- Thiền là gì?

Hình sưu tầm trên Internet

Thiền trong tiếng Anh, tùy theo ngữ cảnh, có thể được dịch như một danh từ: meditation, contemplation, concentration, abstraction, trance…hoặc như một động từ: to meditate, to comtemplate, to think of, to imagine, to call to mind, to recollect…Tuy nhiên tất cả các từ này đều chỉ đúng theo từng ngữ cảnh riêng biệt mà thôi, có nghĩa là không được đúng theo ý nghĩa tổng quát nhất. “Định” trong tiếng Anh phổ thông được dịch là “concentration”, âm Pali được Latin hóa là “Samadhi” hoặc “samatha” Quán trong tiếng Anh được dịch là “contemplation”. Từ “Tuệ quán” của Đạo Phật Nguyên Thủy được dịch theo âm Pali Latin hóa là “Vipassana”. Có trường hợp vì không biết đến các phái thiền khác nhau, nên nhiều người vẫn liên tưởng thiền chỉ là Zen! Ở Việt Nam hay các quốc gia có Đạo Phật, nói đến “thiền” thì đa số người đều liên tưởng đến phương pháp hành trì của Phật giáo. Tuy nhiên, ở Ấn Độ nói đến “thiền” thì người ta lại liên tưởng đến Bà La Môn giáo hoặc các tôn giáo khác cùng ở khu vực này. Ngay trong Phật giáo, chữ “thiền” cũng được dịch từ những chữ có nội dung khác biệt!

- Thiền, trong kinh điển Phật giáo nguyên thủy, viết bằng tiếng Pali là bhavana dùng để chỉ những pháp thực hành nhằm rèn luyện tâm. Nói chung, Phật giáo nguyên thủy có ba pháp thực hành thiền: Thiền Chánh niệm (satibhavana), thiền định (samathabhavana) và tuệ quán (vipassanabhavana).

- Định, trong Phật giáo nguyên Thủy gọi bằng tiếng Pali là Jhana. Trong kinh điển Phật giáo phát triển, tức Phật giáo đại thừa, Định được gọi bằng tiếng Sanskrit là dhyana . Khái niệm “Thiền” của Phật giáo đại thừa bị thay đổi theo từng quan niệm khác nhau của các tông phái khác nhau. Vì khi phát triển thành Phật giáo Đại thừa người ta sử dụng các phương pháp thiền rất khác biệt với nhau và các phương pháp đó nhiều khi chẳng còn mối liên hệ nào với pháp thiền mà Đức Phật Gautama đã từng thực hành và giảng dạy. Giữa thập đại tông phái của Đại thừa, khó xác định được tông phái nào có xử dụng hoặc không xử dụng loại thiền nào! Tuy nhiên, còn nhiều phương pháp thiền khác, cũng được dùng trong Yoga hoặc các phái  Bà La Môn, trong Lão giáo…

Vậy chữ Thiền chỉ là một từ gọi “chung chung” của rất nhiều các nội dung rất khác biệt. Với kiến thức phổ thông, thiền cũng thường được hiểu như phương pháp thư dãn, chống stress, cân bằng đầu óc, giữ  gìn sức khỏe v.v….Chỉ với kiến thức thật chuyên môn thì ta mới có thể phân biệt giữa thiền của Đức Phật Gautama tức thiền nguyên thủy, với thiền của Phật giáo phát triển, thiền của Thiền tông, thiền của Kim cương thừa (Mật tông Phật giáo), thiền của Yoga, thiền của các phái Bà La Môn khác hay thiền của đạo Lão v.v…

Thiền là gì?

Bởi vì thiền là phương pháp của nhiều tôn giáo và pháp môn hoàn toàn khác biệt, nên câu hỏi “thiền là gì?” quả là một câu hỏi không được rõ ràng và vì thế chưa thể có câu trả lời chính xác. Nhưng đối với đa số những người sơ tâm, đó lại là một câu hỏi luôn được đặt ra với nhiều trăn trở. Bài viết này là một cố gắng để trả lời một câu hỏi rất “mơ hồ”, nhưng rất thường được đặt ra! Và bài viết này coi Thiền là một từ chung mà ta thường gặp, nghĩa là phạm trù của nó, không thuộc về riêng của một tôn giáo hay tông phái nào cả.

Google mệnh đề ‘Thiền là gì?” cho ra những trang kết quả tiếng Việt với quá nhiều các câu trả lời khác biệt. Mỗi người đứng ở những pháp môn khác nhau, ở những góc độ khác nhau, cho nên những câu trả lời cũng khác nhau. Sau đây là một số câu trả lời tìm thấy ngẫu nhiên trên Internet ngay trong thời điểm viết bài này, tôi để links dẫn như một bằng chứng cho việc giải thích rất khác biệt về một chữ “Thiền”!

Thiền theo trang Yoga VN: Theo thuật ngữ Yoga, Thiền được gọi là “Dhyana” nghiã là “dòng chảy của tâm trí”. Đây là một trạng thái tinh khiết và tập trung cao độ khi tâm trí xuôi chảy không gì ngăn trở, hoàn toàn đắm mình trong ý nghĩ về Ý Thức Vũ Trụ.

Thiền theo trang Answers.Yahoo.vn : Thiền định có tác dụng điều chỉnh mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại. Ngoài tác dụng thư giãn, nó còn giúp phòng và chữa các bệnh do mất cân bằng chức năng cơ thể.

Thiền của Wiki tiếng Việt: Tất cả các trào lưu triết học Ấn Độ đều hiểu dưới gốc động từ này là sự tư duy, tập trung lắng đọng và vì vậy, ta cũng tìm thấy từ dịch ý Hán-Việt là là Tĩnh lự (zh. 靜慮). Các cách phiên âm Hán-Việt khác là Đà-diễn-na (zh. 馱衍那), Trì-a-na (持阿那). Đây là một thuật ngữ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm “Tỉnh giác”, “Giải thoát”, “Giác ngộ”…

Search ngẫu nhiên trên Google ta thấy:

Thiền theo một sư cô: Thiền là gì? Thiền là trạng thái tâm vắng lặng trước sự vật, hiện tượng xảy ra trước mặt hay xung quanh ta….

Thiền theo một hòa thượng: Một câu hỏi khó giải đáp, vì Thiền phủ nhận tất cả, vì bản chất của Thiền vượt ngoài định nghĩa và giải thích, không có ngôn ngữ và văn tự, lời dạy đặc biệt ngoài kinh điển, hay “biệt truyền ngoài giáo điển”, chỉ thẳng vào tâm, thấy tánh thành Phật “trực chỉ minh tâm, kiến tánh thành Phật”.

Thiền theo Krisnamurti: Thiền không phải là phương tiện. Nó là cả hai: phương tiện và cứu cánh. Thiền là một điều phi thường. Nếu có bất cứ một sự bắt buộc, cố gắng bắt tư tưởng phải tuân thủ, bắt chước, thì Thiền sẽ là một gánh nặng·

Thiền theo Osho: Vậy Thiền không phải là chống lại hành động. Bạn không cần phải thoát ly ra khỏi cuộc sống. Nó đơn thuần dạy bạn một cách sống mới: Bạn trở thành trung tâm của cơn xoáy lốc. Cuộc sống của bạn cứ tiếp diễn, nó cứ ngày một mạnh mẽ thêm, với nhiều niềm vui sướng hơn, với nhiều sáng tỏ hơn, nhiều cái nhìn hơn, nhiều sáng tạo hơn, mà bạn thì vẫn đứng xa, chỉ là một người quan sát trên đồi, đơn thuần thấy tất cả những điều đang xảy ra quanh bạn.

Các câu trả lời vừa liệt kê ở trên, cho thấy có rất nhiều kiểu trả lời với những nội dung rất khác biệt. Vì thế, vấn đề quả thực rất không đơn giản. Câu hỏi thiền là gì? Luôn là nỗi bức xúc cho một người sơ tâm mới bước vào thiền. Vô số sách về Yoga và Thiền định đã được xuất bản, và hiện nay có thêm cả Internet, một khối tư liệu thật phong phú của toàn thế giới. Nhưng nếu không khéo, càng đọc càng lẫn lộn! Chỉ có người thực sự có thể nghiệm về thiền mới có thể viết hoặc dịch những tài liệu về thiền một cách đúng đắn và chính xác. Nếu người viết hoặc dich sách hoàn toàn không có kinh nghiệm thực hành, thì bạn sẽ nhận thấy ngay rằng cuốn sách luôn có biểu hiện rối rắm khó hiểu. Sự khó hiểu ít khi ở bản chất vấn đề, mà chính ở tại người giải thích. Tôi không tin nhiều lắm ở luận điệu cho rằng nội dung thiền là không thể diễn đạt, bất khả tư nghì. Tôi nhớ có đọc rất nhiều luận điệu kiểu “thiền thì không thể diễn đạt”, “Đi đứng nằm ngồi cũng là thiền !” hoặc “Thiền là nhướng mày chớp mắt”. Hiện tại, trên đa số sách báo, ta luôn gặp những lời giải thích đầy “phong cách thiền” đại loại giống như vậy. Một thiền sư có thể nghiệm thiền đầy đủ thì dù có dùng lời lẽ bình dị mộc mạc thì người nghe vẫn hiểu, vẫn thấy nó là ngôn ngữ trí huệ. Một người không có thể nghiệm hoặc thể nghiệm quá ít, dù có xử dụng ngôn ngữ uyên thâm trác tuyệt, thì trước sau cũng chỉ là loại “ngôn ngữ nhái” rỗng tuếch. Cũng phải biết rằng, Đức Phật trong lúc giảng dạy, ngài không dùng thứ ngôn ngữ bác học lúc bấy giờ, mà dùng ngôn ngữ bình dị của giới dân giả đó là tiếng Pali. Phải biết rằng những trải nghiệm thiền (Định và Quán), đã từng được mô tả tương đối rõ ràng trong kinh điển Phật giáo. Không hiểu sao, qua một thời gian dài “phát triển”, thế hệ sau lại tránh né những mô tả cần thiết này của Đức Phật. Tôi để chữ “phát triển” trong ngoặc như một nỗi băn khoăn!

Trên sách báo chữ “Thiền” được sử dụng rất rộng rãi, vì thế nếu không so sánh nó trong ngữ cảnh riêng biệt thì dễ lẫn lộn. “Thiền” cũng là động tác quan sát theo dõi các đối tượng về thân hay tâm: Ví dụ: “Thiền Chánh niệm”, “Thiền quán” tức Vipassana còn “thiền định” là sự tập trung duy nhất trên một đối tượng. Đối với thiền Phật giáo, nên tránh dùng chữ “thiền” chung chung, mà nên phân biệt “thiền chánh niệm”, “thiền-định” hay “thiền-quán” để thật rõ nghĩa.. “Thiền” cũng được dùng như là một danh từ. Trong một số các tài liệu, “thiền” có thể được dùng để chỉ một trạng thái. Ví dụ, trạng thái của thiền định của Thiền nguyên thủy bao gồm tám trạng thái của bốn định hữu sắc và bốn định vô sắc. Danh từ “Thiền” trong ngôn ngữ bình thường có thể ám chỉ một kĩ thuật hay phương pháp. Ví dụ: thiền định chỉ, thiền quán chiếu, thiền tĩnh, thiền động, Như lai thiền, Tổ sư thiền v.v… Có người (ví dụ Krisnamurti) nói rằng thiền không cần đến phương pháp và kĩ thuật, vì phương pháp hay kĩ thuật vận dụng đến đầu óc (mind), cho nên chỉ làm chướng ngại việc nhập thiền. Điều đó đúng! Nhưng Osho phân tích rằng, trước khi đi đến trạng thái thiền, đầu óc có quá nhiều chướng ngại (năm triền cái, the five hidrances), nên cần phải có kĩ thuật để vượt những chướng ngại này. Phương pháp hay kĩ thuật là để chuẩn bị cho giai đoạn trước thiền. Bây giờ tài liệu trên Internet về kinh luận của PG Nguyên thủy, PG Đại thừa, Mật tông, Thiền tông, Yoga v.v…quá đầy đủ, cho nên việc tìm hiểu và so sánh giữa các loại “Thiền” có phần dễ dàng hơn. Câu hỏi Thiền là gì phải được trả lời tùy theo nội dung mà nó muốn ám chỉ. Nghĩa là câu trả lời phải tùy theo từng tôn giáo hoặc pháp môn. Xin liệt kê sau đây một số nội dung chính:

Thiền của Đạo Phật nguyên thủy

Gồm có ba kỹ thuật chính là Thiền Chánh Niệm( satibhavana), Thiền Định (samathabhavana) và Thiền Tuệ Quán (vipassanabhavana). Đối với Đạo Phật nguyên thủy, khi nói đến thiền nhất thiết phải phân biệt đó là Thiền Chánh Niệm, Thiền Định hay Tuệ Quán.

-          Thiền Chánh Niệm là phương pháp giữ Niệm (sati) trên bốn lãnh vực, gồm thân thể, cảm giác, tâm và đối tượng của tâm (tứ niệm xứ)

-          Thiền định còn gọi là Định hay Tịnh chỉ, là pháp an trú tâm trên một đối tượng. Thường các nhà sư dung hơi thở là đối tượng để an trú tâm.

-          Tuệ quán là công phu quán sát các đối tượng, hiện tượng đang hiện hữu, diễn biến, xảy ra trong thân và tâm với mục đích để nhìn thấy tính duyên hợp, vô thường và vô ngã của chúng. Mục đích của Tuệ quán là tạo ra các tuệ cần thiết cho sự giác ngộ các quả thánh.

Cần nên biết: Thiền định của Phật giáo nguyên thủy đưa đến bốn bậc thiền hữu sắc là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, và bốn bậc thiền vô sắc là không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Những thiền định nói trên mặc dù có nguồn gốc trước Đạo Phật và không đưa đến bốn đạo quả, nhưng vẫn là kĩ thuật luyện tâm song song với pháp thiền quán. Pháp Tuệ Quán được coi là một sáng tạo riêng của Đức Phật. Việc thực hành Tuệ quán cần sử dụng năng lực của định (samadhi) để nhìn thấy rõ các pháp chân đế (paramattha) như chúng thực sự là, cho nên công phu thiền định là một lợi thế cho thực hành thiền tuệ quán. Theo một vài luận giải của Phật Giáo Nguyên Thủy thì Thiền Định (Samadhi) là một công cụ cần thiết không thể thiếu để thực hành thành công Tuệ Quán (Vipassana).

Thiền của Phật giáo đại thừa (còn gọi là Phật Giáo phát triển)

Khi Đạo Phật không còn nguyên thủy và “phát triển” thành Đại thừa, thiền cũng thay đổi và biến tướng khác đi.  Samadhi của Phật Giáo Đại Thừa có nhiều loại, mỗi loại có một lợi ích riêng và mỗi loại đều có một tên gọi rất là dài. Trong Mahavyutpattit (Phiên dịch Danh Nghĩa Đại tâp) chương 21 có liệt kê 118 loại Định (samadhi). Sự “phát triển” của Phật Giáo đã biến đổi một pháp thiền định duy nhất (Jhana) được  mô tả trong kinh điển nguyên thủy (suttas) thành vô số các loại định, rồi thậm chí thành những loại “giống như  “chánh niệm”, đó là “niệm Phật” hoặc “niệm chú”. Thậm chí có những thày tu không còn nhắc nhở đến những pháp thiền định hay thiền quán nữa. Như vậy, từ Phật giáo nguyên thủy đến Phật giáo đại thừa, Thiền đã có sự thay đổi hình thức và bản chất rất lớn. Chẳng hạn pháp thiền Lục Diệu pháp môn của Trí Khải (Đại thừa Trung Quốc) không có nội dung từ  các bộ Nikaya, mà lại thấm đậm hương vị Lão giáo. Từ “Thiền của Phật giáo đại thừa” đến “Thiền của Thiền tông” lại thêm một thay đổi nội dung lớn hơn nữa. Mặc dù tự  nhận là một phát triển của Phật giáo Đại thừa nhưng Thiền Tông Trung Quốc (Thiền Đông Độ) có một sắc thái rất đặc thù Trung Quốc. Rất tiếc những tu sĩ Trung Quốc thời xưa đã không thừa nhận loại Thiền (Chan, Zen) đây là một đỉnh cao trí tuệ riêng biệt của văn hóa Trung Quốc, để không bị các học giả hiện nay cho rằng nó chỉ là một nhánh thiền ngụy tạo của Đạo Phật!

Thiền của Thiền tông Trung Quốc hay Zen của Nhật Bản

Rất nhiều sách, bài viết, uyên bác cao siêu giải thích về phương pháp thiền của thiền tông. Tuy nhiên, tất cả đều làm cho người đọc, khó hình dung được thực sự bản chất thiền của Thiền tông là gì! Người sơ tâm chẳng nên đi thẳng vào sách thiền của Thiền tông, một môn phái đặc thù và khác biệt so với đạo Phật truyền thống. Lý do là chữ “Thiền” của thiền tông mang nội dung gần như là xa lạ với chữ “Thiền” của các tông phái khác. Cũng nên biết rằng, khi một nhánh Phật giáo đại thừa phát triển thành Thiền tông Trung quốc, thì chữ thiền (Dhyana) của Đại thừa lại một lần nữa thay đổi với một nội dung khác. Thiền của thiền tông không phải là thiền định, cũng không phải là thiền quán, không phải là jhana hay dhyana, thiền của Thiền tông cũng không hẳn là tọa thiền. Thiền của Thiền tông được cho là nhắm vào mục đích kiến tánh để đốn ngộ, cho nên phương pháp của nó là một đặc thù. Đây có thể là “quán công án” hoặc “khán thoại đầu”, cho nên nó có thể thực hiện ở bất cứ tư thế nào, hay ở bất cứ nơi đâu. Đây có thể là thủ pháp đánh và hét, mục đính làm cho người đệ tử bất ngờ hốt hoảng rơi vào trạng thái “mất hồn” đưa đến tình trạng vô ngã tạm thời. Đây có thể là cách quan sát sự vật của thế giới hiện tượng mà tránh để trí óc định danh các sự vật. Mục đích trong các phương pháp của Thiền tông là nhằm phá hủy các khái niệm và ngôn ngữ hình thức, vốn được cho rằng không thể chuyên chở được nội dung của thực tại, trái lại còn bóp méo thực tại tuyệt đối. Truyền thống này khiến ngôn ngữ của Thiền tông thường khó hiểu và lập dị đối với lí trí bình thường. Một khuynh hướng Thiền Trung Quốc nhấn mạnh vào khái niệm “sống trong hiện” tại đang được phổ biến nhiều ở Tây phương bởi các Đạo sư như  Krisnamurti, Eckhart Toll, Osho…tuy nhiên các Đạo sư không đưa ra một phương pháp rõ ràng nào để thực việc “sống trong hiện tại” này cả  (dường như  các đạo sư tin rằng chỉ cần dùng “ý chí cá nhân” là có thể sống trong hiện tại được!)

Thiền của Yoga và các giáo phái Bà La Môn khác

- Yoga: Đạo Phật xuất phát từ minh triết của Ấn độ. Thiền Định trong đạo Phật cũng đã bắt nguồn từ Yoga. Thời đó Yoga là một trong sáu phái triết học nổi tiếng của Ấn độ. Yoga có những tông phái thực hành thiền để đạt cứu cánh giải thoát (Giải thoát theo quan điểm Hindouism). Pantajali là người có công biên tập tất cả tài liệu về Yoga trong giai đoạn từ thế kỉ thứ 05 đến thế kỉ thứ 03 trước công nguyên. Bây giờ khi nói đến thiền, cũng có rất nhiều người liên tưởng đến những phương pháp Yoga. Ngoài yoga rèn luyện khí lực và cơ thể vật chất là Hatha yoga, còn có Yoga luyện tâm, đó là Rahja yoga. Rahja yoga quan niệm Vật chất không thể tách rời Ý thức hay ngược lại. Tâm và Vật là một thực tại thống nhất, không thể tách rời. Sự tiến hóa của tâm tất yếu phải đi liền với sự thay đổi khí lực tức năng lượng cơ thể và ngược lại. Từ Rajha yoga phát sinh rất nhiều kĩ thuật Yoga khác như: Kundalini yoga, Transcendental yoga, Kriya yoga v.v…Tất cả những phương pháp này có thể gọi là thiền của yoga.

- Pháp Luân Công : một phong trào đang khởi dậy tại Trung Quốc cũng là một loại Thiền dựa trên sự luyện tập để phát triển Khí lực bên trong.

- Surat Shab yoga tức San Mat, một giáo phái bí mật (esoteric) thuộc về  Đạo Sikhism đang trở thành “hiện tượng” trong cộng đồng người Việt trong ba thập niên trở lại đây . – Phong trào San Mat tại Việt Nam được phổ biến bởi Thanh Hải Vô Thượng sư (một phụ nữ Việt) còn gọi là master Ching Hai. Cũng giống như một số trừơng phái Thiền khác, không hiểu sao  Surat shab Yoga khi xuất hiện tại Việt Nam lại cố nhận mình là Đạo Phật! Giống như tất cả các loại thiền khác, Thiền Thanh Hải (pháp môn Quán Âm) chưa bao giờ phân biệt pháp của mình là thiền định hay thiền quán. Thiền Thanh Hải cũng chưa bao giờ biết về các dấu hiệu hay chuẩn mực của sự  đắc thiền. Thiền Thanh Hải, cũng giống như  các giáo phái Bà La Môn khác,  coi sự  chứng đắc “thiền định” cũng là cứu cánh cuối cùng

Thiền của Kim Cương thừa (Mật tông Phật giáo)

Mật tông Phật giáo bắt đầu ở Ấn độ, nhưng lại chỉ phát triển ở Tây Tạng, nên nói đến Mật tông Phật giáo là nói đến Mật tông Tây Tạng. Mật tông Tây Tạng chú trọng đến thiến quán hơn thiền định (có thể tham khảo cuốn Giải thoát trong lòng bàn tay của Papongka do sư cô Trí Hải dịch). Thiền của Mật tông hiển nhiên được phát triển trên nền minh triết của Yoga hình thành trước đó. Mật tông dùng thiền quán đối với Chơn ngôn (darani), Mandala, Linh phù (yantra), các vị hóa thần (Yidam). Một trong những đối tượng quán của thiền Mật tông là Kundalini. Có lẽ Kundalini yoga là của Yoga Ấn giáo hơn là của Mật tông Phật giáo! Mật tông dùng thiền quán về luồng hỏa xà Kundalini (tummo) làm một trong những phương tiện để chuyển hóa tâm thức. Sáu pháp của Naropa, đạo sư Mật tông, được gọi là sáu yogas (six yogas of Naropa). Đến đây, ta thấy được mối quan hệ sâu sắc giữa Mật Tông với Yoga, đồng thời cũng thấy rõ sự khác biệt giữa thiền của Mật Tông và các loại thiền của Đạo Phật nguyên thủy . Ta cũng thấy rằng thiền chỉ là phương tiện của nhiều con đường khác biệt nhau.

Thiền của Lão giáo

Còn gọi là thiền của Đạo gia, hoặc cũng có khi gọi thẳng là Đạo gia khí công. Vì sao lại có thể gọi thiền là khí công? Vì bản chất của khí công cũng là thiền quán trên một đối tượng cơ thể, đó là luồng khí lực. Thiền của Lão giáo nhắm vào khai thông các kinh huyệt chính như  Nhâm và Đốc, khai thông luồng hỏa hầu… Công phu thiền của Lão giáo đưa đến khai mở Huyền quan khiếu, thành tựu thánh thai… Ta thấy có sự tương đồng trùng khít giữa thiền của Lão giáo với thiền của Yoga hay thiền của Mật tông, trên một nguyên lý: Chuyển đổi của tâm phải bắt đầu bằng sự chuyển đổi khí lực của cơ thể. Dĩ nhiên đây không phải là chủ nghĩa duy vật mà chỉ là duy “Một”. Cái Một không thể tách rời thành hai “tâm” và “vật”.

Thiền là phương tiện thực hành của nhiều tôn giáo khác.

Thiền không hẳn là của riêng Thiền tông (Chan, Zen) hoặc của riêng đạo Phật hay Ấn giáo. Nhóm tôn giáo xuất phát từ  Cựu ước như Do Thái giáo, Hồi Giáo, Thiên chúa giáo hay nói tới từ “Mặc Khải”. Mặc khải (revelation) cũng chính là Thiền (meditation). Kinh Khải Huyền (Apocalypse) mô tả những cõi giới hoàn toàn tương ứng vơí một tam muội. Thánh Jean de la Croix cũng mô tả thể nghiệm tâm linh trong một cuốn sách của ngài (Ascension of Mount Carmel) giống như một hành giả thiền. Như vậy thiền cũng tồn tại trong khu vực của các tôn giáo Do thái, Hồi và Thiên Chúa, như một phương pháp tiếp cận Thượng Đế. Thiền là phương pháp thực hành tâm linh rất phổ quát. Cho nên một định nghĩa thiền hay một giải thích về thiền càng mang tính phổ quát càng dễ được cộng đồng tiếp thu. Dù có khác biệt về phương pháp và nội dung qua thời gian và khu vực văn hóa địa lý, nhưng mục đích của thiền thì không đổi. Để hiểu rõ thêm Thiền (meditation) là gì? Bạn có thể đặt thêm câu hỏi:

Thiền không phải là gì?

Thiền không hẳn là “Trong không vọng ngoài không động”

Bên trong, tâm không vọng. Nhưng bên ngoài thì thân vẫn có thể động. Có rất nhiều loại thiền “động” như thiền hành, thiền quay tròn, thiền với những động tác đặc biệt (để khích động Kundalini chẳng hạn…). Osho trình bày nhiều về các loại thiền động (dynamic meditation). Thiền sinh có thể được dẫn đến trạng thái nhập thiền khi nhún nhảy hoặc lắc mạnh cơ thể theo nhịp điệu hoặc âm nhạc! Khi các bộ lạc nhảy múa hoặc các đồng cốt đong đưa cơ thể thì có lẽ tác dụng và hiệu ứng cũng nằm trong nguyên lý thiền động này. Vipassana là phương pháp quay vào trong quán sát Sắc (vật chât), Danh (tâm), Tứ Diệu Đế, Thập nhị nhân duyên v.v… nhằm mục đích tạo ra Tuệ giải thoát. Vipassana, là phương pháp thiền quán của đạo phật nguyên thủy. Đối tượng quán của Vipassana là cơ thể vật chất, ý thức và cảm xúc, xảy ra trong cơ thể hành giả. Ngoài tư thế ngồi, Thiền Vipassana có thể thực hiện trong tất cả các tư thế (tứ oai nghi)! Thiền động là một khái niệm không thể phủ nhận. Dù khó có thể đi vào một định sâu, nhưng thiến động hình như rất có lợi cho người sơ tâm, muốn biết hương vị đầu tiên của thiền là gì! Không quên rằng: Thiền hành (đi chậm rãi trong thiền Chánh Niệm) là phương pháp phổ biến trong thời Đức Phật, vẫn đang tiếp tục được thực hành trong Đạo Phật Nguyên Thủy.

Thiền không phải chỉ là ngồi thiền

Đúng vậy, chỉ có Thiền Định (Samatha) là cần nhiều ở tư thế ngồi. Còn Thiền Chánh Niệm, Tuệ quán (Vipassana) thì không nhất thiết phải ngồi, trái lại còn được khuyến khích nên thực hiện trong cả tứ  oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi). Người thực hành có thể thể thiền trong cả bốn oai nghi đi, đứng, nằm ngồi, hoặc làm những động tác đặc biệt khác. Đặc biệt với Thiền tông (Thiền công án hoặc khán thoại đầu), thiền sinh có thể tham công án hoặc khán thoại đầu trong bất cứ hoàn cảnh hoặc tư thế nào. Thiền tông Trung quốc, với khẩu quyết “kiến tánh thành Phật”, cho nên thiền là làm thế nào để kiến tánh, chứ không phải gò ép trong tư thế ngồi! Theo quan điểm này, ngồi cũng được mà không ngồi cũng được. Thậm chí trong giai thoại Thiền tông, có một vị thiền sư “đắc đạo” trách một vị thiền sư thường ngồi nhưng chưa “đắc đạo”: Tại sao lúc sống cứ ngồi không nằm rồi lúc chết lại cứ nằm không ngồi! Các Thiền sư hay nói bóng gió “đi đứng nằm ngồi cũng là thiền”. Cách nói này gây ra hiểu lầm tai hại. Nhiều người sơ tâm tưởng rằng không cần phải xử dụng các phương pháp thiền, như thiền chỉ hay thiền quán, thiền động hay thiền tĩnh…Không cần phải tham công án hay khán thoại đầu, chỉ sống tự nhiên, đi đứng bình thường cũng… là thiền! Người có trải nghiệm sẽ biết rằng, trạng thái “đi đứng nằm ngồi cũng là thiền” là “kết quả” có được sau khi tu tập thành tựu, chứ không phải là “nguyên nhân” sinh khởi trạng thái thiền. Cũng như vậy “Sống trong hiện tại” là thành tựu, là kết quả, của việc nhập thiền chứ không phải là nguyên nhân hoặc là phương pháp để thực hành thiền (thiền tông Trung Quốc). Tóm lại “thiền không cần tọa thiền” chỉ là đặc điểm của một vài pháp môn giữa rất nhiều pháp môn.

Nhưng ngồi thiền vẫn là tư thế quen thuộc và hiệu quả nhất:

Tư thế ngồì thoải mái vững chắc là điều kiện tốt để thiền (cả Thiền Định lẫn Thiền Quán). Đứng thì dễ vọng động (trạo cử). Nằm thì dễ buồn ngủ (hôn trầm). Những cơn định sâu và kéo dài bắt buộc phải thực hiện trong tư thế ngồi. Đức Phật đã từng nhập sâu vào thiền định với thời gian 49 ngày trong tư thế ngồi. Chỉ ở tư thế ngồi kiết già hoặc bán già, thiền sư mới không bị ngã (tới trước hay sau) khi nhập sâu vào thiền định. Đạo Phật nguyên thủy cần những bậc định “sâu” hơn (để dễ thực hành 16 tầng tuệ quán sau này), lúc đó ngồi nhất định là tư thế cần thiết. Cũng nên nói thêm, rằng tư thế ngồi chỉ cần vững vàng và thẳng lưng là đủ. Ngồi thiền không lệ thuộc các kiểu xếp của chân. Mọi chuyển biến của tâm xảy ra trên đầu chứ  không xảy ra ở hai chân.

Thiền không là lối đi tắt

Đây là vấn đề còn mãi trong sự tranh luận về ý nghĩa giữa pháp môn Đốn (immediate) và pháp môn Tiệm (gradual). Thiền tông cho rằng pháp môn của mình là Đốn giáo, nghĩa là có thể dẫn môn sinh kiến tánh thành Phật rất nhanh. Đốn ngộ là ngộ rất đột ngột, thường được diễn đạt là “hốt nhiên đại ngộ”. Cũng trong lí luận đó, suy ra các pháp môn khác là Tiệm giáo, cần thời gian rất lâu dài để đi đến chứng đắc. Nói rằng “đốn”, nhưng mỗi con người, ai cũng đã từng tiến hóa qua bao nhiêu đời kiếp. Nói cách khác, luôn luôn đã có một quá trình chuẩn bị của đời này hay từ nhiều đời trước, trước khi đốn ngộ. Vậy thực có một sự kiện gọi là “đốn” hay không! Còn một vấn đề nữa phải đặt ra “đốn ngộ” là sơ ngộ hay đại ngộ? “Kiến tánh thành Phật” là lúc sơ ngộ hay đại ngộ cũng thực sự  còn là một vấn đề tranh cãi. Thiển nghĩ, “thấy tánh” là mới biết ngõ vào thôi, còn “nhập tánh” thì mới thành Phật được Tương tự như vậy Mật tông hay Thiền tông cũng không phải là lối tu tắt như nhiều người thường nghĩ! Mượn lời nói của Osho: Một điều cần nhớ, rằng thiền là một chuyến đi dài, không có ngõ tắt. Ai nói rằng có lối đi tắt, tức người đó đã lừa dối bạn… Bởi vậy khi bắt đầu hành thiền, bạn đừng kì vọng gì quá mức. Nếu không kỳ vọng bạn sẽ không phải thất vọng. Thiền không phải là những mùa hoa sáu tháng một lần. Thiền là cây đại thụ phải cần thời gian để vươn rễ vào sâu lòng đất. Thiền không có lối đi tắt. Tất cả đều phụ thuộc vào nghiệp, vào bộ gene của cơ thể, vào cấu trúc bẩm sinh của sinh lý thần kinh. Bạn nhập thiền dễ hơn người khác vì trước đó (kiếp trước) bạn đã từng thực tập nhiều rồi. Bạn thiền có được kết quả nhiều hay ít là vì bạn đã tiến hóa nhiều hay ít trên con đường tiến hóa của vũ trụ kể từ thủa ban sơ.

Tóm lại

Thiền gồm nhiều phương pháp và mang nhiều nội dung khác biệt. Nên hiểu Thiền như là phương tiện của nhiều tôn giáo, của nhiều pháp môn. Thiền có thể là “Thuật” bước vào Tâm. Thiền có thể là “Đạo” trong ý nghĩa tự thân của nó. Thiền có thể là cách tiếp cận với Chúa trời của một số các tôn giáo thần khải. Thiền có thể là cách điều khiển khí lực và năng lượng của Yoga trong mục đích chuyển hóa tâm linh. Thiền là “công cụ tâm linh” dùng để thám sát và tìm hiểu thế giới nội tâm (cũng giống như  khoa học dùng các loại “công cụ khoa học” để thám sát và tìm hiểu thế giới bên ngoài). Cuối cùng, nếu bạn là một Phật tử, phải nhớ rằng con đường tu hành của Đức Phật chính là pháp thực hành thiền (bhavana) gồm Thiền Chánh Niệm (satibhavana), Thiền Định (Samadhi) và Tuệ Quán (Vipassana), dù rằng những phương pháp này ngày nay không còn được các “Đạo Phật phát triển” nhắc đến. Thiền của Đức Phật Gautama có phương pháp rõ ràng còn có thể tham cứu trong Kinh và Luận. Thiền của Đức Phật Gautama có những tiêu chuẩn cho các tầng thiền, các quả vị, các tầng bậc chứng đắc, nhờ vậy hành giả có thể biết mình đang đi trên đạo lộ nào (đúng hay sai) và đang đứng tại đâu (mức độ nào). Nhờ sự minh bạch rõ ràng đó, những nổ lực của Phật tử  sẽ không bị hoài phí.

Phạm Doãn (viết lại ngày 15/06/2012)


19 phản hồi on “- Thiền là gì?”

  1. Trungnd nói:

    Có một Đại Sư đẵ từng nói : mỗi người có một phương pháp riêng của mình để tu hành. Nhưng dù dùng phương pháp nào thì cũng hướng tới 1 mục tiêu là giải thoát. Những trải nghiệm, những phương pháp đều chỉ là một bài học cho việc tu hành. Chúng không phải là 01 con đường mà chỉ là một bậc thang đưa tới mục đích cuối cùng mà thôi.

    • Giang Viết Sơn nói:

      Bạn thân mến,
      Không phải phương pháp nào cũng hướng đến giải thoát. Giải thoát là sự thực hành việc dọn dẹp sạch sẽ những vướng mắc của tâm vào các sắc, pháp thế gian. Có rất nhiều phương pháp, mặc dù dọn dẹp những bất thiện, nhưng lại bị vướng mắc vào những pháp khác cho dù là thiện pháp. Bất kể dính mắc vào cái gì, tức là chưa dọn dẹp sạch sẽ, vẫn còn nhân tố dẫn đến tái sanh thì làm sao có thể gọi là giải thoát được. Đây là đạo phi đạo tri kiến tịnh mà trong đạo Phật có đề cập. Nhiều vị đạo sư tuy hiểu điều này, nhưng rồi chính họ lại bị vướng mắc vi tế kéo họ lại, vướng mắc với pháp hành, với những cảnh giới mà họ cho rằng đó là giải thoát.

      Kinh Bảy Trạm Xe của Đức Phật, hay quá trình Đức Phật nhập diệc thế nào, tuần tự vào rồi ra khỏi các thiền vô sắc, vào rồi xuất khỏi các thiền hữu sắc rồi quán minh sát để nhập diệt tận định chính là ấn chứng sau cùng mà Đức Phật để lại cho thế gian như một lời nhắn nhủ về đạo lộ tu tập chân chính trong đạo Phật để hướng đến một giải thoát viên mãn.

      Quý ĐH, quý bạn hãy tìm hiểu lại tất cả những điều này một cách cẩn thận. Đừng để mình bị lạc vào rừng pháp mà uổng phí một thân người.

      Thân kính,
      Giang Viết Sơn

  2. BS Phạm Doãn nói:

    Dĩ nhiên các “Đại Sư” đều có quyền tu tập, hành thiền và giác ngộ riêng theo cách của mình. Điều mà trang blog này muốn nhấn mạnh là không nên nhầm lẫn cách tu tập của các “Đại Sư” với pháp tu của Đức Phật muốn truyền lại cho đời sau.
    Phương pháp hành thiền do Đức Phật dạy (là độc nhất vô nhị) còn ghi lại rành mạch trong tam tạng kinh điển. Hiện nay vẫn còn có người thực hành thành công ngay trong thời điểm này.

    • Trungnd nói:

      thưa bs,
      Pháp tu của Phật vô cùng mênh mông, có mấy phật tử tự cho là mình có thể nắm hết được? Người đời nay có mấy ai là bậc thượng căn để thực hành theo pháp môn nguyên thủy. Giác ngộ thì ai cũng mong muốn nhưng bao nhiêu người làm được? Đời người ngắn ngủi, nếu kiếp này chưa làm được thì có chắc kiếp sau sẽ vẫn có thể tiếp tục con đường tu không? Bậc Bồ Tát – Thanh Vân khi sanh vẫn còn mê thì chúng sanh sẽ thế nào?

      Đó cũng chính là lý do mà có nhiều pháp môn được hình thành. Có thể coi như dạng thầy bói mù xem voi vậy. Mỗi môn sẽ chọn cho mình một hướng đi để làm tôn chỉ. Thiền : chỉ thẳng lòng người, thấy tánh thành Phật. Tịnh độ : một đời vãng sanh, được bất thối chuyển. Hoa Nghiêm : lìa thế gian, nhập pháp giới. Mật : Tam mật tương ứng, tức thân thành Phật. Dù là gì thì cũng chỉ là 1 phương tiện để dẫn chung về Phật tánh mà thôi. Đi đến tận cùng thì sẽ dung hội tất cả : lý tức sự, sự tức lý, tánh tức tướng, tướng tức tánh hay sắc tức là không, không tức là sắc, không và sắc chẳng khác nhau.

      Nói như Tịnh Độ, theo Phật giáo nguyên thủy thì sẽ không cò chuyện tha lực của một ai đó, vậy thì lời nói của các vị như Liên Trì, Triệt Ngộ, Ngẫu Ích hay Kiên Mật là lừa dối lòng người hay sao? Tài đức của các vị đó hậu nhân đời nay ai dám so sánh?

      Như vậy pháp tu có rất nhiều và theo nguyên thủy cũng là một mà thôi, tùy căn cơ, sở thích hay nghiệp duyên mà mỗi chúng sanh sẽ chọn con đường thích hợp cho mình.

      Trungnd269

      • Giang Viết Sơn nói:

        Bạn thân mến, ĐH thân kính,
        Xin được góp vài dòng thô thiển. Pháp tu có nhiều, cũng như có nhiều vị hướng đạo vậy, nhưng phải xem vị đó dẫn mình đến đích đến gì. Những vị như Liên Trì, Ngẫu Ích, Kiên Mật không phải là lừa dối mà mục đích của những vị đó không hướng đến một giác ngộ rốt ráo của một giải thoát chân chánh. Các vị đó hướng đến một cảnh giới, một thế giới. Tất cả những cảnh giới hay thế giới nào đó, cho dù có tồn tại cũng chỉ là những tầng năng lượng tạm thời tạo ra do cộng nghiệp của một số chúng sanh nào đó.

        Nếu quý bạn chấp nhận tính minh triết của quy luật vô thường, và hiểu rằng quy luật vô thường là chân lý, thì cũng nên biết rằng không có cái gì thoát ra khỏi quy luật vô thường cả. Không biết quý bạn có tự nêu lên câu hỏi này không? Điểm chính của quy luật vô thường không phải là sanh, mà chính là diệt, cái gì rồi cũng sẽ có lúc bị tận diệt.

        Có điều những vị như Liên Trì, Ngẫu Ích, Kiên Mật họ không lừa dối, mà chỉ vì khi tu tập đạt đến trạng thái nhất tâm, tương ứng với các định an chỉ của thiền vô sắc, họ sẽ “nhập” được vào các cảnh giới. Các cảnh giới này đều do tưởng uẩn của họ tạo ra, do tín lực, chính Đại Sư Hám Sơn cũng từng nhập lên những cảnh giới tầng trời này, được vào tắm tiên, tắm Phật. Nếu đạo Phật là những cảnh giới thế này, thế nọ, vậy thì cái gì là sự khác nhau giữa đạo Phật với những tôn giáo khác như Công giáo, Ấn Độ giáo, Bà La Môn, đạo Xích… Chẳng lẻ chỉ là hình ảnh của những Đức Phật, của những cái đầu thế phát, hay những câu kinh? Nếu lấy những đạo đó, rồi thay thế hình của vị chúa Jesus bằng hình Phật, thay thế thiên đàng bằng tịnh độ, thay thế Kinh Lạy Cha bằng Kinh A Di Đà thì ta đã có được đạo Phật. Đó là chân lý của Đức Phật tìm ra hay sao? Là đạo Phật hay sao?

        Đức Phật đã chỉ rõ, đây chính là những dính mắc, tuy là dính mắc vào các pháp thiện thì cũng vẫn là dính mắc, là chấp bám. Hễ còn dính mắc, là còn nhân duyên tái sanh. Một phản ứng hóa học, lý học sẽ không tiếp tục xảy ra nếu như không còn nguyên tố tác động, động lực tác động, hay bất kể xúc tác gì.

        Ngày nay chúng ta nên học Phật, hiểu đạo Phật với kiến thức của người đương đại. Nếu chúng ta nói đạo Phật là giải thoát khỏi những vướng mắc với ngũ uẩn, với những lục trần qua cửa ngõ lục căn, vậy thì đạo Phật không nên là cảnh giới nào cả. Còn nếu chúng ta muốn hướng về một cảnh giới, thì nên hiểu rằng đó không còn là đạo Phật nữa.

        Pháp môn tu thì có rất nhiều, nhưng pháp môn tu của đạo Phật để hướng đến đạo phi đạo tri kiến tịnh, hướng đến giác ngộ rốt ráo và giải thoát khỏi những dính mắc của tâm thì chỉ có một. Thực hành cũng có thể trực chỉ minh sát nếu bạn là người có đầy đủ ba la mật của quá khứ. Hay cũng có thể đi vào bằng an chỉ đinh, rồi sơ thiền, và các thiền khác rồi minh sát để loại bỏ những dính mắc. Phương pháp để loại bỏ những dính mắc một cách triệt để, không đồng hóa những tiến trình của tâm cho rằng đó là ta, là cái tôi, là minh sát, là quán sát, không tác động, không hành nghiệp, hãy để cho chúng tự diệt theo quy luật vô thường.

        Đây chính là pháp huyền diệu của Đức Phật, là đạo Phật.

        Kính chúc ĐH thân tâm an lạc, tinh tấn, sớm trọn thành Phật đạo.

        Thân kính,
        giang viết sơn

      • Nguyễn Hoàng Hải nói:

        Thưa ĐH Trungnd, ĐH nên đọc kỹ lại các bài viết của BS Phạm Doãn, để nhận ra một điều rất quan trọng là phải làm sao tìm ra được một Đạo Phật nguyên gốc nhất, ít bị pha trộn xào xáo nhất bởi âm mưu của Ma Vương, bởi ngoại đạo trà trộn vào, bởi tư kiến của cá nhân hay cả một tông phái, bởi lỗi người phiên dịch kinh điển, bởi hậu thế căn cơ kém mà vô tình hiểu sai ý Phật….Dù sao thì kinh điển nguyên thủy (Nikaya theo Pali tạng, A Hàm theo Hán tạng) vẫn là chỗ dựa đáng tin cậy nhất hiện nay. Còn đối với pháp môn Tịnh Độ, có lẽ ĐH hãy kiên nhẫn đọc lại kinh Kalama để phân định xem cái gì là thực chất, cái gì là giả mạo; Cái gì là thực tế, cái gì là truyền thuyết; Cái gì đem lại đạo đức cho bản thân và lợi ích thiết thực cho nhân loại, cái gì là cực đoan ảo tưởng phi nhân quả; Cái gì mà người trí ca ngợi, cái gì mà người tham lam ích kỷ dựa dẫm vào; Cái gì là tinh tuý đặc trưng của Đạo Phật, cái gì mà na ná như quan điểm của ngoại đạo? Trong kinh điển Nguyên thủy cũng có Pháp môn Niệm Phật nhưng bản chất là sự tưởng nhớ đến ân đức và công hạnh của Chư Phật với lòng thiết tha tôn kính và phải hiện thực hóa lòng tôn kính đó bằng việc tự mình thực hành lời Phật dạy, chứ không phải bằng tha lực của ai đó. ĐH nếu đã quy y Tam Bảo, thực hành theo đúng lời Phật dạy (trong kinh nguyên thủy) thì dù đời này chưa đắc đạo, đời sau ĐH cũng sẽ sớm gặp được Chánh Pháp để tu tiếp. Đây là công trình của muôn vạn kiếp chứ chưa hề có một vị Phật nào tu chỉ sơ sơ vài kiếp mà hoàn thành được đâu.

      • Nguyễn Hoàng Hải nói:

        Thời gian gần đây, ở nhiều nơi, nhiều trang mạng ra sức tuyên truyền rằng người tu theo Tịnh độ tông chỉ được chuyên niệm danh hiệu Phật A Di Đà mà không được niệm các vị Phật khác, chỉ được tụng đọc kinh Vô lượng Thọ mà không được đọc các bản kinh khác vì như thế là tạp tu, tạp niệm! (Tham khảo links: http://tongiaovadantoc.com/c1042/20121129144951527/phat-vo-thuong-bode-tam-va-nhat-huong-chuyen-niem-a-di-da-phat-dieu-am-tri-thanh.htm
        http://www.niemphat.info/tim-hieu-ve-niem-phat-dat-bat-niem-tu-niem-bao-dam-vang-sanh-336.html )
        Các kinh sách của Tịnh độ tông vẫn nói: thời mạt pháp các kinh điển của Phật sẽ dần dần bị biến mất, chỉ còn lưu lại kinh Vô Lượng Thọ để cứu vớt chúng sinh. Nhưng với chủ trương trên thì chính Tịnh độ tông là thủ phạm làm các kinh điển của Phật biến mất một cách nhanh nhất. Đến đây, ĐH Trungnd đã nhận ra bộ mặt thật của Tịnh độ tông chưa? Như một điệp viên siêu hạng, luồn sâu- leo cao, khéo léo bẻ lái làm chệch hướng, phá từ trong phá ra, thủ tiêu Chánh pháp của Phật một cách thâm hiểm gian xảo nhất, êm ái nhất, mà lại đào bỏ được tận gốc rễ của Chánh pháp. Người theo Tịnh độ tông đã bị cải đạo, sa vào lưới ma mà không biết, tuy cái vỏ được dán nhãn Đạo Phật mà trong ruột chẳng còn chút gì của Phật.

        Vậy tác giả thực sự của Tịnh độ tông là ai? Ai mà cao mưu vậy? Ai mà hiểm độc như vậy ngoài Quý Ngài Ma Vương đây? Quý Ngài này quá hiểu tâm lý của con người phàm phu để mà giăng bẫy thả câu: Đó chính là tâm lý tham lam, mê muội, cả tin, ham những cái siêu lãi suất, thích dựa dẫm, hay nói cách khác là tâm lý “ăn gian”- không muốn vất vả tu tâm sửa tánh, xả kỷ độ nhân mà vẫn được bảo đảm sung sướng sau khi chết. Thế là mồi câu đã được giăng ra: Nào là Tây phương Cực lạc toàn bằng vàng bạc châu báu, chẳng phải vất vả, chỉ suốt ngày rong chơi đi cúng hoa cho Chư Phật ở các phương khác, đến giờ ăn lại trở về ăn cơm rồi đi kinh hành (theo kinh A Di Đà). Người tu theo Tịnh độ tông không yêu cầu phải giữ gìn giới hạnh, huân tập đạo đức, không cần phải bỏ ác tạo phước, không cần phải hướng tới mục tiêu Vô Ngã, không cần phải học hỏi kinh điển, không cần phải tu thiền tập định tự thanh tịnh tâm…, thậm chí có lỡ gây ác tạo tội thì vẫn OK, CHỈ CẦN CÓ LÒNG TIN VÀ CHUYÊN NIỆM DANH HIỆU PHẬT DI ĐÀ LÀ KHỎI LO, ĐÃ CÓ Ô DÙ CỦA PHẬT A DI ĐÀ CHE CHỞ RỒI, ĐỚI NGHIỆP VÃNG SINH CƠ MÀ!

        Một người bất kể còn đầy ác nghiệp thế nào, đạo đức còn bê bối ra sao, nhưng nếu biết niệm Phật A Di Đà trước khi chết (hoặc được người khác hộ niệm) đều được vãng sinh hết. Lý thú nhất là hễ đã được vãng sinh rồi thì người đó lập tức trở thành trong sạch như một vị Thánh (để đảm bảo đặc tính thuần vui, thuần thiện của cõi Cực lạc). Đó chắc chắn phải là một phép lạ của cõi Cực lạc do thần thông của Phật A Di Đà tạo nên. Nhưng, nếu được như vậy thì tại sao Ngài không từ bi cứu khổ bằng cách dùng thần thông hốt hết chúng sinh cang cường lên cõi Cực lạc là xong, đâu còn phải để Phật Thích Ca thốt lên rằng:

        “Tự mình điều ác làm

        Tự mình làm nhiễm ô

        Tự mình ác không làm

        Tự mình làm thanh tịnh

        Tịnh không tịnh tự mình,

        Không ai thanh tịnh ai.” (Kinh Pháp Cú)

        Đó hẳn là một kỳ tích mà chẳng có Phật nào làm nổi ngoại trừ Phật A Di Đà của Tịnh độ tông và …Thánh A-la của Hồi giáo mà thôi. (Hồi giáo cũng cho rằng: Thần lực của Thánh A-la là điều mà trí tuệ con người không thể suy lường, nên con người dù lỗi lầm, thậm chí có khủng bố giết người, nhưng nếu có đức tin và cầu nguyện thì vẫn được Ngài tiếp độ lên Thiên đàng, vĩnh viễn hưởng lạc! )

        Ma Vương đã nặn ra một vị Phật với phương pháp cứu khổ khá dễ dàng, đặc biệt thù thắng, thích hợp cho mọi loại căn cơ. Phương pháp đó trước Ngài chưa có vi Phật nào nghĩ ra, Phật Thích Ca cũng còn phải nhờ Ngài cứu độ chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp cơ mà! Dù rằng bản thân Phật A Di Đà đắc đạo không nhờ đến pháp môn thù thắng đó (vì câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” chỉ có hiệu lực khi Ngài đã thành Phật), nhưng kể từ khi Ngài thành Phật thì mọi giáo pháp của Chư Phật quá khứ đều trở nên lỗi thời, hiệu quả thì bấp bênh, mất quá nhiều thời gian tu hành vất vả, đã đến lúc xếp xó được rồi. Bây giờ tất cả chỉ cần gói gọn trong “lục tự Di Đà” và tụng kinh Vô Lượng Thọ là xong hết. Đạo Phật giờ đây nên được đổi tên thành Đạo Tịnh độ với đấng giáo chủ tối cao là Phật A Di Đà. Mà thực ra nếu nói theo cách của thế gian thì Phật A Di Đà chỉ là người đứng tên thôi, còn chủ nhân thực sự phải là Quý Ngài Ma Vương mới đúng!

        Bây giờ ĐH Trungnd tự cân nhắc xem có nên theo Tịnh độ tông không nhé. Nhưng nhắc lại rằng: Kinh điển Nguyên thủy cũng có pháp môn Niệm Phật (không phải niệm danh hiệu Phật) và là tưởng niệm về Chư Phật chứ không phải chỉ niệm riêng một vi Phật nào, bản chất rất khác với Tịnh độ tông. Một cái là hàng thật, một cái là hàng giả. Uống thuốc giả có thể mất mạng, còn tu theo Đạo Phật giả thì không chết người mà chỉ bị ảo tưởng mê mờ trí óc, lạc lối khỏi con đường tiến tới giác ngộ giải thoát mà thôi.

  3. cannguyen nói:

    Các bạn muốn chọn cho mình một pháp môn tu nào cũng được.Miễn là pháp môn đó phù hợp với căn cơ và trình độ của mình Đ iều quan trọng là phải hết sức tập trung.Chính sự tập trung là chìa khóa đưa dẫn bạn đến sự thành công trên đường ĐẠO& ĐỜI.Trí tuệ là mục tiêu cuối cùng. Còn nếu bạn không phát triển được trí tuệ thì tức là bạn đã đi nhầm đường rồi..

    • Giang Viết Sơn nói:

      Bạn kính mến,
      Khi nói về trí tuệ, Đức Phật có giảng cho chúng ta biết có 3 loại trí tuệ:
      1. Văn Tuệ: là trí tuệ do sự học hỏi mà có
      2. Tư Tuệ: là trí tuệ phát sinh do tư duy, suy nghĩ về những cái đã học, kết hợp với tất cả những kiến thức các cộng với kiến thức cuộc đời của chính bản thân người đó, hiểu được chân lý

      Tuy nhiên, 2 loại trí tuệ trên chưa phải là trí tuệ thật sự. Cũng như chúng ta học về điện phát sinh như thế nào qua việc cho cuộn dây solenoid xoay trong một từ trường, học và vận dụng những định luật vật lý về lực cảm ứng từ trường tác động lên các điện cực tạo dòng cảm ứng như thế nào để chứng minh điện sinh ra như thế nào. Hiểu và có thể chứng minh tất cả những điều này bằng những công thức toán học, lý học cũng chỉ là “văn tuệ và tư tuệ.” Sau tất cả những học hiểu đó, nếu bạn trực tiếp bắt tay vào thí nghiệm thực hành để xem điện phát sinh như thế nào, thí nghiệm thất bại rồi thành công như thế nào, một khi thực hành dẫn đến kinh nghiệm trực nhận và thành công, đó mới chính là trí tuệ thật sự.

      Trí tuệ không phải là mục tiêu cuối cùng, vì đó cũng là một dính mắc. Cái mà ta gọi là mục tiêu cuối cùng, cho dù là Niết Bàn, Nibbana, cũng chỉ là cửa vào của điểm mà các tiến trình, các pháp bị tận diệt. Bước qua khỏi điểm ấy, là sự dừng lại của tất cả các pháp.

      Kính chúc quý ĐH, quý bạn tinh tấn, sớm trọn thành Phật đạo hướng đến giác ngộ giải thoát.

      Xin cám ơn BS Phạm Doãn đã lập ra trang web này để hướng trở về chánh pháp của Đức Thế Tôn.

      Thân kính,
      giang viết sơn

      • Giang Viết Sơn nói:

        Trí Tuệ thứ 3 mà Đức Phật đề cập đến là Tu Tuệ, là trí tuệ thật sự, là tri kiến và kinh nghiệm chân lý qua sự thực hành thiền quán. Cũng giống như thực nghiệm, làm lab, cho thí nghiệm và sự học hỏi của mình. Bạn có thế nương tựa vào những pháp môn khác mà bạn cho là thích hợp như Mật, Tịnh, để đạt an chỉ hay nhất tâm, nhưng những trạng thái định này chỉ là đè nén những bất tịnh chứ chưa thực sự loại bỏ những bất tịnh, tức là những dính mắc của tâm gây nên hành nghiệp.

        Thanh tịnh có được do những phương pháp để đạt đến định nhất tâm chỉ là loại thanh tịnh tạm thời do đè nén những triền cái ngũ ngầm xuống bên dưới chiều sâu của tâm, cũng như ta đè xuống những bất tịnh trong một cái chai, để lại một sự thanh tịnh bên trên. Nhưng phải biết đây cũng chỉ là thanh tịnh tạm thời có được do đè nén những bất tịnh.

        Thanh tịnh thực sự sẽ tự nó phát sinh khi trong cái chai của chính chúng ta được dọn dẹp sạch sẽ, gần như không còn bất tịnh, hay những vị A La Hán, Đức Phật không còn dính mắc bất tịnh. Một khi trong “cái chai” chẳng còn một bất tịnh nào nữa, cũng chẳng có gì bị đè xuống bên dưới, tự nhiên đó chính là thanh tịnh, là định chân chính sinh ra từ thanh tịnh gần như tuyệt đối này.

        Đây mới là mục tiêu cuối cùng của đạo Phật. Đạt được trí tuệ do thiền quán qua 16 tầng tuệ minh sát cũng chỉ là những trạm xe chuyển tiếp, tạm thời, cũng không phải mục tiêu cuối cùng của đạo Phật. Ngay cả 16 tầng tuệ minh sát này cũng là vô thường, là tạm thời do mức độ kinh nghiệm khác nhau về vô thường, về sanh diệt, khổ, vô ngã mà sanh ra.

        Kính chúc quý ĐH tinh tấn, sớm trọn thành Phật đạo.
        Thân kính,
        gvs

        Thân kính.

  4. Phương Nam nói:

    Cháu chào bác,

    Hiện tại cháu đang 19 tuổi, bài viết của bác thực sự đối với cháu là ngoài tầm hiểu biết. Nhưng với mong ước của mình là được hiểu rõ về bản thân, hiểu rõ con người mình và thực sự hiểu ước mơ của mình là gì, thêm với việc bản thân cháu rất hay bị dao động và khó tập trung, cháu đã tìm hiểu về thiền trên internet và muốn tham gia tập thiền. Vậy với múc đích ban đầu của cháu, cháu nên luyện tập gì ạ ?

    • BS Phạm Doãn nói:

      Cháu chưa cần phải tập luyện gì!
      Mà nên bắt đầu bằng sự học hỏi về các lãnh vực mà cháu đang quan tâm.
      Con đường này gian khó và dài (gọi là giai đoạn Chánh Kiến trong Đạo Phật)
      Khi sự hiểu biết tương đối đúng đắn rồi mới đến những bước sau.

    • Nguyễn Hoàng Hải nói:

      Chào bạn Phương Nam, tôi có đọc được một bài viết khá hữu ích cho những người đang muốn đi tìm thầy học Đạo như chúng ta, mời bạn tham khảo:

      Thiền gì?

      Sáng Chủ Nhật, tôi đang đi dạo trong sân chùa, một cô gái nhẹ nhàng tiến đến và hỏi: “Bạn ơi, thiền Phật giáo có dạy mở luân xa không?”
      Tôi hơi ngỡ ngàng vì câu hỏi, chợt vui vì cô gái đến chùa, tìm hiểu thiền. Qua câu hỏi ấy, có lẽ cô gái đã tiếp cận với thiền của ngoại đạo, nên có chút khái niệm để hỏi như thế.

      Chúng tôi rủ nhau ngồi bên hiên chùa. Với sự chân thành, tôi chia sẻ đôi điều căn bản, cùng cô ấy nhận biết thiền Phật giáo khác với thiền ngoại đạo (mở luân xa) như thế nào.

      Nhiều loại thiền được dán mác “chính pháp”. Vậy thì có cách nào hiểu căn bản về thiền chính thống, thứ thiệt của Phật giáo? Và làm thế nào tìm được Thầy dạy thiền chính pháp?

      Thực ra, đến ngay cả bài viết của một tiến sĩ – cư sĩ hướng dẫn thiền, đăng trên web Phật giáo, mà còn có “yếu tố ngoại lai” xen tạp. Nhưng chúng ta lại không đủ trí tuệ sàng lọc, thẩm định những tài liệu thiền như thế.

      Để nói một vấn đề lớn, hệ trọng, quả thực là khó. Phân vân, tư lự, tôi xoè bàn tay, bấm từng ngón tay, chia sẻ với cô gái từng vấn đề:

      *Thứ nhất, “thiền mở luân xa” thì có rất nhiều, ví dụ: khí công, nhân điện, thiền cảm xạ học, yoga, yogi, pháp luân công, thần quyền.v.v… Đây là thiền ngoại đạo so với thiền Phật giáo.

      Mục đích của các phương pháp thiền này là dưỡng sinh chữa bệnh, tìm sự trường sinh, cứu dân độ thế, chữa bệnh thiện nguyện, tu luyện thần thông. Khi điều vi diệu mở ra, các học viên sẽ tin tưởng ông thầy, tin tưởng phương pháp thiền ấy. Cho dù họ dùng thiền khí công hay nhân điện để chữa bệnh từ thiện thì vẫn là dùng thần thông, ngoại đạo.

      Trên cơ thể chúng ta có 7 luân xa. Nhiều ông thầy mở lớp dạy thiền (ngoại đạo), dùng thần thông khí công, hay điển lực gì đó nhằm mở luân xa của học viên.

      Các học viên không biết ông thầy của mình đã mở luân xa nào? Cái tai hại chết người là không biết, không tỉnh giác khi luân xa mở. Ví như cánh cửa bị mở toang nên ma quỷ đột nhập vào nhà mà ta không hay biết gì cả. Vì thế, người bị vong nhập do ông thầy tác động điển lực, mở luân xa.
      *Thứ hai, thiền mở luân xa của ngoại đạo thực chất là gì? Hiểu nôm na thế này:

      Nếu ví các luân xa là những nụ hoa, hay những trái quả còn xanh, thì nó sẽ nở, sẽ chín khi đủ già, đủ điều kiện. Nếu ông thầy dạy thiền (ngoại đạo) mở luân xa của học viên, đồng nghĩa là ông ấy cưỡng ép hoa phải nở sớm, giống như dùng bàn tay tẽ các cánh hoa một cách thô thiển để nụ hoa xoè ra, hoa sẽ sớm tàn, héo úa.

      Hoặc ví như ông thầy cưỡng bức cho quả non phải chín ép. Như vậy, bạn thấy có chất lượng không? Luân xa bị mở ra như thế có còn chất lượng hay không? Vậy mà rất nhiều người có duyên học món thiền mở luân xa này lắm nha!

      *Thứ ba, thiền định Phật giáo không nhằm vào mục đích mở luân xa. Cho nên các phật tử tu thiền đâu có cần phải học về 7 luân xa. Nó mở thì mở mà đóng thì đóng, điều quan trọng là tu đúng chính pháp thiền của Như Lai.

      Thiền định giúp cho người phật tử có tỉnh giác (tỉnh thức). Nếu luân xa mở ra, thì chính sự tỉnh giác sẽ canh cửa cho bạn. Người tu thiền định Như Lai còn được các Chư Thiên, Bồ Tát theo gia hộ, nên vong ma, kẻ trộm không đột nhập vào nhà bạn được.

      Thực ra thiền định của Phật giáo cũng đưa đến kết quả khai mở luân xa. Nếu thực hành tốt thì luân xa mở ra một cách tự nhiên, ví như hoa thơm trái ngọt tự khắc chín. Mà trên con đường về xứ Phật, người phật tử chẳng muốn vướng bận vào mấy thứ hoa thơm, trái ngọt của luân xa hay thần thông. Nên họ không bị mắc vào cái gọi là “mở luân xa”.

      *Thứ tư, thiền nào khuyến khích phát huy thần thông, điển lực, khơi dậy đam mê sáng tạo ắt sẽ lạc vào bản ngã vi tế sâu thẳm, đó là tà thiền, ngoại đạo. Những khả năng kỳ diệu của con người chính là thần thông. Tâm lý thông thường, nhiều người ưa thích vì có được thần thông. Tu luyện thần thông tức là tu luyện bản ngã.
      Thiền gì dạy cho bạn thấy mình giá trị lớn; được Trời, Phật, Thánh, Mẫu ưu ái gia hộ cho bạn hơn những người khác; Được “bề trên” nhập vào bạn để hành thiện cứu đời… thì ắt hẳn là tà thiền, ngoại đạo.
      Thiền gì dạy cho bạn nhanh chứng đắc, thấy mình sắp đắc đạo Thánh, Phật thì ắt hẳn là tà thiền, ngoại đạo.

      Ông, bà nào làm thầy, dạy thiền mà tự xưng “thay trời hành đạo, cứu dân độ thế” thì ắt hẳn là thiền của tà ma, ngoại đạo. Bạn chớ nên chữa bệnh theo vị thầy đó, chớ nên mang ơn tà ma, quỷ thần vì họ còn bản ngã. Mang ơn nhau có nhân có quả thì sẽ cuốn nhau đi trong luân hồi.

      *Thứ năm, thiền định của Như Lai là con đường đưa đến vô ngã, giải thoát luân hồi. Thiền Như Lai hay còn gọi là thiền nguyên thuỷ, thiền Vipassana, thiền tứ niệm xứ… là kim chỉ nam cho mọi tông phái.

      Thiền Phật giáo có nhiều tông phái. Mọi con đường đều đưa về một đích là: diệt trừ bản ngã. Bất cứ vị thầy nào dạy thiền chính pháp thì cũng sẽ đưa bạn tiến dần về cái gốc thiền nguyên thuỷ.

      Ngày nay, sách dạy thiền có rất nhiều, tìm Thầy chân tu đạo hạnh ở đâu? Tìm Thầy minh sư dạy thiền Như Lai ở đâu? Điều đó tuỳ thuộc vào phước duyên của bạn. Nhưng tôi xin chia sẻ bí quyết giúp bạn tìm Thầy dạy thiền:

      Đến một ngôi chùa để lạy Phật, tha thiết cầu xin Phật gia hộ cho bạn tìm được minh sư dạy thiền định. Bạn lạy Phật ít nhất từ 3 đến 6 tháng. Nếu bạn vẫn cảm thấy mung lung con đường tìm Thầy, tìm đạo thì cứ tiếp tục tha thiết lạy Phật, xin gia hộ. Người nặng nghiệp thì phải lạy Phật từ 1 đến 3 năm mới bắt đầu vi diệu.

      Bí quyết tìm Thầy dạy thiền đơn giản vậy thôi. Chúng tôi nói sơ sơ ngoài vỏ cây, còn cái cốt lõi thân cây của thiền định Phật giáo thuộc về sự Giác ngộ. Mong sao bạn sẽ tìm được chính pháp, tu tập thiền định theo con đường Bát Chính Đạo mà Phật đã dạy.

      Tác giả: Duyên Thành
      (Nguồn: phatgiao.org.vn)

  5. Panna nói:

    Kính BS Phạm Doãn!
    Trước hết tôi xin cảm ơn bs về bài viết!
    Nếu đúng là thiền tông thật sự do tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền sang TQ thì không khác gì với thiền nguyên thủy cả. Thiền Vipassana cũng có thể là đốn ngộ, cũng có thể là tiệm tu tùy theo nhân ba la mật của một người gieo trong quá khứ mà thấy có nhanh chậm.
    “Việc thực hành Tuệ quán cần sử dụng năng lực của định (samadhi) để nhìn thấy rõ các pháp chân đế (paramattha) như chúng thực sự là…”
    “Đây có thể là cách quan sát sự vật của thế giới hiện tượng mà tránh để trí óc định danh các sự vật. Mục đích trong các phương pháp của Thiền tông là nhằm phá hủy các khái niệm và ngôn ngữ hình thức, vốn được cho rằng không thể chuyên chở được nội dung của thực tại, trái lại còn bóp méo thực tại tuyệt đối.”
    Khi thấy các pháp như chúng thật sự là cũng là cái thấy không thông qua bất kỳ một khái niệm và ngôn ngữ hình thức do do cá nhân hay nhiều người qui ước. Tất cả chúng ta đều có thói quen dùng các khái niệm để áp đặt lên các pháp mà không biết rằng đó chỉ là “giả lập”. Ví dụ khi tôi nhìn một bông hoa, tôi cho có thể cho rằng bông hoa đang nở rộ, bông hoa thật đẹp, màu của bông hoa là màu đỏ v.v…Tuy nhiên bản thân của bông hoa hoàn toàn không hay biết về sự giả lập này của con người đối với nó, thậm chí nó cũng không biết nó là một bông hoa nữa. Nếu thật sự mà nói thì chúng ta chẳng biết gì về bông hoa cả, đó mới là đúng!
    “Đây có thể là thủ pháp đánh và hét, mục đính làm cho người đệ tử bất ngờ hốt hoảng rơi vào trạng thái “mất hồn” đưa đến tình trạng vô ngã tạm thời.”
    Thật là oan cho chư tổ khi chúng ta chưa hiểu được phương pháp mà đã vội kết luận theo ý chủ quan của mình hay của một số người. Các công án của thiền tông đều giúp cho người hỏi thấy tánh (thấy được sự thật của các pháp) và đây cũng là mục đích cuối cùng của thiền Vipassana.
    Kính chúc bs thân tâm an lạc!

  6. Nguyễn Hoàng Hải nói:

    Ý nghĩa khoa học của tư thế hoa sen:

    Điều cơ bản nhất của quá trình hành thiền là luôn tỉnh giác, quan sát, để biết được điều gì đang xảy ra nơi thân và tâm. Tuy nhiên, do nghiệp lực thôi thúc hoặc do áp lực của cuộc sống hiện đại, việc gìn giữ chánh niệm trong cả bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, thường không dễ dàng. Do đó, bên cạnh việc duy trì một chế độ ăn uống, sinh hoạt và giao tiếp thích hợp, thì việc dành ra những thời khắc nhất định trong ngày để thực hành tọa thiền với tư thế kiết già (hoa sen) cũng là một trợ duyên có nhiều ý nghĩa.

    Về mặt khoa học, những thí nghiệm về yoga cho thấy chỉ cần ngồi vào tư thế kiết già, dù ta không cố gắng tập trung tư tưởng vẫn có một sự thay đổi sóng não từ nhịp beta khoảng 20 chu kỳ/giây xuống nhịp alpha khoảng 8 chu kỳ/giây. Nhịp alpha là sóng não của một người đang trầm tĩnh và minh mẫn, tâm lý ổn định. Điều này có ý nghĩa là tự thân tư thế kiết già đã có công năng làm êm dịu thần kinh, một yếu tố quan trọng dể dẫn dắt người tập dễ đi đến tình trạng thư giãn, nhập tĩnh.

    Kết quả trên cũng phù hợp với những lý luận và thực tế lâm sàng của y học châm cứu cổ truyền về huyệt tam âm giao, khi biết rằng ở tư thế kiết già xương mác của một chân đã tạo một sức ép khá mạnh lên đúng vị trí của huyệt tam âm giao của chân còn lại. Điều này có ý nghĩa là trong suốt thời gian ngồi kiết già, huyệt tam âm giao liên tục được kích hoạt. Ở những người thường ngồi tư thế này, sức ép tạo ra một dấu ấn trên mặt da tại vùng huyệt trông giống như một vết thương cũ đã lành. Huyệt tam âm giao ở chỗ lõm bờ sau xương chày. Đối với người có tầm vóc trung bình, huyệt ở trên mắt cá chân khoảng 6 đến 6,5cm. Được gọi là tam âm giao vì huyệt là giao điểm giao hội của ba đường kinh âm: túc thái âm tỳ, túc thiếu âm thận và túc quyết âm can. Theo quan niệm chỉnh thể của y học phương đông, một tạng hoặc một phủ khi phát sinh bệnh biến sẽ có biểu hiện trên đường tuần hành của đường kinh đi qua nó. Ngược lại ta cũng có thể thông qua những huyệt vị trên đường kinh để điều chỉnh những rối loạn bệnh lý của các tạng phủ bên trong. Ở đây là can thận chủ hạ tiêu, tỳ chủ trung tiêu. Do đó, khi tác động vào huyệt tam âm giao ta có thể điều chỉnh toàn bộ quá trình chuyển hóa, hấp thu và bài tiết ở khu vực này. Đặc biệt là tác dụng “dưỡng âm kiện tỳ” và “sơ tiết can khí” của huyệt. tác dụng này giúp tái lập cân bằng nội tiết, nội tạng và điều hòa thần kinh giao cảm. Chính điều này giúp an định cả thân và tâm trong quá trình hành thiền.

    Việc kính hoạt vào huyệt tam âm giao của tư thế kiết già còn làm sáng tỏ thêm một nghi vấn khác. Đó là ở tư thế này chân hữu chồng lên chân tả hay ngược lại, chân tả phải chồng lên chân hữu? Trên thực tế, hệ thống kinh lạc ở hai bên thân thể, bên phải và bên trái có tính tương đồng và đối xứng nhau. Do đó, thì ngồi cách nào thì một trong hai huyệt, hoặc tam âm giao phải hoặc tam âm giao trái sẽ được tác động. Hơn nữa, tam âm giao là một trong số ít các huyệt vị có tính tự điều chỉnh rất cao. Dù kích thích vào huyệt theo cách nào, lâu hay mau, bên phải hay bên trái, thì hiệu ứng mang lại vẫn là cải thiện, là điều chỉnh để tiến tới hòa hợp và cân bằng. Do đó, tùy theo sở thích hoặc thói quen của mỗi người, cả hai cách ngồi trên đều mang lại kết quả tốt cho việc hành thiền.

    Đánh máy: Cư sĩ T. Mai (Theo Khoa học phổ thông) Phoquang
    (Nguồn: nguoiphattu.com)

  7. Nguyễn Hoàng Hải nói:

    7 CÂU HỎI VỀ THIỀN
    (Thượng toạ Thích Chân Quang giảng)

    Câu 1: Tại sao phải ngồi thiền đúng tư thế, giữ thân mềm mại bất động?

    Ta buộc phải ngồi đúng tư thế kiết già mà mười phương, ba đời Chư Phật đều ngồi như vậy. Vì sao? Vì đó là cấu trúc của tâm và sinh lý phù hợp cho việc nhiếp tâm trong tu tập Thiền định. Nếu đứng, không thể đứng lâu và không vững. Nếu nằm thì giải đãi. Ngồi là tư thế trung dung giữa đứng và ngồi, đảm bảo chịu đựng được lâu. Đó là nói về sự cố gắng. Ngoài ra, trong cái ngồi đó mình phải bắt kiết già để khóa chân lại, hai tay nắm lại giữa lòng, không bung ra, lưng phải thẳng cho nên hợp lại với nhau và phù hợp với sinh lý của não nhất, khiến cho não dễ dàng được thanh thản. Tất cả các thế ngồi khác,như khi ngồi bán già hoặc ngồi trên ghế…đều không thể hỗ trợ cho việc nhiếp tâm vào sâu. Tư thế kiết già đảm bảo khoảng cách từ lòng bàn chân đến não là thích hợp nhất, đảm bảo để máu từ tim lên não và xuống lòng bàn chân, điều này có tính khoa học.
    Tại sao phải thẳng lưng? – Thầy chỉ nói một ý vắn tắt. Sau này mọi người đi dậy người ta thì phải nói nhiều hơn.
    Giữ thân mềm mại bất động. Vì mọi hoạt động của thân đều liên quan đến não. Do đó nếu thân nhúc nhích thì não sẽ bị động. Phải giữ toàn thân mềm mại, bất động để não được thư giãn. Đó là điều bắt buộc. Mà nếu ta gồng thân thì sao? – Thì não sẽ căng thẳng. Bởi vậy ta buộc phải giữ thân mềm mại, bất động để não bất động, thư giãn. Sự thật, tu thân chính là tu tâm. Ở đây có một điều lạ, đó là nói “Thiền là điều phục tâm” nhưng có nhiều nơi tu thiền mà trực chỉ thẳng vào tâm, nắm cái tâm tu luôn. Không ngờ cái đi thẳng lại là cái sai, không bao giờ thành công. “Đi vòng một khắc, đi tắt một ngày”. Chính cái đi vòng, đi từ cái nền theo thiên nhiên đã bày ra mà ta làm chủ được cái tâm mình. Ta muốn đi thật cao thì ta phải bò xuống thật thấp, muốn đi thật xa thì hãy đi thật chậm. Cũng vậy, muốn điều phục tâm, ta hãy lo chuẩn bị, sửa soạn thân cho thật kỹ. Vì thế, giữ thân mềm mại bất động chính là giữ cho tâm mình bất động, yên lắng và thư giãn.

    Câu 2: Tại sao khi ngồi thiền phải cảm giác toàn thân, an trú toàn thân?

    Giống như mình hồi nhỏ, khi mình học toán thì diện tích hình chữ nhật là cái gì? Là dài x rộng, mình không biết tại sao. Nhưng khi mình lớn lên tới lớp 12 thì phải biết tại sao. Do đâu biết tại sao? Do ta học Tích phân. Giống như hồi nhỏ ta học diện tích hình tròn thì bằng bình phương bán kính nhân với số Pi. Cứ học thôi, không biết tại sao. Nhưng tới lớp 12, ta phải biết tại sao, khi ta được học môn Tích phân thì ta biết tại sao nó như thế.

    Thì cũng vậy, khi ta mới đến học Thiền thì căn bản là biết rõ toàn thân. Biết rõ thân này là vô thường, bắt đầu biết hơi thở. Biết hơi thở vào, biết hơi thở ra rõ ràng và không điều khiển. Ta cứ học vậy thôi, từ từ tâm ta thanh tịnh. Từ từ phá vỡ hết những phiền não cấu trúc trong não ta, ta đi vào thanh tịnh. Nhưng ta không cần biết tại sao. Nhưng mà khi không biết tại sao thì trong lòng ta vẫn có cái gì đó hồ nghi nhỏ nhỏ. Còn khi ta biết tại sao như thế thì ta rất vững lòng ứng dụng pháp môn của mình.
    Bây giờ Thầy giải thích. Mình sẽ hiểu được các pháp môn khac họ tu đúng chỗ nào, sai chỗ nào.
    Theo sinh lý học về não của y học, ghi trong y văn, thì nguyên vùng vỏ não của chúng ta, mỗi vùng vỏ não gánh một bộ phận cơ thể. Toàn cơ thể phía dưới đều được phản ứng trên vỏ não. Ví dụ chân nằm ở đây, ngón chân nằm ở kia, gan, thận, phổi, lá nách, phổi, cánh tay, lưng, bụng, đùi đều nằm trên vỏ não. Bây giờ ta dùng kim chích vào vùng vỏ não đầu gối thì đầu gối đau liền mặc dù không đụng tới đầu gối.
    Hoặc là có những người bị tật nguyền mà mất chân vì lý do tai nạn, họ cứ thấy bị ngứa ngón chân cái, nhưng mà có để gãi không? Ngón chân cái không có để gãi nhưng vẫn bị ngứa, thì cái ngứa đó ở đâu? Vì vùng não của ngón chân cái còn. Vùng não bị cái gì đó nên ngứa ,nhưng nó phản ánh toàn thân là có ngón chân cái mà rờ không có chỗ nào để gãi hết. Ta hiểu như vậy, vỏ não của ta phản ánh cơ thể của ta. Nó có chức năng, trách nhiệm phản ánh toàn cơ thể của ta. Tự nhiên, bình thường và bình yên như thế.
    Ví dụ như là phần vỏ não thể hiện về cánh tay của ta mà nó được an trú nơi cánh tay của ta thì nó là thư giãn, nó bình yên. Nếu vỏ não đó buộc nó phải suy nghiệm về vấn đề khác thì nó trở nên căng thẳng dần, gọi là tâm ta động. Ta mệt, ta phải làm việc. Khi não ta làm việc nghĩa là gì? Là nó không thực hiện đúng với cái chức năng tự nhiên của nó, bắt đầu nó phải động qua vấn đề khác. Nhiều ý niệm khác đi vào. Như cái vùng đó chịu trách nhiệm về lưng nhưng vây giờ nó không chịu trách nhiệm về lưng nữa mà lúc đó đang suy nghĩ về người hàng xóm, về việc hơn thua, cãi lẫy… là nó rời khỏi chức năng đó. Gọi là não ta bắt đầu đi vào Stress, căng thẳng. Còn nếu vùng não của cái lưng mà nó phản ánh đúng cái lưng, an trú đúng cái lưng thì nó trở nên nhẹ nhàng, bình yên. Đây là mấu chốt phải hiểu được chỗ này mới hiểu sâu hơn nữa vào Thiền từ từ.

    Nói lại, một ví dụ khác. Ví dụ như một người canh trước Chánh Điện, họ ngồi đó, biết hết mọi vấn đề từ hồi nào tới giờ rồi, như là cửa trên có mấy phần, cửa dưới có mấy phân, ai đi ra đi vô đều biết hết. Nhưng bây giờ họ ngồi đó mà không cho họ canh Chánh Điện nữa, bắt họ ngồi đó tính toán kế toán của chùa, thì lúc đó họ phải mệt hơn. Còn bây giờ không tính toán, cho họ về đứng yên đó trở lại làm công việc đúng chức năng thì họ thoải mái, bình yên lại liền.
    Từng vùng não phản ánh mọi điểm trên toàn thân chúng ta, đó là mấu chốt làm cho mình định hay động. Vì thế, khi ngồi thiền mà ta an trú toàn thân, ta không nghĩ chuyện khác nữa, có nghĩa là cái vỏ não bình yên. Nó trở lại trạng thái tự nhiên của nó. Đó là bước thứ nhất để đi về phía thư giãn chứ Thầy chưa nói định. Đó là lý do tại sao ngày xưa Đức Phật bảo ta là phải cảm giác toàn thân, là để cho vỏ não trở lại đúng chức năng từng vùng của nó. Đó là công thức bí mật vô cùng. Bây giờ ta mới thấy sợ Đức Phật. Thời đó Đức Phật không thể giải thích vì khoa sinh lý học của não chưa ra đời. Nên Đức Phật dậy ta rất kỹ về điều này mà không giải thích. Đến hàng ngàn năm sau cũng không ai giải thích được. Rồi người ta bỏ luôn cái thân, vì cứ nghĩ tu tâm là nắm tâm mà tu, không ngờ rằng thân chính là gốc của tâm.

    Sự thật, khi tu hầu như không ai an trú toàn thân cho kỹ mà luôn luôn bị rời khỏi thân. Rất nhiều lần tâm ta bị rời khỏi thân. Có 3 lý do khiến tâm bị rời khỏi thân:
    – Vọng tưởng kéo ta đi, hễ động tâm là rời khỏi thân liền. Nguyên nhân này người mới tu thường hay bị.
    – Khi tâm ta bắt đầu yên, rỗng sáng làm cho ta thích thú, ta chiêm ngưỡng, ngắm và an trú trong đó, ta cũng bị rời khỏi thân. Người tu tốt cũng dễ bị mất cái thân, mà mất thân là mất cái gốc, rồi sẽ bị loạn trở lại. Nguyên nhân thứ hai này người tu lâu thường bị mắc phải, khi gặp trạng thái rỗng sáng, thích thú là bỏ thân để an trú trong đó. Mà trạng thái đó nằm trên đầu. Vì thế lâu dần lực sẽ từ từ chạy lên đầu gây Tẩu hỏa nhập ma, điên loạn.
    – Do ta không xác định vững lập trường phải an trú toàn thân. Ta còn mơ hồ về công phu là phải an trú toàn thân, tức là tâm ta lúc nào cũng phải an trú trên da của ta, không rời khỏi da. Ta không xác định lập trường rõ ràng nên bất cứ chuyện gì cũng làm cho ta không an trú toàn thân đầy đủ, vững chắc, rõ ràng, đầy đủ. Cho nên nói biết rõ toàn thân thì cũng chỉ biết hơi hơi thôi. Tâm vẫn bị để ý chỗ này, chỗ kia nên không an trú tòan thân một cách vững chắc, rõ ràng. Nhưng đừng chặt chẽ vì chặt chẽ thành ra dằn ép, nghĩa là phải thật nhẹ nhàng nhưng kỹ lưỡng.

    Câu 3: Khi nào vọng tưởng khởi lên ta phải làm gì?

    Chỉ cần trở lại an trú toàn thân, chỉ như vậy, đơn giản vậy thôi. Thật ra, ta biết được vọng tưởng để trở lại an trú toàn thân là ta đã có phước rồi nên mới sực nhớ là ta đang bị vọng tưởng để mà trở lại an trú. Còn ta không có phước thì sao? – Ta cứ đi mãi đi mãi. Nên chỗ này là nhờ cái phước mà ta gây tạo từ đời xưa cho đến đời này, ta cẩn thận từng chút một trong ý nghĩ, trong đời sống, mà đến khi vọng tưởng khởi lên ta sực nhớ mà nhớ rồi thì bắt đầu mỗi pháp môn đi theo pháp môn của mình. Người niệm Phật thì quay lại niệm Phật, người tri vọng quay lại tri vọng, hơi thở quay lại hơi thở, thoại đầu quay lại thoại đầu. Mình thì quay lại an trú toàn thân.
    Khi ta an trú toàn thân đúng rồi, ta sẽ thấy một điều tự nhiên thế này ( điều này khí công gợi ý cho ta) ta từ từ an trú nhiều ở nơi vùng da bụng. Nhưng vùng da bụng không phải là tất cả mà chỉ giống như là một sự chữa trị cho ta, lâu nay ta cứ để tâm trên đầu, mắt nhìn theo sắc, tai theo tiêng, mũi đắm theo hương, đầu ta chạy ra ngoài theo ngoại cảnh. Cho nên ta an trú toàn thân một thời gian thì từ từ ta an trú phần da bụng. Khi có kết quả Thiền định thì ta lại an trú toàn thân. Nhưng ban đầu, cái tự nhiên cả ta thường là an trú nơi bụng. Vì thế, lúc đầu ta tập khí công là để gợi ý điều đó. Khi mà tự nhiên cũng đạt như vậy.
    Ta an trú toàn thân sẽ hết vọng tưởng. Đây là điểm khác nhau của ta và các pháp môn khác. Thân là gốc của tâm. Khi ta an trú thì thân sẽ rỗng suốt, nhẹ nhàng.

    Câu 4: Tại sao phải biết thân vô thường và biết sâu xa, biết cho tới khi mà xương sau này sẽ tan thành bụi bay mất?

    Khi ta biết toàn thân thì não ta bình an lại, thư giãn lại, nhẹ nhàng lại. Nhưng thẳm sâu bên trong thì những bản năng vẫn còn nguyên vẹn. Bản năng là những ham muốn của thân, những khát vọng của cuộc sống, những cái cố chấp của tâm nó tiềm tàng là do ta chấp thân. Vì khi ta biết thân thư giãn rồi nhưng ta vẫn quý cái thân thì toàn bộ cái chấp vẫn tồn tại và phát triển. Khi biết rõ toàn thân có thể làm ta quý cái thân này. Và đây chính là chỗ khác nhau giữa đạo Phật và ngoại đạo. Ngoại đạo tu, họ cũng biết thân. Họ biết cái luân xa này, cái luân xa kia để khai mở từng luân xa nhằm đạt được quyền năng, vì vậy họ quý thân. Ngang chỗ này là phân biệt ra đạo Phật với ngoại đạo liền. Tại sao khác nhau giữa Thiền và Yoga, khí công của ngoại đạo. Cũng là chỗ này. Ta biết thân, ta quý thân, ta biết huyệt này huyệt kia, ta trở thành ngoại đạo. Ta biết thân nhưng biết thân này là vô thường thì lần lần ta phá tan hêt những bản năng, những cố chấp trong thẳm sâu, trong tâm hồn mình, trong cuộc đời mình luôn.
    Ví dụ như thế này, Thầy nói một cái ngặt nghèo nhất của người tu là vấn đề ái dục. Ái dục nó là bản năng tự nhiên. Nó mãnh liệt ghê lắm, không có gì cản lại được. Nhưng nếu ta ngồi Thiền ta thấy thân vô thường thời gian dài dài… thì những cái đó mất. Bắt đầu ta mới thấy được cái như Đức Phật nói là ví dụ như một người nam nhìn một người con gái đẹp, ta không hề quán họ là vô thường, không hề quán họ là bất tịnh, không cần, ta chỉ quán chính ta. Ta chỉ quán chính ta là vô thường. Nhưng bây giờ người con gái đẹp xuất hiện là mìn nhìn ra: người này đẹp như thế nhưng rồi nhan sắc họ sẽ tàn phai, tánh tình họ sẽ thay đổi, họ nhăn nheo, già nua. Ngày hôm nay thấy vậy ngày hôm sau nhìn khác. Hôm nay nhìn thấy người dịu dàng, bóng áo nâu in trên đường trăng, nhưng ngày mai nhìn thành ác quỷ không hay. Mọi chuyện trên đời là vô thường, thay đổi.
    Mà nhìn cái đó xuất hiện chính là do ta quán thân vô thường, khi cái bản năng của ham muốn hết thì mình nhìn vấn đề ra rất là rõ và nhìn trùng hợp như Đức Phật đã dạy trong kinh. Nên cái quán thân vô thường lâu ngày nó phá dần các bản năng của ta hết. Và trong cái không chấp thân đó sẽ mở ra những cánh cửa trí tuệ, đi sâu vào tâm thức, phá những thói hư tật xấu, những bản ngã của ta. Những cái ngày xưa ta tham bây giờ hết tham, những cái ngày xưa ta sân bây giờ hết sân. Rất là vi diệu. Cho nên Thầy nói bước thứ nhất mà biết rõ toàn thân làm cho não chúng ta trở lại đúng chức năng, thư giãn.
    Và nếu ta không thấy thân vô thường, ta quý thân thì những bản năng tiềm tàng vẫn nằm trong đó. Tuy thư giãn mà trong người đầy tham muốn thì vẫn ẩn chứa một sự sa đọa dữ dội về sau. Còn ta biết rõ toàn thân, rồi biết thân vô thường thì nó mất dần và hết luôn. Mà cái biết toàn thân luôn đi đôi với thân vô thường. Biết vô thường là biết đến mức độ nào? – Là biết tới khi thấy xương tan thành bột bay đi mất luôn. Luôn luôn phải biết cho tới cái đó, chứ không được biết một cách cạn cợt. Biết như vậy mới phá được cái chấp sâu thẳm trong bản năng ta được. Khi mới bắt đầu, ta phải mất vài phút để quán cho thật kỹ nhưng sau này, chỉ thoáng một sát na thôi là sẽ thấy suốt quá trình đó liền.

    Câu 5: Tại sao biết hơi thở mà không điều khiển?

    Khi thần kinh thở được hưng phấn thì những vùng thần kinh não khác tự nhiên đi vào ức chế. Nghĩa là khi ta chú ý thở tự nhiện thì não không động tâm vì những chuyện khác, tự nhiên nó vào định. Ngành y học và thần kinh não đã phát hiện ra điều đó, rất phù hợp với Thiền cùa đạo Phật, cũng như với Yoga và khí công của Trung Hoa. Nhưng Yoga của Ấn Độ và khí công của Trung Hoa đều thua Thiền của đạo Phật ở chỗ là Thiền của Đạo Phật chỉ biết hơi thở mà không điều khiển.
    Hơi thở phản ánh hoạt động của tâm thức. Ví dụ như ta động tâm những vấn đề bình thường thì hơi thở nó sẽ thở như thế. Ta căng thẳng tập trung thì hơi thở nó sẽ mạnh như thế, nếu ta có thêm cảm xúc, sợ hãi, thương ghét, hơi thỏ sẽ càng thấy rõ hơn nữa. Tức là mọi hoạt động của tâm thức được biểu hiện qua hơi thở. Vì vậy, khi ta biết hơi thở tức là ta biết hoạt động tâm thức ta. Ta không cân nhìn trực tiếp vào tâm ta đang vui hay đang buồn mà chỉ cần biết hơi thở ra vào thế nào là ta đang biết tâm của ta. Khi thở nhẹ nhàng, bíết tâm đang yên dần, khi hơi thở mạnh, biết tâm đang động.
    Bây giờ nói ta thấy hơi thở mạnh nên kìm lại cho tâm êm lại, được không? Đó chỉ là cách chữa trên ngọn. Giống như nói tay mình thiếu đường chỉ này nên nghèo, lấy dao cắt một cái cho nó giầu vậy. Cho nên, hơi thở là biểu hiện của tâm, nhưng không phải là ta ép, điều khiển hơi thở mà làm tâm hết vọng tưởng. Đúng là kiềm chế hơi thở thì tâm yên, nhưng một nguy cơ thứ hai phát sinh, đó là sự tăng trưởng bản ngã. Cái ý điều khiển hơi thở sẽ làm tăng trưởng ngã chấp. Nên người mà ta thấy họ tu điều khiển hơi thở trong khí công hay Yoga ta thấy bản ngã họ tăng lên dần dần.

    Còn những người khi thấy hơi thở mạnh, liền biết tâm mình động. Chỉ cái biết đó thôi là như đã sám hối rồi, nên chỉ lát sau hơi thở tự dịu lại, ta không điều khiển. Như vậy, tâm thức cũng giảm động mà không tăng trưởng bản ngã. Cái ưu việt của việc biết mà không điều khiẻn hơi thở là làm tâm thức lắng xuống mà không làm tăng trưởng bản ngã. Mấu chốt nằm ở chỗ này. Đó chính là lý do mà tại sao Phật dậy ta: “Hơi thở dài biết dài, hơi thở ngắn biết ngắn, hơi thở ít biết hơi thở ít, hơi thở nhiều biết hơi thở nhiều”. Chỉ cái biết đó thôi là đã điều chỉnh được tâm thức, còn nếu ta điều khiển, bản ngã tăng trưởng dần dần liền.
    Những điều sâu xa trong việc tu tập như thế này là ưu việt của đạo Phật. Chúng ta may mắn được làm đệ tử của Đức Phật, có nói thế nào cũng không bày tỏ được hết lòng biết ơn của chúng ta với Đức Phật.
    Qua một thời gian tu tập thì ta được rỗng suốt từ thân tới tâm. Lúc đó, những vọng tưởng manh nha thì ta biết hết. Tới chỗ này mới biết được cái tri vọng của Hòa thượng Thanh Từ. Mỗi pháp môn giao nhau ở chỗ tri vọng. Tu đúng rồi vọng tưởng khởi biết liền. Nhưng dù biết vọng tưởng rồi, nhớ đừng rời khỏi thân vì lúc đó nó nhử ta.

    Khi công phu của ta vững rồi, rỗng suốt rồi thì ta sẽ bị hai nhược điểm là lúc đó mình rời khỏi thân mình để chiêm ngưỡng sự rỗng rang đó. Lúc đó ta rời khỏi cái thân là ta vi phạm nguyên tắc căn bản thứ nhất. Nghĩa là sao? Là não của ta lúc đó không còn an trú đúng chỗ của nó nữa. ta nhì cái rỗng, không để ý cái thân nữa, bắt đầu sai.

    Cái thứ hai nữa là ta thích thú, ta quan sát cái vọng tưởng vì nó nhớm nhớm rồi tan biết liền làm ta rất thích thú cái công phu đó. Vọng tưởng tế vừa mới phát triển, ta thấy là phải buông liền. lúc đó ta không rời thân để nhìn tâm. Nó sẽ dụ ta nên hãy nhớ là nhiều lúc xuất hiện trạng thái rỗng suốt rồi những vọng tưởng vi tế xuất hiện, ta thấy, ta phát hiện ngay từ đầu thì chớ dại mà bỏ thân mình. Tiếp tục biết rõ toàn thân, biết thân vô thường, biết hơi thở vào ra mà không điều khiển. Cứ như vậy mà đi, giống như mũi thuyền phía trước nhưng mình điều khiển thuyền thì mình cầm cái bánh lái đằng sau. Đừng thấy mũi thuyền đi phía trước qua những thác những ghềnh, những qua bãi hoa đẹp thì ta đi điều khiển mũi thuyền. Ta ta có biến chuyển qua bao nhiêu trạng thái thì kệ nó, ta chỉ cần biết thân. Biết thân vô thường, biết hơi thỏ vào ra mà không điều khiển.

    Khi ta an trú toàn thân thì ta còn hơi chấp thân, khi ta biết thân vô thường thì trong thẳm sâu của thân ta tự nhiên buông lỏng, buông chấp ra là nhẹ liền. An trú thân là an trú tâm rồi, nhưng mà mình biết thân vô thường thì mức an trú sâu hơn, làm ta lỏng tâm ra liền. Khi tâm bắt đầu thanh thảnh thì ta thấy hơi thở vào hơi thở ra. Lúc này khi biết hơi thở rồi thì luôn luôn tự nhiên nó phải điều khiển. Đó là bệnh tự nhiên của chúng sinh, khi điều khiển hơi thở thì ý chí tăng lên và bản ngã cũng tăng lên. Người tu tập nhiều mà có điều khiển hơi thở thì sinh ra nóng nẩy. Vì vậy, ta thấy hơi thở nhưng không điều khiển. Nhưng nếu chỉ biết hơi thở thôi là một sai lầm. Đây là cái sai của rất nhiều bậc đạo sư trên thế giới. Khi ta thấy hơi thở hiện ra và ta chỉ còn biết có một hơi thở mà quên mất cái thân, ta sai liền. Nói gì thì nói, ta vẫn có điều khiển, mà muốn không điều khiển thì phải biết rõ toàn thân, biết thân vô thường, trong đó có biết hơi thở thì lúc đó ta mới biết hơi thở vào ra một cách thanh thản, tự nhiên mà không điều khiển.

    Câu 6: Trong đời sống hàng ngày nếu phải lao tác, sắp xếp, tính toán thì phải dụng công thế nào?

    Trước tiên cần nhắc lại là người tu thiền phải có ba nền tảng vững chắc: ĐẠO ĐỨC – PHƯỚC ĐỨC – KHÍ CÔNG

    Bây giờ mọi người nhìn Thầy, hướng về Thầy thì tâm hướng về đâu? Tất nhiên là hướng về Thầy, nhưng mọi người phải để lại một cái tâm ở nơi cái thân cho Thầy, nhẹ nhàng biết là đang giữ tâm lại ở thân. Khi mình bước vào làm việc, hoặc nghe người ta nói chuyện, tai vẫn nghe, miệng vẫn nói chuyện nhưng vẫn có cái tâm ở lại nơi thân mình.

    Trong đời sống hàng ngày, ta phải dụng công như thế. Trong sổ nhật trình, ta ghi ngày hôm nay, trong khi làm việc mình đã ở lại với thân mình được nhiều hay ít hay luôn luôn bị mất, bị gián đoạn, bị hoàn cảnh lôi kéo, tác động. Làm sao mà suốt ngày, khi ăn cơm, khi nói chuyện mình vẫn giữ được một cái tâm nơi thân cho mình. Còn khi không có việc gì hết thì sao? Thì an trú thân hoàn toàn, thanh thản. Và luôn biết thân vô thường, hễ biết toàn thân là phải biết thân vô thường. Nếu công việc căng thẳng thì có một cái tâm biết thân. Nếu công việc không căng thẳng thì thêm ý niệm thân vô thường, còn nếu không có công việc thì hơi thở hiện ra luôn, giống như lúc ngồi thiền. Khi ngủ cũng như vậy. Trước khi ngủ ta có vài tâm nguyện gì đó tùy mỗi người rồi an trú thân và thấy hơi thở vào ra không điều khiển.

    Câu 7: Kết quả Thiền định bắt đầu từ đâu?

    Kết quả bắt đầu từ đâu. Mà sự thật do tâm, tâm an đến mức độ nào đó thì kết quả hiện ra nơi thân. Ở câu này, ai tu tới đây thì sẽ biết, sau đó nói Thầy nghe. Thầy không nói. Ta nghe người nào nói họ tu Thiền đạt tâm thế này thế kia mà không nói về kết quả của thân, ta biết người này đi lạc hướng, không có căn bản.

    TT.THÍCH CHÂN QUANG (Thiền tôn Phật Quang)

  8. huong nói:

    Thưa bác, con năm nay 17 tuổi , con mới biết trang này của bác không lâu mà sao con thấy hứng thú muốn tìm hiểu quá bác ơi, con có thể bắt đầu từ đâu vậy bác?

    • BS Phạm Doãn nói:

      Dear Hương
      Con còn nhỏ tuổi quá! Cứ để từ từ…
      Có lẽ kinh Pháp Cú là kinh đơn giản dễ hiểu cho người mới vào
      Đừng vội tin cái gì. Nên tập suy nghĩ và biết so sánh
      Nếu quá háo hức hay say mê trong lãnh vực này, con sẽ đi lạc và không còn cơ hội tìm tháy lối ra.
      Tôn giáo là con dao hai lưỡi. Cẩn thận khi bắt đầu!


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 87 other followers