam gacchami!

(Con xin nương tựa Phật! Con xin nương tựa Pháp! Con xin nương tựa Tăng!)

Các người bán rong

Các người bán rong

Rất nhiều người bán hàng rong. Có khi chỉ đơn sơ là vòng hoa mới hái sáng nay cầm trên tay!

Bên trong khu di tích Kushinagar

Bên trong khu di tích Kushinagar

Qua cổng là một con đường rất đẹp! Sáng nay trời lạnh quá! Mọi cảnh vật đều mờ sương!

Trong màn sương sớm, đây rồi, nơi này Đức Phật đã nhập Đại Niết Bàn.

Nirvana Stupa Nirvana Temple

Di tích nơi Phật nhập diệt chỉ mới được tìm thấy vào năm 1876. Người ta cũng tìm thấy nơi đây một tượng Phật nằm bằng đá dài 6,1m. Kiến trúc tháp và đền, mà ta thấy ngày nay, là do sự phục dựng vào năm 1956, khi kỉ niệm Đức Phật (Buddha Jayanti) năm thứ  2.50o.

Cứu cánh giải thoát của Đạo Phật là Niết bàn hay chính xác là Níp bàn.

Niết-bàn là âm từ tiếng Sanskrit “Nirvana”. Chữ  Niết bàn sở dĩ thông dụng vì đạo Phật đại thừa ở Việt Nam truyền từ Trung quốc, sử dụng kinh điển từ bản dịch tiếng Sanskrit.

Níp-bàn là âm từ tiếng Pali “Nibbana“. Chữ  Níp bàn ít thông dụng, nhưng tôi dùng vì nó có âm chính xác hơn và chữ này được dùng trong kinh điển gốc tiếng Pali.

Đầu tượng Phật- Hình sưu tầm trên Internet

Bên trong đền là tượng Phật nhập diệt, nằm nghiêng bên phải, đầu về hướng bắc. Tượng được đặt trên một bệ đá, mặt trước có khắc chữ đánh dấu vào thế kỉ thứ năm sau công nguyên. Tượng vốn bằng đồng, nhưng người hành hương lần lượt thếp vàng lên trên.

Tượng Phật nhập Níp Bàn tại Kushinagar (st Internet)

Theo dòng người, tôi đi vòng quanh tượng Đức Phật, lòng trầm tư  liên tưởng đến giây phút cuối của Ngài.

Dưới chân bệ tượng, một nhà sư  Theravada ngồi bất động rất lâu, dường như  đã nhập vào định!

Bên ngoài đền, một nhóm nhà sư màu áo Theravada ngồi niệm Phật dưới trới sương buổi sáng.

Tôi nhìn thấy cạnh tháp Níp Bàn là một nền đá hình chữ nhật. Người hướng dẫn nói rằng đây chính là nơi nhục thân Đức Phật được hỏa thiêu.

Nơi chính xác thực hành lễ trà tỳ của Đức Phật

Sáng hôm đó chúng tôi cũng được hướng dẫn đi xem một trong tám bảo tháp đầu tiên lưu giữ Xá Lợi Phật. Tháp này đã được khám phá vào năm 1958. Cổ vật và xá Lợi được chuyển vào viện bảo tàng.

Maharparinibbana

Đức Phật đã nhập Đại Níp bàn .

Cứu cánh giải thoát của Đạo Phật Gautama là Níp bàn.

Níp bàn là gì?

Danh từ Pali “Nibbàna” gồm có hai phần “Ni” và “Vàna”. Ni là hình thức phủ định: không và Vàna có nghĩa là lòng ham muốn hay ái dục. “Gọi là Níp Bàn vì Níp Bàn là sự dứt bỏ, xa lìa ái dục (Vàna)”. Theo ngữ nguyên, Nip1 Bàn là không còn tham đắm.  [2]

Toàn bộ hiện hữu của thế giới được chia làm ba phạm trù: Danh-Sắc và Níp bàn. Chúng ta có thể diễn tả tất cả danh và sắc theo những cách nào đó, nhưng Níp bàn là một phạm trù thứ ba rất đặc biệt, một đối tượng tâm mà chỉ có hành giả chứng đắc quả vị A La Hán mới nắm bắt được. Tuy nhiên một vị A La Hán cũng khó có thể diễn đạt Níp bàn bằng ngôn ngữ thế gian. Một người chưa chứng quả càng không thể diễn đạt được.

Kinh điển phân biệt hai loại Níp bàn:

Hữu dư níp bàn: Trạng thái tâm của một vị chứng đắc quả A La Hán lúc còn sống.

Vô dư Níp bàn : Trạng thái tâm của Một vị A La Hán lúc đã chết.

Theo Pāli có chú giải về Nibbana (níp bàn) như sau:

* Vānato Nikkhantaṇti = Nibbānaṃ: những pháp nào xa lìa ái mà nhân ràng buột các kiếp sống, các pháp xa lìa như thế gọi là Níp bàn.

* Nibbāyanti sabbe vaṭṭadukkhasantāpa etasmimti = Nibbānaṃ: khổ luân hồi và các sự nóng nảy, sôi nổi không có gọi là Níp bàn.

*  Nibbāyanti Ariyajanā etasmimti = Nibbānaṃ: chư Thánh xuất thế, sau khi ngũ uẩn không còn tái tục nữa, cho nên pháp mà diệt tắt dứt sanh tử, gọi là Níp bàn tức vô dư Níp bàn. [3]

Đức Phật dùng biểu tượng ngọn lửa tắt để ám chỉ Nibbana. Ngọn lửa tắt là một hình ảnh của tự do. Tất cả các người Ấn thời đó quan niệm lửa cháy như sự kích động, lệ thuộc, mắc bẫy. Lửa dính mắc và bị cột buộc vào nhiên liệu khi nó cháy. Lửa tắt đi khi nó ngưng không bám víu để lấy nhiên liệu, giống như tâm thức sẽ được tự do khi nó thôi không bám víu vào các uẩn. [4]

Tìm hiểu qua kinh điển, có một số giải thích Níp bàn như sau:

“Đồng nghĩa với Níp bàn giới, này các Tỷ kheo, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Cũng được gọi là đoạn tận  các lậu hoặc.”

“Đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, này các Tỷ kheo, được gọi là bất tử. Con đường Thánh đạo tám ngành là con đương đưa đến bất tử.”
(Tương ưng V )

Hoặc

“Này các Tỷ kheo! Thân của đức Như lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của vị này tồn tại thời Chư Thiên và loài người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung thời Chư thiên và loài người không thể thấy được.”
(Trường Bộ I, Phạm Võng – 46)

Hoặc:

“Này các Tỷ kheo, có xứ này tại này,  không có đất, không có nước, không có lửa,, không có gió , không có hư không vô biên … không có phi phi tưởng xứ; không có đời này, không có đời sau; không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy, này các Tỷ kheo ! Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không  có sanh, không có an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên. Đây là sự đoạn tận khổ đau.”
(Phật tự thuyết, UD 80 – 381)

Hoặc:

“Này các Tỷ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi. Này các Tỷ kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở nay không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi.”

“Cái gì có nương tựa, cái ấy có giao động; cái gì không nương tựa, cái ấy không giao động. Không có giao động thời có khinh an, có khinh an thời không có thiên về, không có thiên về thời không có đến và đi, không có đến và đi thời không có diệt và sanh, không có diệt và sanh thời không có đời này, không có đời sau, không có đời giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau.”
(Phật tự thuyết, UD 81 – 382) [5]

Ấn Độ là vùng đất có các khuynh hướng tâm linh phát triển rất cao. Cứu cánh giải thoát của Vệ Đà là nổ lực tiến hóa từ một tự ngã cá nhân (Atman) đến một đại ngã  Phạm Thiên (Brahman). Tuy nhiên  từ triết lý cao siêu củaVệ Đà, các giáo phái của Ấn Giáo xuất phát về sau này thường lựa chọn một nội dung giải thoát ở một thiên đàng cụ thể, tức một cõi thiên cao hơn cõi người nhưng vẫn còn là hữu hạn . Thực tế hiện nay người Ấn Độ thờ đủ mọi loại thần thánh, từ Đại Phạm thiên (Brahma) đến các vị thần trong các cõi trời thấp hơn. Các đạo sư Ấn Độ thường diễn tả trạng thái tâm giải thoát bằng cách nói rằng : “Một là tất cả, tất cả là một”. Điều đó có nghĩa là lúc đó con người hòa nhập với các cõi thiên tương ứng chứ không phải là hòa nhập với cái Đại Ngã (Brahman), tức thực thể tuyệt đối mà Vệ Đà đề cập tới! Trong bối cảnh đó Đức Phật đã xuất hiện như một bậc thầy trí tuệ. Cứu cánh giải thoát của Đức Phật Gautama khác hẳn với các tông phái Ấn Độ giáo đương thời. Ngài đã đạt tới một giải thoát mà Ấn Độ giáo chưa từng biết đến: Một Nibbana vượt qua tam giới, không thuộc về tất cả các cõi trời, vượt qua khái niệm Đại ngã.

Thế gian này và tất cả các cõi giới khác (chin tầng trời) đều có ngã, có sinh diệt, không thường hằng.

Níp bàn (Nibbana) của đạo Phật có tính vô ngã, thường hằng và tịch tịnh. Níp bàn chính là cứu cánh của Đạo Phật, tức cái đích tối hậu mà Đạo Phật nhắm tới. Níp bàn cũng chính là đặc điểm là dấu ấn (pháp ấn) để phân biệt Đạo Phật và các tôn giáo khác.

Nếu một Đạo không hướng đến một Níp bàn thường hằng, tịch tịch và vô ngã thì đó chắc chắn không phải là Đạo Phật! Hoặc một Đạo nào đó có nói đến, đề cập đến Níp bàn, nhưng không có pháp thực hành cụ thể dẫn tới Níp bàn thì đó cũng không phải là Đạo của Đức Phật Gautama!

Ngay từ lúc chứng đắc Níp Bàn “vô ngã và tịch tịnh”, Đức Phật đã thấy rất khó để chuyển đạt ý nghĩa quá thâm diệu về sự giải thoát này. Ngài cảm thấy không thể xiển dương con đường giải thoát quá cao sâu này cho thế gian. Làm sao cho một người thuộc cõi nhân hiểu và chấp nhận được rằng Ngã (the self) chỉ là ảo tưởng. Làm sao thuyết phục một người thuộc cõi nhân về một Níp bàn không có ngã và hoàn toàn im vắng. Đạo càng cao càng sâu thì càng khó hiểu, khó chấp nhận. Dù có hiểu, có chấp nhận, cũng khó thực hành thành tưu. Huyền thoại nói rằng vì các Phạm Thiên đã quá yêu cầu nên Đức Phật chẳng đặng đừng đã dạy và xiển dương giáo pháp này. Dù sao, trong khi tại thế, Ngài cũng đã thành công trong 45 năm hoằng pháp.

Khi Đức Phật nhập diệt, không còn người vĩ đại Gautama để chống giữ giáo pháp, đạo Phật suy tàn là lẽ đương nhiên.Đạo Phật “đúng như giáo pháp của Gautama” tức đạo Phật của những tu sĩ đức hạnh, thống nhất một phương pháp thực hành, lấy nibbana làm cứu cánh giải thoát chỉ tồn tại khoảng hơn 200 năm. Sau lần kiết tập thứ ba trong đời vua Asoka, nghĩa là chỉ 236 năm sau khi Phật nhập diệt, Phật giáo đã có đầy rẫy những tu sĩ giả danh, không đức hạnh. Vua Asoka đã loại bỏ và trục xuất đến sáu chục ngàn thày tăng giả mạo, dốt nát và vô đức hạnh. Đến lúc này Đạo Phật đã phân chia các bộ phái với pháp học và pháp hành khác nhau. Đạo Phật Gautama đi vào giai đoạn thoái trào. Ấn Độ giáo đã sửa lại triết lý Đạo Phật theo những triết lý của mình. Những triết lý giải thoát này phù hợp với đẳng cấp tâm linh loài người, nhưng dĩ nhiên hoàn toàn sai khác với con đường chánh mà Gautama đã từng thuyết giảng. Lúc Phật còn tại thế, đạo Phật đơn giản chỉ có một Đức Phật là Gautama. Khi Đức Phật không còn, truyền thống đa thần của Ấn Độ giáo dần dần đưa vào nhiều hình tượng của các vị Phật và bồ tát khác tạo ra một đạo Phật “đa phật đa bồ tát” mà tam tạng kinh điển nguyên thủy của Phật giáo không hề đề cập tới. Ấn Độ giáo cũng coi Gautama như một hóa thân của thần Vishnu. Trong các đền thờ Ấn giáo người ta có thể thấy tượng Shiva được bày chung với một tượng Phật. Dù sao đó cũng là lòng kính ngưỡng của người dân Ấn.

Sau khi Phật nhập diệt vài trăm năm, chánh pháp không còn, tăng đoàn tan rã. Đạo Phật “giải thoát” biến mất, thay vào đó là đạo Phật “tín ngưỡng”. Người ta vẫn tiếp tục xây chùa, làm tượng, tiếp tục tổ chức các tăng đoàn, tiếp tục thuyết giảng về đạo Phật, nhưng một phương pháp thực hành hiệu quả để đạt đến giải thoát Níp bàn thì ít ai còn biết! hoặc nếu cho rằng biết thì vẫn còn nhiều điểm tranh cãi không thống nhất. Vì các vị thày đời sau không có hoặc rất ít người đắc đạo cho nên dần dà người ta cho rằng sự giải thoát không cần một tiêu chuẩn xác nhận mức độ tu chứng hay quả vị gì cả! Níp bàn của Gautama được coi là một giải thoát có tính “huyền thoại”, “quá cao”, “xa vời” hoặc “cổ lỗ sĩ”, “không hợp thời”. Từ đó những “đạo Phật mới” đã tìm cách sửa đổi khái niệm của giải thoát Níp bàn thành những kiểu giải thoát dễ hiểu dễ hành, hấp dẫn hơn và thực dụng hơn. Những kiểu giải thoát này thích ứng với não trạng của hầu hết đa số mọi người, tức là não trạng đã được lập trình cho ‘cõi nhân”: bám víu bản ngã, bám víu tồn tại, bám víu trần gian hiện tại, bám víu thiên đàng kiếp sau. Ví dụ như: Đạo Phật “thỏng tay vào chợ”, đạo Phật “đi vào cuộc đời”, đạo Phật “hiện đại hóa”, đạo Phật “đi đến Tây phương cực lạc”, đạo Phật “ăn chay cứu thế giới”, đạo Phật “cho sức khỏe”, đạo Phật “chống stress”, thậm chí còn có đạo Phật “giúp doanh nhân dễ thành đạt”…

Dĩ nhiên thế gian có rất nhiều tôn giáo, nhiều khuynh hướng tâm linh, nhiều quan điểm về giải thoát khác nhau. Ta không thể nói cái nào đúng cái nào không đúng, vì giải thoát theo kiểu nào đó là còn tùy theo nhu cầu của từng cá nhân và còn phải phù hợp với đẳng cấp tâm linh của từng một con người. Nhưng chúng ta không nên gọi những nội dung giải thoát như vừa kể trên là giáo pháp của Đức Phật Gautama chỉ vì muốn lợi dụng uy đức to lớn của Ngài.

Cứu cánh Níp bàn quá cao so với mặt bằng tâm linh của loài người, pháp thực hành quá khó, có phải đó là những lí do khiến Đức Phật phải lưỡng lự khi quyết định chuyển pháp luân?

Và phải chăng đó cũng là lí do Đạo Phật suy tàn ngay sau khi Phật nhập diệt?

Đức Phật đã nhập Níp bàn. Chánh pháp đã không còn toàn vẹn qua những cuộc bể dâu! Người đời sau như  chúng ta muốn tu học thì lấy gì làm chuẩn mực.

Xin mời đọc lại đoạn kinh di huấn này, xin hãy nhỏ lệ với những lời cuối tha thiết của Như Lại:

… Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta!

Này Ananda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư  còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy).

Này Ananda, những ai nghĩ rằng: “Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai” thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: “Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta” thời nay Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo?

Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.

Này Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ… đối với tâm… đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.

Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, Này Ananda là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.

(Kinh Đại Bát Niết bàn: Tụng phẩm 2)

.

BS. Phạm Doãn

Links tham khảo:

[1] http://www.thuvienhoasen.org/truong16.htm

[2]http://www.buddhismtoday.com/viet/phatphap/dp-pp33.htm

[3] http://thienviennguyenthuy.wordpress.com/2009/04/28/nip-ban-nibbana/

[4] http://thienviennguyenthuy.wordpress.com/2009/04/17/nibbana-by-thanissaro/

[5] http://www.thuvienhoasen.org/thonghue-nietban.htm


One Comment on “– Kushinagar (Câu Thi Na)”

  1. Nguyễn Hoàng Hải nói:

    Thưa chú, cháu có đọc sách của một vi thầy, có đoạn:
    …Đối với Đạo Phật, chúng sinh có ba mục đích cần nhắm đến:
    * Một là khi còn phải sống trong luân hồi thì bớt khổ đau, có phước báo cõi trời cõi người.
    * Hai là thoát khỏi luân hồi, chấm dứt sinh tử, có được Níp bàn an vui. Đây là cứu cánh cao tột mà mọi Phật tử trước sau gì thì cũng phải nhắm đến.
    * Ba là giáo hóa cho chúng sinh cùng được thành tựu trí tuệ giải thoát, gọi là hành Bồ Tát đạo…
    Cháu nghĩ, một số những Đạo Phật “đi vào cuộc đời” mà chú nói ở bài viết không phải là hoàn toàn đối nghịch với ý Phật, ít ra là cũng phục vụ cho mục tiêu thứ nhất trên, một mục tiêu có ý nghĩa “lấy ngắn nuôi dài”, nhất là với những chúng sinh căn cơ không cao, tất nhiên nếu ngưng ngang đó thì không còn là Đạo Phật nữa rồi. Đức Phật khi độ cho ai đó cũng phải tùy theo căn cơ của họ mà thuyết pháp cho thích hợp. Đối với những bậc căn cơ cao như 5 anh em Kiều Trần Như ở Lộc Uyển, Thế Tôn đã thuyết ngay về Tứ Thánh Đế- con đường dẫn tới cứu cánh giải thoát. Nhưng đối với công tử Yasa thì trước tiên Đức Phật lại nói về ngũ giới thập thiện trước.Còn với những tầng lớp bình dân khác thì nếu nói ngay về giải thoát Níp bàn thì có lẽ chỉ gây ra hiệu ứng ngược mà thôi. Đức Phật là một vị Đại Y vương, Ngài thấu rõ căn bệnh của từng người, tùy bệnh cho thuốc, tùy thể trạng mà cho thuốc, với những phương thuốc và liều lượng thích hợp. Ngay trong kinh điển Nikaya, cũng có nhiều đoạn mà bây giờ có thể xếp vào dạng “Đạo Phật giúp doanh nhân dễ thành đạt” như chú nói ở trên, mà thầy Quảng Tánh có trích dẫn và bàn luận như sau:

    KINH DOANH THÀNH CÔNG

    Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, vườn Ghosita, rồi Tôn giả Sàriputta đi đến đảnh lễ và bạch Thế Tôn:

    Bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì có người buôn bán thất bại, không thành tựu như ý muốn ? Có người buôn bán thành tựu như ý muốn và thành tựu ngoài ý muốn ?

    Này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Sa môn, hứa hẹn giúp đỡ nhưng không cho như đã hứa. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung đi đến chỗ này, dẫu có buôn bán gì cũng đi đến thất bại, không thành tựu như ý muốn.

    Như ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Sa môn hứa hẹn giúp đỡ, và người ấy đã cho như đã hứa. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy đi đến chỗ này, dẫu buôn bán gì cũng thành tựu như ý muốn.

    Ở đây, này Sàriputta, có hạng người đi đến vị Sa môn hứa hẹ giúp đỡ, và người ấy đã cho nhiều hơn như đã hứa. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ này, dẫu buôn bán gì cũng đạt được thành tựu ngoài ý muốn.

    (ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 4, phẩm Không hý luận, phần Buôn bán, VNCPHVN ấn hành 1996, tr.708)

    LỜI BÀN:

    Hàng Phật tử tại gia, ngoài việc tu học còn có một nhiệm vụ khác vô cùng quan trọng là lo kiếm sống. Không ít người trong hàng Phật tử kiếm sống bằng nghề buôn bán, kinh doanh lương thiện. Tuy nhiên, không hẳn ai cũng buôn bán thành công dù tận lực với công việc.

    Trong bối cảnh kinh doanh đầy biến động như hiện nay, chỉ xét riêng về những người làm ăn chân chính, có nhiều người phất lên nhanh chóng nhưng cũng có không ít người ngậm đắng nuốt cay vì công việc trì trệ, thậm chí lỗ lã và dẫn đến tán gia bại sản.

    Để lý giải cho thành công của mình, đa phần những doanh nhân đều cho rằng họ biết nhìn xa trông rộng, nắm bắt được quy luật thị trường và có chút phần may mắn. Đối với những doanh nhân làm ăn thất bại thì tiết nuối tìm cơ hội khác, vì mình đâu kém ai nhưng sự đời vốn “mưu sự tại người mà thành sự tại trời”

    Ít ai ngờ rằng, công việc kinh doanh của họ trong hiện tại thành công hay thất bại có liên hệ mật thiết với phuớc boá mà họ đã gieo trồng trong quá khứ. Chính điều này đã lý giải rõ ràng điều mà ngành kinh tế học không lý giải nổi, đó là cơ may thị trường.

    Vì thế, người con Phật khi “làm chơi mà ăn thiệt” thì không vội tự mãn; khi “làm thiệt mà ăn chơi” thì chẳng nên chán nản, bi quan. Bởi trong kinh doanh, ngoài năng lực, nhạy bén, biết chớp thời cơ, nắm bắt cơ hội thì may mắn vẫn là yếu tố quan trọng, đôi khi mang tính quyết định. May mắn ấh, theo Phật giáo chính là phước báo của mỗi người.

    Phước báo được tô bồi, vun đắp bời nhiều đời, là nhiều điều thiện. Ảnh hưởng mạnh nhất là sự tạo phước bằng cách trợ duyên cho người thành tựu giới đức có điều kiện tu tập. Do vậy, hãy xây dựng phước báo cho mình trong đời này và đời sau bằng cách phát nguyện hộ trì người tu hành và thực hiện đúng như những gì mình đã phát nguyện.

    KHÔNG KINH DOANH PHI PHÁP

    Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Tại ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:

    Này các Tỷ kheo.

    Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

    Này các Tỷ kheo, có năm nghề buôn bán mà người cư sĩ không nên làm. Thế nào là năm ?

    Buôn bán đao kiếm, buôn bán người, buôn bán thịt, buôn bán rượu và buôn bán thuốc độc.

    Năm nghề buôn bán này, này các Tỷ kheo, người cư sĩ không nên làm.

    (ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, chương 5, phẩm Nam cư sĩ, phần Người buôn bán, VNCPHVN ấn hành 1996, tr.646)

    LỜI BÀN:

    Kinh doanh, buôn bán là một trong những nghề nghiệp đem lại hiệu qua kinh tế cao, có nhiều cơ hội để thành công trở nên giàu có nhưng đồng thời cũng dễ dàng chuốc lấy thất bại. Vì lẽ, sự biến động về thị trường, giá cả và cạnh tranh rất dữ dội, trong khi quyết định đầu tư đôi lúc chỉ xảy ra trong tích tắc. Dù thương trường luôn là chiến trường nhưng từ xưa cho đến nay, kinh doanh buôn bán vẫn là một nghề hấp dẫn vì “phi thương bất phú” không lao vào kinh doanh thì khó mà giàu lên được.

    Tuy nhiên, không phải ai cũng dùng công sức và trí tuệ của mình để làm ăn chân chính, kinh doanh hợp pháp với hoài bảo đem lại sự hạnh phúc cho tự thân và góp phần cải thiện, nâng cao đời sống xã hội. Để kiếm tiền nhanh chóng, chạy theo siêu lợi nhuận không ít người đã táng tận lương tâm, làm ăn phi pháp, gây ra biết bao tai họa. Những phi vụ đen về vũ khí, hạt nhân; các đường dây buôn bán phụ nữ; những hoạt động buôn bán ma túy, rửa tiền có tính đa quốc gia của các tập đoàn, băng nhóm tội phạm đã trở thành mối hiểm họa, đe dọa an ninh và sức khỏe của nhân loại trên toàn cầu.

    Không phải đến tận ngày nay nhân loại mới báo động đỏ, tấn công không khoan nhượng với các loại tội phạm kinh tế, mà ngay từ thời Thế Tôn, Ngài đã lên án, tuyên chiến và khai tử đối với các loại tội phạm vô cùng nguy hiểm này. Người Phật tử, vâng lời răn dạy của Thế Tôn không nên và không được buôn bán đao kiếm, buôn bán người, buôn bán thịt, buôn bán rượu và buôn bán thuốc độc.

    Ngày nay, nhân loại đang sống trong thời đại văn minh và tiến bộ, song những thủ đoạn làm ăn bất chính của các tập đoàn, băng đảng tội phạm lại càng tinh vi hơn, đặc biệt cực kỳ nguy hiểm vì mang tính toàn cầu. Hơn ai hết, người con Phật luôn ý thức sâu sắc về sự nguy hại của những hoạt động kinh doanh phi pháp, chạy theo lợi nhuận mà không màng đến hậu quả để làm ăn lương thiện nhằm xây dựng hạnh phúc, an vui bền vững cho bản thân và xã hội. Kiên quyết đấu tranh với các hình thức kinh doanh bất chính, phi nhân và phi nghĩa là hành động thiết thực của người Phật tử, sống theo lời Phật dạy.

    LÀM GIÀU

    Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại khu vườn ông Anàthapindika. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến, sau khi đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika.

    Này gia chủ, có năm lý do để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm ?

    Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh của bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi, thâu được một cách hợp pháp. Tự mình làm an lạc, hoan hỷ. Làm cho cha mẹ, vợ con, người phục vụ, người làm công được an lạc, hoan hỷ. Đây là lý do thứ nhất để gầy dựng tài sản.

    Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn…. Vị này làm cho bạn bè, thân hữu an lạc, hoan hỷ. Đây là lý do thứ hai để gây dựng tài sản.

    Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn…..Các tai họa để trở thành trắng tay bị chăn đứng và vị ấy giữ tài sản được an toàn cho vị ấy. Đây là lý do thứ ba để gầy dựng tài sản.

    Lãi nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn….Vị ấy có thể hiến cúng cho bà con, cho khách, cho hương linh đã chết; hiến cúng cho vua và chư thiên. Đây là lý do thứ tư để gầy dựng tài sản.

    Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử kiếm được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn…..Vị ấy tổ chức cúng dường các vị Sa môn, Bà la môn. Sự cúng dường tối thượng này đưa đến phước báo vô lượng ở cõi người, cõi trời. Đây là lý do thứ năm để gầy dựng tài sản.

    (ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, chương 5, phẩm Vua Munda, phần Trở thành giàu [lược], VNCPHVN ấn hành 1996, tr.374)

    LỜI BÀN:

    Đề cập đến Phật giáo, xưa nay đa phần đều nghĩ về khuynh hướng ly dục, muốn ít và thanh bần. Ít ai ngờ rằng, Thế Tôn từng khuyến khích hàng đệ tử phải cố gắng làm giàu. Hãy gầy dựng tài sản, làm giàu với năm mục đích cao thượng. Làm cho cá nhân và xã hội trở nên giàu có, thịnh vượng là khác vọng của nhân loại. Thế nhưng, con đường để trở thành giàu có không phải ở đâu và lúc nào cũng chân chính, là thành quả lao động khó nhọc từ khối óc và bàn tay. Vì thế, người Phật tử vâng lời Thế Tôn dạy, làm giàu chân chính bằng sự nỗ lực, cố gắng; bằng tất cả trí tuệ và sức lực; bằng các phương thức lao động, kinh doanh hợp pháp. Đồng thời, việc tạo ra của cải vật chất với mục đích cao cả là đem lại sự an vui và hạnh phúc cho mình và tha nhân.

    Người Phật tử làm giàu trước hết nhằm đem lại hạnh phúc cho tự thân, gia đình và các nhân công, người phục vụ. Kế đến, đem tài sản của mình làm ra cho bà con, thân hữu, bạn bè và tha nhân được an vui hạnh phúc. Mặt khác, biết cách bảo vệ thành quả lao động đồng thời không lãng phí và đầu tư vào những công việc không đem lại lợi ích cho con người. Ngoài ra người phật tử phải biết đem tài sản do mình làm ra để xây dựng các công trình văn hóa, nhớ về cội nguồn, cúng tế ông bà, tổ tiên và bố thí cho các vong hồn đói khát. Sau cùng, người con Phật phải biết hướng về các vị bô lão, người có đời sống đạo đức, phạm hạnh như Sa môn để cúng dường đồng thời học theo đức hạnh của các ngài nhằm xây dựng phước báo tốt đẹp cho tự thân trong đời này và đời sau.

    Làm giàu với năm mục đích cao thượng như trên, người con Phật đã góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, công bằng, tiến bộ và văn minh.

    Cháu vẫn nghĩ rằng, Đức Phật là một Minh Sư, Giáo pháp của Ngài là Chân lý, mọi lĩnh vực của cuộc sống đều có thể được Chân Lý đó soi rọi để hướng thượng hơn, nhân bản hơn trên con đường tiến tới giác ngộ giải thoát, con đường mà sẽ không bao giờ hết những lữ khách vì tam giới là vô tận, chúng sinh là vô tận.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s