Thực Hành Và Trải Nghiệm Chánh Niệm (sati)

Chánh Niệm

  1. Chánh Niệm là bước đầu tiên trong thực hành Thiền của Đạo Phật nguyên thủy.

–  Niệm (sati) có ngữ căn sar = hồi nhớ. Nhưng nghĩa “hồi nhớ” của “sar” tại đây không giống với nghĩa trí nhớ thông thường mà lại gần với nghĩa “chú tâm”. Tiếng Anh dùng chữ Mindfulness để tạm dịch chữ SATI

– Chánh Niệm (samma+sati) =  right mindfulness

Theo Vi Diệu Pháp, Niệm (sati) là một tâm sở, trong 19 tâm sở thiện.

Niệm (sati) là ghi nhớ trực tiếp nên chính xác, khác với Tưởng (saññā) là nhớ lại qua một dấu hiệu (nimitta) nên có thể sai lầm.

Cần phân biệt:

– Đối với Đạo Phật nguyên thủy, Niệm là một “tâm sở” (cetasika) tức là một thuộc tính của tâm, nghĩa là lúc nào Tâm hiện hữu thì Niệm cũng hiện hữu. Tu tập Niệm là làm cho Niệm trở nên rõ ràng, mạnh mẽ và vững chắc hơn.

– “Niệm trong Đạo Phật nguyên thủy” hoàn toàn khác với chữ “Niệm trong Thiền Tông Trung Quốc”. Thiền Tông trung Quốc hiểu “Niệm” như “ý nghĩ” xuất hiện trong tâm trí, do đó Thiền Tông đưa ra phương pháp thực hành “Vô Niệm” với nghĩa là một phương pháp tu tập sao cho không có ý nghĩ (niệm) xuất hiện trong tâm trí hành giả!

Như vậy có sự đối lập nghịch chiều trong pháp tu tập của Đạo Phật nguyên thủy và Thiền Tông Trung Quốc. Một đàng thì tu tập để phát triển “Niệm”, một đàng thì tu tập tiêu diệt Niệm!

  1. Hai bài kinh hướng dẫn sự tu tập Chánh niệm

2a. Kinh Quán Niệm Hơi Thở ( Trung Bộ 118) hướng dẫn sự tu tập niệm, bắt đầu bằng cách giữ Niệm trên hơi thở vào ra, sau đó phát triển Niệm trên cả bốn lãnh vực (Thân, Thọ Tâm, Pháp).

Thân

Thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”.

Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”.

“Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Thọ

“Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Tâm

“Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Pháp

“Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Quán ly tham, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập.

“Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Mục đích tu tập của bài kinh Quán Niệm Hơi Thở trên thân , thọ, tâm, pháp, là làm viên mãn bốn lãnh vực và viễn mãn bảy yếu tố giác ngộ (thất giác chi)

2b. Kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthànasutta MN.10) và Đại Niệm Xứ (Mahàsatipatthana sutta DN.22) là sự khai triển, mô tả chi tiết hơn về cách thực hành Niệm trên Bốn Lãnh Vực

Pháp quán niệm hơi thở là pháp luyện tâm (bhavana) căn bản nhất trong Đạo Phật. Phương pháp này không chỉ giúp người tu đạt được Chánh Niệm mà còn có thể tiếp tục giúp phát triển Chánh Niệm thành Thiền Định với một vài kỹ thuật nhất định.

  1. Phân biệt hai loại thiền quán (vipassana)

Phải phân biệt rằng, đối với thiền sinh mới bắt đầu tu tập, thì mục đích quán niệm hơi thở là nhằm vào mục đích đạt được Chánh Niệm.(chứ chưa phải là để đạt Thiền Định)

Xem Kinh Trung Bộ MN 118 Kinh Quán Niệm Hơi Thở (Nhập Tức Xuất Tức Niệm – Ānāpānasati Sutta)

Chú ý, cần phải phân biệt ngay từ đầu rằng

– pháp “thiền quán trên bốn niệm xứ để đạt Chánh Niệm”

hoàn toàn khác với

–  pháp “thiền Quán trên bốn niệm xứ trong giai đoạn cuối cùng của tu tập Đạo Phật”, tức lúc mà hành giả đã có Định và quan sát bốn niệm xứ với năng lực của thiền định!

Bởi lẽ hiện nay người ta hay dùng một cách nhầm lẫn về chữ Thiền Quán (vipassana) đối với hai phương pháp thiền quán khác nhau

  • Một phương pháp Thiền Quán dành cho người mới vào ở giai đoạn đầu của tu tập.
  • Một phương pháp, chỉ dành riêng cho các hành giả đã có năng lực của Định hay Cận định ở cuối đạo lộ tu tập!

Động tác “quán” (contemplation) trong tu tập Chánh Niệm là sự chú tâm theo dõi liên tục (không phán đoán và phê bình) về trạng thái (vốn thay đổi liên tục) của Thân (body), Thọ (perception), Tâm (mind), Pháp (objects of Mind).

Niệm (Sati) là khả năng ghi nhớ (chú tâm) một cách liên tục của tâm trên một trong bốn niệm xứ.

Khi nào gọi là Niệm và khi nào gọi là Chánh Niệm?

– Trong giai đoạn đầu tu tập ta chỉ có Niệm (Sati) vì lúc ban đầu của sự tu tập sự ghi nhớ (chú tâm) được đặt vào các đối tượng mà ta chưa thể phân biệt được tục đế hay chân đế. – – Sau thời gian tu tập và phát triển, khi Niệm gắn vào một trong ba tướng Vô Thường, Khổ, Vô ngã, nghĩa là các đối tượng thuộc chân đế trên đạo lộ giải thoát, thì lúc đó nó được gọi là Chánh Niệm (sammāsati).

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh niệm? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; trên các cảm thọ… trên các tâm… quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh niệm.

Xem kinh Đại Niệm Xứ:

Link: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong22.htm

Này chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên các tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này chư Hiền, như vậy gọi là “chánh niệm”.

Xem kinh Phân Biệt Về Sự Thật:

link: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung141.htm.

  1. Trải nghiệm Chánh Niệm

Rất khó để có thể hình dung trải nghiệm Chánh Niệm là gì? Và sống trong Chánh Niệm là gì? Nếu thiền sinh không được ai đó trình bày trực tiếp trải nghiệm thực sự về Chánh Niệm. Thường các học viên chỉ được vị thày lập đi lập lại rằng Chánh Niệm là “Đừng nghĩ quá khứ, đừng nghĩ tương lai!” là ““Quá khứ, không mong cầu. tương lai không ước vọng!”, chánh niệm là “sống ngay trong hiện tại”, “sống với “thực tại hiện tiền” hoặc “đi đứng nằm ngồi cũng là Chánh Niệm” v.v và v.v…
Tôi nghĩ rằng các cách diễn đạt như vậy là mơ hồ. Thay vào đó các vị thày nên mô tả trực tiếp trải nghiệm thực sự của chính mình về Chánh Niệm!

Niệm là nhận biết, là ghi nhớ các đối tượng của tâm. Đây cũng là trạng thái tập trung của tâm nhưng nhẹ nhàng hơn so với Định là trạng thái tập trung rất mạnh trên một đối tượng “duy nhất” của tâm.
Thực hành Chánh Niệm có thể là:

quan sát nhận biết hơi thở vào ra (quán hơi thở)

hoặc là quan sát cảm giác của từng bộ phận hoặc toàn cơ thể

hoặc là quan sát toàn bộ thân thể, hoặc là toàn bộ các tư thế cơ thể…(quán thân trên thân)

hoặc là quán sự xuất hiện và vận hành và thay đổi của tâm (quán tâm)

hoặc là quán sát các đối tượng của tâm (quán pháp)

Tùy theo mỗi người mà có thể thực hành niệm xứ này nhiều niệm ứ kia ít hoặc ngược lại

Nhưng khi sự thực hành đã thành công thì sự nhận biết của tâm (trên bốn niệm xứ) trở nên mạnh mẽ và rõ ràng.

4a. Tâm tự động bám sát (không rời) vào thân, thọ, tâm hoặc pháp pháp. Lúc này tâm nhận biết các đối tượng (thân, thọ, tâm, pháp) rất rõ ràng, không còn mơ hồ như trạng thái tâm trước đây.

4b. Chính vì tâm nhận biết mạnh mẽ, minh bạch khiến  nó trở thành chủ nhân thực sự của hơi thể, thân thể, cảm giác, và của các đối tượng khác.

Tâm có thể tự mình tách rời và nhìn “bốn lãnh vực” (thân, thọ, tâm, pháp) như những đối tượng ở ngoài nó!

Mỗi động tác, ý tưởng đều được phát hiện và nhận biết ngay khi nó xuất hiện. Ta có cảm giác đi đứng, nằm, ngồi, tư duy đều ở trong vòng kiểm soát của Chánh Niệm, tức một cái tôi có vẻ như tách rời và có khả năng kiểm soát mọi thứ!

4c. Cái Tôi “chủ thể”có cảm giác rằng cái tôi “cơ thể” như một người nào khác, hoặc thậm chí là một người “xa lạ”. Đây là hiện tượng mà một số nhà tâm lý gọi là “hiện tượng phân ly” (disociation). Một người, khi thành công chánh niệm, đều có những trải nghiệm giống nhau về cơ bản. Phần khác biệt là do lúc thực hành nghiêng về quán thân hay quan tâm nhiều hơn. Vì vậy đôi khi có sự mô tả hơi khác nhau. Trong kinh Nikaya có lẽ đoạn sau đây dùng để mô tả sự tách biệt của cái tôi “chủ thể” và cái tôi “không phải là chủ thể”:

“Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm …”

(kinh Tăng Chi, chương 5 pháp, phần Định, (VIII) (28) Năm Chi Phần)

Link: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi05-0106.htm

Đoạn kinh trên mô tả một phần trải nghiệm của một vị có Định, tuy nhiên ngay khi có Chánh Niệm, ta có thể đã tiếp cận loại trải nghiệm này!

Cái ý thức “chủ thể” giờ có thể rời xa khỏi cơ thể phàm phu. Nó đứng ngoài và quan sát cái tôi vốn quen thuộc xưa nay như quan sát một người khác!

Ý thức chủ thể không nằm ở đâu cả. Nó có vẻ như ở bên trên trên …như một người đứng quan sát người ngồi, như người ngồi quan sát người nằm. Bất cứ động tác thân thể hay ý tưởng nào vừa chớm xuất hiện đều được nó nhận biết và nó có thể tác ý bắt ngưng hay cho phép động tác đó, ý tưởng đó tiếp tục xảy ra hay phải chấm dứt!

4d. Như vậy, khi thành công trong Chánh Niệm là ta đã có thể kiểm doát con người bản năng một cách dễ dàng hơn xưa! Tức sự gìn giữ giới trở nên dễ dàng nhờ chủ động!

Với Chánh Niệm, nếu ta nhìn xuống mặt đồng hồ thì có vẻ như kim đồng hồ không quay. Có lẽ sự nhận biết tách bạch và mạnh mẽ và tinh tế đã kéo dài thời gian. Chưa nói đến thiền định, chỉ chánh niệm thôi cũng đã làm thời gian thay đổi. Những vị có năng lực Thiền Định có thể “nhìn thấy” từng sát na tâm là vì thời gian giữa hai tâm bây giờ quá dài để cho sự nhận biết có thể chen vào giữa!

Nói chung, Chánh Niệm là trải nghiệm tâm linh đầu tiên khiến cho con người có một nhận thức khác biệt về đời sống!. Người ngoài Đạo Phật thường gọi trạng thái đó là giác ngộ như Krisnamurti, Echkhart Tolle v.v… Thực sự thì trải nghiệm thiền của Đạo Phật thì rộng lớn và sâu xa hơn nhiều.

5. Chỉ có Chánh Niệm thôi thì chưa đủ!

Vì phải biết cách phát triển Chánh Niệm thì nó mới có thể thành Thiền Định và phải biết dùng năng lực của Thiền Định để thực hiện Thiền Quán. Một người khi đã có năng lực của Thiền Định mới có thể thiền quán đúng cách để phát sinh ra cái gọi là Tuệ giải thoát! Đúng ra là ngay khi ta có Chánh Niệm hoặc Thiền Định thì ta đã có một số Tuệ nhất định rồi!. Nhưng những Tuệ này đối với Phật giáo thì chưa đủ để thực hiện Đại Gác Ngộ tức trải nghiệm được Nibbana.

Tóm lại

Ngay khi thực hành thành công Chánh Niệm, người tu tập đã có những trải nghiệm bất ngờ và mới lạ về bản chất thực của đời sống!

Bởi vì Chánh Niệm có tác dụng mạnh mẽ như vậy và khả năng một người bình thường có thể đạt được Chánh Niệm là không quá khó, cho nên rất nhiều tông phái đã chỉ tập trung ở phương pháp tu tập Chánh Niệm. Các đạo sư (vì những lý do cá nhân) chỉ dừng sự giảng dạy ở việc thực hành Chánh Niệm làm cho nhiều người lầm tưởng tất cả pháp thực hành của Đạo Phật chỉ là Chánh Niệm và quên đi rằng Chánh Niệm chỉ là bước ban đầu trên đạo lộ tu tập.

Đối với Đạo Phật Nguyên thủy, chỉ có Chánh Niệm thôi thì chưa đủ!

Vì Khi đã có Chánh Niệm thì ta chỉ có khả năng Chánh Niệm trong một thời gian nhất định nào đó (dài hoặc ngắn) sau buổi tập. Khi xuất thiền bước vào cuộc sống thường nhật là năng lực Chánh Niệm sa sút rất nhanh. Tùy theo công phu tu tập của từng người mà thời gian giữ được Chánh Niệm sau khi xuất thiền sẽ dài hay ngắn. Tôi e rằng những người ca ngợi cách “sống ngay trong thực tại” như một pháp môn là chưa có trải nghiệm gì về Chánh Niệm! Vì chánh niệm mới là bước đầu của công phu tu tập. Trạng thái này sẽ không giữ được lâu! Ngay cả một vị đắc thiền định cũng có thể bị mất năng lực định vì một biến cố nào đó trong đời!

Tôi tin rằng Chánh Niệm không thể tự dưng chuyển thành Định (Samadhi) và Thiền Định không thể tự dưng phát sinh ra Tuệ Giải thoát! Nếu không nhờ vào một hướng dẫn kỹ thuật đặc biệt đã có ghi chú trong kinh hoặc luận!

Sài Gòn, ngày 09/10/2014

Phạm Doãn


ĐỊNH NGHĨA CỦA CHÁNH ĐỊNH (Sammā Samādhi)

 

Thế nào là Chánh Đinh?
Đây là vấn đề hiện còn gây tranh cãi rất nhiều trong Đạo Phật nguyên thủy!
Bài viết này nêu ra những chuẩn mốc về trạng thái tâm được gọi là Chánh Định (Sammā Samādhi) dựa trên kinh Nikaya

 

ĐỊNH NGHĨA CỦA CHÁNH ĐỊNH (Sammā Samādhi)

dolphins-dreamdesign-blume-des-lebens-goldene-lichtenergie-224625

I. NĂM ĐẶC TÍNH CUẢ CHÁNH ĐỊNH

Khái niệm Chánh Định (sammasamādhi ) trong Đạo Phật nguyên thủy
được đề cập tới trong bài KINH ĐỊNH trong Tăng Chi Bộ, chương năm pháp

http://www.budsas.org/…/u-kinh…/tangchi05-0106.htm
– Chánh Định có thể nhận biết dựa trên năm yếu tố (đặc tính) như bài kinh Định đã đưa ra:

1. Ðịnh này hiện tại lạc và tương lai có quả dị thục lạc, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
2. Ðịnh này thuộc bậc Thánh, không thuộc vật chất, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
3. Ðịnh này không do người ác thực hiện, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
4. Ðịnh này an tịnh, thù diệu, đem đến khinh an, đạt được nhất tâm, không phải là sự chế ngự gò ép thường xuyên, trong mỗi người, trí (như vậy) khởi lên.
5. “An tịnh, ta nhập định này. An tịnh, ta xuất khỏi định này”, trong mỗi người trí (như vậy) khởi lên.
——–
CHÚ Ý

Bài kinh khẳng định rằng Chánh Định có NHẬP – có XUẤT
– trí (như vậy) khởi lên “An tịnh, ta nhập định này. An tịnh, ta xuất khỏi định này”
– knowledge arises to him internally, I enter this concentration and rise from it mindfully.
– ‘sato kho panāhaṃ imaṃ samāpajjāmi sato vuṭṭhahāmī’ti paccattaññeva ñāṇaṃ uppajjati.

Nói có sách, mách có chứng: (3/278, tính theo PTS):
PALI VĂN:
‘‘katame pañca dhammā uppādetabbā? Pañca ñāṇiko sammāsamādhi – ‘ayaṃ samādhi paccuppannasukho ceva āyatiñca sukhavipāko’ti paccattaṃyeva ñāṇaṃ uppajjati. ‘Ayaṃ samādhi ariyo nirāmiso’ti paccattaññeva ñāṇaṃ uppajjati. ‘Ayaṃ samādhi akāpurisasevito’ti paccattaṃyeva ñāṇaṃ uppajjati. ‘Ayaṃ samādhi santo paṇīto paṭippassaddhaladdho ekodibhāvādhigato, na sasaṅkhāraniggayhavāritagato’ti [na ca sasaṅkhāraniggayha vāritavatoti (sī. syā. kaṃ. pī.), na sasaṅkhāraniggayhavārivāvato (ka.), na sasaṅkhāraniggayhavāriyādhigato (?)] paccattaṃyeva ñāṇaṃ uppajjati. ‘So kho panāhaṃ imaṃ samādhiṃ satova samāpajjāmi sato vuṭṭhahāmī’ti paccattaṃyeva ñāṇaṃ uppajjati. Ime pañca dhammā uppādetabbā.
VIỆT VĂN (HT. Thích Minh Châu)
viii) Thế nào là năm pháp cần được sanh khởi? Năm chánh định trí: “Ðây là định đưa đến hiện tại lạc và lạc quả tương lai”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc bậc Thánh, xuất thế”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc hàng hiền thiện thực hành”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này là thanh lương, thù thắng, hướng đến an tịnh, quy về nhất tâm, không cần nhắc bảo, không bị chống đối, không bị thất bại”, tự mình khởi trí như vậy. “Tôi với chánh niệm nhập định này, và với chánh niệm xuất định này”, tự mình khởi trí như vậy. Ðó là năm pháp cần được sanh khởi. (Trường Bộ 3, Kinh Thập Thượng)

NĂM CHÁNH ĐỊNH TRÍ

Năm đặc tính của ĐỊNH được nhận biết bởi trí khởi lên của chính hành giả cho nên còn được gọi là NĂM CHÁNH ĐỊNH TRÍ

Chương pháp 5 chi – Kho tàng pháp học biên soạn bởi HT Giác Giới:

….
Tức là năm chánh định trí (Pañcañāṇiko sammāsamādhi), loại chánh định được thấu triệt bởi năm phản khán trí (Paccavekkhaṇañāṇa):

1. Tự sanh trí, biết “Đây là Định hiện tại lạc, tương lai quả lạc” (Ayaṃ samādhi paccuppannasukho c’ eva āyatiñca sukhavipāko’ ti paccattaṃyeva ñā-naṃ uppajjati).

2. Tự sanh trí, biết “Đây là Định cao thượng ly vật chất” (Ayaṃ samādhi ariyo nirāmiso’ ti paccat-taṃyeva…).

3. Tự sanh trí, biết “Đây là Định chỉ do bậc kỳ nhân thực nghiệm” (Ayaṃ samādhi akāpurisasevito’ ti paccattaṃyeva…)

4. Tự sanh trí, biết “Đây là Định thanh tịnh, tinh lương, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, không hữu trợ, không bị chống đối, không bị thất bại” (Ayaṃ samādhi santo paṇīto paṭippassaddhaladdho ekodi-bhāvādhigato na ca sasaṅkhāraniggayhavāritavato’ ti paccattaṃyeva…)

5. Tự sanh trí, biết “Ta đang chánh niệm nhập định này, đang chánh niệm xuất định này” (So’ haṃ imaṃ samādhiṃ sato va samāpajjāmi sato vuṭṭhahāmī’ ti paccattaṃyeva ñāṇaṃ uppajjati).

D. III.278

——–

Chú ý:

Chánh Định Trí thứ 4 tự nhận biết “Đây là định thanh tịnh….”.

Đặc tính này của Định còn được gọi là TÂM ĐỊNH TĨNH LẶNG (Paṭipassaddha samādhi).

Tâm Định Tĩnh Lặng chỉ là một đặc tính trong năm đặc tính của Chánh Định.

II. NĂM CHI PHẦN của CHÁNH ĐỊNH

Bài kinh Năm Chi Phần VIII (28) tức là bài kinh tiếp theo bài kinh Định là một trong những bài kinh có định nghĩa Chánh Định kèm theo những giải thích rất chi tiết. Đó là định nghĩa dựa trên năm chi phần của CHÁNH ĐỊNH

(VIII) (28) Kinh Năm Chi Phần
1. – Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
– Này các Tỷ-kheo, như thế nào là sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất với tầm, với tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm hay đệ tử hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước. Cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho dung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
Ðây là sự tu tập thứ nhất về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
5. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước, nước tự dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nuớc ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần tẩm ướt làm cho sung mãn tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
Ðây là sự tu tập thứ hai về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị Tỷ-kheo ấy thấm nhuần với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
7. Ví như, này các Tỷ-kheo, trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay sen trắng, những bông hoa ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ ba về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
9. Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngồi người dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che phủ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân này với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ tư về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được vị Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.
11. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thế nhập với trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ năm về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.

Link:
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi05-0106.htm

 

III. TÓM TẮT “NĂM CHI PHẦN” tức “NĂM CHÁNH ĐỊNH CHI”

Thế nào là năm pháp cần được tu tập?

Năm chánh định chi:
– Hỷ biến mãn (pītipharaṇatā)
– lạc biến mãn (sukhapharaṇatā)
– tâm biến mãn (cetopharaṇatā)
– quang biến mãn (ālokapharaṇatā)
– quán sát tướng. (paccavekkhaṇa nimitta)
Ðó là năm pháp cần được tu tập.

Giải thích thêm
Biến mãn : lan tỏa, tràn đầy, thấm đậm (Pali : furanata)
Quang : ánh sáng (āloka)
Quán sát tướng : Dấu hiệu mà tâm đã thấy biết được (Pali: paccavekkhaṇa nimitta)

Chi phần thứ năm của Chánh Định “paccavekkhaṇa nimitta” dịch là quán sát tướng được giải thích “vắn tắt” “khó hiểu” trong Kinh Định (Tăng Chi Bộ) như sau:

“…Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thế nhập với trí tuệ…”

Chi phần thứ 5 hơi khó hiểu, do đó đã có nhiều cách giải thích khác nhau về Quán sát tướng.
Nhưng chi phần thứ 5 « Quan Sát Tướng » này lại là một khái niệm vô cùng quan trọng để hiểu đúng khái niệm CHÁNH ĐỊNH (hiện vẫn còn rất nhiều tranh cãi.)

”Năm Chánh Định Chi” trong Kinh Trường Bộ nằm ở link này:
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong34.htm


Theo các bài kinh nói về Chánh Định
thì sự an tịnh tâm do giới, do cuộc sống độc cư ít giao tiếp, do parami từ kiếp trước, do đã có chánh niệm v.v sẽ dần dần dẫn tâm vào định. Khi có Định thì tâm trong sáng (và cũng có cả ánh sáng cụ thể nữa)
Chứ không phải tập trung vào ánh sáng để có định!
Chánh Định chủ yếu là sự an tịnh tâm bằng tu tập GIỚI, qua thời gian dài, chứ không phải dùng kỹ thuật hay nổ lực để kìm chế cái tâm đang loạn động.!!!
Nói chính xác thì kỹ thuật cũng phải có (khi tâm đã sẵn sàng) như kinh Tứ Niệm Xứ đã hướng dẫn.
Nhưng con đường đi đến Định thì dài lắm, gian khó lắm. Định nằm ở cuối con đường tu tập chứ không phải ở những ngày bắt đầu. Và nhất là chỉ dành cho hàng tu sĩ có nổ lực chân chính chứ không phổ quát cho hàng cư sĩ tại gia!

 

III. VÀI BÀI KINH THAM KHẢO THÊM VỀ CHÁNH-ĐỊNH

1. Kinh Thập Thượng (Trung bộ 34) :

“Thế nào là năm pháp cần được tu tập? Năm chánh định chi: Hỷ biến mãn, lạc biến mãn, tâm biến mãn, quang biến mãn, quán sát tướng. Ðó là năm pháp cần được tu tập”.

“Hỷ biến mãn”, “lạc biến mãn” được nói tới trong các tầng sơ thiền , nhị thiền và tam thiền, “Tâm biến mãn” có thể nghĩ tới Tứ Thiền ((tâm) xả niệm thanh tịnh). “Quang” biến mãn và Quán sát “tướng”, có thể nghĩ tới Quang tướng, Tợ tướng, Đinh tướng, hiện diện khi trong cận định và định, nhưng dễ bị mất mỗi khi tâm nghi ngờ, phóng dật, cả tinh tiến thái quá,… , như mô tả trong kinh Tùy Phiền não (Upakkilesa sutta), Trung Bộ 128:
“Ta nhận thấy hào quang và sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì hào quang biến mất đối với Ta, cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Nghi hoặc khởi lên nơi Ta. Vì có nghi hoặc nên định của Ta bị biến diệt; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta sẽ phải làm thế nào để nghi hoặc không khởi lên nơi Ta nữa”.

2. Tăng chi bộ kinh , Chương VIII – Tám Pháp, (VI) (64)  :

“3. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Nếu Ta có thể tưởng tri ánh sáng có thể thấy được các sắc, có thể giao thiệp với chư Thiên ấy, có thể nói chuyện, có thể thảo luận, như vậy, tri kiến này của Ta được thanh tịnh hơn lên”. Và này các Tỷ-kheo, sau một thời gian Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tưởng tri ánh sáng và thấy được các sắc, và cùng chư Thiên ấy giao thiệp, nói chuyện và thảo luận. Nhưng Ta không biết về các chư Thiên ấy: “Chư Thiên này thuộc về Thiên chúng này, thuộc về Thiên chúng này”.

3. Các bản kinh tương đương trong hệ A-hàm:

a/ Kinh Tùy Phiền não (Trung bộ) có kinh tương đương là kinh Trường Thọ Vương Bốn khởi (Trường A-hàm, phẩm thứ 7, Trường Thọ vương, số 72)

b/ Kinh Tagaya có kinh tương đương là kinh Thiên (Trường A-hàm ( phẩm thứ 7, Trường Thọ vương, số 73)
“hào quang” trong bản kinh Hán viết là “quang minh”, Việt dịch là ánh sáng) .

——–

Sài Gòn 27/05/2014
BS PHẠM DOÃN


“NIMITTA” được đại trưởng lão PA-AUK TAWYA SAYADAW giải thích theo kinh điển PāLI

PA

NGHI VẤN VỀ NIMITTA TRONG KINH ĐIỂN PāLi

được đặt ra với Đại Trưởng Lão Pa-Auk Sayadaw sau buổi thuyết pháp đầu tiên tại chùa Linh Thông – Hà Nội như sau :
“Nimitta được nói đến trong bài kinh nào? Và nimitta có phải là đề mục thiền không?”

Trả lời :


(Cười) Câu hỏi này mang hơi hướng tư tưởng phương Tây, có lẽ người hỏi câu hỏi này thường hay nghiên cứu các sách vở Tây Phương, vì ở đó, họ phản ánh rất nhiều về khái niệm Nimitta!

Trong Bộ Phân Tích Đạo(Paṭisambhidā∙Magga), Tôn giả Xá-lợi-phất có giải thích về Nimitta :
“Nimittaṃ assāsa∙passāsā, an∙ārammaṇam∙eka∙cittassa;
a∙jānato ca tayo dhamme, bhāvanā n∙upalabbhati.”
“Tướng(Nimitta), hơi thở vô, hơi thở ra, không phải là đối tượng của một tâm duy nhất;
Người không biết rõ ba pháp này, pháp tu không tiến đạt”.

Đoạn kệ trên là lời giải thích đối với những hành giả mới bắt đầu thực hành niệm hơi thở. Khởi đầu, nimitta chính là hơi thở vô, hơi thở ra ngay tại đầu chóp mũi hay môi trên.

(PQ bổ sung :

Điều này cũng được giải thích trong Sớ giải Thanh Tịnh Đạo – VsMṬ.viii.219. ‘Luận về Niệm Hơi Thở’ (Ān∙Āpāna∙Ssati Kathā) (M–1.391) như sau:
“Assāsa∙passāse nissāya uppanna∙nimittam∙p∙ettha assāsa∙passāsasam∙aññam∙eva vuttaṃ”
“Vì tướng nương vào hơi thở vào và ra, nên tướng được sanh lên cũng có thể được gọi là hơi thở vào và ra”).

Như vậy, ý nghĩa của đoạn “Nimittaṃ assāsa∙passāsā, an∙ārammaṇam∙eka∙cittassa” là :
“Nimittaṃ (tướng), Assāsa (hơi thở vào) Passāsā (hơi thở ra) , cả ba pháp này cùng là đối tượng cho mỗi sát-na tâm. Không phải (riêng lẻ từng pháp trong ba pháp này) là đối tượng cho mỗi sát-na tâm (an∙ārammaṇam∙eka∙cittassa)

Và ý nghĩa của đoạn kệ sau “a∙jānato ca tayo dhamme, bhāvanā n∙upalabbhati” là :
“ Nếu hành giả không biết rõ cả ba pháp này cùng là đối tượng cho mỗi sát-na tâm, vị ấy không thể tiến đạt bậc thiền”.

Đó chính là lời giải thích của Tôn giả Xá-lợi-phất!

Thêm một đoạn kệ khác nữa là :
“Nimittaṃ assāsa∙passāsā, an∙ārammaṇam∙eka∙cittassa;
jānato ca tayo dhamme, bhāvanā upalabbhantīti”.
“Tướng (nimitta), hơi thở vô, hơi thở ra, không phải là đối tượng của một tâm duy nhất ;
Người biết rõ ba pháp này, pháp tu tiến đạt”.

Đây là câu kệ thứ hai của Tôn giả Xá-lợi-phất trong Bộ Phân Tích Đạo (Paṭisambhidā∙Magga), chương “Chánh Niệm Hơi Thở”. Và ý nghĩa của đoạn kệ ấy là gì?

Đối với những hành giả sơ cơ, tướng (nimitta), hơi thở vô (assāsa), hơi thở ra (passāsā),cả ba pháp này không cùng là đối tượng cho mỗi sát-na tâm .
Nhưng về sau, khi mức định của hành giả phát triển sâu hơn, lúc hành giả đã có thể định tâm trên tợ tướng (paṭipabhāga nimitta_counterpart sign). Vào thời điểm ấy, nimitta chính là tợ tướng, hơi thở vào cũng chính là tợ tướng, hơi thở ra cũng chính là tợ tướng. Chính vào lúc ấy, mỗi một sát-na tâm đều bắt tợ tướng hơi thở (‘Ān∙Āpāna paṭipabhāga nimitta_counterpart sign) làm đối tượng. Lúc ấy, tợ tướng hơi thở vào chính là tướng (nimitta), hơi thở vô (assāsa),hơi thở ra (passāsā), cả ba pháp hợp thành một.
Bởi vì thế, lúc đó, mỗi một sát-na tâm thiền (jhana mind-moment) đều hướng bắt cùng một đối tượng duy nhất, đó chính là tợ tướng hơi thở (Ān∙Āpāna paṭipabhāga nimitta). Chính như vậy, hành giả mới có thể tiến đạt bậc thiền.

Tôn giả Phật Âm (Buddhaghosa), người soạn thảo bộ Thanh Tịnh Đạo (Visudhi Magga) đã trích dẫn hai đoạn kệ của Tôn giả Xá-lợi-phất trong Bộ Phân Tích Đạo để giải thích những phương cách tu tập định bậc thiền khác nhau nhằm tiến đạt tứ thiền. Có rất nhiều các vị A-la-hán đã rất tôn kính Tôn giả Xá-lợi-phất , bởi Tôn giả Xá-lợi-phất có tuệ căn (wisdom faculty) tối thắng hơn các vị A-la-hán khác.
Tuệ căn của các học giả Tây Phương không thể thể nhập pháp để thấy được thậm chí dù chỉ là các hạt hạ nguyên tử (sub-atomic) được gọi là rūpa kalāpa. Do không thấy được các hạt kalāpa, họ càng không thể phân tích được chúng! Nhưng Tôn giả Xá-lợi-phất đã tuệ tri được những hạt kalāpa và phân tích được chúng, và ngài hoàn toàn thấu hiểu được các chân thể tuyệt đối của danh tối hậu và sắc tối hậu. Đồng thời , ngài có thể thông đạt đầy đủ thập nhị nhân duyên. Do vậy, ngài có thể quán chiếu danh-sắc cùng với các nhân của chúng ( thập nhị nhân duyên) tức là các hành(saṅkhāra) là vô thường-khổ-và vô ngã để đạt đến quả vị tối thắng của một bậc A-la-hán. Và Đức Phật cũng đã tán dương ngài Xá-lợi-phất là đệ nhất thanh văn có tuệ căn tối thắng trong Giáo Pháp của Ngài.
Vì vậy, quí vị nên có đức tin vào lời giải thích của Tôn giả Xá-lợi-phất.

Pa-Auk Tawya Saydaw.

Pháp Quang trích và dịch lại theo ( https://archive.org/details/nimitta ) hoặc (http://www.4shared.com/video/cgTJHIDGce/Nimitta_LinhThong_27-4.html )

Lời chia sẻ :
Tôn giả Xá-lợi-phất , bậc Thượng Thủ Thinh Văn Đệ Nhất về Trí Tuệ, bậc Tướng Quân của Chánh Pháp (Generalissimo) được Đức Phật nói đến như sau :
“Này Tỷ-kheo, Sariputta có thể khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt hiển lộ một cách rộng rãi bốn Thánh đế”. (Kinh Phân Biệt về Sự Thật thuộc Trung Bộ Kinh)
Lại nữa, Đức Phật tán tán Tôn Gỉa Xá-lợi Phất trong Kinh Bất Đoạn thuộc Trung Bộ Kinh như sau:
“Này các Tỷ-kheo, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là bậc Hiền trí; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Ðại tuệ; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Quảng tuệ; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Hỷ tuệ (Hasupanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Tiệp tuệ (javanapanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Lợi tuệ (tikkhapanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Quyết trạch tuệ (nibbedhikapanna)….”
‘ Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, một người có thể nói về người ấy như sau: “Người này là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất”.
Và Đây là lời xác định của Đức Phật đối với Tôn giả Xá-lợi-phất trong việc hoằng dương giáo Pháp của Ngài :
“Sāriputta, này các Tỷ-kheo, chơn chánh chuyển Pháp luân vô thượng đã được Như Lai chuyển vận.”

Và với những lời tán thán của Đức Phật , cũng như lời xác định từ Ngài đối với Tôn giả Xá-lợi-phất, một câu hỏi được đặt ra rằng :
“Liệu một người học Phật chân chánh, có sự tầm cầu giải thoát cao thượng, sẽ có niềm tin trên sự thực hành y cứ vào những lời dạy trong Tam Tạng Kinh Điển, những lời dạy của Đức Phật , và các bậc Thượng Thủ Thinh Văn cũng như các bậc A-la-hán, hay vị ấy sẽ tin và thực hành theo tư tưởng đơn giản và thoải mái của các học giả Tây Phương trong thời hiện đại này???”

Thật sự, đối với những ai có sự nghiên cứu kĩ lưỡng Pháp Học lẫn Pháp Hành trong Phật giáo , vị ấy sẽ thấy rằng, hầu hết tất cả các phương pháp tu tập trên thế giới hiện nay đều dị biệt và không có có sự nhất quán trên phương cách thực hành đưa đến giác ngộ! Và mấu chốt chính đó là không có nhất quán trên việc đối chiếu và liên kết đầy đủ đối với “Tam” Tạng Kinh Điển cũng như Chú giải và Sớ giải. Thế nên, những người học Phật chân chánh hướng đến Chánh Pháp bị thiệt thòi khi họ bị bủa vây bởi những tư tưởng mới, những phương cách “đơn giản nhưng hiệu quả”! Nhưng liệu chúng sẽ có công năng đưa họ thoát khỏi luân hồi ? Hay chỉ làm họ mù mờ trong cái ảo giác của “trí tuệ” mà thôi?
Tôn giả Phật Âm (Buddhaghosa) có nói như sau:
“One’s own opinion is the weakest authority of all. . . “.
“Dựa vào ý kiến cá nhân của một người nào đó (để hiểu toàn bộ Giáo Pháp) là căn cứ yếu kém nhất”. (DA.II.3)

Đối với Đại Trưởng Lão Thiền Sư Pa-Auk Sayadaw, sau khi trình bày những phương cách hướng dẫn tu tập , ngài luôn nói rằng :

“This is not my method. I have just taken it from the
Pāḷi texts and commentaries.”

“Đây không phải là phương pháp của tôi! Tôi chỉ lấy nó từ Kinh Điển PāḷI và các Chú giải mà thôi!”

Cầu mong cho tất cả chúng sanh có được tri kiến chân chánh đối với Pháp Hành Phật Giáo!
Cầu mong Chánh Pháp hưng thịnh suốt năm ngàn năm!!!

Pháp Quang

Nguồn: Facebook Page “Chánh Pháp và Sự Thực”


Thiền “Phồng-Xẹp” được đại trưởng lão thiền sư Pa-Aak Tawya Sayadaw phân tích và giải thích theo kinh điển PāLI

10403043_242573595939134_1443803351464603138_n

Câu hỏi về chủ đề này được đặt ra trong buổi thuyết pháp của ngài tại Hà Nội cũng như tại Đà Lạt tháng 5/2014 như sau:

“Thay vì quan sát vùng đầu chóp mũi và môi trên thì quan sát (sự phồng xẹp) ở bụng có được không ?”

Trả lời:

Nếu quí vị muốn nói đến việc quan sát phồng xẹp ở bụng, tôi xin hỏi quí vị việc quan sát phồng xẹp ở bụng là đề mục thiền nào trong số tất cả bốn mươi đề mục thiền mà Đức Phật đã chỉ dạy(trong Tam Tạng Kinh Điển)?

Lúc đầu, người ta cho rằng việc quan sát phồng xẹp ở bụng chính là niệm hơi thở ( ān∙āpāna). Tuy nhiên, Trong Thanh Tịnh Đạo (VsM.viii.223), ‘Luận về Niệm Hơi Thở’ (Ān∙Āpāna∙Ssati∙Kathā) đã trích dẫn lời giải thích của ngài Xá Lợi Phất trong ‘Phân Tích Đạo’ về vấn đề này như sau:
“Phuṭṭha∙phuṭṭh∙okāse pana satiṃ thapetvā bhāventass∙eva bhāvanā sampajjati.”
[ Nhưng thiền tập của vị ấy thành tựu (bhāvanā sampajjati) chỉ khi sự tu tập (hơi thở) của vị ấy được cố định với niệm (satiṃ ṭhapetvā) trên sự xúc chạm (phuṭṭha) ngay tại điểm xúc chạm (phuṭṭh∙okāse)].

Vì vậy nếu hành giả muốn thực hành niệm hơi thở (Ān∙Āpāna∙Sati) hành giả cần phải đặt niệm trên hơi thở chỉ ngay tại điểm xúc chạm. Điểm xúc chạm ở đây chính là đầu chóp mũi hay môi trên. Ngay tại vị trí đầu chóp mũi hay môi trên ấy, nếu hành giả quan sát được đối tượng hơi thở ra vào (tại vị trí ấy), vị ấy có thể tiến đạt bậc thiền hơi thở (ān∙āpāna jhāna).
Bụng đâu phải điểm xúc chạm! Vì vậy việc quan sát phồng xẹp tại bụng không phải niệm hơi thở!
Nhưng về sau, người ta lập luận rằng, việc quan sát sự chuyển động phồng xẹp ở bụng chính là thiền niệm tứ đại. Nhưng Đức Phật luôn dạy việc quan sát “Bốn” đại trong thiền tứ đại, chứ không phải “nhất” đại. Cũng vậy khi quan sát sự chuyển động của bụng , họ cho rằng đó là đặc tánh của phong đại (vāyo∙dhātū). Tuy nhiên, đặc tánh của phong đại thật sự là đẩy (+ hỗ trợ hay nâng đỡ) chứ không phải chỉ là sự chuyển động (của bụng).
Như vậy, khi nào hành giả quan sát đặc tánh đẩy thì mới được xem là ghi nhận đặc tánh của phong đại. Nhưng để ghi nhận đặc tánh đẩy của gió, hành giả không phải chỉ chú tâm tại vùng bụng mà thôi, hành giả còn phải chú tâm ghi nhận đặc tánh này trong khắp toàn thân . Sau khi phân biệt được đặc tính đẩy ( cũng như nâng đỡ) của phong đại trong khắp toàn thân, hành giả cần phải chuyển sang phân biệt đặc tính khác nữa (của các đại còn lại). Bởi vì , Đức Phật chỉ dạy thiền Tứ Đại trên đặc tính của bốn đại chủng chứ không phải 1 đại chủng, thiền tứ đại mang ý nghĩa là việc quan sát đặc tính của bốn đại chứ không phải chỉ 1 đại là được. Đây cũng là lý do, nếu hành giả muốn hành thiền tứ đại đúng theo sự chỉ dẫn trong Bộ Pháp Tụ (Dhamma∙Saṅgaṇī), vị ấy cần hiểu rõ về tứ đại.

Thế nào là Tứ Đại ?
(1) Địa đại (pathavī∙dhātu).
(2) Thủy đại (āpo∙dhātu),
(3) Hỏa đại (tejo∙dhātu)
(4) Phong đại (vāyo∙dhātū)
Đức Phật chỉ dạy thiền “tứ” đại chứ không phải thiền “nhất” đại.
Vì vậy khi phân tích:
+ Đặc tính của Địa đại gồm: 1) Cứng, 2)Thô (nhám) , 3) Nặng, 4) Mềm, 5) Mịn, 6) Nhẹ.
+ Đặc tính của Thủy đại : 1) Chảy, 2) Kết dính.
+ Đặc tính của Hỏa đại: 1) Nóng, 2) Lạnh.
+ Đặc tính của Phong đại: 1) Đẩy, 2) Hỗ trợ ( nâng đỡ).
Tất cả có 12 đặc tính. Hành giả cần phải phân biệt tất cả mười hai đặc tính này trong khắp toàn thân, từ đầu đến chân, từ chân lên đầu, lặp đi, lặp lại. Sau khi phân biệt được 12 đặc tính này trong khắp toàn thân. Hành giả có thể chú tâm trên toàn thân để thấy ra các đặc tính của tứ đại liên tục, vào thời điểm có thể phân biệt các đặc tính của tứ đại một cách nhuần nhuyễn, hành giả sẽ chuyển sang ghi nhân được mười hai đặc tính này theo bốn nhóm:
+ Thấy được: 1) Cứng, 2) Thô (nhám) , 3) Nặng, 4) Mềm, 5) Mịn, 6) Nhẹ –> Nhận định đây là địa đại.
+ Thấy được: 1) Chảy, 2) Kết dính –> Nhận định đây là thủy đại.
+ Thấy được: 1) Nóng, 2) Lạnh –> Nhận định đây là hỏa đại.
+ Thấy được: 1) Đẩy, 2) Hỗ trợ (nâng đỡ) –> Nhận định đây là phong đại.
Cứ như vậy, hành giả ghi nhận Địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại hay đất , nước , lửa , gió…Theo cách này (nhận biết theo nhóm các đặc tính), hành giả sẽ định tâm trên đề mục tứ đại. Cứ như vậy, hành giả sẽ liên tục quan sát đề mục tứ đại trong khắp thân mình. Từ đó hành giả sẽ không còn thấy các khái niệm như thân thể của mình, hay cái bụng của mình mà chỉ thấy được các nhóm đặc tính của tứ đại. Nếu hành giả tiếp tục phân biệt tứ đại như vậy một cách đúng theo trình tự hệ thống… Hành giả sẽ tuệ tri được, trong toàn thân này được hợp thành từ các hạt hạ nguyên tử hay còn gọi là rūpa kalāpa, mỗi hạt rūpa kalāpa cơ bản được cấu thành từ 8 loại sắc bất ly ( đất , nước, lửa, gió , màu, mùi, vị , dưỡng chất)… Đây mới được xem là thiền tứ đại. Còn việc chỉ quan sát sự chuyển động phồng xẹp ở bụng như vậy không được đề cập trong lời dạy của Đức Phật.

Pa-Auk Tawya Sayadaw.
(Pháp Quang trích dẫn và dịch lại theohttps://www.youtube.com/watch?v=00y9j2UuVto&hd=1)

Các tài liều cần tham Khảo về thiền Tứ Đại :
1) * ‘Kinh Đại Niệm Xứ’ (Mahā∙Sati∙Paṭṭhāna Sutta), Đức Phật dạy tóm tắt thiền tứ đại
“Lại nữa này các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu quán sát thân này về vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại (pathavī∙dhātu), thủy đại (āpo∙dhātu), hỏa đại (tejo∙dhātu) và phong đại (vāyo∙dhātū’ti).”
2) Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la, Đức Phật dạy chi tiết về thiền tứ đại.
3) Bộ ‘Pháp Tụ’ (Dhamma∙Saṅgaṇī), Đức Phật mô tả sắc theo mười hai đặc tánh.
4) Bộ Phân Tích Đạo (Paṭisambhidāmagga)
5) Bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)

Trong những buổi thuyết pháp tại quốc tế, Ngài Đại Lão Thiền Sư Pa-Auk Sayadaw thường đặt ra một câu hỏi trước thính chúng trước khi thuyết pháp như sau:
Do you have enough faith in the Buddha’s Teachings?
(Qúi vị có đủ tín tâm vào lời dạy của Đức Phật hay không?)
If you have enough faith, you would never get over the Buddha’s Teachings!
(Nếu quí vị có đủ niềm tin, quí vị sẽ không bao giờ vượt qua điều học của Đức Phật!!!)

Việc làm sáng tỏ về phương pháp thiền này là tiêu chí cho sự nhận định chân pháp mà những ai mong muốn hướng đến Thiền Phật Giáo đúng nghĩa cần phải nương theo. Vì pháp hành chân chánh và đáng tin cậy chỉ có thể được triển khai theo đúng nền tảng Pháp Học có Kinh Văn Pāḷi làm y cứ mà thôi!
Và nếu như chúng ta có đủ niềm tin vào lời dạy của Đức Phật, chúng ta sẽ không vượt qua, không thêm, không bỏ bớt những điều học từ Ngài!

Cầu mong cho tất cả chúng sanh có được tri kiến chân chánh đối với Thiền Phật Giáo.

Pháp Quang

Nguồn
Facebook page “Chánh Pháp và Sự Thực”


Đạo Phật “pháp môn” và Đạo Phật “nguyên chất”

Trong thời đại thông tin bùng nổ, “sự thật” luôn có cơ hội được bộc lộ và truyền đi

Ngày 19 -12-2013 tại chùa Xá Lợi, TP Hồ Chí Minh, Thích Nhật Từ, một nhà sư trẻ, vốn xuất thân không phải là Đạo Phật “nguyên chất”

đã mạnh dạn nói lên nhận định trung thực của mình về sự cần thiết phải phân biệt hai loại Đạo Phật. Một là Đạo Phật do từng vị “tổ sư” giảng dạy và một là Đạo Phật do chính Đức Phật giảng dạy.