- Muốn hiểu đúng Đạo Phật phải trở về với Ấn Giáo Vệ Đà

Muốn hiểu đúng Đạo Phật phải trở về với Ấn Giáo Vệ Đà, nguồn cội của hầu hết những ý niệm trong mọi đạo giáo, kể cả đạo Thiên Chúa

Tác giả PHONG UYÊN

Từ tháng Hai đến tháng Tư 2010, trên talawas, những bài nói đến Phật giáo nhận được khá phản hồi. Phần lớn những phản hồi này (hơn 200 bài /12 bài) chỉ lặp đi lặp lại ý kiến của vài độc giả về một vài ý niệm của đạo Phật Đại thừa như Vô minh, Vô thức, Vô ngã… hiểu theo chữ Hán, lại mang nhiều tính cách tranh cãi cá nhân, trở thành lạc đề, không giúp ích gì cho những độc giả muốn hiểu biết đạo Phật một cách sâu rộng và chín chắn.

Tôi xin nhắc lại là đạo Phật Đại thừa vào Trung Quốc từ những thế kỷ đầu Công nguyên nhưng lần lần bị Hán hoá khi phải pha trộn với đạo Lão, đạo Khổng. Tới những thế kỷ sau, Đại thừa Trung Quốc chia làm nhiều tôn phái. Phần lớn những tôn phái này bị mai một trừ một tôn phái gọi là Thiền (Chán) mà người sáng lập không thể là Bồ đề Đạt ma đã mất từ thế  kỷ thứ V (420-479), mà là Huệ Năng thế kỷ thứ VII. Ra đời một ngàn năm sau đạo Phật Nguyên thủy (khi Phật còn tại thế), Thiền Trung Quốc chỉ còn giữ lại một vài ý niệm triết  học của Phật giáo hiểu theo nghĩa Trung Quốc. Mang sắc thái Trung Quốc, Thiền đạo đã chói sáng trong 2 thế kỷ thứ VII, thứ VIII và trở thành gần như là đại diện duy nhất của Phật giáo Trung Quốc.

Để chứng dẫn, tôi xin kể lại là nhà Ấn Độ học và Phật học người Đức Hans Wolfgang Schumann đã viết như sau trong cuốn Mayhayana Budhismus: “Thiền tông có người cha  Ấn Độ nhưng không trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc… với những thành phần văn  hoá nghệ thuật, những sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Độ“.

Thiền đạo vào Việt Nam dưới đô hộ Tàu rất sớm (594?) và giữ nguyên tính cách Thiền Tàu, khác với Cao Ly và Nhật Bản: Khi tới Cao Ly thế kỷ thứ IX, tự sáp nhập vào Phật giáo Cao Ly có từ thế kỷ thứ IV. Thế kỷ thứ XII-XIII, thiền sư Nhật Dogen (Đạo Nguyên) phổ biến thiền Tào động dưới  hình thức Toạ thiền (Zazen).

Thiền đạo với đặc thái Trung Quốc mất dần tính cách đạo giáo theo đúng nghĩa của nó và trở thành một nền triết lí, một nhân sinh quan, một lối tu không tùy thuộc nơi chốn (tu tại gia). Đạo Phật chính thống nay gọi là Nguyên thủy, là đạo Phật ở những nước mà 90% người dân là Phật tử  như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Cam Bốt, Lào. Nguồn gốc của đạo Phật là Ấn giáo Vệ đà.  Vì vậy muốn hiểu thấu đáo những ý niệm của đạo Phật bắt buộc phải hiểu theo nghĩa trong kinh Vệ đà của Ấn giáo.

Tôi xin chia bài trình bày dưới đây làm 3 phần:

1. Ấn giáo Vệ đà cội nguồn của đạo Phật.

2. Lí do Phật tách khỏi Bà La môn giáo.

3. Ý niệm Chúa Sáng tạo của đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của Ấn giáo Vệ đà.

1. Không thể hiểu đạo Phật thời nguyên thủy nếu không có một chút kiến thức về Ấn giáo

Ấn Độ, dịch từ chữ Ba Tư Hindu, chỉ sông Indus mà tiếng Phạn gọi là Sindhu, đất 7 nhánh sông (Sapta Sindhu), của người Aryens (phiên âm chữ Hán là Nhã lộ an) mà Đức Quốc Xã  cũng như người Ba Tư (Iran), đều coi là thủy tổ. Đây cũng là một điểm rất quan trọng giải thích một phần nào nguồn gốc chủng tộc, tiếng nói, văn hoá, đạo giáo của người Âu Châu.

Ấn giáo là đạo cổ xưa nhất của Ấn Độ. Gọi theo tiếng Phạn là Sanatana dharma (Pháp trường tồn) hay “Trật tự vũ trụ trường tồn”. Ấn giáo không phải là một đạo theo nghĩa ngày nay, một đạo có tổ chức, mà là một thể nền (substrat) văn hoá, một cách sống, một lối suy nghĩ dựa trên Vệ đà Thiên thư (Rig Veda). Nền tảng của Ấn giáo là kinh Vệ đà nên cũng được gọi là Vệ đà giáo. “Trật tự vũ trụ” trong Vệ đà giáo có lẽ đã gợi cho Einstein ý tưởng về đạo Vũ trụ (Religion Cosmique với nghĩa KosmosTrật tự trong tiếng Hi Lạp).

Ấn Độ giáo, đạo chính thức của Ấn Độ ngày nay chỉ là thừa kế của Ấn giáo cổ xưa.

Đây là định nghĩa Ấn Độ giáo của Toà án Tối cao Ấn Độ năm 1966:

1) Chấp nhận những ý niệm Vệ Đà là thẩm quyền cao hơn hết trong mọi lãnh vực đạo giáo, triết học, tư tưởng Ấn Độ.

2) Phải có óc khoan dung và thiện tâm thiện ý vì Sự thật có nhiều hình thức biểu lộ.

3) Chấp nhận 6 hệ thống (Lục hệ) trong triết học Ấn Độ và nhịp điệu thế giới diễn tiến theo nhiều chu kỳ gọi là du già (yuga). Mỗi chu kỳ qua từng thời, sáng tạo, bảo tồn, hủy diệt, tiếp nối nhau không bao giờ ngừng (luân hồi).

4) Chấp nhận sự tin tưởng là có tái sinh và có đời sống trước.

5) Công nhận là có rất nhiều phương cách đi đến giải thoát (Moksha).

Căn bản của Ấn giáo là kinh Vệ đà được truyền khẩu từ 5000 năm cho tới 1500 năm trCN. Theo truyền thuyết, Brahman (Phạm Thiên, Chân Như) đã thần khải Kinh Vệ đà cho các vị hiền giả (Rishi). Trời trong Vệ đà Thiên thư là Brahman, Đấng Tuyệt đối tạo ra vạn vật.

Hai ý niệm nòng cốt của Ấn giáo cổ xưa (thời kỳ Vệ đà giáo) là:

1. Đại ngã (ParamAtman) Brahman: là Một, là Hiện thực duy nhất, là Linh hồn tuyệt đối của vũ trụ, là Tuyệt đối, Siêu nghiệm, Bất biến, Vô hình thể, Trường tồn, Vĩnh hằng, Quán thông mọi chuyện, có mặt mọi nơi chốn, là nguyên lí của vũ trụ không có khởi đầu không có tận cùng. Là Sự Thật tuyệt đối, thế giới chỉ là hư huyền.

2. Tiểu ngã (atman), một phần đồng nhất của Bản thể Brahman. Không có linh hồn cá biệt phải được hiểu là sau vòng luân hồi tiểu ngã sẽ trở về đồng nhất với Bản Ngã Brahman.

2. Đức Phật vì muốn theo đúng giáo lí Vệ Đà của Ấn giáo nên Ngài đã tách khỏi tôn phái Bà La môn

- Phật không phủ nhận Trời Brahman gọi theo Phật là Chân Như

Để trả lời các giáo sĩ Bà La môn muốn chỉ trích Phật là không biết Trời, Phật dạy “Ta biết Trời (Chân Như) và cõi thế giới của Ngài và đường dẫn tới Ngài. Ta biết Ngài vì đã ở Niết Bàn và sinh ra từ đó.”

Sở dĩ Phật ít nhắc tới Brahman là vì Phật muốn mọi người hiểu Brahman theo nghĩa Vệ đà kinh để xa lánh các giáo sĩ Bà La môn đã phân Brahman ra làm 33 vị thần mà 3 vị thần chính là Brahma, Visnou và Shiva, để lôi kéo tín đồ đem lợi lộc và đặc quyền thờ phụng cho đẳng cấp Bà la môn. Tôi cũng xin nhắc lại là Bà la môn giáo chỉ ra đời trước Phật chừng khoảng 100 năm (thế kỷ thứ VI-V trCN).

Phải hiểu là khi Phật dạy “sinh ra từ Niết bàn” chứ không phải “” Niết bàn là Phật có ý nói Niết Bàn không phải là nơi chốn mà Niết Bàn cũng là Chân Như: Niết bàn không thể là nơi chốn được vì Chân Như, Đấng Vĩnh hằng ở ngoài không gian và thời gian, hiện diện khắp mọi nơi.

Hiểu theo đạo Phật Nguyên thủy Chân Như, Niết Bàn, Phật tính, chỉ là Một.

- Đạo Phật Nguyên thủy không phủ nhận ý niệm tiểu ngã của kinh Vệ đà:

Đạo Phật cấm sát sinh vì mọi sinh vật đều là anh em cả, đều mang trong mình tiểu ngã (soi, self, selbst) một phần của Đại Ngã (le Soi). Ý niệm “tiểu ngã” cũng là ý niệm về phần Phật tính bất biến trong mỗi sinh linh, sợi dây kết tụ nghiệp quả của mỗi sinh linh qua vòng luân hồi để trở về với Bản thể Phật tính hay Đại Ngã Chân Như (Atman, Brahman). Theo trường phái triết học Vệ đà Vedanta, tiểu ngã là nguyên lí tự tại, siêu nghiệm (principe  immanent et transcendant) độc nhất của mỗi sinh linh đi từ kiếp này qua kiếp khác. Theo định nghĩa  này, tiểu ngã có thể được hiểu là sinh linh mỗi con người trong vòng luân hồi trước khi nhập vào Đại Ngã hay Vô ngã (cái Ngã chân thật, không riêng biệt). Tiểu ngã khác với “cái tôi” (le moi) mà nhiều triết gia Tây phương cũng coi là không có thực chất, phiến diện, hay thay đổi (vô thường) vì phụ thuộc vào những trạng thái tâm lí, cảm xúc, hoàn cảnh và sự vật.

Bản thể Phật tính cũng là Bản thể Brahman nên có sự nhất tính giữa Phật và chúng sinh như băng đá với nước trong thuyết “Vạn vật đồng nhất thể” của Ấn giáo.

Tôi cũng xin nhắc lại là Hội Nghị Phật giáo thế giới năm 1956 công nhận đạo Phật Tiểu thừa là thừa kế chính thức của đạo Phật Nguyên thủy và như vậy Đại thừa kiểu Trung Quốc chỉ còn là một tôn phái Phật giáo đang mỗi ngày một mai một. Số người theo tôn phái này chỉ còn ở những nước chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc với số tín đồ mỗi ngày một ít (chừng 70-150 triệu người Hoa lục địa và hải ngoại, 10 triệu ở Việt Nam theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ năm 2005), so với Đạo Phật chính thống, Nguyên thủy, chừng 350 triệu người.

3. Có thể suy luận là những ý niệm về Trời Sáng tạo của các đạo Thiên Chúa cũng là ý niệm của kinh Vệ đà

Trước hết tôi xin nhắc lại là những bản kinh Vệ đà có từ 5000-1600 năm tr.CN, trước Thánh kinh của các đạo Thiên Chúa (Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo) ít nhất là 1000 năm, nên có thể coi Ấn Độ giáo là đạo xưa nhất.

Ý niệm Trời Brahman cũng là ý niệm Trời (Éternel) trong Thánh kinh (Bible) của Do Thái giáo. Đứng về phương diện lịch sử, Ki tô giáo và Hồi giáo cùng tin ở Thánh kinh, nên có thể coi 2 đạo này chỉ là tông phái của một đạo Thiên Chúa duy nhất là Do Thái giáo. Brahman, Jehovah, Phạm Thiên, Chân Như, Chúa, Allah… chỉ là cách gọi Trời khác nhau.

Theo cuốn Giáo lí (Catéchisme) được soạn thảo sau Hội nghị các giám mục toàn thế giới kỳ 2, Công giáo định nghĩa về Trời như sau: “Trời là Nguyên nhân đầu tiên Tự tạo, Tự tại, Tự tồn tạo ra không gian thời gian nên lúc nào, chỗ nào cũng có Trời (Dieu est universel).” Như vậy Trời cũng là Thiên Đàng và trở về Thiên Đàng là trở về Tình yêu của Chúa, trở về Lòng Chúa như những người Ki Tô giáo mong ước, và cũng là mong ước của những người Phật tử muốn được giải thoát khỏi vòng luân hồi để trở về Niết Bàn hay Bản thể Phật tính Từ bi hỉ xả vậy. Brahman vô hình vô thể nhưng cũng có thể biểu hiện dưới hình thức một Trời có ngã vị (un dieu personnel) gọi là Ishvara và sau này trong Bà La môn giáo, dưới biểu hiện Brahma, Visnou, Shiva mà theo Dumézil (1898-1986), đó cũng là biểu hiện Tam thể Trimourti, trong Ấn Độ giáo, “Ba thân” trong đạo Phật, “Ba Ngôi” (Trinity) trong Ki Tô giáo.

Trong cuốn Sáng tạo và giao lưu, do nhà xuất bản Giáo dục in tháng 12- 2007, Giáo sư Phạm Vĩnh Cư, tác giả nhiều bài tham luận về văn học và về nhà khoa học nhân văn Nga Bakhtin đăng trên talawas bộ cũ, người mới được giải thưởng Phan Châu Trinh về dịch thuật, có nói nhiều về luận thuyết Thần – Nhân loại (Divino-Humanité, Théandricité) của nhà hiền triết Nga Vladimir Solowiev (1853-1900). Nhà thần học Kitô giáo và hiền triết lớn nhất nước Nga này bị quên lãng dưới thời cộng sản Liên Xô, nay là niềm tự hào của nước Nga trên trường quốc tế. Những trước tác của ông được dịch ra hàng chục thứ tiếng, trong đó có bản dịch tiếng Việt của Phạm Vĩnh Cư. Tôi xin nói qua về quan niệm Thiên Chúa của Solowiev qua cuốn sách của Phạm Vĩnh Cư:

Theo thuyết Thần-Nhân loại của Solowiev, Chúa Trời sáng tạo tất cả để cuối cùng vì Tình yêu, hoá thần tất cả khiến thế giới trở thành một tha thể (thể khác) của Thiên Chúa mà không có nó thì Chúa không tồn tại vì Chúa sống trong nó và vì nó. Không còn sự khác biệt ngay cả về bản chất giữa Đấng Sáng tạo với tạo vật đồng nhất thể với Chúa (vsejedinstvo, tiếng Nga), khiến Tạo hoá và tạo vật không còn là hai bản thể riêng biệt như theo thuyết nhị nguyên luận của Descartes: bản thể quảng tính (Res extensia) vật chất và bản thể tư duy (Res cogitans) tinh thần. Quan niệm của Solowiev về Chúa, Đấng Sáng tạo vì tình yêu này tương đồng với quan niệm Đấng Tuyệt đối Brahman “Vạn vật đồng nhất thể” trong Ấn Độ giáo, nên Solowiev hồi ấy bị những người Ki tô giáo đạo Chính Thống (orthodoxes) trách cứ là sa vào thuyết Phiếm thần (Panthéisme) và cùng một tư tưởng với Spinoza (1632 – 1677), người đã đồng nhất Thượng đế với thiên nhiên. Những người này đã tỏ ra không hiểu “Thần – Nhân” là giáo thuyết đẹp nhất trong Ki Tô giáo: Giêsu Kitô con của Chúa Trời đã nhập thể thành người để chuộc tội cho loài người. Đó cũng là ý tưởng Bồ Tát trong đạo Phật.

Trong cuốn sách tiếng Anh của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Living Buddha, living Christ dịch tiếng Việt là Bụt trong ta, Chúa trong ta do nhà xuất bản Riverhead Booking in năm 1995, thày Thích Nhất Hạnh cũng đồng quan điểm với Solowiev là Trời, Phật ở trong ta: “Chúa Ki Tô vừa là con Trời vừa là con Người (Le fils de l’homme) và Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con bất nhị nên con người cũng là một với Thượng đếCũng như Bụt, chúng ta cũng tới từ Chân Như, ở tại Chân Như và sẽ quy về với Chân Như.”

Khi Solowiev phân tích phạm trù “Cái Tuyệt đối” (Thiên Chúa), ông xác định ý niệm “hư không” trong đạo Phật: “Cái Tuyệt đối vừa là cái thoát li mọi thứ, lại vừa là cái mang mọi thứ trong mình. Nó vừa là cái tịnh không, vừa là hữu thể viên mãn nhất, hoàn bị nhất, toàn vẹn nhất… Nó là thể thống nhất của mình với cái phủ định mình“.

Ý niệm “Vô Ngã” trong đạo Phật cũng được Solowiev hiểu theo nghĩa Siêu Ngã để nói về bản tính Chúa Trời: “Ngài là Sinh linh Siêu Ngã vừa là mình lại vừa là tất cả… Là Một – và – Tất cả”. Ý niệm Siêu Ngã này làm cho ta hiểu ý niệm Tam vị Nhất thể (Trinité) trong Ki Tô giáo.

Vòng sinh tử trong đạo Phật là nghĩa sự phục sinh của Chúa Ki Tô cứu rỗi loài người  thông qua cái chết: Chúa phục sinh là cái hứa hẹn và bảo đảm sự tái sinh của nhân loại trong sự sống hoàn toàn bất tử.

Kết luận

Sự tin tưởng vào một Sinh linh tối cao đều có trong mỗi con người và nằm ở tầng sâu nhất của tâm thức. Đấng sinh linh Tối cao biểu hiện trong các đạo giáo dưới những hình thức khác nhau hay được hiểu khác nhau nhưng tựu chung vẫn chỉ là Một. Bởi vậy không có đạo nào không tin là có Trời cả, và mọi đạo thời nguyên thủy đều là đạo Thiên Chúa. Những người cho đạo Phật là đạo không Trời (athée) là những người so sánh một cách phiến diện đạo Phật hay một tôn phái triết lí Phật với các đạo Thiên Chúa. Những người này đã quá giới hạn lí trí mình vào những ý niệm chỉ là những khái niệm, hay tệ hơn nữa, chỉ là những từ ngữ.

Theo kinh sách Vệ đà, có cả thảy 84 ngàn Pháp môn, nghĩa là có 84 ngàn cánh cửa đưa mình tới Sự Thật, tới Trời. Đạo Phật coi mình chỉ là một cánh cửa nên tôn chỉ nhà Phật là những ai coi cánh cửa đạo Phật là duy nhất thì những người này không theo đúng tinh thần đạo Phật. Những người Ki tô giáo đích thực cũng cùng một quan điểm: Giáo hoàng Jean Paul II đã luôn mở cửa nhà thờ mời Đức Đạt lai Lạt ma làm lễ. Có 84 ngàn pháp môn nên những người không theo đạo nào cả cũng có thể mở một cánh cửa đi tới Trời.

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas


8 phản hồi on “- Muốn hiểu đúng Đạo Phật phải trở về với Ấn Giáo Vệ Đà”

  1. Vô Danh nói:

    Không cần hiểu (học) Vệ Đà làm gì, học thẳng vào Phật Pháp. Người học Phật, đặc biệt là người thực hành Pháp Phật không cần biết giáo lý Vệ Đà làm gì, mất thời gian.

    Theo những nhà nghiên cứu Đông – Tây, thậm chí các sư Đại Thừa có trách nhiệm thì Kinh Đại Thừa là những kinh do các Tăng viết ra sau này. Một bộ Kinh Hoa Nghiêm (các kinh Đại Thừa thường rất dài) dài như vậy, tôi đố ai nhớ hết, ngoại trừ các vị Thánh. Các vị Thánh không bao giờ nói dối, chỉ có các thầy tăng phàm chế tác ra tùy mục đích gì đó mà thôi. “chỉ có các thầy tăng phàm chế tác ra tùy mục đích gì đó mà thôi”.

    Đạo hữu PHONG UYÊN không hiểu Phật Pháp nhiều (xin lỗi nếu câu này gay gắt), chắc chắn là vậy vì Phật nói mọi pháp (hữu vi + vô vi) đều vô ngã. Đã vô ngã thì không thể chấp nhận “tiểu ngã”, “đại ngã”. Nghiên cứu Phật học phải dựa vào tiêu chuẩn là tiền đề: 3 pháp ấn (Khổ – Vô Thường – Vô Ngã), tứ diệu đế, 12 nhân duyên. Không thể lý luận tùm lum, dẫn chứng thiếu căn cứ.

    Tôi cũng xin góp lời với các hiền giả bốn phương rằng: Đừng nên “vội” tin gì hết, thậm chí là lời giảng của đại sư, Thích…gì đó. Phải trải nghiệm thực hành, tìm tòi, thay đổi phương cách khảo nghiệm và đúng như thế thì mới tin.
    Tin lời trong Kinh hay không cũng phải phải dựa vào tiêu chuẩn là tiền đề: 3 pháp ấn (Khổ – Vô Thường – Vô Ngã), tứ diệu đế, 12 nhân duyên. Không thể lý luận tùm lum, rồi tu không ra tu, mất thêm vài kiếp tu nữa…

  2. nguyen huu thuan nói:

    Khi người ta giỏi lý luận thì dễ uốn cong mọi thứ. Đức Phật phủ nhận ngã, tiểu ngã…Đức Phật nói Trời chỉ là phạm thiên, vẫn còn sinh tử luân hồi cho nên trời ko phải là Chân như, Tự tánh, Phật tánh như bài viết này nói. Mong mọi người quán chiếu rõ ràng. Cứ mạnh dạn tu theo tứ diệu đế,bát chánh đạo. Phật đã từng nói trong kinh: ” nơi nào có tứ diệu đế, bát chánh đâo nơi đó có hàng thánh chúng” như vậy cứ tu theo Phật là thành thánh rồi, không cần đọc kinh điển Vệ Đà gì cả. Nếu vợ bạn không ngoại tình nhưng có người ganh ghét thì khi họ bịa ra câu chuyện rồi nhờ nhiều người nói với bạn thì về lâu về dài bạn cũng sẽ nghi ngờ vợ bạn. Tư tưởng đó sẽ lớn dần, lớn dần. Đọc kinh vệ đà lâu dài sẽ dẫn đến nghi ngờ Phật pháp, vì đức Phật sinh ra vào thời đó nên phải phương tiện dùng lại các điển tích, sự kiện, ngôn từ ( cái mà đã ăn sâu vào lòng người Ấn độ) để giáo hóa người dân Ấn độ nên có tái sử dụng 1 số từ ngữ của Kinh Vệ đà….Đây chỉ là phương tiện..!! Nhiều người không hiểu cho rằng đạo Phât là 1 nhánh của Đạo Bà La môn (vệ Đà). Đạo Bà la môn muốn lôi kéo tín đồ nên từng tuyên bố Phật là 1 hiện thân của 1 vị thần trong Kinh vệ Đà. Nói tóm lại cứ tu theo Phật, đừng tin ai…hãy quán chiếu theo tứ diệu đế, bat chánh đạo..!!

  3. Hai Au nói:

    Phong Uyên đang uốn ba tấc lưỡi để bẻ cong Giáo Pháp của Đức Phật . Đoc thấy thậm vô lý và ngứa tai – Căn cứ vào đâu mà PU đánh đồng khái niệm vô ngã của Phật giáo với khái niệm Đại Ngã của Ấn giáo ? Phong Uyên moi ở đâu ra khái niệm Ba thân rồi choàng nó vào Phật Giáo v.v…?
    Ô là la ! PU đúng là có cái lưỡi không xương và có cái đầu vô cùng hoang tưởng !!!

  4. cannguyen nói:

    Xin quí vị đừng tranh luân nữa.Muốn hiểu đươc vấn đề này thì hãy chú ý tới năng lương và các hạt vi mô.Vì trong BAT NHÃ TÂM KINH có nói :Sắc tức thị không,không tức thị sắc,sắc bất dị không,không bất dị sắc rồi còn gì nữa.Cái mà chúng ta nhìn thấy ở đây khi hủy hoại đi đều trở về dạng hat mang năng lượng.Như thế ta và toàn thể vũ trụ này là cùng một bản chất.Hãy cố gắng mà NGỘ NHẬP PHÂT TRI KIẾN.Xin chân thành cám ơn!

  5. Tom Nguyen nói:

    Nhân đọc bài “Muốn hiểu đúng Đạo Phật phải trở về với Ấn Giáo Vệ Đà ” của tác giả Phong uyên .

    http://tstq.multiply.com/journal/ite…journal%2Fitem

    Tôi có mấy ý đóng góp !

    Trong tự điển Wikipedia định nghĩa :

    “Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người và nó là sản phẩm của người thông minh (homo sapiens). Trong quá trình phát triển, tác động sinh học hay bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí thông minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này, bản tính con người không không còn mang tính bản năng mà là văn hóa. Khả năng sáng tạo của con người trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loài động vật nào khác và chỉ có con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm bảo cho sự sống còn của chủng loài mình. Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc cùng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội mà các cá thể là thành viên.”

    Vậy thì văn hóa là một sự truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác . Chỉ điều cái văn hóa ấy có phát triển thêm những điều mới lạ , hay hơn của những người kế tiếp . Những điều đó có giúp cải thiện về khoa học , đời sống , nhân văn , nhân bản hay đạo đức của con người hoàn thiện hơn hay không . Ông Phong Uyên (PU) cho rằng :”Muốn hiểu đúng Đạo Phật phải trở về với Ấn Giáo Vệ Đà ” thì quả là quá hạn hẹp và chưa hiểu hết về giáo lý của Đức Phật Thích Ca . Tôi đồng ý có nhiều điển tích hay dụ ngôn cũng na ná giống trong kinh Vệ Đà , nhưng nó không ngừng lại ở điểm tương tự ấy mà nó được giáo hóa , giải thích , giảng dạy rộng lớn hơn , mang tính cách đạo đức và hòa bình hơn , đó là đặc thù của văn hóa , đặc thù của Như Lai . Ví dụ : Đức Phật giảng cho Thiện Sinh lễ bái có ý nghĩa và rộng hơn mà Phật vẫn giữ theo cách lễ bái ( văn hóa đã có ) .

    Như vậy tôi nghe.
    Một thời Thế Tôn sống ở Ràjagaha (Vương Xá thành), tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivàpa (chỗ tìm ăn của loài sóc). Lúc bấy giờ, Singàlaka (Thi-ca-la-việt), gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông, hướng Nam, hướng tây, hướng Bắc, hướng Hạ, hướng Thượng.
    Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm y bát vào thành Vương Xá khất thực. Thế Tôn thấy Singàlaka, gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông, hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc, hướng Hạ, hướng Thượng. Thấy vậy Ngài nói với Singàlaka, gia chủ tử:

    - Này Gia chủ tử, vì sao Ngươi dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông… hướng Thượng?

    - Bạch Thế Tôn, thân phụ con khi gần chết có dặn con: “Này con thân yêu, hãy đảnh lễ các phương hướng”. Bạch Thế Tôn, con kính tín, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ lời nói của thân phụ con, buổi sáng dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông… hướng Thượng.

    Đức Phật không tự cho mình là đấng giáo chủ mà chỉ nhận mình là một người thầy tùy bệnh cho thuốc , là ngón tay chỉ ánh trăng về sự sáng con đường đi . Và điều Ngài đã nhấn mạnh một lần chót :”Suốt 49 năm nay ta không nói một điều nào ” . Ngài khẳng định những lời giáo huấn Ngài dạy vốn đã có từ lâu và nhiều ngườii nói đến . Ngài chỉ sắp xếp trở lại và cọng theo trí tuệ mà Ngài nói lại . Những lời nói đó chỉ giới hạng như những lá rừng trong nắm tay Ngài . Thời gian 49 năm không đủ để Đức Phật giảng hết cho chúng sanh hiểu hết toàn bộ trong cõi ta bà này . Ngài chỉ chọn lọc những điều nào cần thiết , hữu ích giúp cho cuộc sống tốt hơn mà giáo huấn .

    Có những điều mà Như Lai giảng hoàn toàn không có trong kinh Vệ Đà :” Máu nào cũng đỏ và có vị mặn thì khổ đau nào cũng giống nhau ” . Đó là một triết lý , một luật pháp để bảo vệ quyền bình đẳng giữa con người và con người . Trong khi đó kinh Vệ Đà cổ xúy bảo tồn bốn giai cấp ở Ấn Độ . Vậy thì “Muốn hiểu đúng Đạo Phật phải trở về với Ấn Giáo Vệ Đà .” của PU không có chỗ đứng ở đây và làm saao hiểu Phật giáo qua kinh Vệ Đà như thế ? Rất còn nhiều điều tôi không thể dẫn chứng hết .
    Nếu thế thì PU cũng cho rằng muốn tìm hiểu nguồn gốc con người thì phải trở về với loài vượn . Sự trở về này chỉ tìm thấy giống hợp có đầu , mình , tứ chi và biết đi , đứng , nằm , ngồi chứ không thể có những bài triết lý , khoa học nhân bản , đời sống văn minh vật chất v.v……

    Lại nữa , nói như thế , muốn tìm hiểu về Đạo Kito thì thì phải trở về nguồn gốc và giáo lý Babylon , hoặc là Phật giáo ở Ấn Độ hay sao ? Những điều này chỉ mang máng , thoáng qua như là một tiến trình của văn hóa . Điều quan trọng là thứ văn hóa đó có phát triễn thêm qua trí tuệ hay không ? Nếu không thì đó chỉ đạo văn (copy) giáo điều mà thôi .

    Văn hóa là một sự trộn lẫn , nối tiếp nhau để phát triễn từ Á sang Âu . Điều mà Ấn Độ học và Phật học người Đức Hans Wolfgang Schumann đã viết như sau trong cuốn Mayhayana Budhismus:

    “Thiền tông có người cha Ấn Độ nhưng không trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc… với những thành phần văn hoá nghệ thuật, những sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Độ“.

    Vậy thì tôi nghĩ điều mà Phong Uyên viết :”Muốn hiểu đúng Đạo Phật phải trở về với Ấn Giáo Vệ Đà ” mang tính cách hạn hẹp và có dụng tâm nếu không muốn dùng từ BÔI BẨN Phật giáo .

  6. nguyễn lưỡng biênchinhkie nói:

    Ý Tưởng của người theo Đạo Thiên Chúa Giáo Cựu ước và Tân ước sáng tạo ra vũ trụ muôn vật, muôn loài bắt nguồn từ chính Đức Chúa Trời chứ không bắt nguồn từ Ấn Giáo!
    - Tính từ A-đam, E-va đến Ấn Giáo có tới ít nhất hai ngàn năm cộng với năm ngàn năm Ấn Giáo như ông Phong Uyên nói nũa thì Thien6b Chúa Giáo có ít nhất là bẩy ngàn năm chứ chẳng ít như phong uyên đã tung loạn xạ như vậy đâu?

  7. CINDY nói:

    THIET KHO TRACH NHUNG NGUOI CO CHAP.TAI SAO LAI NGHI LA DOC SACH VE DA MAT THOI GIAN?????? NEU TA KHONG CO ONG BA CHA ME THI LAM SAO SANH RA TA????
    NEU CINDY NOI RA HET NHUNG LY LUAN RA DAY THI KHONG BIET FAI MAT HET BAO NHIEU THOI GIAN,VI NGUOI HOC LOP 1 THI CHI CO TRINH DO CUA LOP 1 MA THOI.TRINH DO CUA TRO LOP 1 THI LAM SAO DOC HIEU DUOC SACH LOP 10 CHO NOI.MO PHAT.

  8. nguyễn lưỡng biênchinhkie nói:

    ĐẠO HỌC THÌ MÊNH MÔNG…tu hành tới đâu thì hay tới đó…không nên nô lệ cho ÂM THANH hay HÌNH TƯỚNG…như vậy TA mới chính là TA


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 85 other followers