– Lumbini (Lâm Tì Ni)


Xuống xe lửa tại ga Gorakhpur khoảng 20 h tối, chúng tôi được đón đi về phía Nepal bằng xe ô tô. Xe qua biên giớ Nepal vào nửa đêm. Trời thật lạnh khoảng 4 độ C theo thông tin search trên mạng. Biên giới Ấn-Nepal nửa đêm cũng thật đông đúc xe cộ. Rất nhiều lính với quân phục rằn ri cùng súng ống, nhắc ta Nepal đang còn trong tình hình hỗn mang chính trị. Cả đoàn nghỉ đêm tại một khách sạn gần vườn Lumbini. Vào giờ này mà khách san cũng rất đông khách hành hương và du lịch vào ra.

Trước khi đến Ấn Độ tôi đã đọc một số tài liệu về Lumbini:
Lumbini (the sacred darden) chỉ vừa mới được tìm thấy và xác định trong một thời gian rất gần đây (sau hàng ngàn năm mất dấu). Phát hiện cho thấy Lumbini là một vùng của quận Rupandehi thuộc Nepal, cách Kathmandu khoảng 200 dặm và nằm sát biên giới Nepal-Ấn Độ. Các nổ lực khảo cổ học đã lần lượt tìm thấy tại vùng này:
– Nền gạch của Mayadevi temple.
Hồ nước cạnh đó nơi hoàng hậu Maya đã tắm cho thái tử Siddartha.
Trụ đá có đánh dấu sự kiện khi vua Asoka đến thăm nơi đây vào năm 249 B.C.
Tất cả chứng cứ này phù hợp với lịch sử trong kinh điển Phật Giáo: Đức Phật được sinh tại vườn Lumbini bên ngoài thành Kapilavatsu, dưới một cội cây sala và gần một hồ nước.

Sự xác định nơi sinh ra của Đức Phật cần đến hai sự kiện chính:

– Năm 1896, nhà khảo cổ ngưới Anh Cuningham đã khai quật trong khu vực Lumbini, tìm được một trụ đá (một trong bốn trụ đá của vua Asoka chôn để ghi dấu bốn nơi gắn liền với lịch sử Đức Phật gọi là Tứ Động Tâm). Trên trụ đá có khắc các dòng chữ theo tiếng Anh thì có nghĩa như sau:
“King Piyadasi (Ashoka), beloved of devas, in the 20 year of the coronation, himself made a royal visit, Buddha Sakyamuni having been born here, a stone railing was built and a stone pillar erected to the Bhagavan having been born here, Lumbini village was taxed reduced and entitled to the eight part (only)”.
Bắt đầu từ đây phương Tây mới tin trằng Đức Phật là một nhân vật lịch sử có thật. Trước đó họ cho rằng nhân vật Gautama chỉ là huyền thoại và Giáo pháp của ngài chỉ là tổng hợp các tư tưởng của nhiều nhân vật khác nhau trong lịch sử văn hóa Ấn Độ.

– Đến năm 1995, các nhà khảo cổ bất ngờ tìm thấy dưới nền của Mahadevi temple một viên gạch có khắc chữ đánh dấu chính xác nơi Đức Phật đã hạ sinh. Chứng vật này cuối cùng đã khẳng định rằng Mahydevi temple chính xác là đền thờ kỉ niệm nơi Đức Phật đã sinh ra và vùng đất này chính là Lumbini ngày xưa![1]

LUMBINI, the sacred garden, được Unesco chính thức công nhận là một di sản thế giới vào năm 1997 [2]
Như vậy chỉ hơn mười năm nay các Phật tử mới có thể biết vườn thiêng Lumbini và có thể đến thăm viếng nơi Phật đản sanh.

Buổi sáng mù sương tại Lumbini
.
Hướng dẫn viên người Ấn
.
Hotel tại Lumbini, Nepal
.
Buổi sáng thức dậy sớm, tôi bước ra hành lang, nhìn cảnh vật xung quanh. Trời tờ mờ sáng. Sương mù dày đặc, gió lạnh rát da, cỏ cây đẫm mình trong sương sớm. Trước bầu trời rất lạ của Nepal, một cảm xúc bỗng dâng lên: Ồ thì cuối cùng ta cũng đến được nơi đây: Vườn thiêng Lumbini [3] nơi đây vào năm 623 trước công nguyên đã xuất hiện một vĩ nhân của địa cầu, Thái tử Siddartha Gautama[4], con vua Suddhodanahoàng hâu Mayadevi thuộc vương triều Shakya.
Trước cổng Lumbini garden
.
Từ khách sạn đến Lumbini rất gần. Chỉ 15 phút qua vài con đường vắng là chúng tôi thấy cổng vào Lumbini. Một con đường dài khoảng 500m từ cổng dẫn vào khuôn viên chính của Lumbini.
Con đường dài dẫn tới Lumbini sacred garden
.
Cậu bé bám sát chúng tôi suốt chuyến viếng thăm Lumbini.
.
Khách tham quan đi đến Lumbini thường bị các người ăn xin chèo kéo. Ở tất cả các điểm du lịch như thế này thì người nghèo khó và trẻ em cơ nhỡ rất nhiều. Hình trên chúng tôi chụp chung với một cậu bé. Cậu này đeo bám chúng tôi suốt con đường dài với câu niệm “Nam Mô a di Đà Phật”. Thấy tôi không có vẻ hưởng ứng, cậu ta nhanh nhẹn thay đổi câu niệm thành: “Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma Sambuddhassa”. Cho cậu 10 Rubee để chụp hình. Lumbini được phục hồi thành một khu vườn đẹp xanh màu cỏ. Trên nền cũ của Mahayana temple, người ta đã xây lên một đền tưởng niệm thay thế.
Đền tưởng niệm mới xây trên nền đất cũ của Mahadevi temple.
.

Bên cạnh đền tưởng niệm là cột đá của vua Asoka đã dựng vào năm 249 B.C

Trụ đá với chữ viết của vua Asoka khi ông viếng thăm nơi đây vào năm 249 B.C
.

Sau đền là một hồ nước hình vuông vắn.

Hồ nước nơi hoàng hậu Mayadevi đã tắm.
.
Bên trong Sacred Garden.
.

Chung quanh khu di tích còn sót lại nhiều nền gạch đỏ, dấu tích của nhiều đền thờ xưa cũ.

Dấu tich của nhiều ngôi đền cũ đã từng có tại Lumbini.
.
Marker stone: đánh dấu chính xác nơi đản sanh của Đức Phật.
.
Bên trong đền Mayadevi, tất cả khách viếng được hướng dẫn theo hàng một để vào trong nhìn tận mắt nơi Đức Phật đã được sinh ra. Viên gạch đánh dấu chính xác nơi Đức Phật sinh ra, được giữ nguyên hiện trạng trong tình trạng lúc khai quật. Trong sự yên tĩnh tuyệt đối, tôi nhìn thấy rất nhiều những bàn tay cung kính chắp lại, rất nhiều những cánh hoa được thả vào lòng đất nơi Đức Phật đã sinh ra.
Bất ngờ bỗng dưng tôi thấy nghẹn trong lồng ngực. Hình như mình đã rớm nước mắt!
Lumbini, vâng chính nơi đây ngài đã xuất hiện trên hành tinh này!
Người đã vạch ra một con đường thực hành đầy trí tuệgiúp cho kẻ hữu duyên có thể vượt thoát mọi đau khổ, đạt đến một trạng thái tự do tuyệt đối, một Nibbana tĩnh lặng và hoàn toàn vô ngã.Tôi có cảm giác mãnh liệt để tin chắc rằng khi Đức Phật được hạ sinh không có gì thần bí như huyền thoại trong kinh điển từng mô tả. Siddartha Gautama chỉ là một con người bình thường, được sinh ra bình thường. Tuy nhiên Ngài đã thừa hưởng một bộ gen được chọn lọc thật tốt, một bộ gen đã tiến hóa đầy đủ  (nhìn theo khía cạnh khoa học) hoặc hiểu theo cách khác Ngài đã hoàn chỉnh sự tích lũy các paramis trong nhiều kiếp tái sanh trước đó (nhìn theo quan điểm Phật học), cho nên thể chất, trí tuệ, ý chí, đức hạnh của ngài đặc biệt khác thường và ưu đẳng hơn mọi người chung quanh.
Liên tưởng đến trí tuệ của Đức Phật qua giáo pháp đồ sộ và vĩ đại đã ghi lại trong các bộ Nikaya, chúng ta thực sự kinh ngạc về con người đặc biệt đã sinh ra tại Lumbini này!
Một nhà sư đang tụng kinh.
.
Với tâm an lạc, tôi đi dao quanh khuôn viên Lumbini. Màu trắng của đền tưởng niệm thật tinh khiết trên nền cỏ xanh. Trụ đá Asoka, hồ nước thiêng còn đây. Bên cạnh cây bồ đề, một nhà sư đang yên lặng niệm kinh. Rải rác vẫn có các nhà sư buôn thần bán thánh.
Mê tín dị đoan!
.
Một ngôi chùa Thái Lan.
.
Một ngôi chùa Việt Nam.
.
Vietnam Phật quốc tự.
.
Trong ngôi chùa Việt Nam.
.
Trước khi đi về, đoàn chúng tôi ghé thăm các chùa chung quanh Lumbini. Từ khi được Unesco công nhận, xung quanh Lumbini moc lên các chùa đủ mọi quốc tịch. Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức…và Việt Nam cũng có.
Hiện tượng nhiều chùa tháp vây bám theo các điểm hành hương của Phật tử, không biết còn có đóng góp gì giúp cho giáo pháp đã suy tàn của thày Gautama hay không! Chúng tôi không ghé đủ các chùa mà chỉ nhìn bên ngoài. Riêng Việt nam Phật Quốc Tự thì có vào bên trong. Chùa rất lớn nhưng xây từ lâu lắm mà tại sao vẫn chưa xong? Tấm bảng ngoài cổng còn ghi chữ…under construction! Thày Huyền Diệu đang về VN. Chỉ có một sư  cô đang niệm Nam Mô A Di Đà Phật!!!Đức Phật lịch sử thì chỉ có một, nhưng Đức Phật trong tâm trí của từng tín đồ thì lại khác nhau. Nhìn các ngôi chùa khác nhau, các vị sư tông phái khác nhau, các loại tăng phục khác nhau, tụng niệm khác nhau, kinh điển khác nhau… bất giác ta liên tưởng đến một thời hoàng kim của Đạo Phật Gautama đã qua. Sự đa dạng ngoài kiến trúc, trang phục, ngôn ngữ là điều hoàn toàn hợp lý. Nhưng sự đa dạng đến mức tám vạn bốn ngàn pháp môn của đời sau, mà lí luận lẫn thực hành hoàn toàn sai biệt, thực là điều đáng phải băn khoăn!
Người dân Nepal.
.
Một bà cụ tại biên giới Ấn-Nepal.
.
Buôn bán trên đường phố của Nepal.
.
Văn phòng sở di trú Nepal.
.
Cổng biên giới Nepal-India.
.
Thế là kết thúc chuyến thăm viếng Lumbini, điểm “động tâm” thứ nhất. Mọi người chuẩn bị trở về Ấn qua biên giới Nepal- Ấn Độ.
Trước khi có các công trình khoa học để xác định, đã xảy ra nhiều tranh cãi rằng Kapilavastu và Lumbini nằm bên này Ấn Độ hay bên kia Nepal. Ấn Độ, mặc dù từng đã nổ lực thủ tiêu Đạo Phật, vẫn rất kì vọng Kapilavastu và Lumbini được xác định nằm ở trong lãnh thổ của mình. Cách đây vài năm, các đoàn hành hương đi thăm thành Ca Tì La vệ tức Kapilavastu (kinh đô của hoàng tộc Thích ca) đã được hướng dẫn tới Piprahwa thuộc bang Uttapradesh Ấn Độ. Ngày nay, qua các bằng chứng khảo cổ, UNESCO đã khẳng định Lumbini nằm ở Nepal. Như vậy suy ra Capilavastu (nằm cạnh Lumbini) phải là Tilaurakot cũng thuộc về  lãnh thổ Nepal.[5]

BS. Phạm Doãn

Ref. links:
[1] http://www.independent.co.uk/news/sacred-stone-solves-mystery-of-buddhas-birthplace-1317517.html
[2] http://whc.unesco.org/en/list/666.
[3] http://en.wikipedia.org/wiki/Lumbini
[4] http://en.wikipedia.org/wiki/Gautama_Buddha
[5] http://en.wikipedia.org/wiki/Kapilavastu
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-ducphatlichsu/dpls-01b.htm
http://worldamity.wordpress.com/2009/11/11/dirty-controversy-about-kapilvastu/

Lumbini, images of 360 degree:
http://www.world-heritage-tour.org/asia/south-asia/nepal/lumbini/ashokan-s-pillar/sphere-flash.html



Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s