- Pháp Môn Tịnh Độ trong kinh điển Pali

Đại Đức Uyên Minh

Người Phật tử Việt Nam xưa nay thường biết đến khái niệm Tịnh độ qua các kinh nói về Phật Di Đà (Amitàbhasutra và Sukhavativyùhasutra) từ Hán tạng, vốn được phiên dịch từ kinh điển Sanskrit. Ở đó, cõi Tịnh độ hay Cực lạc (Phạn ngữ Sukhavatì) được mô tả là cảnh giới tuyệt vời với tất cả những sự thù thắng, trang nghiêm. Con đường dẫn đến cõi này có thể chỉ gói gọn trong công phu trì niệm hồng danh Phật Di Đà. Ngoài sự thanh tịnh có được từ việc nhất tâm niệm Phật Di Đà, oai lực của Ngài cũng thừa sức tiếp dẫn vong linh người niệm Phật vãng sinh về thế giới Tịnh độ để họ tiếp tục tu hành trong điều kiện thuận lợi hơn xưa gấp triệu lần. Cõi ấy giữa người với người không hề biết tương tranh, thù hận vì ở đó không có chuyện chiếm hữu lợi danh như ở cõi Ta bà nhiều kiếp nạn này.
Nhưng đó là theo kinh điển Hán tạng, nguồn giáo lý chủ đạo của Phật giáo Bắc truyền. Trong bài viết này ta thử tìm hiểu vấn đề qua kinh điển Pàli, nguồn giáo lý căn bản của Phật giáo Nam truyền. Dĩ nhiên, trong Tam tạng Pàli cũng có khái niệm Tịnh độ (nếu ta muốn gọi thế) với những trình bày thật rõ ràng về cảnh giới này, những cư dân ở đó và con đường dẫn đến cảnh giới Tịnh độ, tức phép cầu vãng sanh theo kinh điển Nam truyền.
CÕI TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI
Trước hết, cõi Tịnh độ được biết đến trong kinh điển Pàli qua danh từ Suddhàvàsa, còn được dịch là Tịnh cư, theo lối chiết tự Suddha (thanh tịnh) và Àvàsa (chỗ ở). Vậy Suddhàvàsa cũng có thể được dịch là Tịnh độ, Tịnh thổ. Thậm chí chữ Pàli này còn gần gũi với chữ Tịnh độ, Tịnh thổ hơn là Sukhavati (chốn An lạc), một chữ chỉ có thể xem là tương đương với từ Sugati (Lạc cảnh, Thiện thú) trong kinh điển Pàli, chỉ chung cho các cõi nhân thiên.
Theo các chú sớ A Tỳ Đàm, có tất cả 5 cõi Tịnh độ, nằm trong 16 cõi Phạm thiên Hữu sắc, và là chỗ tái sanh của các bậc Thinh văn Bất lai hay còn gọi là A na hàm (Anàgàmi người không còn trở lại các cõi dục giới). Tuy cảnh giới này chỉ gồm toàn các vị Bất lai và La hán (chứng A la hán sau khi sanh về đây), nhưng trên căn bản vì vẫn là cõi Hữu sắc nên ở 5 cõi Tịnh độ này vẫn có những lâu đài, hoa viên rất trang nghiêm, dĩ nhiên không phải là nơi chốn hưởng thụ, mà đó chỉ là những dấu vết tối thiểu của một cõi Ngũ uẩn (1). Về tuổi thọ, chư Thánh Bất lai ở cõi thấp nhất trong 5 cõi Tịnh độ là cõi Vô phiền (Avihà) có thọ mạng 1.000 đại kiếp, kế đến là cõi Vô nhiệt (Àtappà) có thọ mạng 2.000 đại kiếp, cõi thứ ba là Thiện hiện (Sudassà) có thọ mạng 4.000 đại kiếp, cõi thứ tư là Thiện kiến (Sudassì) có thọ mạng 8.000 đại kiếp và cõi Sắc cứu cánh (Akanittha) có thọ mạng 16.000 đại kiếp.
Do có những lúc trải qua một thời gian dài không có chư Phật ra đời độ sinh nên dân số trên 5 cõi Tịnh độ chỉ có giảm mà không được bổ sung, do vậy cũng có những thời điểm 5 cõi này không tiếp tục tồn tại.
CƯ DÂN TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI
Trước tiên là trình bày đại lược về 4 tầng Thánh trí làm nên 4 bậc Thánh nhân và chính Đức Phật cũng được kể vào đó. Sơ quả hay Tu đà hoàn (Sotàpatti, Dự lưu), còn được gọi là Thất lai, người không thể tái sanh quá 7 lần, là vị đã chấm dứt hoàn toàn 3 thứ phiền não thân kiến ( nôm na là chấp kiến trong 5 uẩn), hoài nghi (nghi ngờ về Phật pháp nói chung) và giới cấm thủ (chấp trước các tín điều mù quáng). Ở một số vị, thánh trí Sơ quả chỉ là một giai đoạn thoáng qua trước khi hoàn tất các tầng thánh trí cao hơn. Như trường hợp Đức Phật hoặc các vị Thanh văn tốc chứng. Nhưng cũng có lúc giai đoạn này kéo dài trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều năm hoặc vài kiếp sống (dĩ nhiên không quá 7 kiếp). Sớ giải Trường Bộ ghi rằng Thiên vương Đế Thích hiện nay là một vị Thánh Sơ quả. Khi hết tuổi thọ, ngài sẽ sinh xuống nhân gian làm Chuyển luân vương và chứng đắc Nhị quả Tư đà hàm. Sau đó sanh lên Đao Lợi thiên chứng Tam quả A na hàm và lần lượt tái sanh ở đủ 5 cõi Tịnh độ, bắt đầu là cõi Vô phiền, cuối cùng ngài sẽ chứng quả La hán và nhập diệt ở cõi Sắc cứu cánh.
Tầng Thánh trí thứ hai là Nhị quả Tư đà hàm. Ngoài 3 phiền não đã chấm dứt ở tầng thánh trước, quả vị này còn làm giảm nhẹ dục ái và sân hận. Do chỉ còn có thể tái sanh cõi Dục giới một lần nữa thôi, nên quả vị này còn được gọi là Nhất lai (Sakadàgàmì).
Tầng Thánh thứ ba là Tam quả A na hàm (Anàgàmi), nghĩa là bậc Bất lai, người không còn trở lui các cõi dục giới nữa (có tất cả 11 cõi Dục giới). Theo A Tỳ Đàm tạng Pàli thì do đã chấm dứt dục ái (niềm tham luyến trong ngũ trần) và sân hận nên vị Thánh Tam quả trong trường hợp không thể chứng La hán rồi nhập diệt ngay đời này thì có hai con đường để đi:
Nếu đã chứng đắc Ngũ thiền thì sẽ tùy theo khả năng mạnh yếu của Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ mà sanh về một trong năm cõi Tịnh độ. Tín  nổi trội thì sanh về cõi Vô phiền, Tấn hùng hậu thì về cõi Vô nhiệt, Niệm hùng hậu về cõi Thiện hiện, Định  hùng hậu thì về cõi Thiện kiến, Tuệ  thâm hậu thì sanh về cõi Sắc cứu cánh (Pàli gọi là Akanittha, Không thứ gì yếu kém). Ở cõi Tịnh độ thứ năm này toàn bộ Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ đều được sung mãn; vì đây là nơi chốn sau cùng để một vị Bất lai chứng quả La hán và nhập diệt.
Trong trường hợp vị Thánh Bất lai chưa chứng qua một tầng thiền định nào, tức chỉ có trí tuệ Thiền quán (Vipassanà) mà không từng tu tập Thiền chỉ (Samatha) thì lúc mạng chung, vị này do khả năng ly dục vô sân tuyệt đối nên tối thiểu cũng thành tựu Sơ thiền trước khi mạng chung ở cõi Dục giới và như vậy cũng đủ để sanh về cõi Phạm thiên thấp nhất là Phạm thiên Sơ thiền.
Do túc duyên và trình độ tu chứng có khác nhau nên giữa các bậc Thánh Tam quả cũng có vài sai biệt. Theo Manorathapurani, Chú sớ Tăng Chi Bộ (phần Tika):
– Antaràparinibbàyì (Tiền bán Niết bàn): Vị Bất lai chứng La hán khi chưa sống hết phân nửa thọ mạng ở cõi Tịnh độ nào đó trong 5 cõi.
– Upahaccaparinibbàyì (Hậu bán Niết bàn): Chứng La hán sau khi sống hơn nửa thọ mạng ở cõi Tịnh độ nào đó.
– Uddhamsoto Akanitthagàmì (Luân lưu Niết bàn): Do căn tánh không xuất sắc, có vị Bất lai phải lần lượt sanh đủ 5 cõi Tịnh độ mới chứng quả La hán rồi nhập diệt ở cõi Tịnh độ cao nhất.
– Asankhàraparinibbàyì (Bất lao Niết bàn): Vị Bất lai có thể chứng La hán mà không cần nhiều cố gắng.
– Sasankhàraparinibbàyì (Cần lao Niết bàn): Vị Bất lai phải nhiều nỗ lực mới có thể chứng La hán.
Tầng Thánh trí thứ tư chính là quả vị La hán, người chấm dứt toàn bộ phiền não. Theo A Tỳ Đàm Pàli thì có 3 quả vị La hán: Chư Phật Chánh Đẳng Giác (Sammàsambuddha hay Sabbannubuddha- Toàn Giác) cũng là những vị La hán nhưng do tự mình chứng đắc và là đạo sư hướng dẫn cho những người hữu duyên chứng đắc La hán. Những vị La hán đệ tử này được gọi là Thanh văn giác (Sàvakabuddha). Quả vị La hán thứ ba là Độc Giác Phật (Paccekabuddha), những vị tự mình chứng ngộ La hán nhưng không thể hướng dẫn người khác chứng ngộ La hán. Kinh điển Hán tạng còn gọi Độc Giác Phật là Duyên Giác Phật vì cho rằng các Ngài nhờ liễu ngộ nguyên lý Duyên khởi mà giác ngộ (cách nghĩ này bắt nguồn từ những giai thoại về chư Phật Độc Giác trong Chú sớ Tiểu Bộ Kinh, một trong những bộ phận kinh điển làm nền tảng cho nhiều kinh luận hậu tác, đọc kỹ các bộ A Hàm sẽ thấy rõ điều này). Kỳ thực, nếu đọc kinh Đại Duyên trong Trường Bộ kinh, ta sẽ thấy lý Duyên khởi và lý Tứ đế (vẫn bị hiểu lầm là dành riêng cho Thanh văn) vốn dĩ chỉ là một. Trong Trung Bộ kinh, Đức Phật đã xác định ai thấy lý Duyên khởi chính là thấy Pháp và ngược lại. Đồng thời, không hề có chuyện một người giác ngộ lý Tứ đế mà lại mơ hồ về lý Duyên khởi hay ngược lại. Tất cả quả vị La hán vừa nêu trên đây luôn giống nhau về khía cạnh giác ngộ các pháp cần yếu (như Tứ đế, Duyên khởi…), chỉ khác ở hai điểm chính: Tự mình hiểu ra hay phải nhờ thầy hướng dẫn và điểm thứ hai là ngoài trí tuệ giác ngộ còn có khả năng hiểu biết sâu rộng những gì nằm ngoài lý tưởng giác ngộ hay không. Xét về khía cạnh này, chỉ có chư Phật Chánh Đẳng Giác là viên mãn. Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng ta chỉ đặc biệt nhấn mạnh quả vị Bất lai, vì đề tài ở đây là các cõi Tịnh độ.
PHÉP VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI
Vãng sanh vẫn được dùng song song với chữ siêu sanh, nhưng theo tinh thần A Tỳ Đàm Pàli thì siêu sanh còn có thể được hiểu là vượt thoát tái sanh, một điều chỉ thực hiện được bởi một vị La hán. Như vậy trong trường hợp vị Bất lai sanh về các cõi Tịnh độ chỉ có thể gọi là vãng sanh. Và nếu phải trả lời câu hỏi về con đường vãng sanh Tịnh độ, thì như tất cả những gì vừa nêu trên, ta hoàn toàn có thể nói rằng vãng sanh Tịnh độ chỉ là một phần đường trên hành trình giải thoát của một vị Thanh văn, và như thế pháp môn Tịnh độ hay con đường vãng sanh trong trường hợp này cũng đồng nghĩa với hành trình Tam học, Tứ niệm xứ, Bát chánh đạo, nói chung là hành trình 37 Bồ đề phần. Các pháp trong 37 Bồ đề phần đối với nhau chỉ là mối quan hệ tương tức; cái này chính là cái kia, trong cái kia có cái này.
Như vậy, lời đáp cho câu hỏi về con đường vãng sanh là toàn bộ những gì mà ta vẫn gọi là Phật pháp và theo cách hiểu này, pháp môn Tịnh độ cần thiết cho tất cả mọi người. Đồng thời, chiếu theo tinh thần căn bản của Phật giáo mà nói thì khi nhắc đến pháp môn Tịnh độ, cầu vãng sanh không hề có nghĩa là chờ đợi sự tiếp dẫn của bất cứ ai, mà phải là sự lên đường bằng chính đôi chân của mình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Theo A Tỳ Đàm Pàli, trong cái gọi là thế giới này gồm có 31 cõi với 11 cõi Dục giới (có đủ 5 uẩn), 16 cõi Sắc giới (trong đó có cõi Vô tưởng, chỉ có Sắc uẩn mà thôi), và 4 cõi Vô Sắc ( chỉ có 4 uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức).
(2) XIN XEM THÊM TRONG CÁC SÁCH ABHIDHAMMATTHASANGAHA (thắng PHÁP tập yếu luận, bản dịch của NGÀI MINH CHÂU), THE ESSENCE OF BUDDHA ABHIDHAMMA của GIÁO SƯ MEHM TI MON, CHÚNG SANH VÀ SINH THÚ của NGÀAI JOTIKÀCARIYA (bản tiếng việt của toại KHANH)…

Ý kiến riêng

Đức Phật Gautama có mô tả về những cõi tịnh độ (theo như ghi chép lại của kinh tạng Pali).

Có tất cả năm cõi tịnh độ trong vũ trụ quan đạo Phật.

Cõi tịnh độ là cõi sắc, nghĩa là giống như cõi vật chất của loài người, nhưng trong sạch thanh tịnh.

Năm cõi tịnh độ nằm trong 16 cõi Sắc của Phạm Thiên.

(Theo A Tỳ Đàm Pali có 31 cõi mà ta có thể tái sanh. Gồm 11 cõi dục, 16 cõi sắc và 4 cõi vô sắc)

Đức Phật diễn tả ý nghĩa “thanh tịnh” bằng chữ Suddhàvàsa, còn được dịch là Tịnh cư.

Theo chiết tự:  Suddha (thanh tịnh) và Àvàsa (chỗ ở).

Cõi Tịnh Độ trong kinh tạng Pali nguyên thủy là cõi trung gian cho những trường hợp gọi là Vãng sanh.

Một phật tử tu tập theo chánh pháp mà chưa đến quả vị tối thượng A La Hán, ví dụ như các quả vị Tu Đà Hoàn , Tư đà Hàm và A na hàm, thì khi chết các vị ấy tạm thời vãng sanh về những cõi tịnh độ này.

Cõi Tịnh Độ, mà Đức Phật nói đến, không dành cho những người chỉ niệm Nam mô A Di Đà Phật

Sáu trăm năm sau khi Phật nhập diệt, ở Trung quốc có nói đến một cõi Tịnh độ dịch từ chữ Sukhavatì (sanskrit)

Sukha ngoài nghĩa happiness còn hàm nghĩa pleasure!

Cõi Tịnh độ trong tư tưởng Trung quốc được mô tả bằng lầu vàng, gác ngọc, mặt đất bằng kim cương và nhiều hơn nữa…

Những mô tả này rất xa lạ với tâm thức của một người đã giải thoát dục vọng vật chất.

Như vậy cõi tịnh độ theo tư tưởng Trung quốc không phải là cõi Tịnh Độ mà Đức Phật đã nói đến!

BS. Phạm Doãn



6 phản hồi on “- Pháp Môn Tịnh Độ trong kinh điển Pali”

  1. Kan nói:

    Thưa chú Phạm Doãn,

    Con cũng nghĩ như chú, rằng truyền thống Tịnh Độ mang màu sắc TQ có trí tưởng tượng quá phong phú! :-)

    Phương pháp của truyền thống này, theo như con biết, ngắn gọn là “Tín – Hạnh – Nguyện” cộng với “Niệm danh hiệu Phật A di đà tới nhất tâm”.

    – Công thức Tín – Hạnh – Nguyện cũng được. Đáng tiếc là không thấy Trí, hay Tuệ ở đây! Nghĩa là không cần chút suy tư, suy nghĩ, tìm tòi, băn khoăn, thắc mắc… nào cả. Khá giống với lối học kiểu Nho giáo TQ chú nhỉ! :-)

    – Vấn đề “niệm danh hiệu Phật” mà truyền thống này đề cao, con thấy rằng tự nó đã mâu thuẫn rồi! Nói rằng Phật A di đà là Vô lượng quang, Vô lượng thọ, Vô lượng từ bi v.v. nhưng tại sao phải niệm tên ngài thì ngài mới tiếp dẫn? Những ai không niệm, hay không biết tới ngài để niệm, thì ngài không tiếp dẫn hay sao? Nếu vậy thì ngài quá vị kỷ rồi chứ từ bi chỗ nào! Ngược lại, nếu không niệm ngài vẫn tiếp dẫn thì cần gì niệm nữa! :-)

    Tóm lại là, con thấy truyền thống Tịnh Độ này cũng có những cái tốt nhất định. Nhưng mà, nếu gọi đó là đạo Phật, thì con nghĩ là không phải!

    Con kính chúc chú và gia đình an lành!

    Trân trọng.

  2. Minh Trường nói:

    Nam mô bổn sư thích ca mâu ni phật . Tôi đồng ý quan diểm của mọi người , Nếu có ai đó nói là Phật A Di Đà ko có lý lịch thì thật sự là khó giải thích lắm , tôi đã từng chứng kiến có vị sư tụng Kinh mà ko cần niệm dang hiệu Đức Phật mà chỉ cần niệm A Di Đà , giống y chang PG của người Hoa ở chợ lớn , cũng vậy
    Và Tịnh Độ tông quên mất phần quan trong nhất chính là dòng Nghiệp , chứ ko phải chỉ Tụng và Niệm , Theo tôi thì đây là Tác ý của người TQ muốn PG là của riêng họ , khi phát hiện điều này tôi thật sự cảm thấy rất buồn cho những người đã bỏ nhiều công sức để hành mà ko có kết quả
    Nói ra điều này tôi ko có ý báng bổ hay có sự phân biệt đối xử , mà chỉ muốn chỉ ra cái thấy của chính mình .

  3. cannguyen nói:

    Theo ý kiến của tôi thì tất cả các pháp môn tu tập của các Tôn giáo có trên thế giới đều liên quan đến vấn đề năng lượng của vũ trụ.Sự tập trung tinh thần là vấn đề cần thiết.Sư tập trung càng cao thì kết qủa càng lớn.Một hoc sinh cũng vậy .Người tu hành cũng thế.Cái đầu của chúng ta không thể là một cái máy vừa phát vừa thu.Khi thu là ở tình trạng tập trung.Khi phát là tình trạng ý nghĩ đang phóng xuất đi đâu đó…Các pháp môn tu tập cũng vậy.Khi chúng ta đưa được tinh thần quay về trạng thái vô niệm hay nhứt niệm ,khi đó cái đầu là một cái máy thu.Năng lượng của vũ trụ hay thanh khí sẽ chạy vào cơ thể ta từ bộ đầu.Cái nguồn năng lựơ ng đó sẽ sửa chữa và tích lũy là một nguồn điện sinh học có thể làm rung động các trung tâm lực(theo cách nói cua một số pháp môn) hay có thể kết nối các nơ-ron thần kinh(nên biêt rằng môt nhà Bác học mới sử dụng 10% nơ ron thần kinh trong số 14 đến 17 tỷ tế bào đó).Các tế bào thần kinh đó chứa gì ?Các thông tin được lưu giữ từ nhiều đời nhiều kiếp ?Là tàng thức chứa đựng các điều tốt lẫn điều xấu?Là nghiệp của tất cả các chúng sinh?Tại sao niệm Phật, trì chú,hành thiền….có thể tiêu trừ được được nghiệp chướng ?Tại sao gọi là Bạch tịnh thức?
    Trên thế giới không ít các trường hợp phát sinh một số người có khả năng đặc biệt như tiên đóan,nhìn thấy người cỏi âm,nhìn thấy nội tạng,nhìn thấy quầng sáng tâm linh của con người?.v..v..sau môt tai nạn…Còn trong Tiên đạo thì nói đến ngũ thông,đao Phật thì lục thông.Tất cả các công năng đặc dị đó là kết quả của cả một tiến trình tu tập đúng phương pháp của các tôn giáo..nhằm mở mang trí tuệ mà các sự thấy biết của họ là thực sự khác bịệt với người thường.Cái gì làm nên điều đó ? Có phải chăng là nguồn năng lượng thanh sạch của vũ trụ đã được thu hút vào cơ thể đốt cháy nghiêp chướng ,hòan thiên bản thân,kết nối các tế bào thần kinh từ đó mới cho ta một trí tuệ,một sự thấy biết như thật.Về phương diện này thì có nhiều cấp độ tùy theo sự hành trì và tu tập của mỗi một cá nhân.

    • Minh Trường nói:

      Bổ sung :D ! Chào a canguyen mục đích của PG là giải thoát chứ ko phải là Tu Tiên và càng ko liên quan gì đến năng lượng cả , nếu có đó chính là phần thưởng của quá trình Tu Tập , điều này ko dc khuyến khích . Thử hỏi nếu có công năng đặc dị như a nói mà ko hiểu đạo thì đó là điều nguy hiểm ( Giống như tt nghiên cứu tiềm năng con người đó a )
      Mà muốn giải thoát thì bắt đầu từ việc tìm hiểu về chính bản thân mình ( Kinh đại niệm xứ ) hiểu dc bản thân mình thì sẽ hiểu dc mọi điểu , còn nếu lấy khoa học làm cơ sở để giải thích PG thì lại càng khó hiểu hơn , XL a nhé tôi ko có ý gì đâu , nio1 ra điều này chảng qua là nếu có ai đó đọc dc thì sẽ có cái nhìn đúng hơn thôi , rất mong dc trò chuyện cùng a . Nếu a có hứng thú với Thiền Samatha thì mời a về Chùa Phật Bảo vào ngày 1/1 dương lịch có khóa Thiền 10 ngày đó
      Thân chào a

    • PHUOCPHANT nói:

      Bạn cannguyen mến,
      Thiền để làm cho bản ngã (cái tôi) hay hơn, sống lâu hơn, giỏi hơn, vào thiên đàng, cực lạc, an tịnh hơn, có năng lượng phát khí prana cao…là loại thiền tham ái. Khi còn cái ngã thì cái ngã sẽ bị vùi dập bất kỳ lúc nào bởi nhân quả và vô thường. Mình đã thưởng thức hương vị của các loại thiền đó, chẳng hay ho đâu. Raja Yoga = Khí Công = Nhân điện là hoàn toàn như nhau về phương pháp thu và phát năng lượng, khai mở huyệt, luân xa. Cái khác là cách thức dùng ý để quán tưởng như thế nào mà thôi.
      Còn tịnh độ tông là môn phái tệ nhất trên đời, tu theo là bại cả đời người. Những người tịnh độ tông rất là ngu và dốt Phật Pháp, nói thẳng luôn mà ko sợ sai. Phật A di đà là loại Phật của Tưởng (tưởng tượng), cái tai hại là Tưởng không phản ánh đúng sự thật Vô Thường, Vô Ngã, Khổ. Có những câu hỏi mà tôi nêu ra thì là bí lù hết, đây là dành cho Tịnh Độ:
      1) Có ai đến Tây Phương rồi về đây cứu độ quả địa cầu này chưa? Bạn phải thành thật mà nói, không dùng mấy sách xạo dịch từ tiếng Tàu? (xứ nổi tiếng lừa gạt, làm hàng giả)
      2) Đố thầy tịnh độ nào mà đạt “nhất tâm bất loạn” khi niệm phật? Những kẻ ngu đần đã không biết rằng nhất tâm (An CHỉ định) là trình độ định lực của Sơ Thiền, còn niệm Phật chỉ đạt Cận Định là tối đa. Quảng cáo ngu ngốc không có cơ sở của Tam Tạng Kinh mà tin như vậy thì thiệt là bị lừa gạt mà không hay.
      3) Hãy thực nghiệm chính mình, lúc mà mình đang bị trọng bệnh, lê lếch ngồi dạy không nổi thì niệm Phật nổi không? Ngu đần như vậy thì làm sao mà khi hấp hối niệm Phật cho nổi.
      4) Cái ông già A di đà vô lượng thọ đó là biểu tượng giả dối. Ai là vô lượng thọ trước sự thật Vô thường? Nếu A di đà làm được chuyện gì thì Phật Thiệt Thích Ca cũng làm được vì cũng là Như Lai. Ngu không hiểu ráng chịu.
      5) Cái ông già A di đà là ích kỷ hơn PHUOCPHANT này, nếu PHUOCPHANT này là Như Lai thì sẽ không cần ai niệm PHUOCPHANT, PHUOCPHANT sẽ cứu hết vào cõi tịnh độ.
      6) Nếu bạn nào nói tôi đã gặp A di đà thì rơi vào 2 trường hợp: 1 là ngu vì bị ảo Tưởng sinh ra trong lúc tu mà không biết, 2-Là xạo vì không ai chứng minh được mình là A di đà với 48 Lời thề của bọn phàm phu đẻ ra. Nên nhớ: Phật Thích Ca bảo ta tu để giải thoát chứ không tu để gặp Phật Thích Ca.

      Thiền của Chánh Pháp, vượt qua vô thường, chiến thắng mọi ràng buộc TAM GIỚI là thiền trí tuệ (thiền quán, Tứ Niệm Xứ) do Phật khám phá. Đây là loại thiền cao cấp nhất. Nếu muốn quảng cáo cái hay thì thiệt là hay nhất, và có lợi ích ko thua gì bất kỳ loại thiền nào. Nhưng ko muốn quảng cáo là bởi vì thiền đó dùng để giác ngộ chứ không phải làm lợi cho người hành thiền. Khi bạn thiền Tứ Niệm Xứ thì đương nhiên là có lợi cao nhất, chẳng cần phải mưu cầu lợi cho bận tâm.
      Tu đúng Chánh Pháp thì sẽ rất là say mê vì nó sẽ sanh ra nhiều điều kỳ thú còn những pháp tu ngu ngốc sẽ sanh lười biếng vì tu mà không thấy gì hết.

      Bạn cannguyen đã bị nhiễm vào những loại kiến giải của phàm phu nhiều quá rồi. Nếu có thời gian, bạn nên tìm hiểu sâu vào Đạo Phật Nguyên Thủy. Trong Nguyên Thủy cũng phải biết chọn thầy, chọn sách cho đúng vì không phải ai cũng đủ thiện xảo để giảng Phật Pháp đúng theo giải thoát được.
      Như trong cách nói của bạn có rất nhiều điều sai, tôi có thể vạch từng câu chữ để sửa cho bạn hiểu nhưng tốn thời gian và dài lắm. Ví dụ bạn nói: “Có phải chăng là nguồn năng lượng thanh sạch của vũ trụ đã được thu hút vào cơ thể đốt cháy nghiêp chướng ,hòan thiên bản thân,kết nối các tế bào thần kinh từ đó mới cho ta một trí tuệ,một sự thấy biết như thật.Về phương diện này thì có nhiều cấp độ tùy theo sự hành trì và tu tập của mỗi một cá nhân.” => Bạn nên biết năng lượng là sắc (vật chất), không có sắc nào làm tiêu trừ Nghiệp được. Không có Kinh nào trong Đạo Phật nói như vậy, Khoa học cũng không nói như vậy, cũng chẳng ai chứng minh được chuyện đó, chỉ có những cuốn sách ngu si mới nói như vậy. Trí Tuệ chỉ phát triển và hoàn hảo khi tu đúng pháp tu Thiền Tuệ, đó là Tứ Niệm Xứ. Tu Thiền Tuệ đế phát hiện ra sự thật của Vũ Trụ là Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Vũ Trụ là như vậy thì con người cũng phải như vậy. Vì sao Vũ Trụ là Vô Thường? Trong một giây thì Vũ Trụ đã diệt, Vụ Trụ mới đã sinh ra (sự tan tành của vô số hành tinh, sự đổi chỗ của các giải ngân hà, sự diệt vong vô số chúng sinh). Nếu nói về trường khí thì có rất nhiều loại khí năng lượng tốt có, xấu có nhưng tất cả chỉ là vô thường. Nói về tế bào thần kinh cũng vậy, tôi đã làm bí nhiều người về cái tế bào thần kinh chứa trí tuệ. Chẳng hạn, tế bào có sự sống rất ngắn, khi tế bào chết thì trí tuệ phải chết theo, chứ sao người đó còn biết mình đang sống? Nói rằng tê bào này truyền trí tuệ cho tế bào kia lúc sắp chết thì thiệt là tức cười. Không phải thằng cha nào dán nhãn ta là khoa học gia, hay là môn học này là khoa học thì tin theo liền, tin như vậy thì không biết ra sao.

  4. sự thật nói:

    giáo lý đại thừa bám rễ chắc trong đại đa số phật tử VN, thật tội nghiệp cho những phật tử không có trí tuệ, niệm phật cả đời thật uổng công phu tu tập. Hãy tỉnh lại và theo con đường chánh pháp hỡi các bạn! GIỚI,ĐỊNH,TUỆ hãy theo con đường theravada là con đường đúng đắn!


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 87 other followers