- ĐẠI-THỪA và TIỂU-THỪA phái nào cao siêu hơn ?

Bài viết dưới đây được post trên nhiều trang web.

Đây là một trong những đường links:

[http://www.daophatkhatsi.vn]

 Đại Thừa và Tiểu Thừa: Phái nào cao siêu hơn

—–ooOoo—–

Trần Thanh hỏi, Thích Giác Hoàng trả lời

Nguyên văn câu hỏi:

1) Tại sao một số kinh điển Đại Thừa lại không nằm trong  Tam Tạng (Tripitaka), mặc dù chúng cũng là lời của Phật (như thị ngã văn), như Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, v.v…?

2) Sự chia rẽ giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa trầm trọng ở mức độ nào? Sao bên nào cũng tự nhận là đi đúng đường và cao siêu hơn? Và tại sao Phật từng nói trong Kinh Pháp Hoa, Đại Thừa là hạt giống rắn chắc, khác với Tiểu Thừa là hàng thấp thỏi, trình độ kém, như vậy Phật đã xếp hạng giữa hai phái, vậy mà Tiểu Thừa vẫn tự nhận là Nguyên Thuỷ đúng lời Phật dạy?

Xin đa tạ quý Thầy và đạo hữu.

Trần Thanh.

*************

Phật tử Trần Thanh mến,

Trước nhất, HTPH chân thành gởi lời tán thán tinh thần học hỏi của Phật tử. GH chân thành cảm ơn Phật tử đã đặt vấn đề, nhân đó mà vài quan điểm nhỏ của người viết được trình bày.

Bài viết phía dưới khá chi tiết, người viết xin tóm tắt lại vài ý chính:

1) Kinh điển Đại Thừa chắc chắn có mặt trong Tam Tạng (Tripiṭaka) dù ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên hoặc Tây Tạng.

2) Sự chia rẽ giữa Đại thừa và Tiểu thừa trên bình diện tư tuởng khá mạnh, thậm chí có một số Kinh được xếp vào lời Phật thuyết của Đại thừa hoặc trong sử của Nam truyền vẫn còn mang dấu tích chê bai, đả kích lẫn nhau. Nhưng trên bình diện sinh hoạt vào những giai đoạn sau, sự căng thẳng của hai truyền thống đã giảm lần, tiến tới có những điểm chung và tu học chung trong cùng một khu vực.

3) Truyền thống nào cũng đi đúng đường và cao siêu cả, nếu các vị thực hành đúng theo lời Phật dạy. Ngược lại, bên nào cũng đi không đúng đường vì không giữ giới và không thực hành những lời Phật dạy.

4) Căn cơ chúng sanh bất đồng. Trong truyền thống Đại thừa vẫn có người vô trí và trong Thượng Toạ Bộ vẫn có những bậc lợi căn, không thể nào nói Đại thừa là căn cơ cao, còn bên Thượng Toạ Bộ là hạng chúng sanh có căn cơ thấp kém.

Điều cốt yếu trong khi học hỏi giáo pháp là “y nghĩa bất y ngữ”, nghĩa là nên hiểu cốt tuỷ, tinh thần của giáo pháp mà tu tập, không nên chấp trước trên ngôn ngữ văn tự. Tu hành cao siêu hay thoái đọa không phải do tu theo Đại thừa hay Tiểu thừa, mà chính yếu là do gột rửa những cặn bã trong tâm hay không.

Chúc Phật tử Trần Thanh an vui và tinh tấn hơn nữa.

Sau đây là bài viết chi tiết:

1) Một số Kinh điển Đại Thừa không nằm trong Tam Tạng (Tipiṭaka)?

Sau Đức Phật nhập niết-bàn khoảng 100 năm, Phật giáo đã bắt đầu có sự phân phái rõ rệt. Đặc biệt, kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ 2 đánh dấu sự ra đời của 2 bộ phái lớn, đó là: Theravāda (Thượng Toạ Bộ) và Mahāsaṅghika (Đại Chúng Bộ). Hầu hết các học giả uyên bác trong lĩnh Phật học đều công nhận rằng, đến thế kỷ thứ nhất trước TL từ hai bộ phái chính này, đã phân hoá thành 18 mạc phái khác nữa, cuối cùng  thành 20 bộ phái. Vào giai đoạn cuối thế kỷ thứ I TL, triều đại Kaniṣka (78-101 TL), Phật giáo Đại Thừa được hưng khởi là nhờ công của Ngài Par’sva (Hiếp Tôn Giả), A’svaghosa (Mã Minh), và Vasumitra (Thế Hữu) và một số vị khác. Câu chuyện Mahāyāna và Hīnayāna bắt đầu từ đây một cách rõ rệt. Cả hai hệ thống này đều có những kinh điển đặc thù riêng tuỳ theo tư tuởng của trường phái đó đặt nặng. Tam tạng của Mahāyāna được viết bằng chữ Sanskrit, được gọi là Tripiṭaka và Tam tạng của Theravāda được viết bằng văn hệ Pāli, gọi là Tipiṭaka.

Do đó, nếu ta tìm các Kinh điển thuộc hệ Đại Thừa trong Tam tạng của Phật giáo Theravāda thì không thể có được. Ví dụ, Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Niết-bàn, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Đại Bửu Tích, v.v… thì không thể nào tìm thấy trong danh mục của hệ thống kinh điển Phật giáo Theravāda. Nhưng các Kinh này, chúng ta có thể rất dễ dàng tìm thấy trong các danh mục Kinh điển Đại Thừa nói chung hoặc trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh[1]  của Trung Quốc, Nhật Bản và Tam Tạng Kinh điển của Phật giáo Tây Tạng nói riêng.

Rất tiếc là hệ thống Kinh điển Sanskrit tại Ấn Độ ngày nay không còn giữ nguyên vẹn, chỉ còn lại rất ít, nói đúng hơn chỉ là những mảnh vụn của Tam Tạng, vì chính sách xoá sạch Phật giáo ra khỏi cái nôi của Ấn Độ của Hồi giáo cực đoan vào đầu thế kỷ thứ XIII dưới mọi hình thức. Nhưng cũng rất may mắn, các Kinh, Luật, Luận Sanskit này đã được dịch sang tiếng Hoa rất sớm, kéo dài từ hậu bán thế kỷ thứ II cho tới thế kỷ XIII. Do đó, chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy trong thư mục kinh điển Đại Thừa trong Hán tạng. Dựa vào cuốn A Catologue of the Buddhist Tripitaka của Bunyiu Nanjio, được Lokesh Chandra bổ sung và hiệu đính[2] chúng ta sẽ thấy rất rõ hệ thống Kinh điển Đại Thừa Phật giáo như thế nào, ngay cả hệ thống A-hàm và các luận sớ cũng như các tác phẩm gốc vốn bằng Hán văn do các học giả, các nhà nghiên cứu đời sau viết. Các Kinh Pháp Hoa, Niết-bàn, Bảo Tích, Bát-nhã, v.v… trong hệ thống Tripiṭaka của Đại Thừa không những có mặt mà còn có một vị trí đặc biệt trong hệ thống Phật giáo Đại thừa nữa.

Một điểm cần lưu ý ở đây, chúng ta rất khó xác định Kinh điển do chính Đức Phật thuyết hay không chỉ vì mở màn Kinh bằng câu rất quen thuộc “như thị ngã văn” (tôi nghe như vầy). Vì việc biên tập kinh điển dưới dạng văn bản viết diễn ra rất muộn. Theo học giả rất nổi tiếng trong giới Phật học, giáo sư Sử học Étienne Lamotte đã trình bày trong tác phẩm nổi tiếng của ông,[3] Kinh điển của Thượng Toạ Bộ viết bằng ngôn ngữ Pāḷi đã được biên tập sau kỳ kiết tập kinh điển lần thứ 3, dưới sự bảo trợ của Đại Đế A‘soka tại Pāṭaliputra (nay là thủ phủ Patna thuộc bang Bihar).[4] Còn Kinh điển của Mahāyāna được viết bằng Sanskrit và một phần bằng tiếng Prakrit được biên tập 200 năm trước CN và  bắt đầu phát triển sau kỳ kiết tập kinh điển lần thứ IV, nghĩa là khoảng thế kỷ I TL. Như vậy, làm sao bảo đảm được tính chất nguyên thuỷ của lời dạy Đức Phật sau một thời gian quá dài dưới dạng truyền khẩu và qua ký ức của con người. Qua quá trình nghiên cứu, chúng ta có thể phát hiện một số đoạn không được mạch lạc trong Kinh. Các học giả dựa trên phân tích văn bản học, họ cũng khám phá ra có một số đoạn nghi ngờ có thể là không phải cho chính Đức Phật thuyết và nó có thể phù hợp trong một số đoạn Kinh khác, chứ không thể trong đoạn kinh đó.[5]

Trong hệ thống luận thư của Phật giáo Theravāda, ngoại trừ bộ luận Kathāvatthu  (Những Điểm Dị Biệt) của Ngài Moggaliputta Tissa, còn sáu bộ luận không có tác giả, cũng thường được nhiều vị Theravāda khăng khăng cho rằng các Luận này do chính Đức Phật thuyết. Nhưng trong thực tế các vấn đề phân tích, chia chẻ các trạng thái tâm, tâm sở, sắc pháp, Niết-bàn chúng ta có thể đoan chắc rằng ngôn ngữ và bố cục của các luận phẩm đó không do chính Đức Phật trình bày. Thế nhưng vì để tạo niềm tin cho người đọc, các nhà viết luận còn cho rằng đây là giáo pháp cao siêu, vi diệu (Abhi) được Đức Phật nói cho thế giới chư thiên cõi trời Ðao-lợi (Tāvatiṃsa) suốt 3 tháng an cư mùa mưa thứ 7 sau khi Ngài giác ngộ. Mẫu hậu của Ngài là Māyā cũng từ cõi trời Đâu-suất (Tusita) đến đây học pháp, nên thông thường trong nhiều sách viết là Vi Diệu Pháp được nói cho mẫu hậu Māyā. Truyền thuyết nói rằng mỗi ngày Đức Phật xuống Bắc Câu-lô Châu (Uttarakuru) dưới gốc cây bên bờ hồ Anottara thọ thực, trong khi đó tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) đang chờ để dâng nước cho Đức Thế Tôn. Thế là Vi Diệu Pháp này được truyền lại cho tôn giả Xá-lợi-phất, rồi tôn giả Xá-lợi-phất truyền cho học trò của mình. Các vị còn đưa ra quan kiến của những nhà luận giải Tam Tạng nổi tiếng thời xưa như Ngài Buddhaghosa sống vào khoảng thế kỷ thứ IV-V TL chẳng hạn, để bảo vệ quan kiến của mình. Nhưng khi đi sâu văn bản, chúng ta có thể đi đến kết luận mà không sợ sai lầm là các luận phẩm này là do công của các nhà đa văn, tinh thông Kinh tạng đã sớ giải, chia chẻ vấn đề tỉ mỉ hơn và sắp xếp chúng dưới một dạng có hệ thống mà thôi.

Cũng theo mô típ trên, trong hệ thống 7 Luận thư của Hữu Bộ (Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, Sarvāstivāda) có một vài luận phẩm cũng cho rằng chính do tôn giả Xá-lợi-phất hoặc những đại đệ tử của Đức Phật biên tập, nhằm củng cố duy trì lời dạy cao minh của Đức Thế Tôn. Rõ ràng, quan điểm của Thervavāda và của Sarvāstivāda không phải ai cũng chấp nhận được. Vào thời kỳ nó ra đời, đã có nhiều Tăng Sư không đồng ý với ý trên, chủ trương lấy kinh Phật làm chỗ nương tựa, làm y cứ cho việc tu học của mình, nên mới tạo ra phái Kinh Lượng Bộ (Sautrāntika).

Còn phía bên Thượng Toạ Bộ lại thẳng thừng cho rằng Kinh điển của Phật giáo Đại Thừa là nguỵ tạo, không phải lời của Phật thuyết, đôi chỗ còn nặng nề cho rằng đó là tà ma ngoại đạo. Vấn đề này là một vấn đề cần lưu tâm khi nghiên cứu dòng văn học Phật giáo Mahāyāna, và các nhà nghiên cứu Phật học Theravāda đã thường gọi những loại kinh điển như vậy là “ngụy tác” (apocrypha). Cách đây không lâu, một vài học giả ra sức nghiên cứu về những kinh điển có thể bị nghi ngờ là do đời sau thêm vào trong hệ thống văn học Phật giáo Trung Quốc và họ cho các Kinh này là Kinh nguỵ tác.[6]  Do đó, câu “như thị ngã văn” trong Hán tạng hoặc câu “Evaṃ me sutaṃ” (tôi nghe như vầy) trong Pāḷi tạng không thể là tiêu chí xác định đó là kinh do chính Đức Phật thuyết.

Theo thiển ý của người viết, mặc dầu chúng ta có thể dễ dàng chỉ ra một số kinh điển không phải do chính kim khẩu của Đức Phật tuyên thuyết, nhưng điều đó chỉ có giá trị cho việc khẳng định lại kinh điển nào ra đời sớm nhất và được tin là tư tưởng, ngôn ngữ và cách trình bày là của chính Đức Phật. Đứng trên phương diện tu tập, chúng ta có thể chấp nhận những gì theo lý trí của chúng ta cho là chân lý, có giá trị đến đời sống tu tập tâm linh thì chúng ta sẵn sàng mở rộng lòng để đón nhận, và những gì lý trí chúng ta nhận thấy là không hợp lý, không đem lại lợi ích cho mình, cho người thì chúng ta không vội tin và không nên chấp nhận. Thái độ này rất tương hợp với lời dạy rất nổi tiếng, có thể được xem như kim chỉ nam để đọc kinh Phật, được ghi lại trong Tăng Chi Bộ  (Tập I, Phẩm Lớn, 65, ĐTKVN, tr.338), xin trích lại nguyên văn như sau:

Này các Kālāma, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được Kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì xuất phát từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo Sư của mình. Nhưng này các Kàlàma, khi nào tự mình biết rõ như sau: các pháp này là bất thiện, các pháp này có tội; các pháp này bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàma, hãy từ bỏ chúng!”

Kinh Thanh Tịnh (số 18) trong Trường Bộ ghi rằng: “Một thời, Thế Tôn trú giữa giòng tộc Sakya (Thích ca) trong vườn xoài của một gia đình Thích ca tên là Vedhannà.”

“Lúc bấy giờ, Nigantha Nāthaputta vừa mới tạ thế ở Pàvà. Sau khi vị này tạ thế, các vị Nigantha chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí bằng miệng – “Ngươi không biết pháp luật này, ta biết pháp luật này. Sao Ngươi có thể biết pháp luật này? Ngươi theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói của ta tương ưng, lời nói Ngươi không tương ưng. Điều đáng nói trước, Ngươi nói sau; điều đáng nói sau, Ngươi nói trước. Điều Ngươi quan niệm trình bày, đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ngươi đã bị thách đố. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ngươi! Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ngươi có thể làm được.” Hình như các đệ tử của Nigantha Nàthaputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigantha Nàthaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối các vị Nigantha, vì pháp luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.”

…. ……………

Thế rồi vấn đề đưa lên Đức Thế Tôn. Ngài đã dạy rất kỹ nên xử sự như thế nào. Có lẽ đây là bài kinh tiêu biểu nhất trong Tam Tạng kể cả hai hệ thống Tam Tạng Nam Truyền và Bắc Truyền mà Đức Phật đã ân cần dạy chư Tỳ-kheo phải nên xử sự thế nào trước tình trạng mỗi người thọ trì giáo pháp một kiểu khi bậc Đạo Sư không có mặt hoặc đã tạ thế.

“Này Cunda, các Ngươi hãy hội họp với nhau trong tinh thần hòa đồng và tương kính, không có tranh luận nhau. Có vị đồng phạm hạnh nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng “Vị Đại đức này nắm nghĩa sai lạc hay hành văn sai lạc”, các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên nói với vị ấy:

“Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này hay cách hành văn kia, cách nào thích hợp hơn? Giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?” Nếu vị ấy trả lời: “Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này thích hợp hơn cách hành văn kia. Giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia”, các Ngươi không nên bác bỏ vị ấy, không nên phỉ báng vị ấy. Không bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải thích cho vị ấy một cách cẩn thận cả nghĩa lẫn hành văn.

Bài kinh Thanh Tịnh này trình bày vấn đề trên vô cùng chi tiết. Mỗi Tăng Ni và Phật tử có lẽ nên đọc bài kinh này ít nhất một lần trong đời để tự rút ra bài học cho chính mình.

2) Sự phân chia của Tiểu Thừa và Đại Thừa trầm trọng ở mức độ nào?

Phật giáo đã diễn ra khá mạnh tại Ấn Độ thời tiền bán thế kỷ thứ nhất trở về sau. Điều này dẫn đến các bộ phái co cụm lại và hưng thịnh ở những địa hạt khác nhau, không còn tinh thần hoà hợp thống nhất “như nước với sữa” như thời Phật còn tại thế, ví dụ như Theravāda thì giáo hoá tập trung ở khu Maghadha (Ma-kiệt đà), nay thuộc Bang Bihar và một số vùng lân cận.  Mahāsaṁghika (Đại Chúng Bộ), bộ phái tổ tiên của Đại thừa thì trú tại phía Bắc Ấn, một trong những trung tâm học thuật thời bấy giờ, đó là các vùng thuộc Afghanistan và Parkistan ngày nay.[7] Điều này chúng ta có thể dễ dàng nhận dạng các tư tuởng trong các bộ Kinh như Pháp Hoa, rõ nhất là Kinh Duy-ma-cật. Trí tuệ bậc nhất trong hàng đệ tử của Phật là tôn giả Xá-lợi-phất mà còn thấp kém hơn cả một vị vua cõi trời. Cả thập đại đệ tử của Đức Phật đều phải chạy dài không dám đi thăm bịnh cư sĩ Bồ-tát Duy-ma !

Mặc dầu vậy, theo Phật Quốc Ký của Ngài Pháp Hiển để lại mà HT. Minh Châu đã tham khảo và viết tác phẩm: Fa-Hsien, the Unasssuming Pilgrim,[8] chúng ta có thể dựa vào một vài đoạn trong tài liệu này để đoán thêm tình trạng phân chia hay hoà hợp của Đại thừa và Tiểu thừa như thế nào. Ngài Pháp Hiển ghi rằng tại Ma-kiệt-đà trong thành Ba-liên-phất: “cạnh tháp Vua A-dục có một ngôi chùa Đại thừa rất tráng lệ. Lại còn có một ngôi chùa Tiểu thừa. Trong cả hai ngôi chùa có từ 600-700 tu sĩ….” (tr.75). Đến thế kỷ thứ VII TL, sau Ngài Pháp Hiển khoảng 200 năm, ngài Huyền Tráng đã du hành qua Ấn để tham học Kinh Luận và đặc biệt là Du-dà-sư-địa Luận và chiêm bái Phật tích, trong cuốn Đại Đường Tây Vức Ký của ngài có tường thuật lại tại Surath có khoảng 50 tu viện, trên 3000 tăng sĩ sống ở khu vực đó. Phần lớn là các vị theo Đại thừa ….các vị theo các bộ phái khác cũng sống chung với nhau.[9] Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng, mặc dầu có những chủ trương dị biệt trong cách tiếp cận lời Phật dạy, nhưng các vị trong cả hai hệ thống Hīnayāna và Mahāyāna sống tương đối hoà hợp với nhau, chứ không có dùng thế loại trừ như một sự phân chia các tông phái ở một số nước Phật giáo sau này.

Chúng ta cũng nên lưu ý là từ “Tiểu Thừa” (Hīnayāna) và Đại Thừa (Mahāyāna) không hề tìm thấy trong năm bộ Nikāya của Thượng Toạ Bộ và trong các bộ[10] A-hàm (Āgama) theo trường phái  Sarvāstivāda (Nhất Thiết Hữu Bộ) hoặc của Dharmaguptaka (Pháp Tạng Bộ // Đàm-vô-đức Bộ). Lại nữa, chúng ta có thể thấy rất rõ ràng, không thể có một bộ phái nào, dù chủ trương hay cổ xuý một học thuyết nào, giả như là “dỏm” đi nữa, cũng không tự nhận mình là “Tiểu Thừa”, là cỗ xe nhỏ bao giờ.[11] Chúng ta có thể thấy trong lịch sử các bộ phái, không có bộ phái nào có danh hiệu “Hīnayāna” trong 10 bộ phái chi nhánh của Theravāda hoặc 8 bộ phái của Đại Chúng Bộ cả.

Theo công trình nghiên cứu của HT. Piyadassi, thì “danh từ Đại Thừa và Tiểu Thừa được biết đến vào khoảng thế kỷ thứ I trước CN, xuất hiện trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.[12] Hoà Thuợng cũng nhấn mạnh đến khái niệm “thừa” không hề tìm thấy trong Tạng Pāḷi. Trong một bài trả lời ngắn trên diễn đàn alt.religion.buddhism.theravada, ông Kare A. Lie đã nói rằng từ “Hīnayāna” (tiểu thừa) để chỉ cho một trong những trường phái có ảnh hưởng mạnh nhất thời bấy giờ là Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda), vì Thượng Toạ Bộ đã “di trú” qua Tích Lan rồi.[13] Dĩ nhiên, theo thiển ý của người viết, không nhất thiết danh từ này để chỉ cho Thượng Toạ Bộ, mà để chỉ chung cho tất cả trường phái không theo Đại Thừa, ngay cả các bộ phái của nó. Và một điều không thể chối cãi, sau khi các bộ phái lần lần biến mất khỏi Ấn Độ, chỉ còn lại Thượng Toạ Bộ (Theravāda) ở một vài nước như Tích, Miến, Thái, Lào và Campuchia, đặc biệt mạnh nhất ở Tích Lan vào những thế kỷ thứ V-VIII, thì danh từ “Tiểu Thừa” vẫn còn được các nhà khảo cứu, các nhà chép sử tiếp tục sử dụng để gán vào. Cách dùng từ thiếu tế nhị này, nếu không muốn nói là không đúng, kéo dài trên dưới 2000 năm trong truyền thống Mahāyāna, nó ảnh hưởng sâu rộng đến cả giới học Phật tri thức và ngay cả quần chúng bình dân ngày nay. HT. Thích Minh Châu, ngay trong lời giới thiệu về dịch phẩm Đại Thừa và sự Liên Hệ với Tiểu Thừa[14] của mình, HT. đã nhấn mạnh đến sự nguy hiểm khi chúng ta tiếp tục dùng những từ “Tiểu Thừa” và “Đại Thừa” để chống báng lẫn nhau và không có tinh thần rộng mở để tiếp nhận những tinh hoa của cả hai hệ thống. Người viết xin trích lại nguyên văn như sau:

Thái độ của một số Phật tử Ðại thừa ngược lại xem những gì Tiểu thừa là thiển cận, nhỏ hẹp, không đáng học hỏi cũng là một thái độ nguy hiểm, nông nổi, nếu không phải là ngây thơ, phản trí thức. Nguy hiểm vì tự nhiên phủ nhận ba tạng Pāli, bốn bộ A Hàm và các luật tạng, những tinh hoa tốt đẹp nhất và nguyên thủy nhất của lời Phật dạy. Và làm vậy chúng ta mắc mưu các nhà Bà-la-môn giáo đã khôn khéo loại bỏ ra ngoài Phật giáo những tinh ba của lời Phật dạy, bằng cách gán cho danh từ “Tiểu thừa.” Nông nổi và ngây thơ, vì thật sự danh từ Tiểu thừa và Ðại thừa không được tìm trong Tam tạng Pāḷi và bốn bộ A Hàm và chỉ là những danh từ được tạo ra về sau. Hơn nữa, tìm hiểu quá trình lịch sử tư tưởng Phật giáo, chúng ta chỉ có thể hiểu được tư tưởng Ðại thừa sau khi chúng ta tìm hiểu được tư tưởng nguyên thủy. Loại bỏ tư tưởng nguyên thủy để tìm hiểu tư tưởng Ðại thừa cũng như thả mồi bắt bóng, và bắt bóng ở đây là bắt bóng tà ma ngoại đạo, mới thật sự nguy hiểm hơn. Các nhà gọi là Ðại thừa cần phải xác nhận một sự thật lịch sử, là các nước Tiểu thừa chống giữ sự xâm nhập của ngoại đạo tà giáo kiên trì và hữu hiệu hơn các nước Ðại thừa. Lý do chính là tư tưởng Ðại thừa và tà giáo ngoại đạo nhiều khi cách xa chỉ có gang tấc, và nhiều nhà tự cho là Ðại thừa lại sẵn sàng bước qua biên giới ấy.

Theo người viết, đọc suốt tiến trình lịch sử từ thời Phật còn tại thế, cho đến những năm tháng về sau, thì sự phân phái và sự chia rẽ giữa hai truyền thống lớn của Phật giáo lúc đó gần như là một sự kiện tất yếu phải xảy ra, một sự kiện đáng tiếc, nhưng không thể nào tránh khỏi! Sự chia rẽ Tăng đoàn đã có mầm mống ngay từ khi Đức Phật còn tại thế qua sự kiện Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) đòi thay Phật lãnh  đạo Tăng đoàn và chế năm điều luật thái quá vào hoàn cảnh lúc bấy giờ, cũng như kích động Tăng chúng đi theo đường hướng của ông. Tiếp theo là “thập sự phi pháp” của nhóm Tỳ-kheo tại Vajjī (Bạt-kỳ). Lại nữa, một sự kiện “đóng góp” không nhỏ cho sự phân phái mãnh liệt đó là “ngũ sự” của Mahādeva, mà sách sử Hán ngữ thường mệnh danh là “ngũ sự Đại Thiên”, cộng thêm các vấn đề thuộc học thuyết phát sanh khác nhau của mỗi bộ phái tạo nên sự bất đồng càng ngày càng mạnh hơn.

Trở lại vấn đề “Tiểu Thừa” và “Đại Thừa”, cách đây trên 50 năm, ngày 25-5-1950, một sự kiện đáng ghi nhớ trong trang sử Phật giáo thế giới, 127 đại biểu đại diện cho Phật giáo của 29 nước đã tổ chức và thành lập hội “The World Fellowship of Buddhists” (Hội Thân Hữu Phật Giáo Thế Giới). Một trong những sự kiện nổi bậc của Đại hội này là thống nhất không dùng chữ Hīnayāna (Tiểu Thừa) và bắt đầu sử dụng chữ Theravāda (Thượng Toạ Bộ).[15] Vậy, nếu ngày nay chúng ta tiếp tục sử dụng từ Hīnayāna cho các vị tu tập theo đường lối của các vị Theravāda chủ trương với dụng ý là để xem nhẹ các giá trị đặc thù của Theravāda thì không nên! Tuy nhiên, nếu chúng ta dùng từ Hīnayāna này theo văn bản sử học của thời kỳ xa xưa, như một sự thật khách quan khi đánh giá lại vấn đề và từ ngữ của thời ấy sử dụng, thì lại đúng với tinh thần học thuật.

Ngày nay, nhiều học giả có khuynh hướng dùng từ “Bắc tông” hay “Bắc truyền Phật giáo” (Northern Buddhism) hoặc dùng từ  “Phật giáo thời kỳ sau” / “Hậu Kỳ Phật giáo” (Later Buddhism) để chỉ cho Đại Thừa. “Nam Tông” hoặc “Nam phương Phật giáo” (Southern Buddhism) hoặc “Phật giáo thời kỳ đầu” (Early Buddhism) để chỉ cho Phật giáo theo truyền thống Theravāda. Như vậy để tránh việc hiểu lầm do ngôn ngữ gây ra, mà cũng đúng với lộ trình truyền bá giáo pháp của cả hai hệ thống trên đến các nước khác thời bấy giờ.

3) Sao bên nào cũng tự nhận đi đúng đường và cao siêu hơn?

Vì để tôn vinh một lý tưởng nào mà mình bỏ cả cuộc đời theo đuổi, và để gây ấn tượng và niềm tin cho người đọc, nên trong một số Kinh Đại Thừa thường nói là “Kinh này là Vua trong các Kinh”, “là pháp tối thượng thừa”, “là đệ nhất nghĩa đế.” Dĩ nhiên, nếu giáo lý của Đức Phật được vận dụng một cách đúng đắn, dầu là hệ A-hàm, hệ Bát-nhã, Phương Quảng, Hoa Nghiêm, Niết-bàn chắc chắn sẽ đem lại lợi ích lớn cho mình và cho người, cho nhân quần xã hội thì kinh nào cũng tối thượng thừa cả. Xét về giáo nghĩa, chúng ta có thể thấy điểm dị biệt về tư tuởng và các cách lý giải lời Phật của các bộ phái tuy có, nhưng về pháp môn tu tập căn bản thì không khác. HT. Thích Minh Châu trong lời giới thiệu trong bản dịch vừa đề cập ở trên, nói rằng:

Ðọc kỹ tiến trình tư tưởng Phật giáo, chúng ta sẽ thấy các luận sư không vị nào là không muốn diễn đạt cho thật sự trung thành giáo nghĩa nguyên thủy của đức Từ Phụ. Dầu cho sự diễn đạt đặt dưới nhiều quan điểm và khía cạnh sai khác, lồng vào những bối cảnh có thể nói là mâu thuẫn, nhưng chúng ta vẫn nhận thấy những sóng ngầm đồng nhất, thật sự nguyên thủy trong sự cố gắng trung thành của các nhà luận sư.

Chúng ta có thể lấy ngay ảnh dụ trong Kinh Pháp Hoa, phẩm “Dược Thảo Dụ”, Đức Phật đã ví giáo pháp của Ngài giống như một trận mưa rào tuỳ theo từng hạng cây cỏ mà hấp thụ khác nhau, chứ không hề phân biệt trận mưa rào này cốt để cho các loại cây cao, bóng cả hấp thụ; hay trận mưa rào này để cho các loài cỏ, bụi rậm thấp kém hấp thụ! Biển cả chỉ có một vị, đó là vị mặn; giáo Pháp cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát. Giáo pháp thì không có tiểu-đại, chỉ có người tiểu-đại mà thôi!

4) Đức Phật đã xếp hạng giữa hai phái: Đại Thừa và Tiểu Thừa qua Kinh Pháp Hoa?

Như Đạo Hữu đã trích ý rải rác từ các phẩm của Kinh Pháp Hoa, cho rằng Đại Thừa là hạt giống rắn chắc, khác với Tiểu Thừa là trình độ thấp thỏi, trình độ kém, như vậy Đức Phật đã xếp hạng trình độ giữa hai phái, vậy mà Tiểu Thừa còn tự nhận là Nguyên Thuỷ đúng lời Phật dạy?  Người viết xin trình bày sau:

Mặc dù, Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh có lẽ phổ biến và được các nhà sớ giải, chú thích nhiều nhất, và đã từng trở thành một trào lưu tu học chính của Trung Quốc và ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nhật Bản, Triều Tiên, cũng như Việt Nam gần đây. Tuy nhiên, xét về phương diện ra đời của Kinh sớm nhất là vào thế kỷ thứ I TL, sau kỳ kiết tập kinh điển lần IV dưới sự ủng hộ của đại đế Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka).[16] Bản Diệu Pháp Liên Hoa Kinh được HT. Thích Trí Tịnh dịch sang Việt ngữ mà lâu nay chúng ta thường trì tụng xuất phát từ bản chữ Hán được ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập) dịch từ nguyên tác Sanskrit Saddharmapuṇḍarīka sūtra sang tiếng Hoa thuộc thời Diêu Tần (384- 417 TL). Bản Sanskrit này là bản hoàn hảo nhất trong các bản mà các học giả sau này đã phát hiện và đã được chọn làm Kinh tiêu chuẩn cho Thiên Thai Tông. Trước thời ngài Kumārajīva cũng có một dịch phẩm mang tựa đề Tát-đàm-phân-đà-lợi Kinh do phiên âm từ chữ Saddharmapuṇḍarīka sūtra, bản dịch này dịch không hoàn hảo hai phẩm “Hiện Bảo Tháp” và “Đề-bà-đạt-đa.” Đọc tiếp phần trình bày vắn tắt các ấn bản của Kinh Pháp Hoa trong A Catalogue of the Buddhist Tripitaka của Bunjiu Nanjio, chúng ta sẽ thấy tất cả là có tới 6 bản dịch Kinh Pháp Hoa, với các tựa đề khác nhau, và nội dung không nhất quán, không phải bản tiếng Hoa mà ngay cả bản Sanskrit. Cho tới ngày nay các bản dịch này cũng còn được lưu giữ nguyên vẹn trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh và được phổ biến rộng rãi dưới dạng CD ROM.[17] Một bản dịch khác của Saddharmapuṇḍarīka sūtra Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa với phẩm phụ), chỉ có 27 phẩm, vì phẩm “Hiện Bảo Tháp” (số 11) và “Đề-bà-đạt-đa” (số 12) được gộp thành một. Về điểm này, thì bản dịch lại chính xác với bản Sanskrit mà mục lục các Kinh của Hodgson (Catalogue of Hodgson Manuscript) trình bày. Cũng theo tư liệu trên, có ít nhất 2 ấn bản Sanskrit được phát hiện, một bản thì giống với bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập. Bản thứ hai, thì tương đồng với bản dịch Chánh Pháp Hoa Kinh, nhưng trong bản này lại thiếu phẩm “Diệu Âm Bồ-tát.” Nhưng bản Sanskrit đầu, phẩm “Dược Thảo Dụ” lại thiếu cả nửa phẩm “Dược Thảo Dụ” trong ấn bản Sanskrit sau, và nhiều đoạn thiếu-dư trong cả hai ấn bản, chưa kể tới trật tự phẩm của cả hai bản Sanskrit và các bản dịch. Chuyện thiếu dư trong các bản tiếng Hoa và Sanskrit được các nhà nghiên cứu Kinh Pháp Hoa sẽ đi chuyên sâu hơn.  Trong phần “Lịch Sử Thành Lập” của công trình nghiên cứu Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa của TT. Thích Chơn Thiện, theo Junjiro Takakusu, ông đã phát hiện bản dịch mà Ngài Cưu-ma-la-thập dịch sang Hoa văn lúc đầu cũng chỉ 27 phẩm, sau này đệ tử của Ngài là Pháp Hiền đưa thêm phẩm Đề-bà-đạt-đa, cũng như một số ý kiến cho rằng phẩm Tựa có thể do một nhà Sư Trung Hoa sáng tác với lối hành văn rất nhuyễn tóm tắt toàn bộ 27 phẩm kia. Đi sâu vấn đề này đòi hỏi kiến thức chuyên môn và mất nhiều thời giờ hơn.

Do đó, chúng ta không thể nào phủ nhận lịch sử, và có thể khẳng định lại một lần nữa, việc biên tập Kinh Pháp Hoa  ra đời tương đối muộn và chắc chắn là do các nhà tư tưởng Đại Thừa thời bấy giờ biên tập. Về phần lợi ích của việc thọ trì Kinh Pháp Hoa hay giá trị thực tiễn của bộ Kinh, không phải mục đích nhắm đến bài viết này, nên người viết không trình bày.

Một vấn đề nữa, đó là vấn đề Niết-bàn (Nirvāṇa) cho rằng Tiểu thừa không có niết-bàn. HT. Thích Trí Quang, trong phần “Ghi Sau Khi Duyệt Pháp Hoa” của bản dịch Kinh Hoa Sen Chánh Pháp cũng cho rằng tư tưởng “Pháp Hoa công nhận tiểu thừa nhưng không công nhận tiểu thừa có Niết-bàn.” Trong khi đó, Đức Phật đã xác định và tán dương không biết bao nhiều lần trong hệ thống Nikāya và Āgama là các vị A-la-hán là các vị đã cắt đứt dòng chảy ái nhiễm của mọi cảnh giới (dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu), là vị “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc làm đã xong, không còn trở lui đời sống này nữa”, các vị này mới thật sự đạt đến mục tiêu của đời sống phạm hạnh.

Lại nữa, mặc dầu nhiều nơi trong Kinh Pháp Hoa không ca ngợi công hạnh của các vị A-la-hán, nhưng có lẽ cũng để hoà giải mối tranh chấp của các bộ phái, vì tư tuởng “Tam Thừa quy nhất”, đã xuất hiện. Giả như Đức Phật có nói Tam Thừa đi nữa cũng là phương tiện quyền giáo để dẫn dụ đến Nhất Phật thừa. Đó là điểm hay của Kinh Pháp Hoa, mà người viết thường tâm đắc.

Đến đây, quý vị lại có thể đặt vấn đề, như vậy câu “như thị ngã văn” trong Kinh điển Đại Thừa, cụ thể như Kinh Pháp Hoa, là ngoa mà lại cho là lời của Tôn giả Ānanda thuật lại, như vậy có trái với giới thứ tư của Đức Phật dạy cho hàng Phật tử không? Đây, xin đưa ra cách lý giải khác mang tính hoà giải khá hay của Thượng Toạ Chơn Thiện, cho người đọc sự thông cảm và thấy tinh thần vì mục đích truyền bá Phật Pháp của các bậc Tổ Sư hơn là vì tên tuổi của mình: “Do vì lời kinh phù hợp với giáo lý truyền thống nên có thể được xem là do Phật thuyết. Chư Tổ không dám nhận lãnh trách nhiệm chuyển bánh xe Pháp. Vả lại, bảo Kinh do Đức Phật dạy sẽ khơi dậy được niềm tin Pháp sâu xa trong tâm người học hỏi và tu tập kinh hơn. Do nhằm xây dựng niềm tin Pháp ấy cho đời, nên Kinh Đại Thừa được chư Tổ kiết tập dưới hình thức Phật thuyết” (Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa, Lời Tựa).

Trở lại vấn đề mà Phật tử đưa ra, sao mà các vị Theravāda lại tự nhận mình là Nguyên Thuỷ đúng với lời Phật dạy? Thật ra, chữ Nguyên Thuỷ vốn xuất phát từ chữ Theravāda, mà chữ này vốn có nghĩa là bộ phái của những vị trưởng lão (Thera: nghĩa là lớn, trưởng lão; vāda vốn có nghĩa là lời dạy, được dịch thoát là bộ phái, trường phái hoặc là học thuyết), như vậy, đúng ra chữ này nên được dịch là học thuyết của những vị Trưởng Lão, hoặc là chủ trương của những vị Trưởng Lão, và để cho gãy gọn, mang tính học thuyết thì ta nên dịch là bộ phái của các vị Trưởng Lão hoặc như cách dịch của các dịch giả Trung Quốc dịch là “Thượng Toạ Bộ.” Điều này có thể được kiểm chứng qua các nguyên tác bằng chữ Hán. Dựa vào các tiêu đề trong Hán tạng và các tác phẩm đã được đọc, chưa hề thấy tác phẩm nào có liên hệ đến chữ “Nguyên Thuỷ” cả, mà phần lớn được dịch là “Thượng Toạ”, cụ thể là Dị Bộ Tông Luân Luận (đã được HT. Thích Trí Quang dịch sang tiếng Việt). Còn một số bản kinh luật, luận  khác của Theravāda hoặc của các bộ phái của Theravāda cũng như ngay cả các ký sự của các Ngài chiêm bái như Pháp Hiển, Huyền Tráng và Nghĩa Tịnh đều dùng chữ “Tiểu thừa” để chỉ cho các bộ phái thuộc Theravāda hoặc của Mahāsamghika.

Bộ phái Theravāda này cũng còn có cách viết khác là: Sthaviravāda (theo Sanskrit) hoặc tên khác là Vibhajavāda (theo Pāḷi), có nghĩa là Phân Tích Bộ (bộ phái chủ trương các học thuyết cần phải phân tích trên lý trí). Như đã đề cập trên, các nhà Đại Thừa đã cho tất cả các học thuyết, chủ trương khác với đường lối chủ trương của mình là “tiểu thừa”, và điều này đã gây mâu thuẫn không ít trên dưới 2000 năm rồi. Thuật ngữ “Nguyên Thuỷ” bằng tiếng việt và tiếng Anh xuất hiện cũng không sớm. Vào cuối thế kỷ XIX, các dịch giả của hội “Pali Text Society” (Hội Kinh Điển Pāḷi) đã dịch chữ Theravāda thành chữ “Early Budddhism”, vốn có nghĩa là Phật giáo thời kỳ đầu, hoặc các nhà viết sử thường chép trường phái này là: “the most orthodox school of Buddhism” (trường phái Phật giáo chính thống nhất). Các Kinh điển Pāḷi dịch thành “Early Buddhist Manuscripts / Texts / Canon” (Kinh điển Phật giáo thời kỳ đầu). Dĩ nhiên, cũng có những trường hợp cá biệt, như Bà I. B. Horner, cũng là một dịch giả nổi tiếng, đóng góp rất lớn vào công trình dịch thuật kinh điển Pāli sang tiếng Anh, dịch chữ Theravāda thành “Primitive Buddhism”[18] (Phật giáo Nguyên Thuỷ), nhưng các học giả hầu như không sử dụng từ của Bà. Còn một số vị khác, thỉnh thoảng dịch chữ Theravāda thành “trường phái của những người bảo thủ” (conservative School), nhưng nghĩa này cũng không sát và không được các nhà nghiên cứu sử dụng.

Có lẽ cũng nên đề cập ở đây, ai là người sử dụng chữ “nguyên thuỷ” đầu tiên  trong quá trình dịch thuật hay trước tác trong giới học thuật Việt Nam, xin chờ một bài khảo cứu có giá trị của các nhà nghiên cứu khác. Tuy nhiên, ở mức độ sơ bộ, chúng ta không thể kể đến công của dịch phẩm của HT. Quảng Độ: Nguyên Thuỷ Phật Giáo Tư Tưởng Luận của Kimura Taiken (người Nhật), rất tiếc là bản dịch không đề rõ Kimura Taiken viết vào năm nào để truy nguyên ông đã sử dụng chữ “Nguyên Thuỷ” để chỉ cho Theravāda và Tiểu Thừa (Hīnayāna) để chỉ cho các bộ phái của Theravāda.

Theo thông tin của cư sĩ Bình Anson cung cấp, đến năm 1957 khi Giáo Hội  Tăng-già Phật giáo Nguyên Thuỷ được thành lập, thì chữ “Nguyên Thuỷ” đã được ra đời, hoặc có thể sớm hơn nữa. Người viết nghĩ rằng, chính vì lý do này mà các học giả Việt Nam mạnh dạn sử dụng chữ “Nguyên Thuỷ” để chỉ cho bộ phái Theravāda, chứ trên thật tế, cuộc sống xã hội và môi trường tự nhiên thay đổi từng sát-na, làm sao con người hiện nay giữ đúng được cả nội dung và hình thức giáo pháp như thời Phật còn tại thế cách nay hơn 2500 năm. Nếu ai có cố gắng hết sức mình, cũng chỉ giữ được phần nào tinh hoa của giáo pháp mà thôi. Điều này chúng ta có thể phát hiện một cách dễ dàng qua cách hành trì và tiếp cận Kinh, Luật và Luận của 3 nước Phật giáo Theravāda mạnh nhất, đó là: Tích Lan, Miến Điện và Thái Lan.

Một câu trả lời mang tính gợi ý cho các vấn đề mà quý Phật tử đã đặt ra, như vậy có lẽ đã quá dài, và hơi dư nữa là khác. Nên người viết ngưng tại đây. Trước khi kết thúc, người viết xin thưa là những gì được trình bày với mục đích khiêm tốn là đưa ra vài quan điểm nhỏ của mình, hy vọng nó sẽ bổ túc phần nào mà Phật tử có thể cần thiết, chứ không hề dụng tâm chê khen kinh điển hoặc các bộ phái và các bậc hữu công tiền bối đối với hai dòng văn học Phật giáo lớn. Và để  trình bày quan điểm của người viết về thái độ  khi tiếp cận giáo pháp như thế nào, xin trân trọng giới thiệu bài viết  “Thái Ðộ Cần Có Khi Ðọc Kinh Phật” của HT. Thiện Siêu, như là lời kết của người viết xin gởi đến độc giả. Kính mong các bậc thiện tri thức tường tri.

Để cung cấp thêm các bài viết có chủ để liên hệ về Tiểu Thừa và Đại Thừa, xin giới thiệu bài “Đạo Phật Nguyên Thuỷ và Đạo Phật Đại Thừa”, nguyên tác của HT. Walpola Rahula, được Sư Thiện Minh dịch; bài viết “Mahayana và Theravada: Cùng Một Cỗ Xe” của cư sĩ Binh Anson; hoặc Theravada and Mahayana với tiêu đề nhỏ là Basic Points Unifying the Theravada and the Mahayana (Các Điểm Căn Bản Đồng Nhất Giữa Theravāda và Mahāyāna) của HT. W. Rahula. Cả ba đều được đăng trong trang nhà Buddhasasana.

Thân chúc Phật tử thân tâm thường an lạc, đạo tâm bất thối đối với chánh pháp, và ngọn đèn chánh pháp mỗi ngày mỗi rực sáng trong lòng của quý Phật tử và của tất cả chúng sanh.

Nam-mô Hoan Hỷ Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát.

Thích Giác Hoàng


[1] Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taishō Shīnshū Daizōkyō) gọi tắt là “Đại Chánh Tạng”. Tạng  này dựa vào các tạng có trước  từ thời Tống,  Nguyên, Minh và các bản di thư, thạch thư ở Đôn Hoàng. Ngoài ra các nhà biên tập tạng này còn tham khảo các tạng của Triều Tiên, Nhật Bản, Tây Tạng và những phần còn sót lại tại Ấn Độ. Như vậy, “Đại Chánh Tạng” cho tới ngày nay, nó có thể được xem như là Tạng tiêu chuẩn nhất của các nước Phật giáo vốn chịu ảnh hưởng của  văn hoá Trung Quốc được ấn hành tại Nhật khoảng năm 1924- 1929.

[2] Nguyên mục lục này được biên tập vào thời nhà Minh, Trung Hoa, nguyên thuỷ có tựa đề: Đại Minh Tam Tạng Thánh Giáo Mục Lục, được học giả đương đại Bunjiu Nanjio, Nhật Bản đối chiếu, bổ sung, cũng như học giả Lokesk Chandra ở New Delhi, Ấn Độ bổ sung và hiệu đính lại một lần nữa. (Delhi: Jayyed Press, 1980).

[3] Nguyên tác bằng tiếng Pháp Histoire du Bouddhisme Indien, des origines à l’ère ‘Saka (1958) được Sara Webb-Bon dịch sang Anh ngữ với tiêu đề  History of Indian Buddhism from the Origins to the ‘Saka Era, (Louvain-Paris: Peeters Press, 1988, pp.556-557).

[4] Có rất nhiều ý kiến bất đồng về việc biên tập Kinh điển Pàli bằng chữ viết, một số cho rằng chính Ngài Mahinda đã vận động biên tập bằng chữ viết tại Sri Lanka, nhưng theo thiển ý của người viết không thể nào một mình tôn giả Mahinda có trí nhớ siêu việt hết những lời dạy của Đức Phật. Lại nữa, văn hoá Sri Lanka lúc bấy giờ  chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Ấn Độ rất lớn, không lẽ nào các bậc Thánh giả và các đại tri thức của Ấn Độ không nghĩ ra cách biên tập chữ viết, mà sau này lại copy Kinh điển Pāḷi từ Tích Lan. Do đó, người viết ủng hộ quan điểm của Lamotte và một số vị khác cho rằng, Ngài Mahinda chỉ đem Kinh điển Pāḷi sang Tích Lan truyền bá và tại đó có thể biên tập lại một lần nữa.

[5] Xem thêm: G.C. Pande, A Studies in the Origins of Buddhism (Delhi: Moltilal Banasidass, 1999). Tác phẩm này là một trong những công trình nghiên cứu tuyệt vời giáo sư về Kinh Tạng Phật giáo Thượng Toạ Bộ, được xuất bản đầu tiên năm 1957 và được tái bản nhiều lần: 1974, 1983, 1995, 1999. Quý vị có thể tham khảo từ chương IV đến chương VII để xác định ý chúng tôi vừa trình bày trên.

[6] Xem tuyển tập Chinese Buddhist Apocrypha do Robert E. Buswell, Jr biên tập (Delhi: Sri Satguru Publications, 1992).

[7] Xem N. Dutt, Early History of the Spread of Buddhism and Buddhist Schools, (New Delhi: Rajest Publications, 1925, pp.132-134).

[8] Tác phẩm này được Ni Sư Trí hải dịch sang tiếng Việt: Pháp Hiển, Nhà Chiêm Bái (TP.HCM, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, 1977).

[9] Thomas Watters, On Yuan Chwang’s Travels in India (1904-5) (ed. by T.W. Rhys Davids and S.B. Bushell), 2 vols, (Delhi: Munshiram Manoharlal Pulishers Pvt. Ltd., 1996, vol. 2, p. 248)

[10] Chỉ có 4 bộ A-hàm chính thức được sang tiếng Hoa. Còn bộ Tạp A-hàm được dịch hơi muộn, và cách phân chia không rõ ràng

[11] Vì chữ Hīnayāna được dịch sang Anh ngữ là “Small Vehicle”, chữ Hán là “Tiểu Thừa”, nhưng thực chất chữ Hīna, không những có nghĩa là nhỏ (small), mà còn có nghĩa là dỏm, tồi, thấp, kém, xấu xa, hạ liệt, đáng khinh bỉ. W. E. Soothhill and L. Honous (compiled) A Dictionary of Chinese Buddhist Terms (1837), (Delhi: Motilal Banasidass, 1997, p.54) cũng dịch chữ này là: below, lower, inferior, low, to decend, let down, put down. Tương tự, trong Pali-English Dictionary  do T.W.Rhys Davids và W.Stede biên tập thì cũng cho các nghĩa của từ  Hīnayāna như sau: inferior, low, poor, miserable, vile, base, contemptible, despicable (p. 732). Còn nếu các nhà trước tác, biên tập muốn dùng chữ “nhỏ” (small) để đối lập với chữ “lớn” (great), thì có lẽ đã sử dụng từ “cūḷa” bằng tiếng Pāḷi hoặc Sanskrit thay cho chữ “Hīna” rồi.

[12] Piyadassi, The Spectrum of Buddhism, (Taiwan: The Corporate of the Buddha Educational Foundation, p. 427).

[13] Bài này tôi đã đọc được trên trang nhà Buddhasasana.

[14] Nguyên tác của N.Dutt, Aspects of Mahāyāna Buddhism and its Relations to Hīnayāna (London: Luzac, 1930). Bản dịch được nhà Xuất Bản TP.HCM tái bản năm 1999.

[15] Cố Hoà Thuợng Thích Thanh Kiểm đã trình bày vấn đề này vắn tắt nhưng rất rõ trong cuốn Luợc Sử Phật Giáo Ấn Độ (Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh, 1989, tr. 144-147).

[16] Dựa theo biên niên sử Phật giáo khả tín của Charles S. Prebish, Historical Dictionary of Buddhism (Delhi: Sri Satguru Publiscations, 1993, p. xxix). Kỳ kiết tập kinh điển lần thứ 4 này bao gồm cả Nguyên Thuỷ và Đại Thừa. Truyền thống Phật giáo Nguyên Thuỷ không tính kỳ kiết tập này trong 6 kỳ kiết tập.

[17] Chúng tôi có đĩa CD ROM Đại Tạng Kinh Trung Hoa (đĩa 1) do Thầy Thích Minh Nhẫn viết phần giới thiệu và hướng dẫn sử dụng.

[18] Thông qua tiêu đề của tác phẩm Women under Primitive Buddhism (1930), (Delhi: Moltilah Banarsidass Publishers Private Limited, 1975, 1990, 1999).


61 phản hồi on “- ĐẠI-THỪA và TIỂU-THỪA phái nào cao siêu hơn ?”

  1. PTP003 nói:

    ĐẠI-THỪA và TIỂU-THỪA phái nào cao siêu hơn ?
    Thật là tức cười!
    Theo quan điểm riệng, tôi cho rằng chẳng có thừa, tông phái nào cả. Chỉ có 2 loại Kinh: Kinh nguyên thủy và Kinh phát triển (từ Kinh nguyên thủy).
    Bây giờ có 2 cái ly: 1 cái đựng nước có nhãn tinh khiết và 1 cái đựng nước pha cái gì đó có nhãn là chất gì đó không biết. Bạn chọn cái nào để uống???????
    Rõ ràng rồi.
    Những người học pháp tu Đại Thừa có cái tính kỳ ngộ, họ tưởng mình đọc nhiều, hiểu nhiều là hay. Lý luận dong dài để đi đến chỗ “huề vốn”. Bây giờ mà giáp mặt hỏi họ lộ trình tu chứng thì họ ngơ ngác cho mà xem. Tu mà không biết con đường tu chứng của mình đó là NGU. Đạo Phật là đạo của PHÁP TRÍ TUỆ. Biểu hiện của TRÍ TUỆ đó là GIẢN Dị và CHÂN THẬT chứ không phải trừu tượng, mơ hồ, có có không không.
    Thân ái.

    • Hoàng Thiên nói:

      Không có kinh nào là kinh “thực sự nguyên thuỷ” mà còn hiện hữu cả! Kinh thực sự nguyên thuỷ thì phải xuất phát từ kim khẩu của Đức Thích Ca Mâu Ni. Còn kinh mà do kết tập, do miệng ngài A-nan trùng tuyên –nếu thật sự là lời ngài A-nan nói, cũng không thể tuyệt đối tin được! Vì sao? Xin thưa: vì ngài A-nan tuy được gọi là “có trí nhớ hạng nhất”, nhưng ngài là vị duy nhất trong 10 đại đệ tử của Đức Phật mà không là A-la-hán, thực ra thì quả Nhập lưu (Tu-đà-hoàn) tức quả vị nhỏ nhất cũng không có! Mà không phải tại vì ngài mới theo Đức Phật, mà thực ra ngài đã theo Đức Phật 22 năm. Suốt 22 năm theo Phật mà quả Nhập Lưu cũng không có thì rõ ràng ngài không hiểu Đức Phật nói gì, tuy có vẻ rằng ngài “nhớ tất cả”! Sau này thì người Đại thừa cho rằng ngài “đại ngộ” sau khi ngài Đại Ca Diếp chỉ và nói “cây phướn đổ kìa”! Ai muốn tin điều này thì tin. Tôi chắc chắn không tin. Đức Phật mất 22 năm giảng Pháp mà A-nan không hiểu, thì ngài Đại Ca Diếp làm sao chỉ dùng có mỗi câu “cây phướn đổ rồi” mà ngài đại ngộ! Rõ ràng là chuyện thần thoại nhảm nhí!
      Tuy vậy tôi cũng không khẳng định là tất cả mọi điều mà người ta cho là ngài A-nan nói đều là dỏm! Mà chúng ta cần phải tham khảo kinh điển của mọi tông phái trước khi kết luận một vấn đề nào đó là hữu ích, là chân lý!
      Mặt khác, tôi đã tiếp xúc với các sư Thái lan và Miến Điện thì không ai nói Theravada là “Phật giáo nguyên thuỷ” cả! Theo sự điều nghiên của tôi thì danh xưng “Phật Giáo Nguyên Thuỷ” chỉ mới xuất hiện sau năm 1956, sau khi Ngô Đình Diệm xiết chặt đạo dụ số 10 bắt buộc tất cả các tông phái, mà không phải là Ca-Tô giáo và Tin Lành (được công nhận là “tôn giáo” theo đạo dụ số 10), phải đăng ký danh xưng hoàn toàn bằng Việt ngữ. Do đó, nhóm PG Theravada đã đăng ký là “Phật Giáo Nguyên Thuỷ”. Dần dần họ điêu ngoa, xập xí xập ngầu, không viết hoa chữ “Nguyên Thuỷ” nữa, như là một “danh xưng”, mà viết thường, gây ra cảm tưởng rằng Theravada là nguyên thuỷ (sic), còn những phái khác là “không nguyên thuỷ”, là nguỵ tạo!
      Còn nếu xét về lịch sử truyền thừa thì chúng ta sẽ thấy Theravada xuất hiện sau phái Sarvastivada –mà kinh điển viết bằng Sanskrit. Và kinh điển Theravada viết bằng Pali cũng không phải là thứ chữ mà kinh điển thời vua Asoka khắc trên đá! Như vậy, chữ Pali phải là thứ văn tự được thành lập sau văn tự Sanskrit! Chỉ nội việc văn tự Pali có sau thời Asoka, như vậy thì kinh điển Pali cũng không thể nào là kinh nguyên thuỷ được!
      Còn về “lộ trình tu chứng” thì đó là 1 điều khôi hài! Quý vị chắc rõ ràng về việc này hơn cả ngài A-nan hay sao? Thế thì chắc quý vị đã thành… “Siêu A-la-hán” rồi chắc?
      Peter Maserfield, một học giả Phật học tinh thông Pali, sau khi xem xét tất cả kinh điển Theravada, đã đi đến kết luận rằng các vị sư tuy theo chân đức Phật, bắt chước đức Phật từng ly từng tí, mà thực ra hầu hết đều không hiểu đức Phật nói gì! Thế thì quý vị chỉ đọc bản dịch kinh điển, tức là chỉ tuỳ thuộc vào sự hiểu biết của dịch giả, mà còn dám tự hào là đã thông hiểu “lộ trình tu chứng”?
      Ô hô!

      • Hoang Dung nói:

        Quan điểm của anh Hoàng Thên đưa ra có phần hơi gay gắt. Tôi nghĩ một khi xác định tu theo Phật thì trước hết cũng nên tìm trong kinh điển những giáo lý cơ bản mà mình hoàn toàn đủ khả năng làm thì hãy làm trước và làm cho chu tất rồi khi đó mới tính tiếp đến những gì chưa hiểu thấu đáo. Tôi thấy kinh điển tông phái nào cũng có đầy đủ những phần dễ hiểu, dễ tu chẳng qua tại vì người đọc cho đó là tầm thường và chỉ muốn tìm những gì thâm sâu.
        Ví dụ việc cơ bản của Phật tử là giữ Giới là giáo lý dễ hiểu nhất trong kinh, thì hỏi thử có ai trọn vẹn và không bị sơ sót chưa, mà lại muốn giữ chánh niệm trên đống rác bốc mùi do thiếu Giới của Tâm mình?
        Kinh điển của tông phái nào hiện nay cũng bị pha trộn nhiều thứ vào trong đó, nhất là kinh điển Đại Thừa. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là kinh bản mà là người tu học sau khi đọc xong sẽ rút ra được những gì mà tự bản thân mình cảm thấy hiểu được và có thể nỗ lực thực hành được. Về phần này thì tôi thấy kinh tông phái nào cũng có đầy đủ cả.
        Kinh điển Đại thừa thì chắc chắn là không phải nguyên thủy. Nhưng kinh điển Pali cũng hoàn toàn không phải là kinh điển nguyên thủy như Theravada tự nhận, bởi vì trong đó chứa rất nhiều điều vô lý, phản với khoa học ngày nay mà ngay cả một học sinh trung học phổ thông cũng đủ nhận ra. Nhưng kinh điển này vẫn mang đến lợi lạc lớn cho những ai biết lấy ra những gì cho mình tu học.
        Do sự kiến chấp của một số Phật tử thuộc Theravada đã làm cho giới nghiên cứu trước đây sai lầm một thời gian dài và trường phái Theravada sau này bị phê phán bởi các học giả đương đại. Sau đây là một số trích dẫn từ sách:
        – Ông Andrew Skilton trong quyển A Concise History of Buddhism (2004) ghi rằng rằng: Trường phái Theravāda ở Sri Lanka và Đông Nam Á xác định độc đoán rằng họ là Sthaviravāda bởi chữ thera Pali có nghĩa sthavira trong Sanskrit. Sự lạm xưng này làm cho những nhà nghiên cứu lịch sử phương tây trước đây đánh đồng cả 2 trường phái. Nhưng sự thật không như họ nói và người ta chứng minh được rằng vào thời A Dục Vương thì trường phái Sthaviravāda phân ly thành các trường phái con như Sammitīya, Sarvāstivāda và Vibhajyavāda. Giới nghiên cứu đều cho rằng trường phái Vibhajyavāda bị phân ly tiếp thành Mahīśāsaka và dòng tổ của Theravāda, sự phân ly tiếp về sau mới xuất hiện Theravāda.
        – Quyển từ điển Phật học Oxford, A Dictionary of Buddhism (2004), mục từ Sthavira, ghi nhận rằng: Trường phái Theravāda quả quyết là mình được chánh truyền từ Sthaviras, Nhưng cho dù cả hai có tên tương đương (Thera và Sthavira là từ Pāli và Sanskrit cùng nghĩa là trưởng lão), vẫn không có một bằng cớ lịch sử nào cho thấy sự xuất hiện của Theravāda trong vòng 2 thế kỷ sau khi thời kỳ chia phe phái ở hậu đại hội kết tập.
        – Quyển Bách khoa Phật học Macmillan, Encyclopedia of Buddhism (2004), mục từ Pāli, ghi nhận rằng: Theravāda khẳng định một cách sai lầm rằng Pāli chính là ngôn ngữ kim khẩu của Đức Phật. Tuy nhiên, tới thế kỷ 20 các nhà nghiên cứu phương Tây đã khám phá ra rằng Pali chẳng phải là ngôn ngữ miền đông của Ấn Độ Trung cổ và chẳng díp dáp bao nhiêu tới ngôn ngữ Ma Kiệt Đà (ngôn ngữ Ma Kiệt Đà chính thức đã được khám phá ra trong nhiều nguồn tư liệu). Sau khi đối chiếu với các bia đá của A Dục Vương (bia đá được khắc chữ theo ngôn ngữ tại địa phương dựng bia) thì phát hiện ra rằng Pāli được hình thành từ ngôn ngữ miền tây Ấn Độ Trung đại (tức miền Afghanistan, Pakistan hiện nay) và ngôn ngữ tiền Pāli là một dạng tiếng Phạn Vệ Đà.

        • BS Phạm Doãn nói:

          Rất cám ơn các anh PTP003, Hoàng Thiên, Hoàng Dung đã để lại các commnents thú vị. Quan điểm của tôi là Đạo Phật đã đi vào thời kỳ thoái trào cùng cực rồi. Tìm đâu được những chứng cứ xác thực sự của một Đạo Phật gọi là “nguyên Thủy”.
          Ta sẽ chọn chỗ đứng nào để đi tìm lại giáo pháp nguyên thủy một cách thuận lợi và dễ dàng hơn? KInh điển của của Theravada hay kinh điển của các tông phái Phật giáo phát triển? Đó là sức phán đoán và duyên nghiệp của từng người!
          Đối với tôi, tính thống nhất trong kinh điển Nikaya là một điều vô cùng quý giá! Tuy nhiên các bản dịch (của các dịch giả khác nhau) từ kinh Pali sang tiếng Việt còn quá ít ỏi. Do đó người học non nớt có thể bị kẹt, bị lạc, trong quan điểm của một dịch giả nào đó.
          Về mặt kinh điển là vậy.
          Tuy nhiên đối với người thực hành, những trải nghiệm và thực chứng đã giúp giải quyết được rất nhiều những nội dung mà văn bản cổ đã bị lạc mất hoặc bị diễn đạt sai ý nghĩa.
          Trang blog này luôn hoan hỉ đón nhận sự thảo luận cùng các thông tin mới của các anh!
          Kính

          • Phật tử nói:

            Thưa Bác sĩ

            Kinh sách của hệ Theravada nhiều chỗ gán ghép nhiều vấn đề làm cho các nhà nghiên cứu hàng đầu của phương Tây ngày xưa tin theo và cho là đúng, cũng giống như tình trạng của Bác sĩ hiện tại vậy! Tuy nhiên ngày nay qua việc khảo cổ truy tầm các chứng tích còn sót lại, các học giả Phương Tây đã nhìn vấn đề khác xưa (cái này Bác sĩ vui lòng đọc tài liệu mới của các học giả phương tây để xem thế nào). Đối với tôi, việc gán ghép này sẽ làm cho giá trị của kinh sách Theravada bị giảm. Thà là giữ nguyên những gì vốn là sự thật.
            Ngay cả Theravada Việt Nam đã gán chữ Nguyên Thủy cho hệ phái của mình. Điều này làm cho việc xưng danh không chính, mà danh không chính thì những điều nói ra có thể làm người khác nghi ngờ.
            Trường hợp từ Original Buddhism hay Early Buddhism, các từ này theo phương tây là nói về Phật giáo thời Đức Phật còn tại thế. Còn thời bộ phái sau khi Phật nhập diệt đều là Non-orginal. Chữ Original Buddhism dịch ra tiếng Việt là gì?
            Bởi vì chữ Nguyên Thủy thì Theravada Việt Nam đã giành sử dụng trước mất rồi. Chẳng lẽ Orginal Buddhism sẽ dịch là Nguyên Sơ, Ban Sơ? Như vậy thì nguyên sơ = nguyên thủy = theravada?
            Nếu một ngày nào đó tài liệu tiếng Việt sẽ được nổi tiếng thế giới. Phương tây học sẽ dịch từ “Phật giáo nguyên thủy” ra tiếng Anh là gì?

            Bác sĩ đọc các khảo cổ mới về Phật giáo của Phương Tây sẽ tìm được nhiều điều thú vị. Tôi ví dụ: Bộ Nikaya tiếng Gandrari có niên đại còn sớm hơn cả bộ Nikaya tiếng Pali và còn nhiều điều nữa.

            Kính

            • PannaPandita nói:

              Bác Phật Tử này sao thắc mắc làm gì, chữ nghĩa có nói lên được gì đâu. Giả sử tôi ví dụ về tên bác: Phật Tử là một Phật tử. Thì ở đây cũng vậy:
              “Phật giáo Nguyên Thủy có nguồn gốc từ Phật giáo Nguyên thủy.”
              Bác nên để ý cái chữ Hoa và chữ thường, lấy đó để phân biệt thì rất dễ dàng.

              Chúc các bác tinh tiến trên đường tu hành.
              Mettaya!

      • sự thật nói:

        vậy tôi sẽ nghe theo lời bạn suốt đời niệm phật ADIDA, chờ tiếp dẫn, khỏi tu làm gì cho mệt xác!

    • Thi St nói:

      Hihi, đạo lý làm người mà ông bà tổ tiên để lại không biết có giữ được hay chưa mà đòi đi đến bậc thiền này bậc thiền kia, rồi cả nibbana nữa!
      Giả dụ có kẻ suốt đời ôm khư khư tảng đá ngọc nhưng chẳng có kỹ năng mài ngọc mà chỉ biết ca cẩm về các loại ngọc quý, thì chẳng bằng kẻ có được cục đất sét nhưng lại biết kỹ thuật nhào nặn đất sét.

    • ketlethien nói:

      Cám ơn bài viết của bác phuocphant, em cũng tâm đắc ý bác, nếu ko hành Bát Chánh Đạo thì đừng lý luận nhiều chi vô ích. Hình như trong kinh Sa môn quả có đoạn nói ý nghĩa rằng: Giáo pháp nào mà không hành BÁT CHÁNH ĐẠO thì trong giáo pháp đó không có bậc Thánh, ngược lại có hành BÁT CHÁNH ĐẠO thì trong giáo pháp đó có bậc Thánh, từ sơ Thánh đến Tứ Thánh- tức hàng Dự Lưu cho đến A la hán.
      Vậy cho dù Nguyên Thủy hay Đại thừa, người cư sĩ hay người xuất gia thọ giới Tỷ Khưu nếu không thực hành BÁT CHÁNH ĐẠO, chỉ lo cơm áo gạo tiền như thế tục thì rất xa với chữ ( SA MÔN). Ở một số lớn quý thầy Bắc tông coi trọng việc xem phong thủy, hướng nhà, xem ngày lành tháng tốt, cúng sao giải hạn… v.v có đúng với việc làm của SA MÔN CHĂNG? Ở VN hình như BÁT CHÁNH ĐẠO chỉ nằm trong kinh sách thôi, còn số người tu hành, hành BÁT CHÁT ĐẠO có đấy nhưng rất ít ỏi, ít tới mức mà không biết dùng từ nào để diễn tả.

  2. Hai Au nói:

    Đại thừa ! Tiểu thừa !!!
    Tu sĩ , tỳ khưu còn nhận tiền , vàng . bạc , nhà , xe .v.v.. thì còn phạm giới . Phạm giới thì xa lìa Thanh Tịnh đạo và lại đi vào luân hồi đạo ( samsara ) chẳng còn nghi ngờ gì nữa . Chỉ mang nợ đàn na thí chủ mà thôi !
    Bây giờ Phật giáo đang mặc nhiên vướng vào vấn nạn phạm giới đưa đến tham : Tham ăn , tham ngủ , tham có tiền , tham có chùa to , tượng đẹp … .
    Dùng trí để tìm lối thoát cho vấn nạn này tốt hơn là lý giải những điều vô bổ !!!

    • ketlethien nói:

      Đúng là như ý Hai Au đã viết, bản thân tôi cũng đã từng thao thức thật nhiều vấn nạn mà người xuất gia đời nay đang “cố gắng tự dối mình” đó là GIỚI LUẬT.
      Hầu hết tu sĩ ở VN ko có ý thức hành giới KHÔNG NHẬN VÀ GIỮ TIỀN, VÀNG , KIM LOẠI QUÝ. số Tỳ Khưu Nam tông hành giới này có thể nói đếm trên ngón tay, còn các thầy đại thừa thì tuyệt nhiên không có ai.
      Nhận và giữ tiền, tài sản xe cộ …v.v là nằm trong 30 giới ƯNG XẢ ĐỌA, vậy quý vị hình dung ra xem nếu người xuất gia không giữ giới thì chứng quả gì đây?
      và khi mạng chung sẽ về đâu?

  3. Tom Nguyen nói:

    Lâu nay vấn đề tranh cải Đại Thừa hay Tiểu Thừa , bên nào hay , bên nào đúng , bên nào vỹ đại rộng lớn , bên nào nhỏ hẹp , ích kỷ v.v……Còn rắc rối và lắm chuyện tranh cải kinh nào là Phật thuyết , kinh nào là giả tạo thêm vào . Rất nhiều học giả chán nản khi đi vào rừng kinh Phật giáo mà không hiểu kinh nào do Phật thuyết hay kinh nào ngụy tạo . Mặc dầu hầu hết các kinh ngay đầu bài lúc nào cũng ghi [i]“Như thị ngã văn “[/i] ( Tôi nghe như vầy ) . Quả đúng có nhiều kinh gốc từ Thượng Tọa Bộ hay gốc từ kinh Pali đều có chú thích do nghe theo lời Phật giảng . Thật như thế , dù kinh đó do chính Như Lai giảng , nhưng kẻ Đại Thừa tự xưng là kinh phát triển vẫn giử nguyên gốc mà chỉ cần thêm vài ý , vài đoạn vào bổn kinh gốc là bài kinh đã hiểu theo một chiều hướng khác rồi gán cho Ngài Thích Ca dạy .

    Với kinh nghiệm từ bản thân tôi đã từng giải thích cho nhiều vị hỏi :[i][u]” Làm thế nào để biết kinh do Phật thuyết , kinh nào giả ?”[/u][/i] Đối với tôi thật là đơn giản và không bị khớp cơ hay rơi vào hõa mù của rừng kinh Phật giáo để nhận được thật hư .

    Thưa quý vị ! Nhiều lúc những bộ kinh vẫn ghi do lời Phật nói và thậm chí cũng nói về ly dục, ly bất thiện pháp thì kinh đó cũng có tính Phật phải không? Những kinh nào đọc mà có nội dung duyên khởi, khổ, vô thường, vô ngã thì mang hương vị giải thoát v.v…. nhưng trong đó được kèm theo những điều mê tín dị đoan , cầu an , cầu siêu và dạy phải cúng dường tam bảo như :[i]

    ” Đồ ăn trăm món , trái cây năm màu . Lại phải cúng giường nằm nệm lót , cùng đèn đuốc nhan dầu ….”[/i]
    (Kinh Vu Lan ) .

    Đức Phật là vị hòang tử đã từ bỏ giàu sang , sung sướng để đi tu cầu giải thoát , đi khất thực ăn mỗi ngày một bữa trưa ( 12 giờ ngọ ) , ngũ thì một giờ dưới gốc cây hay ngoài nghĩa địa v.v….. không lý nào Ngài lại đòi hỏi cúng dường vật chất nhằm phục vụ bản thân và đời sống nhiều như vậy . Đó là Đại Thừa Tịnh Độ thêm vào để hưởng thụ đi ngược lại tu hành cầu giải thoát .Đó là điểm để quý vị nhận chân thật hư về giáo lý của Như Lai và kinh giả hoàn toàn đi ngược lại giáo lý giải thoát của Ngài .Loại kinh đó mà Đại Thừa gọi là ” Phát triễn ” tức là đi ngược lại con đường thế tục nhằm sa đọa và đau khổ . Chúng ta nên mạnh dạn , dứt khoát từ bỏ chúng vi sai con đường tu tập của Như Lai . Từ bỏ giống như Phật Tổ Thích Ca sau sáu năm khổ hạnh là con đường không mang lại giải thoát . Vậy thì Đại Thừa có nên phát triển kiểu như vậy không? Nếu Đại Thừa cho là tốt thì nên lập một tôn giáo mới mà không nên mang danh hay lấy Như Lai làm ô dù để phát triễn theo chiều ngược mang tính chất bại hoại như vậy

    Ngoài ra Ngài dạy tinh thần độc lập , tinh tấn tu học không mê tín dị đoan , cầu an , cầu sao , bói toán .Ngài dạy một giáo lý Độc lập – Tự do tu học bằng trí tuệ chứ không phải mù quán ” Không thấy mà tin ” . Đối với Đức Phật dù có thấy rõ ràng cũng chưa vội tin như bài kinh ” 10 điều chớ vội tin ” . Tất cả phải cân nhắc , suy nghĩ những lời kinh đó có gây đổ máu , gây khổ đau cho chúng sanh không rồi mới tin . Dù kinh đó có trong kinh điển , hay do một bậc Tổ sư thuyết giảng , dù kinh đó đựơc nhiều người truyền tụng , lập đi lập lại nhiều lần , dù kinh đó lý luận hợp với mình v.v….. cũng không vội tin . Không phải Phật giáo đa nghi , mà thế gian ( không ngay ) này lắm kẻ thêm trước , bớt sau miễn sao có lợi cho mình , cho giáo phái mình thì dù tu đến Tổ sư cũng dám thêm bớt vào kinh điển .Vì vậy không nên vội tin liền . Vấn đề này rất nhiều trong các kinh của Đại Thừa .Tôi không thể trích dẫn hết trong giới hạng bài này .

    Qúy vị đừng khớp , sợ trong rừng kinh Phật Giáo Đại Thừa , mà cứ nhắm đến lời dạy những gì khác với hai nội dung tôi đưa ra ở trên là không phải kinh Phật dạy mà đó là ngụy kinh mới đòi hỏi về vật chất và mù quáng , cầu nguyện như các Ngài A Di Đà , Quán Âm trong kinh Phổ Môn ( Pháp Hoa) là hoàn toàn bịa đặt của Đại Thừa . Cũng như kinh sám hối của Đại Thừa đặt ra hàng trăm vị Phật của Trung Hoa , trên trời dưới nứơc không ai biết lý lịch ở đâu . Ngay cả vị Phật thứ 92 trong kinh Hồng Danh Bữu Sám là[u][b] “Nam mô chiến đấu thắng Phật ” [/b][/u]chính là Tề Thiên Đại Thánh ( con khỉ ) trong truyện giả tưởng Tây Du Ký cũng được Đại Thừa đưa vào cho Phật tử bái lạy .

    Tóm lại không nên tranh cải dựa trên nguồn gốc và thời gian của kinh điễn mà chi nhận định , chọn lựa những ý kinh trong giáo lý dạy những điều nhằm giải thoát khổ đau , loại trừ hẳn những điều mê tín dị đoan trái với khoa học , trái với luân thường đạo lý và lẽ phải trên trí tuệ của con người . Bất cứ vị Phật nào dạy cho ta điều hay , lẽ thật , điều an lành và đem đến hòa bình , hạnh phúc trong tinh thần Độc lập đầy tự tin thì chúng ta theo và học những giáo lý của các vị Phật đó , bất luận là Phật của Ấn Độ hay Trung Hoa . Chúng ta hoàn toàn mạnh dạn khước từ những mê tín và nhằm mục đích hủ hóa , nô lệ người khác với nhiều ý đồ mà ý đồ đê hèn nhất là đi thống trị các Quốc Gia khác qua mặt tôn giáo .

    Nguyễn Tom

  4. Tom Nguyen nói:

    Sự thêm bớt kinh của Đại Thừa không đơn thuần đưa một giáo lý gọi là phát triển , cổ xe lớn ….. Phần nhiều kinh đưa ra những ẩn dụ nhằm hạ bệ , đánh phá Phật Thích Ca . Tôi xin dẫn dụ chuyện tham nhũng gán cho Như Lai trong kinh Pháp Hoa mà người Tàu phái Đại Thừa Tịnh độ sáng tác và gán cho lời Đức Phật Thích Ca mà ngày nay nhưng Phật tử thấp hèn tin theo thì không chấp trách , ngay các bậc trưỡng lão , Hòa Thượng mà vẫn không nhìn ra được hành động thô bỉ của Đại Thừa chửi bới Thích Ca là ngu dốt như đứa con bỏ nhà ra đi của câu chuyện ông trửơng lão . Còn nhục mạ trắng trợ hơn là gán cho Ngài Thích Ca tội THAM NHŨNG khi nàng Long nữ hối lộ dâng chuổi hạt để xin thành Phật trong kinh Pháp Hoa , phẩm 12 như sau :

    Bấy giờ, ngài Xá-Lợi-Phất nói với Long-Nữ rằng : “Ngươi nói không bao lâu chứng được đạo vô thượng, việc đó khó tin. Vì sao? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể được thành vô-thượng chánh-giác? Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng: Một, chẳng được làm Phạm-thiên-vương; hai, chẳng được làm Đế-Thích; ba, chẳng được làm Ma-vương; bốn, chẳng được làm Chuyển-luân thánh-vương; năm, chẳng được làm Phật. Thế nào thân gái được mau thành Phật?”.

    Lúc đó, Long-Nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi tam-thiên đại-thiên đem dâng đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long-nữ nói với Trí-Tích Bồ-Tát cùng tôn giả Xá-Lợi-Phất rằng: “Tôi hiến châu báu, đức Thế-Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?”.

    – Đáp: “Rất mau”.

    – Long-Nữ nói: “Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó”.

    (Kinh Pháp Hoa -Phẩm “Đề Bà Đạt Đa ” : thứ 12 ,trang 310 )

    nguồn :http://www.quangduc.com/kinhdien/23phaphoa12.html

    Thật là một tệ hại và nham hiểm của phái Đại Thừa Tịnh độ gán ép , thêm thắt nhằm vu khống , bôi nhọ nhằm hạ bệ Đức Thế Tôn để chuẩn bị đưa Di Lặc người Hoa lên làm giáo chủ . Họ ghi vào kinh Pháp Hoa và bảo lời Đức Thích Ca dạy là sau này có Di Lạc xuất hiện và lãnh đạo thế Thích Ca . Nhưng cái giáo lý cúi đầu cầu nguyện A Di Đà – Di Lạc , Quán Thế Âm để nô lệ Trung Hoa thì Phật tử sẽ từ bỏ và tẩy chay giống như Thanh Hải Vô Thượng Sư đang bỏ của chạy lấy người . Chân lý bao giờ cũng trường tồn , dù cho bị mây mù che phủ , bôi nhọ một thời gian rồi vẫn sáng . Cho nên hành động xảo trá của Đại Thừa Trung Hoa đã đánh lừa qua 2550 năm bao nhiêu bậc thiện trí thức , Tăng sỹ thâm niên đều cúi đầu đọc tụng mà không suy nghĩ vì vô minh đang che lấp . Để lừa bịp trong các kinh họ còn lớn tiếng đó là lời Ngài Thích Ca Mâu Ni nói không tin sao ? Thật là hổ thẹn và khốn đốn cho những đầu óc Phật tử thường tự hào theo đạo giác ngộ Như Lai .

    Phật tử chúng ta không phải chê trách hay bắt buộc theo Phật này bỏ Phật kia . Đó là quyền tự do tín ngưỡng chọn lựa của mỗi cá nhân . Nhưng sĩ nhục ở điểm là họ lồng vào đạo Phật Thích Ca và mượn Ngài để lừa đảo chúng sanh và tu sĩ . Tại sao Đại Thừa Trung Hoa không đưa ra một tên tôn giáo riêng mà A Di Đà hay Di Lạc là giáo chủ . Có ai cấm đâu , muốn dạy cúi đầu cầu nguyện hay mê tín dị đoan , hứa hảo huyền cái bánh VẼ trên trời như đạo chúa có sao đâu . Điều ô nhục và hèn hạ của Đại Thừa là ” Ném đá dấu tay ” . Làm chuyện xấu , đê hèn rồi gán cho Ngài Thích Ca . Nếu đức Bổn sư ham danh lợi , quyền uy , vàng bạc , vợ đẹp con thơ thì Ngài từ bỏ tất cả để ra đi tìm đường giải thoát làm gì ? Nay chỉ vì nàng Long Nữ hối lộ xâu chuổi giả sử là giá trị 1 tỷ Đô – La cho Ngài cũng không thể sánh bằng ngôi vua mà Ngài sắp trị vì ngày xưa , hoặc hiểu theo nghĩa bóng là giá trị về giáo lý cao siêu thì hình thức trao và nhận cũng là hình thức tham nhũng , hối lộ mà Đại Thừa đặt ra nhằm bôi nhọ Ngài Thích Ca . Đại Thừa đặt ra kinh Pháp Hoa để đánh lừa những Tỳ kheo vô minh chứ không thể đánh lừa ai lâu dài được . Ngày nay rất nhiều bậc trí thức , tu sĩ như HT Thích Thông Lạc , HT Thích Chân Quang và trong đó có tôi đang cố gắng chứng minh và VẠCH TRẦN sự đánh phá , đội lốt Phật giáo giải thoát của Đại Thừa Trung Hoa muốn cướp ngôi vị và quyền lãnh đạo Phật giáo Thế giới . Đối với Đức Thích Ca tất cả những thứ đó Ngài xem như ĐÔI DÉP RÁCH mà Ngài đã vứt bỏ hơn 2555 năm nay rồi . Ai tham thì nhặt lấy , ai mù quán thì tin theo , nhưng XIN ĐỪNG ĐỘI LỐT THÍCH CA , đó là cái nhân lẫn đức tối thiểu của một con người bình thường chứ đừng nói gì đến bậc tu hành hay Phật tử .

    Đoạn Kinh ông trưởng giả và đứa con bỏ nhà đi hoang là lời dụ của các vị A La Hán trình kiến giải chổ thấy của mình để Phật thọ ký . Cái ngạo mạn, xấc cược của các A La Hán ( chính là người Hoa ) trình kiến giải chổ thấy của mình để Phật thọ ký . Đức Thích Ca người đã giác ngộ và giảng bao nhiêu là giáo lý về giải thoát , giác ngộ mà nay các A La Hán người Hoa sanh sau cả ngàn năm trình kiến giải của họ và mong Phật nhận lãnh ( thọ ký ) . Bây giờ A La Hán người Tàu muốn dạy lại cả Đức Bổn Sư hay sao ? Nhưng dạy cũng được đi , nhưng dạy điều gì ???? Họ dẫn dụ tự cho người Hán là ông trưởng giả giàu có mà nghĩa bóng là nhiều kinh điển , lời giảng dạy về đạo Phật ….. chỉ nói dẫn dụ chung chung mà không đưa những lời dạy giải thoát như thế nào ? Làm sao giải thoát ? Giải thoát để làm gì ? Kinh Pháp Hoa cứ nhắc đi nhắc lại ” Hãy tin tưởng tuyệt đối ….. tụng niệm không ngừng nghĩ ….. cúng dường hương hoa , trầm trà , giường nằm nệm lót , thức ăn trăm món , trái cây phải năm màu ” ….. những thứ này Thái tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ , ném vào sọt rác trước khi xuất gia . Nay mấy ông thầy Đại Thừa muốn lượm lên để tận dụng thì cứ việc làm .

    Đứa con ông Trưởng giả bỏ nhà đi hoang ý dẫn dụ không ngoài chê trách các đệ tử của Đức Thích Ca và cũng hàm ý là Ngài Thích Ca đã không biết được cái giá trị của sự thông thái về giáo lý giác ngộ , giải thoát của A La Hán Ba Tàu nhiều vô số kể giống như ông trưởng giả . Giàu vậy , giỏi vậy sao không đưa ra trước thời Đức Thích Ca Mâu Ni còn tại thế ? Tại sao không lập ra một tôn giáo lấy tên Hoa giáo chẳng hạng ???? Mà đợi đến mấy trăm năm sau mới cho Đường Tam Tạng lặng lội từ Trung Hoa qua Ấn Độ thỉnh kinh về dịch lại ? Kinh Pháp Hoa mới xuất hiện sau 100 năm Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn ghi lại những mẫu chuyện dẫn dụ nhằm hạ bệ , chửi bới giáo lý Thích Ca là sai , là lạc đường như đứa con ông trưởng giả bỏ đi hoang mà đại diện là Tiểu Thừa và Đức Thích Ca , cần trở về nhà Đại Thừa Trung Hoa học cách cúi đầu cầu nguyện A Di Đà , Quán Âm để được cứu độ , giải thoát …… thật là đồ rỡm , Ngài Thích Ca không dạy giáo lý lừa dối cầu nguyện như thế .

  5. Tom Nguyen nói:

    VÔ KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO

    Câu hỏi của Diệu Minh

    Hỏi: Kính bạch Thầy, không có ngã, không có ta và không có cái của ta, nếu quán chiếu được như thế thì mới có luận: vô khổ, tập, diệt, đạo.

    Đáp: Đúng, là cái hý luận của các nhà học giả của kinh sách phát triển, vì không có cái ngã, không có cái ta và không có cái của ta nên mới có chỗ đập phá chân lý của Phật giáo là “vô khổ, tập, diệt, đạo”, nên mới có chỗ cấm tín đồ Phật giáo nếu ai tu theo Thanh Văn Nhị Thừa thì sẽ bị khinh cấu tội. Bởi vì con người không có cái ngã, không có cái ta, không có cái của ta nên chân lý khổ, tập, diệt, đế làm sao có được. Không có cái ngã, không có cái ta, không có cái của ta thì con người là gốc cây là cục đá, cho nên chân lý khổ, tập, diệt, đế của đạo Phật là chân lý của con người chứ không phải chân lý của cục đá, gốc cây, Khổ, tập, diệt, đạo đế là chân lý của con người có cái ngã, có cái ta, có cái của ta. Con người tu hành trở thành cục đá gốc cây mới sản xuất ra trí tuệ Bát Nhã Tâm Kinh, để trong các chùa hằng ngày tụng niệm “Vô khổ, tập, diệt, đạo” để diệt mất cái chân lý này đi, diệt mất cái chân lý này để làm gì? Diệt mất cái chân lý này là diệt mất Phật giáo.

    Sau khi đức Phật tịch thì Phật giáo ngay trên quê hương của Người đã bị quét ra khỏi và cũng không còn dấu vết gì của Phật giáo ở trên đất nước này.
    Bây giờ chúng ta trở về thăm quê hương xứ Phật những nơi di tích này mới được trùng tu, trùng tu để thu tiền khách tham quan vãng cảnh, chứ đâu có ý nghĩa làm cho Phật giáo sống, sống với đất nước Ấn Độ nữa. Một cái gì cao quý và đẹp đẽ nhất của nước Ấn độ đã bị lòng ganh tỵ nhỏ hẹp của các tôn giáo ích kỷ tại quê hương này đã diệt mất rồi, còn đâu nữa. Có còn cũng chỉ là hình thức kinh doanh tôn giáo mà thôi

    Đúng như con đã nói: “Không có ngã, không có ta, không có cái của ta, nếu quán chiếu như thế thì mới có luận vô khổ, tập, diệt, đạo”, vậy không có cái ngã, cái ta, cái của ta thì lấy cái gì quán chiếu, nếu có cái quán chiếu được thì phải có ngã, có ta, có cái của ta, ngoài ra ba cái này, thì không có cái quán chiếu. Vì thế cái quán chiếu này là cái ảo giác trừu tượng, không phải của con người. Không phải của con người thì cái này không phải của Phật giáo. Vì Phật giáo lấy con người làm nơi tu hành giải thoát cho con người, ngoài con người ra thì không có cái gì để tu hành cả, vì con người khổ nên đạo Phật ra đời giải quyết sự đau khổ cho con người, mà con người thì phải có cái ngã, cái ta, cái của ta, nhưng cái ngã, cái ta, cái của ta đều thiện thì có làm khổ mình khổ người đâu mà chúng ta lại dẹp bỏ nó, chúng ta chỉ dẹp cái ngã, cái ta, cái của ta trong ác pháp, vì cái ngã, cái ta, cái của ta trong các ác pháp là cái thường làm khổ mình khổ người, nên đức Phật dạy: “ngăn ác diệt ác pháp sanh thiện tăng trưởng thiện pháp” thì chân lý khổ, tập, diệt, đế mới thật là chân lý của loài người.

    Bởi vậy lý Bát Nhã chỉ áp dụng vào thế giới tưởng của Long Thọ chứ không thể áp dụng cho loài người được. Vì nó là một ảo giác chân không diệu hữu.
    (Trích Đường Về Xứ Phật tập X)

  6. Tom Nguyen nói:

    HỒNG DANH BỬU SÁM NGHI THỨC

    (O : Đánh chuông và lại 1 lần )

    Đại từ đại bi mẫn chúng sanh
    Đại hỷ đại xả tế hàm thức,
    Tướng hảo quang minh dĩ tự nghêm,
    Chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ. O (1)
    Nam mô quy y Kim Cang Thượng Sư. O (2)
    Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. O (3)
    Ngã kim phát tâm bất vị tự cầu Nhơn Thiên phước báu, Thanh Văn, Duyên Giác, nãi chí quyền thừa chư vị Bồ Tát, duy y Tối Thượng thừa, phát Bồ đề tâm, nguyện dữ pháp giới chúng sanh nhứt thời đồng đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề. O (4)
    Nam mô quy y thập phương tận hư không giới nhứt thiết chư Phật. O (5)
    Nam mô quy y thập phương tận hư không giới nhứt thiết Tôn Pháp. (6)
    Nam mô quy y thập phương tận hư không giới nhứt thiết Hiền Thánh Tăng. O (7)
    Nam mô Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. O (8)
    Nam mô Phổ Quang Phật. O (9)
    Nam mô Phổ Minh Phật. O (10)
    Nam mô Phổ Tịnh Phật. O (11)
    Nam mô Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Phật. O (12)
    Nam mô Chiên Đàn Quang Phật. O (13)
    Nam mô Ma Ni Tràng Phật. O (14)
    Nam mô Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật. O (15)
    Nam mô Nhứt Thiết Thế Gian Nhạo Kiến Thượng Đại Tinh Tấn Phật. O (16)
    Nam mô Ma Ni Tràng Đăng Quang Phật. O (17)
    Nam mô Huệ Cự Chiếu Phật. O (18)
    Nam mô Hải Đức Quang Minh Phật. O (19)
    Nam mô Kim Cang Lao Cường Phổ Tán Kim Quang Phật. O (20)
    Nam mô Đại Cường Tinh Tấn Dõng Mãnh Phật. O (21)
    Nam mô Đại Bi Quang Phật. O (22)
    Nam mô Tự Lực Vương Phật. O (23)
    Nam mô Từ Tạng Phật. O (24)
    Nam mô Chiên Đàn Khốt Trang Nghiêm Thắng Phật. O (25)
    Nam mô Hiền Thiện Thủ Phật. O (26)
    Nam mô Thiện Ý Phật. O (27)
    Nam mô Quảng Trang Nghiêm Vương Phật. O (28)
    Nam mô Kim Hoa Quang Phật. O (29)
    Nam mô Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật. O (30)
    Nam mô Hư Không Bảo Hoa Quang Phật. O (31)
    Nam mô Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật. O (32)
    Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật. O (33)
    Nam mô Bất Động Trí Quang Phật. O (34)
    Nam mô Hàng Phục Chúng Ma Vương Phật. O (35)
    Nam mô Tài Quang Minh Phật. O (36)
    Nam mô Trí Huệ Thắng Phật. O (37)
    Nam mô Di Lặc Tiên Quang Phật. O (38)
    Nam mô Thiện Tịch Nguyệt Âm Diệu Tôn Trí Vương Phật. O (39)
    Nam mô Thế Tịnh Quang Phật. O (40)
    Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. O (41)
    Nam mô Nhựt Nguyệt Quang Phật. O (42)
    Nam mô Nhựt Nguyệt Châu Quang Phật. O (43)
    Nam mô Huệ Tràng Thắng Vương Phật. O (44)
    Nam mô Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương Phật. O (45)
    Nam mô Diệu Âm Thắng Phật. O (46)
    Nam mô Thường Quang Tràng Phật. O (47)
    Nam mô Quang Thế Đăng Phật. O (48)
    Nam mô Huệ Oai Đăng Vương Phật. O (49)
    Nam mô Pháp Thắng Vương Phật. O (50)
    Nam mô Tu Di Quang Phật. O (51)
    Nam mô Tu Ma Na Hoa Quang Phật. O (52)
    Nam mô Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương Phật. O (53)
    Nam mô Đại Huệ Lực Vương Phật. O (54)
    Nam mô A Súc Tỳ Hoan Hỷ Quang Phật. O (55)
    Nam mô Vô Lượng Âm Thanh Vương Phật. O (56)
    Nam mô Tài Quang Phật. O (57)
    Nam mô Kim Hải Quang Phật. O (58)
    Nam mô Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Phật. O (59)
    Nam mô Đại Thông Quang Phật. O (60)
    Nam mô Nhứt Thiết Pháp Tràng Mãn Vương Phật. O (61)

    Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật. O (62)

    Nam mô Kim Cang Bất Hoại Phật. O (63)
    Nam mô Bảo Quang Phật. O (64)
    Nam mô Long Tôn Vương Phật. O (65)
    Nam mô Tinh Tấn Quân Phật. O (66)
    Nam mô Tinh Tấn Hỷ Phật. O (67)
    Nam mô Bảo Hoả Phật. O (68)
    Nam mô Bảo Nguyệt Quang Phật. O (69)
    Nam mô Hiện Vô Ngu Phật. O (70)
    Nam mô Bảo Nguyệt Phật. O (71)
    Nam mô Vô Cấu Phật. O (72)
    Nam mô Ly Cấu Phật. O (73)
    Nam mô Dõng Thí Phật. O (74)
    Nam mô Thanh Tịnh Phật. O (75)
    Nam mô Thanh Tịnh Thí Phật. O (76)
    Nam mô Ta Lưu Na Phật. O (77)
    Nam mô Thuỷ Thiên Phật. O (78)
    Nam mô Kiên Đức Phật. O (79)
    Nam mô Chiên Đàn Công Đức Phật. O (80)
    Nam mô Vô Lượng Cúc Quang Phật. O (81)
    Nam mô Quang Đức Phật. O (82)
    Nam mô Vô Ưu Đức Phật. O (83)
    Nam mô Na La Diên Phật. O (84)
    Nam mô Công Đức Hoa Phật. O (85)
    Nam mô Liên Hoa Quang Du Hý Thần Thông Phật. O (86)
    Nam mô Tài Công Đức Phật. O (87)
    Nam mô Đức Niệm Phật. O (88)
    Nam mô Thiện Danh Xưng Công Đức Phật. O (89)
    Nam mô Hồng Diệm Đế Tràng Vương Phật. O (90)
    Nam mô Thiện Du Bộ Công Đức Phật. O (91)

    Nam mô Đấu Chiến Thắng Phật. O (92)

    Nam mô Thiện Du Bộ Phật. O (93)
    Nam mô Châu Tráp Trang Nghiêm Công Đức Phật. O (94)
    Nam mô Bảo Hoa Du Bộ Phật. O (95)
    Nam mô Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Ta La Thọ Vương Phật. O (96)
    Nam mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật. O (97)
    Như thị đẳng, nhứt thiết thế giới, chư Phật Thế Tôn, thường trụ tại thế, thị chư Thế Tôn, đương từ niệm ngã ! Nhược ngã thử sanh, nhược ngã tiền sanh, tùng vô thỉ sanh tử dĩ lai, sở tác chúng tội, nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tuỳ hỷ. Nhược tháp, nhược Tăng, nhược tứ phương Tăng vật, nhược tự thủ, nhược giáo tha thủ, kiến thủ tuỳ hỷ.
    Ngũ vô gián tội, nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tuỳ hỷ.
    Thập bất thiện đạo, nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tuỳ hỷ.
    Sở tác tội chướng, hoặc hữu phú tàng, hoặc bất phú tàng, ưng đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chư dư ác thú, biên địa, hạ tiện, cập miệt lệ xa, như thị đẳng xứ, sở tác tội chướng, kim giai sám hối. O (98)
    Kim chư Phật Thế Tôn, đương chứng tri ngã, đương ức niệm ngã, ngã phục ư chư Phật Thế Tôn tiền, tác như thị ngôn: Nhược ngã thử sanh, nhược ngã dư sanh, tằng hành bố thí, hoặc thủ tịnh giới, nãi chí thí dữ súc sanh, nhứt đoàn chi tự, hoặc tu tịnh hạnh, sở hữu thiện căn, thành tựu chúng sanh, sở hữu thiện căn , tu hạnh Bồ đề, sở hữu thiện căn, cập vô thượng trí, sở hữu thiện căn, nhứt thiết hiệp tập, giảo kế trù lượng, giai tất hồi hướng A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề; như quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật sở tác hồi hướng, ngã diệt như thị hồi hướng, chúng tội giai sám hối, chư phước tận tuỳ hỷ, cập thỉnh Phật công đức, nguyện thành vô thượng trí.
    Khứ, lai, hiện tại Phật, ư chúng sanh tối thắng, vô lượng công đức hải, ngã kim quy mạng lễ. O (99)
    Sở hữu thập phương thế giói trung,
    Tam thế nhứt thiết nhơn Sư Tử,
    Ngã dĩ thanh tịnh thân, ngữ, ý,
    Nhứt thiết biến lễ tận vô dư.
    Phổ Hiền hạnh nguyện oai thần lực,
    Phổ hiện nhứt thiết Như Lai tiền,
    Nhứt thân phục hiện sát trần thân,
    Nhứt nhứt biến lễ sát trần Phật, O (100)
    Ư nhứt trần trung trần số Phật,
    Các xứ Bồ Tát chúng hội trung,
    Vô tận pháp giới trần diệc nhiên,
    Thâm tín chư Phật giai sung mãn.
    Các dĩ nhứt thiết âm thinh hải,
    Phổ xuất vô tận diệu ngôn từ,
    Tận ư vị lai nhứt thiết kiếp,
    Tán Phật thậm thâm công đức hải. O (101)
    Dĩ chư tối thắng diệu hoa man,
    Kỷ nhạc đồ hương cập tán cái
    Như thị tối thắng trang nghiêm cụ,
    Ngã dĩ cúng dường chư Như Lai
    Tối thắng y phục tối thắng hương,
    Mạc hương, thiên hương dữ đăng chúc,
    Nhứt nhứt giai như Diệu Cao tụ,
    Ngã tất cúng dường chư Như Lai
    Ngã dĩ quảng đại thắng giải tâm
    Thâm tín nhứt thiết tam thế Phật,
    Tất dĩ Phổ Hiền hạnh nguyện lực,
    Phổ biến cúng dường chư Như Lai. O (102)
    Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp,
    Giai do vô thỉ tham, sân, si,
    Tùng thân, ngữ, ý, chi sở sanh,
    Nhứt thiết ngã kim giai sám hối, O (103)
    Thập phương nhứt thiết chư chúng sanh,
    Nhị thừa hữu học cập vô học,
    Nhứt thiết Như Lai dữ Bồ Tát,
    Sở hữu công đức giai tuỳ hỷ. O (104)
    Thập phương sở hữu thế gian đăng,
    Tối sơ thành tựu Bồ đề giả,
    Ngã kim nhứt thiết giai khuyến thỉnh,
    Chuyển ư Vô thượng diệu pháp luân, O (105)
    Chư Phật nhược dục thị Niết bàn,
    Ngã tất chí thành nhi khuyến thỉnh,
    Duy nguyện cửu trụ sát trần kiếp,
    Lợi lạc nhứt thiết chư chúng sanh. O (106)
    Sở hữu lễ tán cúng dường phước,
    Thỉnh Phật trụ thế chuyển pháp luân,
    Tuỳ hỷ sám hối chư thiện căn,
    Hồi hướng chúng sanh cập Phật đạo. O (107)
    Nguyện tương dĩ thử thắng công đức,
    Hồi hướng Vô thượng chơn pháp giới,
    Tánh tướng Phật, Pháp cập Tăng già,
    Nhị đế dung thông Tam muội ấn
    Như thị vô lượng công đức hải,
    Ngã kim giai tất tận hồi hướng,
    Sở hữu chúng sanh thân, khẩu, ý,
    Kiến hoặc đàn báng ngã pháp đẳng,
    Như thị nhứt thiết chư nghiệp chướng,
    Tất giai tiêu diệt tận vô dư,
    Niệm niệm chí trâu ư pháp giới
    Quảng độ chúng sanh giai bất thối,
    Nãi chí hư không thế giới tận,
    Chúng sanh cập nghiệp phiền não tận,
    Như thị tứ pháp quảng vô biên,
    Nguyện kim hồi hướng diệc như thị. O (108)

    Nhận định :

    Rất nhiều lần tôi thắc mắc tên 100 vị Phật đó ở nước nào hay từ Cung trời Đao Lợi Phật ….. mà Đao Lợi nó ở chỗ nào ????? Tôi từng hỏi nhiều vị cao tăng cũng chỉ được giải thích qua loa lờ mờ . Gần đây tôi mới đọc được bài của Trưởng Lão Thích Thông Lạc mới biết vị Phật có tên ở ngôi vị thứ 92 là Tề Thiên Đại Thánh trong câu truyện huyền thoại “Đường Tam Tạng ” đi thỉnh kinh của Trung Hoa :

    Nam mô Đấu Chiến Thắng Phật. O (92)

    Thì ra con khỉ đột tài ba ảo tưởng được người Tàu phong lên vị Phật cho các Thầy PGVN tụng ngày đêm mà không biết . Không hiểu các Thầy có biết không hay biết mà vẫn nhắm mắt tụng . Ngoài ra 100 vị Phật khác chẳng ai biết gốc tích thế nào . Biết đâu có vị Phật Sa tăng , Trư Bát Giới dâm dục mang tên gì mà ta chưa khám phá . Trong khi đó Đức Phật Thích Ca thì Tàu cho nằm hạng thứ 62 :

    Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật. O (62)

    Cái đểu giả , ngạo mạng của người Tàu mà các Thầy Đại Thừa -Tịnh Độ VN không biết , hay biết mà vẫn nhắm mắt tụng theo . Tinh thần Dân tộc và đạo Pháp của người VN để đâu ? Đã đến lúc các Thầy Trí thức có trình độ Tiến Sĩ như Mạnh Thác , Tuệ Sỹ , Nhất Hạnh ……. nên mạnh dạn lên tiếng và sửa đổi lại con đường tu và đem lại chân lý của Ngài Thích Ca Mâu Ni . PGVN không độc lập được nhưng ít nhất cũng tự cường tự lực và chọn một giáo lý , hướng đi cho Dân tộc VN .

    Các Thầy nên để thời gian tự giải thoát và cứu mình hơn là đấu tranh chính trị , gà nhà cứ mải miết đá nhau để dành quyền lãnh đạo mà giáo đồ đang sa lầy trong nô lệ của Tàu 2000 năm mà các thầy chưa thức tĩnh . Đã đến lúc các Thầy dịch kinh ra tiếng Việt và cấm lưu hành kinh tiếng Hán đọc không hiểu gì . Bải bỏ kinh cầu an , cầu siêu , sám hối …… là của Tàu hoàn toàn ru ngủ và nhảm nhí . Không ai cứu mình bằng chính mình . Đạo Phật là đạo Trí thức và giác ngộ . Quý Thầy hãy can đảm vùng lên dù có muộn còn hơn không để cứu PGVN cùng Phật tử và chính ngay BẢN THÂN TU TẬP CỦA QUÝ THẦY .

  7. Tom Nguyen nói:

    GIÁO CHỦ CHỈ CÓ MỘT ĐẤNG .

    Hỏi: Kính thưa Thầy, con có nghe nhiều, thấy nhiều kinh sách nói về Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, Hội Long Hoa, v.v…. con không hiểu kính xin Thầy giảng để chúng con hiểu.

    Đáp: Phật A Di Đà là do các nhà Đại Thừa dựng lên để xây dựng thế giới siêu hình Cực Lạc Tây Phương tưởng, nhất là tưởng tượng và hy vọng “Cực Lạc” có nghĩa là rất vui, là nơi lý tưởng của các nhà Đại Thừa để sau khi chết họ sẽ về đó để hưởng hạnh phúc an lạc đời đời, kiếp kiếp.

    Đức Phật Di Lặc cũng là một vị Thần trong kinh Vệ Đà mà các Tổ đã biến thành Giáo Chủ của Phật giáo trong thời vị lai.

    Đức Phật Di Lặc là một đức Phật tưởng do các nhà Đại Thừa dựng lên, hy vọng ngày mai xây dựng một Phật giáo mới. Nói đúng hơn là lấy đức Phật Di Lặc đem lại niềm tin kinh điển Đại Thừa cho mỗi con người hơn.

    Đức Phật Di Lặc đã được kinh sách Đại Thừa nói rất nhiều và kinh A hàm thuộc Hán tạng cũng có nói đến, đó là những bài kinh gạch nối của các Tổ sau này soạn viết đưa vào, đó là một thâm ý nham hiểm của các nhà Đại Thừa, đưa đức Phật Di Lặc ra để làm một cuộc cách mạng Phật giáo lật đổ đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thay thế đức Phật Di Lặc làm Giáo Chủ Đạo Phật.

    Hội Long Hoa, tức là cuộc cách mạng Phật giáo do các nhà Đại Thừa lãnh đạo, để mở màn cho đức Phật Di Lặc lên nắm quyền Giáo Chủ Phật Giáo toàn bộ thì lúc bây giờ kinh sách Nguyên Thủy sẽ bị triệt tiêu (tức là đường lối giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ bị quét sạch).

    Trong kinh sách Nguyên Thủy không bao giờ có nói đến đức Phật Di Lặc và trong hàng Thánh Tăng đệ tử của đức Phật trong thời điểm đó cũng không có ai tên là Di Lặc. Cho nên đối với kinh sách Nguyên Thủy tên Di Lặc là một tên xa lạ. Vậy mà sắp sửa lên nắm quyền giáo chủ Phật giáo, Xin quý vị Phật tử suy ngẫm.

    Hội Long Hoa được xem như một cuộc trưng cầu dân ý bầu cử Đức Giáo Chủ mới cho Phật giáo. Các tôn giáo khác không hiểu dựa vào và bị ảnh hưởng kinh sách Đại Thừa, do đó tưởng ấm của con người này thể hiện qua “cơ bút” bằng cách lập lại cho biết ngày tận thế và hội Long Hoa sắp mở bày.

    Riêng Phật giáo Nguyên Thủy không chấp nhận điều này:

    “Quá khứ không truy tìm
    Vị lai không ước vọng
    Chỉ có hiện tại thôi”.

    Ba câu kệ trên đây xác chứng Phật giáo Nguyên Thủy không chấp nhận những chuyện quá khứ và vị lai, chỉ biết sống trong hiện tại, vì thế quá khứ vị lai không cần biết đến, chỉ sống và làm mọi việc lành ngay trong hiện tại thì quá khứ và tương lai là hạnh phúc.

    Biết Hội Long Hoa là một sự bịa đặt của các nhà Đại Thừa, chờ cơ hội thuận tiện nhất để mở một cuộc họp Phật giáo toàn thế giới, nếu tất cả tu sĩ Phật Giáo Nam Tông đều rơi vào các pháp thiền tưởng và chịu ảnh hưởng kinh sách Đại Thừa thì cuộc lật đổ Phật Giáo Nguyên Thủy đã bắt đầu, nhưng vì Phật giáo Nguyên Thủy còn có những người giữ gìn lời dạy của đức Phật nên Hội Long Hoa chưa triển khai được, vì thế các tổ chức Phật giáo kêu gọi sự hòa hợp bằng cách thống nhất các hệ phái Phật giáo.

    Hiện nay các tổ chức Phật giáo thế giới đều công nhận Đại Thừa Phật giáo là một hệ phái của Phật giáo, đó là một bước thắng lợi thứ nhất của Phật giáo Đại Thừa. Chờ đến khi các sư Phật giáo Nguyên Thủy Nam Tông chịu ảnh hưởng sâu đậm của giáo pháp Đại Thừa, và các sư Nam Tông Nguyên Thủy lần lượt tu tập sai pháp của Phật, do tưởng giải các Ngài rơi vào giáo pháp Đại Thừa mà không hay biết như thiền sư: Mahashi và A Chancha. Từ đó Phật giáo Nam Tông chỉ còn danh từ Nguyên Thủy còn pháp môn tu tập là của Đại Thừa. Do đó suy ra hiện giờ Phật giáo Nguyên Thủy gần như bị mất gốc, chỉ còn chờ một thời gian nữa cho chín mùi thì Hội Long Hoa ra đời thành lập một Phật giáo mới, Đức Giáo Chủ là đức Phật Di Lặc.

    Đó là một thâm đồ sâu sắc của Bà La Môn giáo đã dựng lên đức Phật Di Lặc là có ý diệt trừ Phật giáo tận gốc., mà hầu hết các tu sĩ Phật giáo hiện giờ: Nam Tông lẫn Bắc Tông đều vô tình không thấy ý đồ thâm độc của Bà La Môn giáo ngày xưa.

    Kinh sách nói về Phật Di Lặc và Hội Long Hoa là do các giáo sĩ Bà La Môn viết, soạn ra rồi đưa vào kinh sách Phật giáo, mạo nhận Phật thuyết, lợi dụng Phật giáo kết tập kinh sách chưa thành văn bản, nên lúc bây giờ ai muốn thêm bớt sao cũng được và dễ dàng.

    Cho nên người nghiên cứu kinh sách Phật hiện giờ đều gặp phải khó khăn, vì những bài kinh này mâu thuẫn với những bài kinh khác, khiến cho chẳng biết đâu là lời Phật dạy chân chánh, đâu là lời giả. Ở trường hợp này chỉ dối gạt người chưa tu chứng, không thể dối gạt người tu đã chứng.

    Vì thế chúng tôi mạnh dạn lật tẩy bộ mặt thâm độc của Bà La Môn giáo để cho Phật tử và mọi người hiểu rõ.

    Nếu bảo rằng quá khứ có bảy vị Phật thì khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni đi tu thì phải có đạo Phật. Cớ sao trong thời đó lại chỉ có Lục Sư ngoại đạo mà không thấy có cái tên Phật giáo?

    Đến khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni tu hành chứng quả giải thoát thành lập tôn giáo Phật giáo, nhờ thế chúng ta hiện giờ mới có đạo Phật, mới có bốn chân lý: khổ, tập, diệt, đạo.

    Trong thời đức Phật đi tu không nghe nói đến bốn chân lý này như vậy mà bảo rằng có đạo Phật ở quá khứ là sai, do người sau đặt ra thêm vào để mưu đồ lật đổ đức Phật Thích Ca mâu Ni.

    Do thế mà thời tương lai có một người tên là Từ Thị hiệu là Di Lặc được suy tôn chức Giáo Chủ thay đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong tôn giáo mà cũng có những sự tranh giành vị trí lãnh đạo như các nhà vua phong kiến ở thế gian thường tranh giành ngai vàng.

    Theo kinh sách Đại Thừa đạo Phật có ba vị Giáo Chủ:
    I/ Bảy vị Phật Giáo Chủ ở quá khứ:
    II/ Một vị Phật Giáo Chủ ở hiện tại là: Thích Ca Mâu Ni.
    III/ Một vị Phật Giáo Chủ ở tương lai là: Đức Phật Di Lặc.

    Sự phân chia đạo Phật có ba thời gian Giáo Chủ như vậy chẳng khác gì như các vua quan phong kiến như đã nói ở trên. Ông vua này xuống đến ông vua khác lên thay. Mỗi ông vua cai trị đều có cách khác nhau. Giáo Pháp Đại Thừa cũng giống như vậy, cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni đã trở thành Phật quá khứ và giáo pháp của Người cũng lỗi thời vì thế mới gọi nó là “Tiểu Thừa Ngoại Đạo”.

    Chúng ta thử xét qua Thiền Đông Độ, từ Tổ này dạy như vậy đến Tổ khác dạy khác như: “Chẳng niệm thiện niệm ác, Vô tâm còn cách một lớp rào” còn pháp thực hành tu thì có: giữ ông chủ, NHẬN ĐỊNH :

    Đạo Phật là do Đức Phật Thích Ca người Ấn Độ tìm được con đường giác ngộ mà thành . Ngài có một giáo lý tìm nguyên nhân khổ và giải thoát sự khổ . Ngài dạy về đức tin qua kinh 10 điều chớ vội tin hoặc con đường giải thoát bằng trí tuệ là tự tu tập theo lời dạy của Ngài mà thực hành tất thành chánh quả . Ngài chỉ về nghiệp báo , nhân quả là ai làm nấy chịu , ai tu nấy hưởng , chứ Ngài không nói viễn vông giống như cái bánh VẼ trên trời . Ngài không dạy cầu nguyện , niệm danh A Di Đà , Quán Thế Âm thì được giải thoát theo lối hứa đưa của Kito giáo . Không ai ở trên đời này có thể cứu vớt người khác được . Định luật ” Sanh-già – bệnh – chết ” là áp dụng cho tất cả mọi loài , mọi vật . Ai tuyên truyền cho là sống đời đời , bất di bất dịch là láo khoét , tự dối mình và dối cả người . Đó không phải là đạo sự thật , không phải là đạo chân lý .

    Người Trung Hoa lúc nào cũng có đầu óc Hán tộc muốn đi chinh phạt , nô lệ dân tộc khác . Từ mặt quân sự , chính trị , kinh tế cho đến văn hóa lẫn tôn giáo . Họ đặt ra hàng ngàn vị Phật mà không ai biết đến , Sự tôn thờ sùng kính quá hủ lậu . Như vị Phật trong kinh HỒNG DANH BỬU SÁM NGHI THỨC vị Phật thứ 92 là Tề Thiên Đại Thánh trong truyện ” Huyền Trang đi thỉnh kinh ” có câu :

    Nam mô Đấu Chiến Thắng Phật. O (92)

    Cái xảo ngôn , ba trợn của anh ba Tàu thế mà đánh lừa các thầy PGVN và Phật tử hơn 2000 năm nay vẫn cúi đầu lạy sám hối . Phật tử thì vô minh , nhưng ngay các thầy thuộc loại trí thức như Tiến sĩ Thích Nhất Hạnh , Ts Tuệ Sỹ , TS Nguyễn Mạnh Thác , Thích Trí Tịnh ….. cũng chẳng ý thức để sửa đổi lại . Đã tu hành còn lo đấu tranh như PGVNTN của HT Quãng Độ , tham gia chính quyền như PGVN trong nước .

    Tôi thấy việc tu hành và dìu dắt con đường giải thoát là nhiệm vụ các thầy .Không lẽ quý thầy còn vô minh hay biết mà không dám nói vì tập tục đã ngàn năm . Chỉ có vài Thầy giác ngộ nói lên sự thật như HT Thích Thông Lạc , TT Thích Chân Quang ….. thì các tu sĩ khác đã không suy nghĩ lại còn xúi dục Phật tử đánh phá , chửi bới , xuyên tạc vô ý thức .

    Đạo Phật là do Đức Phật Thích Ca sáng lập tức là GIÁO CHỦ , không có A Di-Đà , Di Lạc , Quán Âm nào là giáo chủ cả . Vì các vị Phật đó không có một lịch sử , giáo lý dạy con người giải thoát nên Phật tử không theo . Ai muốn mê tín , cuồng vọng tôn thờ các ông Phật Ba Tàu thì tùy thích , nhưng không nên lấy tên Phật giáo mà Long Hoa , Vô Thượng Sư cũng dựa vào Phật giáo để lừa bịp chúng sanh giống như Đại thừa – Tịnh độ . Quý vị muốn giải thoát hay NÔ LỆ Ba Tàu đó là tùy mỗi người tự chọn lựa nhưng không nên vì cá nhân muốn núp bóng áo cà sa để sung sướng , lừa bịp đó là điều rất tội lỗi kiếp sau .

    chăn trâu, biết vọng liền buông, tham thoại đầu, tham công án v.v…Chỉ có một pháp không vọng tưởng mà tu hành lại chế ra nhiều pháp, nhưng pháp nào cũng chỉ là pháp ức chế tâm, tập trung tâm, để không niệm khởi, chứ không có pháp gì khác.

    Còn nếu bảo rằng giáo pháp cần phải phát triển cho phù hợp với mọi hoàn cảnh và sự tiến bộ của loài người thì đó là phỉ báng đức Phật xem như đức Phật không thông suốt thời vị lai nên đã di chúc: “Lấy giới luật và giáo pháp của mình làm Thầy làm chỗ nương tựa tu hành vững chắc”. Nếu đức Phật di chúc như vậy và bây giờ các Tổ Phát triển kinh sách như vậy thì chúng ta còn tin Phật nữa hay không?

    Tom Nguyễn

  8. Tom Nguyen nói:

    Tại sao phải tu thiền ? Đây là một câu hỏi , một bài toán nan giải suốt 2000 năm nay cần giải đáp cho hầu hết Tăng ni, Phật tử trên Thế giới và Việt Nam nhận định nếu muốn tu theo con đường Phật giáo và hân hạnh mang danh con Phật , đạo Phật chân chánh của Thích Ca Mâu Ni chứ không phải cũng lấy tên Phật giáo nhưng lồng vào tà thuyết A-Di-Đà , Di-Lạc ,Quán Âm , Long Hoa , Thanh Hải Vô Thượng Sư ……. Nếu những môn phái tà giáo muốn trà trộn vào lấy danh Phật giáo là sỉ nhục , vô liêm sĩ đối với con đường tu giác ngộ và trí tuệ của Ngài Mâu Ni .

    Tu là nhằm giải thoát cho mình sau đó mới giảng dạy và hướng dẫn người khác cùng giải thoát . Chứ những môn phái kia chưa tu , chưa giữ đúng giới luật , đạo hạnh của chính mình làm sao giác ngô mà đã vội cho mình là CỔ XE LỚN như Đại Thừa . Một sự mâu thuẩn và lừa đảo ngay chính mình và mọi người . Tu là tâm phải thanh tịnh không phải tụng cho lớn , hò hét trên máy khuých đại , đờn ca nhảy múa …… thì tâm làm sao thanh tịnh để giác ngộ ? Bước đầu muốn đi vào con đường tu tập thì phải vào Sơ thiền giống của Phật tu tập cũng gọi ly dục ly bất thiện pháp. Bởi ly dục ly bất thiện pháp của Phật là phải bắt đầu sống đúng giới luật của Phật đã dạy, nếu giới luật chưa sống đúng thì dù tu như thế nào cũng không ly dục ly bất thiện pháp. Tăng không nên nói chuyện , tiếp xúc nhiều với ngoại giới . Các Tăng Ni Đại Thừa , Mật Tông , Long Hoa , Thanh Hải thì tiếp xúc tự do , đủ hạng người cứ vào dịp lễ hay cuối tuần , thì giờ đâu còn mà thanh tịnh tu tập , đó là chưa kể giấy đòi nợ ngân hàng , điện , nước gửi đến . Gặp nhau thì lo ăn nói huyên thuyên đôi lúc không giữ tâm và ý từ đó lòng sinh ra loạn động , tâm tà dục mất đạo hạnh .

    Tụng kinh , gõ mõ làm cho tâm bất động do huyên náo , lại chẳng hiểu ý kinh dạy gì . Toàn là những lời hứa hẹn một cõi trời đâu đâu không có thực , nhằm đánh lừa lẫn nhau . Hàng chục ngàn vị Phật từ muôn ức kiếp , từ nhiều cung trời Đâu suất , Đa lợi mà ai cũng chẳng biết thật hay giả . Thậm chí đưa con khỉ Tề Thiên Đại Thánh Tịnh Độ cũng phong lên thành Phật . Cho dù có thành Phật chăng nữa thì chẳng giáo hóa , giúp đở được ai bằng ngôn ngữ của Khỉ . Câu “Nam mô đấu chiến thắng Phật (92) ” trong kinh sám hối không mang ý nghĩa gì hết . Một loại kinh nhồi sọ và khinh bỉ con người như thế mà cũng dạy cho Phật tử theo .

    Ngày nay những vị thức tĩnh , giác ngộ thấy được con đường chân lý của Phật giáo Thích Ca là đúng như HT Thích Thông Lạc , HT Thích Thanh Từ , HT Thích Chân Quang, Đ Đ Thích Nhật Từ ……. rao giảng con đừơng tu giác ngộ thì các Tăng Ni Đại Thừa la ó còn xúi dục đám đồ đệ vô minh dám hổn xược và đánh phá , tẩy chay các thầy , Thanh Từ ,Chân Quang , Thông Lạc . Rất đáng thương cho lớp người theo Đại Thừa , Long Hoa , Thanh Hải , Mật Tông bị vô minh che lấp .

  9. Tom Nguyen nói:

    PHẬT QUÁN ÂM TRONG ĐẠI THỪA .

    Dại Thừa bày ra hình ảnh Quán Âm với nhiều huyền thoại mù quán , viễn vông nha9`m lường gạt chúng sanh . Giáo lý của Ngài cũng chỉ là lời hứa ai cầu nguyện danh Ngài mới được giúp , ai không cầu nguyện thì cho chết bỏ . Đó là đức hạnh tồi tệ nhất của người giác ngộ mang danh là Phật . Hầu hết Phật của Đại Thừa như A Di Đà , Quán Âm , Di Lặc , Dược Sư Lưu Ly ….. là ích kỹ như thế , nghĩa là ” Bánh ít trao đi , bánh chì trả lại ” , trao đổi sòng phẳng .

    Về giáo lý Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni luôn luôn khẳng định của Ngài không có phân biệt nam – nữ, đối với người nữ trong Phật giáo tuy không giữ vai trò quan trọng nhưng luôn luôn được xem bình đẳng dù bên cạnh đó là sự ràng buộc của Bát kỉnh pháp mà thời kỳ Ðức Phật quy định trong đời sống Tăng đoàn . Thế giới ngày nay hoàn toàn chấp nhận ” CHỈ CÓ PHẬT GIÁO LÀ HÒA BìNH VÀ BÌNH ĐẲNG NHẤT ” , điều này không bao giờ có ở các tôn giáo khác .

    Nhiều bạn thắc mắc hỏi tôi :

    – Tại sao khi thì gọi : Quan Thế Âm Bồ Tát .

    – Khi thì gọi : Quan Âm Bồ Tát .

    Chữ Quan Âm (zh. 觀音, ja. kannon), nguyên là Quán Thế Âm nhưng do tránh chữ Thế trùng tên nhà vua Đường là Lý Thế Dân nên phải gọi là Quan Âm hoặc Quán Âm, là tên của Bồ Tát Quán Thế Âm (zh. 觀世音, sa. avalokiteśvara) để tránh phạm húy với tên vua , tại Trung Quốc, Việt Nam và các nước lân cận. Phật tử Trung Quốc thường thờ cúng Quan Âm bên cạnh các vị Bồ Tát Phổ Hiền (zh. 普賢, sa. samantabhadra), Địa Tạng (zh. 地藏, sa. kṣitigarbha) và Văn-thù-sư-lợi (zh. 文殊師利, sa. mañjuśrī). Đó là bốn vị Đại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.

    Bài đọc thêm :

    Quan Âm hiện thân trong mọi hình dạng để cứu độ chúng sinh, nhất là trong các nạn lửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm. Phụ nữ không con cũng hay cầu Quan Âm. Quan Âm cũng hay được nhắc tới bên cạnh Phật A-di-đà (sa. amitābha) và trong kinh Diệu pháp liên hoa, phẩm 25 với tên Phổ môn, các công hạnh của Bồ Tát trình bày rõ ràng và tán thán. Tại Trung Quốc và Việt Nam, Quan Âm hay được diễn tả dưới dạng nữ nhân.

    Trong thần thoại, văn học bác học (như tác phẩm Tây Du Ký của Trung Quốc), văn học dân gian, hay trong kinh sách nhà Phật (ví dụ phẩm Phổ môn), thì Quán Thế Âm Bồ Tát được xem là vị Bố Tát có thần lực nhất, chỉ sau Phật Tổ. Điều này có thể là do Quán Âm là vị Bồ Tát cứu độ chúng sanh và là Bồ Tát đặc trưng cho tinh thần của Phật giáo Đại thừa – giác tha, có nghĩa là cứu vớt và giác ngộ người khác – cho nên có thể Phật giáo Đại thừa đã nâng ngài lên tầm quan trọng như vậy, khác biệt với Phật giáo Tiểu thừa. Điều này càng làm tăng lòng sùng kính của người theo đạo Phật đối với Quán Âm. Trong mọi ngôi chùa, thường thì chính giữa là tượng đức Phật Tổ, hai bên là tượng Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát, tuy nhiên ở ngoài khuôn viên chùa hầu hết đều có tượng đức Phật Tổ hay Quán Thế Âm mà không thấy hoặc ít thấy hơn tượng của các vị Phật hay Bồ Tát khác.

    Tranh tượng thường trình bày Quan Âm dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là dạng một vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt. Có khi Quan Âm ẵm trên tay một đứa bé, có khi một đồng tử theo hầu. Người ta cũng hay vẽ Quan Âm hiện trong mây, hoặc cưỡi rồng trên thác nước. Hình ảnh Quan Âm đứng trên một hải đảo cứu người bị nạn cũng phổ biến, biển cả tượng trưng cho Luân hồi. Tay Quan Âm thường cầm hoa hoa sen hay bình nước Cam lộ.

    Danh xưng Quán Thế Âm là xuất phát từ một truyền thuyết của Phật giáo, tin rằng những người tu hành đạt tới chính quả, thì ngũ giác của họ có thể dùng chung được. Nghĩa là họ có thể dùng tai để “nhìn” thấy hình ảnh, dùng mắt để “nghe” thấy âm thanh, lưỡi có thể ngửi được v.v. Theo lòng tin này, thì danh xưng Quán Thế Âm Bồ Tát có nghĩa là : vị Bồ Tát luôn “nhìn thấy” tiếng ai oán, đau khổ trong bến mê của chúng sinh và sẵn sàng cứu giúp hay nói pháp khi cần.

    Theo quan niệm Trung Quốc, Quan Âm ngự tại Phổ-đà Sơn, miền Đông Trung Quốc, đó là một trong Tứ đại danh sơn, là bốn trú xứ của bốn Đại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.

    Tại Trung Quốc – đến thế kỉ 10 – Quan Âm còn được giữ dưới dạng nam giới, thậm chí trong hang động ở Đôn Hoàng, người ta thấy tượng Quan Âm để râu. Đến khoảng thế kỉ thứ 10 thì Quan Âm được vẽ mặc áo trắng, có dạng nữ nhân. Có lẽ điều này xuất phát từ sự trộn lẫn giữa đạo Phật và đạo Lão trong thời này. Một cách giải thích khác là ảnh hưởng của Mật tông (xem Tantra) trong thời kì này: đó là hai yếu tố Từ bi (sa. maitrī-karuṇā) và Trí huệ (sa. prajñā) được thể hiện thành hai dạng nam nữ, mỗi vị Phật hay Bồ Tát trong Mật tông đều có một “quyến thuộc” nữ nhân. Vị quyến thuộc của Quán Thế Âm được xem là vị nữ thần áo trắng Đa-la (sa. tārā), và Bạch Y Quan Âm là tên dịch nghĩa của danh từ đó. Kể từ đó quần chúng Phật tử Trung Quốc khoác cho Quan Âm áo trắng và xem như là vị Bồ Tát giúp phụ nữ hiếm muộn.

    Một trong các lí do đó là đối với Phật Giáo, Phật không phân biệt nam hay nữ. Khác với các thần thoại sơ khai quan niệm các vị thần có giới tính và co sự sinh sản, Phật giáo và các tôn giáo lớn trên thế giới không cho rằng thần của họ có giới tính và sự sinh sản. Do đó việc quan niệm Quán Âm là nam hay nữ không phải là vấn đề quan trọng trong Phật giáo. Vả lại, theo phẩm Phổ môn, khi muốn cứu vớt hoặc giác ngộ cho chúng sinh, Quán Âm có thể hóa thành 32 sắc tướng[1] như Phật, Bồ Tát, Càn-thát-bà, thiện nam, tín nữ v.v tùy theo đối tượng để cứu giúp chúng sanh.

    Có rất nhiều huyền thoại về Bồ Tát Quan Âm. Theo một huyền thoại Trung Quốc thì Quan Âm là con gái thứ ba của một nhà vua. Lớn lên, mặc dù vua cha ngăn cản nhưng công chúa quyết đi tu. Cuối cùng vua nổi giận, sai đem giết nàng. Diêm vương đưa nàng vào địa ngục, ở đó công chúa biến địa ngục thành Tịnh độ, cứu giúp người hoạn nạn. Diêm Vương thả nàng ra và công chúa tái sinh lại trên núi Phổ-đà biển Đông và trở thành người cứu độ cho ngư dân. Đến khi vua cha bị bệnh nặng, nàng cắt thịt đắp lên chỗ bệnh. Nhà vua khỏi bệnh và nhớ ơn, cho tạc tượng nàng. Tương truyền rằng, vì hiểu lầm ý của nhà vua mà người ta tạc nên bức tượng nghìn tay nghìn mắt, được lưu truyền đến ngày nay.

    Tại Trung Quốc, các ngư dân thường cầu nguyện Quan Âm để được bình an trong các chuyến đi đánh cá. Vì thế có Quan Âm cũng có biệt hiệu “Quan Âm Nam Hải”.

  10. Tom Nguyen nói:

    Như vậy , Quán Thế Âm Bồ Tát nghĩa là vị Bồ tát có hạnh nguyện quán sát tìm nghe âm thanh hay tiếng than khóc kêu thương của thế gian để mà cứu độ , hình ảnh của một NGƯỜI MẸ đúng nghĩa của nó từ hành động , lòng từ bi và tình thương đối với chúng sanh rất rõ ràng , không những Ngài thị hiện nhiều lần và nhiều dáng nam , nữ khác nhau nhằm hoá độ , giúp đời chứ không khóc , hay im lặng mà không hành động để nhằm giải quyết một nguyện cầu gì . Vị Bồ tát nầy còn có đặc điểm là tùy theo chúng sanh mong muốn Ngài hiện thân như thế nào: Có lúc làm vua quan, sang hèn, giàu nghèo, già trẻ… hay nam nữ thì Ngài cũng chiều theo hiện thân như thế mà cứu độ có nghĩa là như vậy . Bồ tát thì đâu có tướng nam nữ, sang hèn , sầu bi hay khóc chảy máu làm gì? Có ích lợi nào đâu ???? v.v…. hình ảnh hiện ra của Ngài là tượng trưng cho lòng thương chúng sanh như mẹ thương con, nên người ta tạc tượng Ngài trong dáng người phụ nữ dịu hiền , từ bi có ý nghĩa như thế .

    Ngài luôn luôn lắng nghe và sự xuất hiện của Bồ tát Quán Thế Âm được các kinh công nhận là độc đáo nhất trong hạnh nguyện của các vị Bồ tát. Ngài đã chứng ngộ bằng âm thanh qua nhĩ căn viên thông, và lấy âm thanh là mục đích tối thượng trong việc cứu khổ cứu nạn cho tất cả chúng sanh.Vì sao nói đến âm thanh , giữa Ngài và chúng sanh làm sao mà nghe? Như tôi đã dẫn chứng bài ở trên về tầng số AM , FM….. của Radio hay các tầng số bắt sóng của TV…. khi đúng làn sóng thì chúng ta nghe tiếng , thấy hình. Cũng vậy Bồ Tát QUán Âm đang ở trên 9 tầng mây , nếu lời cầu nguyện của ta gặp dược tầng số của Ngài thì chúng ta sẽ nghe hoặc thấy Ngài thị hiện để cứu độ. Với danh hiệu “Đại từ đại bi tầm thinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát ” đã nói lên đầy đủ ý nghĩa hạnh nguyện đó.

    Nhiều bộ kinh, có nói về Quán Thế Âm Bồ Tát; nhưng chúng ta không thấy đề cập đến phương pháp chứng ngộ của Ngài. Duy bộ kinh Lăng Nghiêm có đề cập đến sự chứng ngộ ấy, kinh Lăng Nghiêm trực chỉ ghi rõ rằng:

    Sau khi đức Thế tôn gạn hỏi chỗ sở chứng của 24 Thánh đệ tử xong, đến lượt Bồ tát Quán Thế Âm bày tỏ chỗ sở chứng của mình như sau:

    ” Quán Thế Âm Bồ tát bạch rằng: Tôi nhớ là: Hàng hà sa số kiếp về trước, có một vị Phật hiệu là Quán Thế Âm; vị Phật đó dạy tôi muốn vào chánh định thì phải theo nghe-nghĩ-tu. Từ trong nghe, khi trở về tự tánh thì sở duyên biến mất và con đường vào trở nên vắng lặng (sở không có, năng không có chỗ duyên, nên năng vẫn không hiện hữu, ở trong tự tánh vắng lặng). Hai tướng động và tịnh không sinh. Từ từ mà tiến lên như vậy, thì nghe và đối tượng bị nghe đều hết. Nghe đã hết không trụ, thì giác và đối tượng của bị giác đều không khi không giác đã tròn đầy, thì không và đối tượng không đều diệt. Khi sinh và diệt đã mất, thời cảnh tịch diệt hiện ra trước mắt.”

    Vì sao có tiếng nói , âm thanh đôi lúc hình ảnh các Bồ Tát ?…… Ngài Đại Lãn giải thích :

    Chữ âm là biểu tượng ý nghĩa cuộc sống, thế giới ngoại tại của chúng sanh trong pháp giới duyên khởi này chính là hiện tướng của nghiệp tướng vô minh con người đang lôi kéo con người trong bể khổ sanh tử luân hồi. Những khổ đau tai nạn của kiếp người, cùng tiếng kêu gào van xin, cầu cứu của chúng sanh trong bể khổ đã làm cho nguyện lực độ sanh của Bồ Tát Quán Thế Âm phát sinh. Ngài đã cùng nhĩ căn viên thông, thường xuyên quán sát và nghe tiếng cầu cứu của chúng sanh, tùy theo căn cơ của từng loại mà Ngài hóa độ, cứu vớt .

    Ở đây, về ý nghiã danh xưng, chúng ta thấy sự khác biệt giữa kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa trong lòng bi nguyện của Ngài. Một đàng hướng nội nghe bản thể tự tánh, tức là Như Lai tạng tâm và đó cũng chính là bản thể của chúng sanh, của vũ trụ mà lập cứ (theo nhân hạnh) để cứu vớt; một đàng hướng ngoại nghe quả khổ của chúng sanh, cùng tiếng cầu cứu mà lập cứ (theo quả đức) để cứu vớt . Nếu căn cứ nơi nhân và quả để hiểu thì làm sao có sự gặp gỡ hạnh nguyện giữa Kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa trong lòng bi nguyện của Ngài? Đó là câu hỏi cần đặt ra và cần giải đáp. Sự xuất hiện của Ngài vì lòng bi ngưỡng vô úy, cùng với chúng sanh cùng một thể tánh. Ngài đã mang danh hiệu Đại Từ Đại Bi tầm thanh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, nói lên lòng bi ngưỡng vô úy đó . Lòng bi ngưỡng vô úy mà chúng sanh đã đánh mất, thay vào đó lòng sợ hãi. Chính vì lòng sợ hãi mà con người luôn ở trong tình trạng lo đối phó, nhưng đối phó với phương pháp chạy trốn thực tại, tìm cách né tránh với tương lai . Mà tương lai là những gì chưa xảy đến với họ hay sẽ không xảy đến. Vì sợ hãi lo âu nên con người tự đánh lừa chính mình và dần dần trở thành vong thân. Từ đó thần thánh, ma quỷ, Thượng đế được xuất hiện bởi con người và do con người đặt ra, con người lấy đó làm nơi nương tựa. Cuộc sống của chúng ta đầy dẫy những biểu tượng, biểu tượng của sợ hãi, do đó chúng ta đã tự đánh mất bản tính vô úy của ta. Con người không dám nhìn thực tại, không dám nhìn vào chính mình, không dám sống với thực tại, luôn luôn sống với tương lai; mà tương lai là những gì ảo tưởng. Con người luôn tìm cách nắm bắt những ảo tưởng đó để rồi thất vọng đau khổ .

    Ngài Quán Âm đầy đủ tất cả những hạnh lành của một người Mẹ , một người Cha đi thẳng vào cuộc đời an ủi , hoá giải oan khiên , vổ về , khuyên nhủ…… mà không nhằm tạo ra một sự mê hoặc , hù dọa chúng sanh như con người thường dùng hình ảnh thị hiện Mẹ Maria khóc để lấy lòng tin tuyệt đối đôi lúc nhằm vào mục đích mê hoặc tôn giáo , đấu tranh chính trị , tranh đấu dành đất , lấn chùa mà không có một giải pháp đưa đến an vui , hạnh phúc cho con người , hoàn toàn chỉ là một mục đích làm cho con người sự RUN SỢ ma quoái nhằm đánh lạc hướng tình thương đúng nghĩa của một NGƯỜI MẸ mà dù Mẹ Maria hay Mẹ Quán Thế Âm đều có tình thương yêu giống nhau .

  11. cannguyen nói:

    Học các pháp hửu vi hay các pháp vô vi thành tựu rồi đem các pháp đó mà cứu độ chúng sinh với các tâm TƯ-BI-HỈ-XẢ thì đó là đi vào con đường Chánh đạo-miễn tranh luan nữa.cám ơn.

  12. Tom Nguyen nói:

    Nếu cannguyen đem những lời giáo huấn này dạy cho Đại Thừa nên ngừng lại thì phứơc báu cho tương lai Phật Giáo biết bao .

    “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng ” . Đại Thừa liên tục đánh phá , triệt hạ Ngài Phật Tổ không ngừng nghỉ hơn 2550 năm nay nhằm đưa Di Lạc Trung Hoa lên làm Giáo chủ .
    Đón đọc những bài kinh thêm vào , sáng tác và gán cho là của Đức Thế Tôn của Đại Thừa đã và đang bôi bẩn nhằm triệt hạ chân lý Thích Ca .

  13. Tom Nguyen nói:

    Phật giáo Đại Thừa tự xưng là ‘ Phát triễn – Cổ xe lớn ….” nên đã từ bỏ con đường tu giải thoát theo con đường giác ngộ bằng trí tuệ của Đức Bổn sư . Thay vì đem cái trí tuệ đó tu tập các thầy Đại Thừa lại dùng vào việc đấu tranh chính trị nhằm chia quyền đặc lợi và danh vọng , uy quyền giống như các tôn giáo khác .

    Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng dạy Tăng Ni , Phật tử phải biết nhập thế , nhưng hình thức phải vì nhân lọai , vì đời nên Phật Giáo nhập thế khác với tôn giáo khác và thế tục . Sở dĩ Phật Giáo nổi tiếng trên khắp thế giới hàng ngàn năm nay là nhờ lòng TỪ BI và TRÍ TUỆ mà Đức Phật đã giảng dạy như hai điều kiện tiên quyết để đem lại hạnh phúc, an vui cho chúng sanh . Vì thế, đạo Phật còn được gọi là đạo Từ bi hay đạo Giác ngộ . .

    Tính chất căn bản của Phật Giáo là tính chất nhân bản không chỉ nhắm vào chỗ phục vụ lợi ích cho con người mà còn phục vụ lợi ích an vui cho muôn loài động vật, thực vật có sự sống, thậm chí ngay cả các loại không có sự sống. Như vậy, ý niệm về chủ nghĩa nhân bản trong đạo Phật và các tôn giáo hoàn toàn khác nhau. Đức Phật trong kinh điển thường nhắc đến : “Phụng sự chúng sinh tức là cúng dường chư Phật” là nguyên lý nhập thế căn bản của đạo Phật .

    Đức Phật luôn luôn dạy con người phải có tâm bình đẳng , cầu mong cho tất cả chúng sanh đựơc sống an vui hạnh phúc ở Niết Bàn, làm nhiều việc mang lại phúc báu trên cuộc đời, sống cuộc sống thực sự có ý nghĩa tức là cúng dường Đức Phật . Ngài thay thế sự phục vụ Ngài bằng phụng sự chúng sinh, tức đem phúc lợi xã hội đến với mọi người, mọi loài không phải cho Ngài cũng không phải cho một chính thể hay ngọai bang nào khác . Nếu Đức Phật được coi là đối tượng cao quý nhất vì sự giác ngộ và lòng từ bi của Ngài thể hiện và đóng góp cho nhân loại thì việc đền ơn, đáp nghĩa Ngài không phải là việc làm chùa lớn , bày cúng hương hoa trai đàng cầu khẩn rồi kèm vào những văn từ sách động gây hận thù hoặc thể hiện sự thành kính, đảnh lễ, tụng niệm, bái sám hằng ngày mặc dù các công việc đó, các Phật tử có niềm tin chân chính vẫn làm nhằm mục đích không mưu cầu lợi lạc cho bản thân mà tất cả vì chúng sanh .

    Ngày nay Tăng Ni cũng tham gia làm chính trị , kinh tế , văn hoá , xã hội v.v… nhằm đem lợi ích và phụng vụ chung nhân lọai . Nhưng thế nào gọi là phụng vụ đúng nghĩa theo tinh thần của Phật Giáo ? Điều mà trong di chúc của Ngài Tăng Thống Thích Huyền Quang có nhắc đến :

    Nguyện cầu Tam Bảo độ trì cho toàn thể Chư Tôn Hòa thượng, Chư Thượng tọa trong Hội đồng Lưỡng viện phước trí nhị nghiêm, thương yêu, hiệp nhất trước mối mâu thuẫn và ly gián của thế nhân để hiển lộ Pháp tánh giác ngộ và cứu khổ. Tôi cũng nhắn nhủ đến toàn thể Chư Tăng, Ni, cùng quý vị thiện tri thức, nam nữ Phật tử trong và ngoài nước hãy cùng nhau nâng đỡ, tương trợ, giữ tâm bồ đề kiên cố làm cho giáo hội trang nghiêm và hoàn thiện một Tứ chúng biết phục vụ dân tộc và nhân loại. Ở vào thời đại nhiễu nhương, nhân tâm ly tán, đạo đức suy đồi, bè phái phân chia, tranh chấp, vị kỷ lan tràn… thì quý vị phải biết sớm khuya lo sợ, tinh tấn tu hành, để tâm lo việc cho dân chúng. Đặc biệt giới Cư sĩ, noi gương tiền nhân đảm trách các vấn đề xã hội trong tinh thần từ bi và đức tính vô úy của Phật giáo.

    Được như vậy, vô thường không phân rẽ chúng ta trên bước đường hoằng hóa chúng sanh nơi cõi này và nghìn muôn cõi khác.

    GHPGVNTN đã và đang làm đúng tinh thần nhập thế của Đức Phật dạy và lời nhắn nhủ của Cố Tăng Thống Huyền Quang hay không ?

    Đức Khổng Tử cho rằng ” Một ngày không đọc sách là cảm thấy ngu dốt ” thì Phật giáo lại cổ xuý “Một ngày không làm là một ngày vô ích ” có nghĩa là một ngày không tu, không tạo phúc hành thiện , không làm công đức , trao lời nhân nghĩa , không dấn thân hành động giúp đời , không phục vụ chúng sanh , từ ý tưởng cho đến việc làm v.v…..… thì ngày đó chúng ta cảm thấy không xứng đáng tiêu xài bát cơm hay đồng tiền có đựơc . Lấy phương châm này để nhập thế thì có nghĩa là mỗi động tác đi, đứng, nằm, ngồi, hít , thở , ăn, nói, im lặng, thức, ngủ, động và tĩnh, hay suy tư v.v…… đều có thể mang lại lợi lạc cho bản thân và cho chúng sanh .

    Về cá nhân , mỗi Phật tử có thể là một nhà hoằng pháp, một nhà nhập thế, một nhà mang thông điệp của Đức Phật đến cho gia đình , mọi cá nhân khác . Trên Website có thể paste những bài giảng đạo đức , những Video về kinh thuyết pháp hay sự học hỏi được từ các giảng đường trong các buổi giảng pháp, pháp thoại cho người thân và các bạn bè của mình cùng nhau chia sẻ . Có nghĩa là người Phật tử cảm nhận được sâu sắc lời hay ý đạo của đạo Phật thì nên truyền bá dù dưới hình thức copy hay tự viết , nếu thêm phần bình luận phân tích theo ý tưởng của mình để cùng nhau trao đổi thì càng tốt biết bao . Hoặc những điều chúng ta đã cảm nhận được nhưng có thể sử dụng kinh nghiệm của bản thân qua trí tuệ suy xét , gạn lọc thì nên phát biểu ra để cùng nhau học hỏi .

    Trong gia đình với tư cách là một người cha, người mẹ, là chồng, vợ, anh, em, nhà giáo, người làm nghệ thuật, văn hoá, chúng ta cũng có thể trao đổi những lời hay , ý đẹp giúp đạo giúp đời thì dễ dàng thuyết phục và truyền bá cho nhau hơn . Nói tóm lại , bằng ngôn ngữ riêng của mình và thấy căn tính, trình độ riêng của từng người ở mức độ nào thì chuyển tải nội dung Phật pháp thông qua ngôn ngữ, căn tính tương ứng thì sẽ giúp người đó thức tỉnh không kể trong nhà hay trên Internet . Đương nhiên là tránh những việc làm , truyền bá những thông bạch hay cáo thị nhằm gây khổ đau , sách động quần chúng , Phật tử bỏ ăn , bỏ làm để chạy theo sự đấu tranh không có lợi ích thiết thực cho đời sống và xã hội . Nguy hiểm hơn nữa làm suy làm đồi đạo pháp có khi nhằm cho một mục tiêu chính trị của ngọai bang . Các Phật tử phải sáng suốt điểm đó , nhất là các Tỳ Kheo là những chủng tử của Như Lai lại càng nêu gương trước tiên .

    Tôi lấy ví dụ Tiến sĩ Luật Học và Triết học Ambekar người Ấn Độ . Ông đã từng làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên của Ấn Độ sau thời kỳ Anh đô hộ . Ông thuộc giai cấp hạ tiện , nhưng với tinh thần cầu tiến ông đã vượt qua sự hà khắc của xã hội trong giai cấp của Ấn Độ . Ông theo Phật giáo vì đây là một tôn giáo nhằm giải thóat và đề cao sự tự do cho con người . Tư cách là một cư sĩ tại gia , Ambekar trở thành một vị Bồ tát sống là vì ông đã biết vận dụng vai trò, vị trí chính trị mà ông có từ Phật pháp ra xã hội , hoằng pháp độ sanh giúp nhiều người sáng tỏ và hiểu con đừơng giải thóat về mặt tâm linh của Đức Phật . Trái lại ông đã nhiều lần đối lập với tư tưởng của Mahatma Gandhi, người đã có công rất nhiều trong chủ nghĩa đấu tranh dành độc lập cho Ấn Độ bằng phương thức bất bạo động .

    Hình thức đấu tranh giữa Ngài Mahatma Gandhi muốn dân tộc Ấn Độ được độc lập khỏi ách thống trị của người Anh thì Ambekar ngược lại dựa trên quan điểm của Phật giáo, ông muốn cho sự giải phóng đó không chỉ ở Quốc Gia này với quốc gia nọ, mà còn cả những người trong cùng một quốc gia với nhau. Nghĩa là, phải xoá bỏ chủ nghĩa giai cấp sang hèn và nô lệ . Nếu dành được độc lập khỏi ách thống trị của đế quốc mà không thay đổi chủ nghĩa giai cấp thì người dân trong nước vẫn phải chấp nhận hình thức đau khổ khác như kiểu thống trị của Bà La Môn trị. Như vậy, nỗi khổ đau vẫn tiếp tục diễn ra. Cho nên, Ambekar không được các nhà chính trị theo chủ nghĩa Ấn Độ giáo ủng hộ, dù con đường và chủ trương nhập thế của ông rất hay và áp dụng đúng theo quan niệm nhập thế của Đức Phật vì nó quá cao và đụng chạm đến giai cấp thống trị của Bà La Môn , cho nên bị thế lực này chống đối và không ủng hộ .

    Trở lại Phật giáo của Việt Nam ta mà người đại diện là Võ Văn Ái cùng Ỷ Lan điều hành cho GHPGVNTN đấu tranh như là một hình thức nhập thế của Phật giáo trong tình thế hiện tại có hợp với lòng dân , lòng Phật tử theo tinh thần nhà Phật hay không ?

    Cư sĩ Võ Văn Ái ( VVA ) muốn làm một Ambekar của Ấn Độ , xã thân ra vì đạo pháp tranh đấu đòi tự do tôn giáo thuộc một nhóm người đựơc gọi là GHPGVNTN trong và ngoài nước . Theo gương nhập thế của Đức Phật , Ambekar không những đòi quyền độc lập cho Ấn Độ , cùng một lúc ông muốn xóa bỏ 4 tầng giai cấp bị thống trị bởi Bà La Môn giáo . Ông tranh đấu ngay trong nước và chỉ treo cờ Phật giáo và cờ Ấn Độ như là một biểu tượng đấu tranh duy nhất . Điều này trái lại với VVA lại ở ngoài nước VN với danh xưng là giám đốc Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế và Phát Ngôn Viên của Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN.

    Một điều rõ ràng là ngoài lá cờ Phật giáo luôn luôn có cờ Mỹ và cờ vàng ba sọc đỏ của chế độ VNCH củ kèm sát cùng hai bài Quốc ca đựơc sùng kính hát lên trong mọi buổi lễ , kể cả tại chùa hay đại lễ của Phật giáo . Hình ảnh này đã xác nhận trước Thế Giới là VVA và GHPGVNTN thuộc phe VNCH và đựơc Mỹ bao bọc để đối kháng nhằm lật đổ CSVN chứ không thuần nhất đòi quyền tự do tôn giáo như VVA rêu rao . Đó là một sự đối kháng giữa hai lằng ranh Quốc – Cọng chứ không phải là Phật giáo đòi tự do tôn giáo với Cọng Sản .

    Một điều tối quan trọng hơn nữa , VVA là ai ? Đối với hải ngọai không lạ gì khi search tìm trên web http://www.ned.org trình bày số tiền chi tiêu hàng năm của cơ quan CIA/NED ( National Endowment for Democracy ) một họat động gián điệp Quốc Tế của Mỹ dùng để phá họai những nước cần triệt hạ . Trong đó NED liệt kê để chứng minh về chi tiêu tài chánh , NED đã cung cấp tiền hàng năm cho tờ Quê Mẹ do VVA chủ nhiệm số tiền như sau :

    – năm 1997 :$90000 .

    – năm 1998 :$95000 .

    -năm 2001 :$70000 .

    – năm 2002 :$70000 .

    – năm 2003 :$70000 .

    – năm 2005 :$70000 .

    – năm 2006 :$97000

    Sở dĩ tôi phải đưa ra những sự kiện để chứng minh vì sao nhà nước CSVN không công nhận GHPGVNTN năm 1988 . Vì đây là một lực lượng bao gồm nhân sự và một số tu sĩ muốn lật đổ chính quyền chứ không vì quyền tự do . Qua đấu tranh VVA cho rằng 10 năm qua GHPGVNTN đã có tự do đôi chút về đi lại , hành lễ , nay VVA muốn GH này phải đựơc ĐỘC LẬP không lệ thuộc nhà nước , giai đọan kế tiếp là TỰ TRỊ theo công thức :

    TƯ DO + ĐỘC LẬP = TỰ TRỊ

    Mộng ứơc của VVA là muốn GHPGVNTN sẽ ly khai nhà nước CSVN và quyền tự trị , giống như Toà Thánh Vatican tự trị trong nước Ý , Công giáo Đông Timor 1 triệu tín đồ đã dành đựơc quyền tự trị ……. Điều mà Tin Lành cũng hô hào giáo dân vùng Cao Nguyên Ban Mê Thuộc đứng dậy đòi tự trị năm 2006 . Vậy thì điều này Phật tử chúng có chịu cảnh ” Một nước trong một nước ” như vậy không ? Chắc chắn là không .

    Thưa Ngài Tăng Thống Thích Quảng Độ ! Chúng con xin kêu gọi sự tỉnh ngộ của Đại lão Tân Tăng Thống lãnh đạo GHPGVNTN phải sáng suốt mà dừng chân , bây giờ Ngài là người sung sướng nhất trần gian , Ngài còn muốn gì nữa ??????

    – Ngài muốn Nobel : VVA đã cho rồi .

    – Ngài muốn làm Tăng Thống : VVA đã cho tọai nguyện .

    Vậy Ngài còn sống bao lâu nữa để hưởng thêm quyền chức . Không lẽ Ngài còn hy vọng GHPGVNTN tự trị để Ngài lên làm Giáo Hoàng nữa sao ? Chúng con rất khổ tâm vì đạo pháp , nhưng không bao giờ muốn đất nước VN bị phân chia lần nữa sau thời kỳ Trịnh Nguyễn và Quốc – Cọng phân tranh đã qua . Những lúc đó giữa GH và Dân tộc đương nhiên chúng con phải đứng về phía Dân tộc . Các Ngài cũng đừng nghĩ rằng những Phật tử như chúng con đến chùa GHPGVNTN tức là người của GHPGVNTN , chúng con đảnh lễ các Thầy , các cao tăng GHPGVNTN chưa hẳn là nhất nhất nghe theo lời các thầy về hành động tự trị điên cuồng đó . Chúng con đảnh lề Thầy là đảnh lễ chiếc Y vàng mà Thầy đang mặc trên mình , chứ không phải cúi đầu về cái body của Thầy đang bị vô minh che lấp đâu .

    Trong câu chuyện Phật pháp có kể :

    Ngày xưa có một Tỳ Kheo tu trong rừng sâu tại Ấn Độ . Ngài thừơng ngồi tịnh tâm dưới gốc cây cổ thụ mà tu hành . Một hôm có tên thợ săn tình cờ thấy con cọp nằm phủ phục dưới chân Ngài để nhiếp tâm Pháp .

    Lợi dụng lúc Ngài đi kiếm ẩm thực , tên thợ săn mặc một bộ y vàng giống như vị Tỳ Kheo và đến ngồi tỉnh tọa dưới gốc cây . Con cọp tưởng Ngài nên đến gần bên , chờ cho cọp đến gần 2 mét , rồi 1 mét ….. tên thợ săn phóng cây lao giết cọp . Cọp quằn quọai rống lên đau đớn , khi nhìn ra sau bộ y vàng là một tên thợ săn khát máu , cọp định đưa chân lên tát , nhưng lại hạ xuống , đến lần thứ hai , thứ ba ….. cọp cũng không đành giết lại tên thợ săn mà đành gục xuống chết . Vì cọp tôn trọng chiếc y vàng là của Như Lai . Nhưng kẻ xấu đã lợi dụng đội lốt y vàng để giết người , sát sanh .

    Qua câu chuyện này các bạn có nghĩ gì về những Thầy GHPGVNTN của chúng ta đang mặc y vàng của nhà Phật mà có những hành động trái lương tâm và gây khổ đau cho Phật tử và đưa đến cảnh mất nước . Nếu các Thầy muốn đấu tranh cho tự do tôn giáo thì nên đứng thuần tuý dưới ngọn cờ Phật giáo DUY NHẤT . Như vậy mới có chính nghĩa lúc đấu tranh . Giả sử cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1963 , ngoài lá cờ Phật còn treo thêm lá cờ MTGPMNVN hay cờ đỏ sao vàng thì Phật giáo có bị triệt hạ ngay một cách dễ dàng và hợp lý không ? Quả là GHPGVNTN nên khôn ngoan khi đấu tranh dựa vào chính trị là một yếu điểm đưa đến phi pháp và thất bại , hoàn toàn đi ngược giáo lý của Như Lai. Nhưng cách hay nhất của Phật giáo là lo tu hành cầu giải thoát chứ đừng đi ngược lại tôn chỉ giáo lý Như Lai mà ra đời đấu tranh gây đổ vờ và chết chóc cho nhân loại .

    Tom Nguyen

  14. Tom Nguyen nói:

    Nhân chuyến đi Houston Texas tôi thấy phái Long Hoa do giáo chủ Trương Quang Tuệ thủ lãnh đang thịnh hành tại đây. Vì vậy tôi tạm ngưng chuyện Đại Thừa Tịnh Độ để bàn sơ về tà phái này dựa vào đạo Phật Thích Ca để làm suy giảm uy tín của Phật giáo. Long Hoa về cách tu hành và tổ chức cũng như giáo điều làm tôi nhớ lại ngày 19-4-1993 khi trại Waico bị cơ quan an ninh FBI đến bao vây , đột nhập nên giáo chủ David Koresh liền cấp tốc phản ứng, chống đối , họ dùng súng máy và lựu đạn kháng cự đến hơn ba ngày đêm . Cuối cùng lực lượng an ninh FBI bao vây chắt chẽ, giáo chủ David Koresh biết khó thoát khỏi tội lên ghế điện liền phóng hoả, thiêu sống hết toàn bộ tín đồ 80 người , gọi là hy sinh để về thiên đàng . Trong đó cả đàn bà, con gái và trẻ em mà một số là vợ con của David , nhiều trẻ gái vị thành niên cũng đã làm vợ của đấng cứu thế, giống y hệt như giáo chủ Trương Quang Tuệ thủ lãnh nhóm Long Hoa.

    Việc đánh phá Phật giáo về mặt nổi thì phái Long Hoa ra lịnh cho tất cả đệ tử phải bỏ công hết sức tìm kiếm, thu thập các tượng Phật, hình ảnh và chữ viết nói đến Phật. Thậm chí, gặp một tờ giấy nhỏ nào viết một chữ Phật cũng phải gom lại, đem về trao cho Giáo chủ hay sư cô Bất Nhị tiêu hủy. Còn các tượng Phật thì có thể tân trang hay sơn phết lại bán lấy tiền. Đây là một hành động tiêu hủy văn hóa không cho lưu hành lời giảng , hình ảnh , kinh Phật dạy vì họ muốn bắt toàn dân phải tôn thờ độc nhất một thần tượng là giáo chủ Trương Quang Tuệ rất sành tâm lý những người u mê, dễ bị nhồi sọ. Tâm lý và hành động này nhằm mục đích “vô tri bất mộ” (không biết, không kính ngưỡng). Người Tây phương có câu : ”Loin des yeux, loin du coeur” (xa mặt, cách lòng). Không gặp nhau lâu ngày sẽ quên , đó cũng là chính sách tàn sát và tiêu diệt văn hoá , đền thờ mà đạo Chúa , nhất là Hồi giáo đã hành động hơn hai thế kỷ nay.

    Giáo lý Ngài Thích Ca là giải thoát chính là đạo chân thật,toàn bộ giáo lý Phật đặt trên cơ sở thực tế, khoa học và mang tính vô thần nguyên thủy cho nên không có chuyện dùng bùa ngải, không nên tin chuyện thần tiên hoang đường, không bói toán, không cần xem ngày, giờ, phương hướng tốt xấu, không cúng bái , cầu an , cầu siêu , sám hối …

    Theo tài liệu sưu tầm , điều tra chính xác , ông Đặng Văn Nhâm đã viết những chủ trương và điều luật của nhóm Long Hoa như sau :

    Nhưng ngược lại, tà phái ma giáo Long Hoa ban hành giáo chỉ cho toàn thể Chân Hoa Tử tóm tắt như sau:

    – Cấm tuyệt đối không một ai được nói đến những từ có tính cách tục tĩu, xui xẻo, hắc ám như: CHẾT, MA, CU, hay MẶT TRĂNG v.v… Thí dụ: không một ai được phép nói đến tên các hiệu xe, hay bất cứ một địa danh nào trên thế giới đọc lên có “ÂM” của mấy chữ đó. Thí dụ: Mút- Cu- Va (Moskova), Cuba, Massasuchette, Oklahoma… Các hiệu xe: Mazda, Honda Acura, Yamaha… Đặc biệt phải cữ kiêng không được nói hay nhắc nhở đến mặt TRĂNG, vì mặt TRĂNG chỉ về ban đêm, tức tối tăm, u ám, không minh bạch, không sáng sủa, đẹp đẽ v.v…

    – Ngoài ra, tà phái ma giáo Long Hoa còn ra qui luật cấm các Chân Hoa Tử không được mặc quần áo các màu đậm như: đen, xanh nước biển, tím than v.v…Hằng ngày, mỗi khi muốn đi đâu phải coi ngày, coi giờ. Nếu ngày tốt, giờ tốt mới được xuất hành. Chưa đủ! Xuất hành còn phải coi phương hướng, xem hướng nào là hướng tốt trong ngày đó.

    Cũng giống như những tông phái khác , Long Hoa chỉ núp bóng đạo Phật để tung hoành, nhân danh Phật, chủ trương tu theo NHẤT THỪA nhằm tôn vinh cá nhân hầu dễ bề trấn lột những kẻ nhẹ dạ , ngu muội mang danh Phật tử. Chúng tạo ra một võ ốc được bọc chiếc y vàng của Đức Phật hay đầu cạo trọc , mang hình ảnh từ bi , đạo hạnh của tăng ni , để rồi bắt Phật tử hầu hạ , cung phụng còn hơn vua chúa. Tôi đã tham gia và tận mắt thấy những điều này tại các chùa hải ngoại. Muốn cung thỉnh các Tỳ kheo , Tỳ kheo ni đến dự lễ bắt buộc phải bao vé máy bay , chỗ ăn ở. Sau khi trở về phải có bì ” cúng dường ” thường được định giá từ 1.000 đô đến 500 hay 300 theo chức vụ cao dày đức trọng của từng Thầy . Nếu những chùa vào Liên hữu thì thùng phước sương chia ba :

    1- Một phần để chi phí sinh hoạt chùa.

    2- Một phần chia cho thầy trù trì.

    3- Một phần gởi về thầy Viện chủ trưởng ban Liên hữu.

    Sau này có nhiều Thầy sáng kiến để thủ lợi là : Tiền cúng dường vô danh là của Viện chủ , còn tiền có ghi ” cúng dường tam bảo ” thì chia hai với nhau. Sở dĩ có vấn đề nay vì Thầy Viện chủ thấy tiền cúng vô danh lúc nào cũng nhiều hơn. Ví dụ : Khui thùng phước sương 3.000$ thì trong đó vô danh 1.800$. Như vậy Thầy được phần vô danh nhiều hơn 1/3 chia đều. Có nhiều chùa chìa khóa thùng phước sương do một tay Thầy trù trì lấy tất cả , điều này cũng áp dụng chặc chẻ trong Long Hoa. Đây là những sự thật mà cá nhân tôi mắt thấy tai nghe. Nhưng khi đọc điều này hay khi nói ra thì không thiếu những Phật tử tay chân , hoặc không biết nội vụ , liền bênh vực , chửi bới không tiếc lời , còn trên net thì họ đòi banned , xoá bài……. thực tế là như vậy. Ngoài ra còn chụp mũ là VC nằm vùng , phá đạo hay mạ lỵ không còn thiếu một ngôn từ nào.Những việc làm và hành động ngu muội , dại dột này đã làm hại thầy chùa và là nguyên nhân cốt lõi đã khiến cho uy tín của Phật Giáo bị đắm chìm trong u tối vốn đã và đang bị nội công ngoại kích phá thối.

    Người Phật tử dễ bị đánh lừa khi giáo chủ nào tự cho là hiện thân từ Phật , Thần thánh đến từ cỏi trời , kèm theo vài xảo thuật phép lạ , vài câu sấm rền phỏng đoán tương lai nhằm hù doạ diệt vong mới đẩy những Phật tử đến nương tựa , van xin. Ví dụ :giáo chủ Long Hoa tự phô trương là bậc đại thánh nhân giáng phàm từ cung trời thứ chín, trang bị đủ thiên lý nhãn, thiên lý nhĩ, có thể biết được mọi chuyện quá khứ vị lai trong khắp cõi đại thiên tam thiên thế giới. Hơn thế hắn còn có khả năng thần thánh biết được mọi tai hoạ sắp xảy ra, giải trừ được mọi nghiệp chướng, độ được chúng sinh, đặc biệt dành cho các Chân Hoa Tử. Kẻ nào cúng dường nhiều tiền sẽ được thầy “giải nghiệp và cứu độ” cho vượt thoát khỏi được mọi tai ách, hoạn nạn bất ngờ . Điều này cũng không thiếu ở mấy chùa do một số Thầy thoái hóa , phá đạo Phật bắt Phật tử cúng tiền cầu an , trả tiền lễ giải sao hạng , các nhà thờ đạo Chúa còn nghiêm khắc hơn là phải đóng 10% tiền lương hay góp tiền hàng tháng bắt buộc . Đây là một hiện tượng chung của thời đại cần tiền để các tu sĩ sinh sống và tồn tại dựa trên đức tin mù quán của con người. Muốn diệt những tệ nạn này không gì hơn là trang bị một TRÍ TUỆ , điều mà Đức Phật Thích Ca giảng dạy rõ ràng. Không ai giải thoát cho ta chính bản thân của ta.

    LONG HOA CÓ PHẢI “PHẬT GIÁO” KHÔNG?

    Theo tôi nhận xét , đọc các tài liệu thì Long Hoa tuyệt nhiên không hề dính dáng gì đến Phật Giáo, không liên hệ , ảnh hưởng gì với giáo hội PGVNTN, hay giáo hội Ấn Quang ở trong nước . Chúng chỉ dùng duy nhất một cái tên “Long Hoa đệ nhị hội”, để lừa gạt đám Phật tử nhẹ dạ , khiến họ lầm tưởng đó là tổ chức có trong Phật giáo . Cách tổ chức và hành xử có tính cách chống báng kịch liệt và bôi bẩn từ Đức Phật đến giáo lý và toàn thể tăng đoàn . Lề lối tổ chức giáo hội hoàn toàn riêng biệt , sinh hoạt khác hẳn với tổ chức giáo hội Phật giáo . Trương Quang Tuệ là giáo chủ của Long Hoa Hội , tự xưng Đại Bồ Tát, Thánh Minh Vương Phật, cuối cùng tự phong, và tự suy tôn lên làm CỔ PHẬT ( sư tổ của Phật ).

    Các hàng giáo phẩm cao cấp được mang tên là HUYNH. Còn đệ tử được giáo chủ thu nạp trong một lễ qui y và không phải xuống tóc cạo trọc , được gọi là CHÂN HOA TỬ, không dùng danh từ Phật tử như Phật giáo.
    Khi thọ giới qui y các Chân Hoa Tử phải làm tờ tự khai gọi là sám hối, ghi lý lịch và tự thú hết mọi tội lỗi trong quá khứ, ký tên giao nạp giáo chủ nắm giữ.

    Đối với y phục các Chân Hoa Tử , các Huynh đều phải dùng toàn màu trắng, hay màu xanh lơ , không được mặc màu đen hay màu nâu, màu vàng nghệ như Phật giáo . Riêng giáo chủ mặc áo màu vàng như các vua chúa ngày xưa.

    Đạo Phật Thích Ca là một đạo chân thật , trí tuệ và nhắm đến con đường giải thoát khổ đau bằng chính bản năng và sức lực trong tinh thần độc lập , tinh tấn tiến lên. Chứ không cầu nguyện , van xin như Đại thừa – Tịnh độ. Đạo Phật không phải là đạo cứu rỗi , ban ơn , gián họa cho bất cứ một ai. Tinh thần ” Ai tu nấy hưởng , ai ăn nấy no ” là một chân lý trong sáng , rõ ràng và đầy khoa học. Đức Phật chỉ là vị lương y tùy bệnh mà cho thuốc , Ngài dạy cho chúng sanh tìm ra nguyên nhân căn bệnh và cách tự chữa trị lấy căn bệnh khổ não, phiền trược của mình. Đức Phật như người chỉ đường ngay, lẽ phải cho bá tánh. Ngài đã dạy :” Ngón tay ta chỉ ánh trăng , đừng tưởng ngón tay ta là ánh trăng “. Cho nên ai muốn tìm đường giải thoát , đạt đến cõi Niết Bàn thì chính nó là đang ở cùng họ , nghĩa là Phật tại tâm , Niết Bàn chính ở thế gian này. Tự mình tu và bước tới , Đức Phật không cầm tay dắt đi hay cứu vớt ai về cõi Niết Bàn , dù có niệm danh hiệu Ngài hàng ngàn lần , hàng chục năm cũng thế thôi , Ngài không hứa hảo huyền như A Di Đà , Quán Âm , Dược Sư v.v……. Một bằng chứng thật tế , ngay cả thân nhân quyến thuộc và vợ con của Ngài cũng không tài nào độ được. Ai muốn đạt đạo giải thoát khổ đau , phải tự tu, tự chứng lấy bản thân. Không cầu cạnh, trông cậy gì được nơi Ngài. Giống như trường hợp khi giòng họ Thích bị kẻ thù tiêu diệt diệt, đạo Phật bị đạo Bà La Môn , bọn cuồng tín Hồi giáo đánh bật gốc ra khỏi Ấn Độ Ngài cũng không làm sao giải nghiệp oan khiên này được.

    Giáo chủ Long Hoa chỉ là tên bịp bợm như những hiện tượng Osho , Thanh Hải Vô Thượng Sư và mới đây là Thích Chơn Quang…… Ông ta lưu lạc từ Việt Nam sang đến đảo Hawaii, nay trụ chốt ở Houston. Với nghệ thuật dối trá , xảo ngôn ông ta từng vỗ ngực tự khoe khoang có khả năng cứu độ ,giải nghiệp cho tất cả mọi chúng sanh. Các Chân Hoa Tử thường gọi giáo chủ của họ có tài thần thông , biến hóa hơn cả Đức Phật, nhờ có nhiều loại bùa phép tuyệt đỉnh.

    Trước giờ nhập diệt , Đức Phật đã gạn hỏi các đệ tử nhất là Ngài A Nan còn hỏi thêm gì không. Đức Phật lo lắng , khắc khoải , ưu tư rất nhiều về vấn đề này chân lý của Ngài sẽ bị mai một hay bị lái sang một con đường tà đạo khác , giáo lý của Ngài quá cao siêu mầu nhiệm , thâm sâu, rất dễ bị đám đệ tử sau này vô tình hay cố ý diễn dịch , thêm bớt nhiều sai lầm. Điều Ngài lo lắng và tiên tri ngày nay đã xảy ra rất nhiều như Tịnh độ , Mật tông , Long Hoa , Thanh Hải , Chơn Quang……. Cũng có thể do trí tuệ nông cạn, hoặc do mưu đồ tà đạo của tập thể , cá nhân mà làm ra những hành động đảo điên như ngày nay. Vì vậy Ngài đã phải phủ nhận ngay chính đạo lý của mình bằng lời nói : ”Ta thuyết Pháp trong suốt 49 năm, song chưa hề nói một lời nào!”. Câu này mang nhiều ý nghĩa thâm sâu , nhưng ngày nay đang bị diễn dịch sai lầm và xuyên tác của ngoại đạo lẫn con cái của Ngài.

    Thật tế đã xảy ra đúng như thế , sau khi Phật vừa viên tịch chưa đầy 100 năm , các tông phái như Đại thừa , Mật tông đã tung ra vô vàn luận giải kinh điển khác nhau. Kẻ chủ trương Không Bộ, kẻ theo Hữu Bộ, người theo chủ nghĩa Duy Thực, người theo lối Duy Tâm , hàng chục tông phái như Đại thừa , Tiểu thừa . Từ đó đạo Phật đã đẻ ra muôn vạn pháp môn và nhiều tông phái khác nhau… Song phái nào cũng nhân danh Thích Ca làm ô dù để bành trướng và tồn tại.

    Những tông phái núp bóng Như Lai còn nhiều , lâu nay tôi mãi đi tìm những kẻ gian manh lợi dụng danh Ngài để phát triễn , tồn tại những mầm mống nguy hại nhất là phá nát chân lý của Ngài. Vậy chân lý ở điểm nào tôi cần trình bày để quý bạn rõ và có sẳn một công thức bằng trí tuệ để phân biệt trắng đen , thật hư của những kinh điển ngụy tạo cho là của Thích Ca.

    Nghiên cứu về kinh điển và triết thuyết Như Lai , chúng ta nên biết rằng : đạo Phật không phải là đạo CỨU RỔI – ĐỨC TIN , như đạo Kito hay Hồi giáo . Chính Đức Phật đã dạy chúng sinh: ”Hãy thắp đuốc lên mà đi!”. Phải hiểu câu này là lối nói ẩn dụ. Phật khuyên chúng sinh nên “đốt ngọn đuốc trí tuệ” trong đầu của mỗi người lên, để đánh tan bóng tối u mê chung quanh mà noi theo dấu chân Phật , không phải là đuốc chổi chà ngoài đời sống . Cũng không cần phải nương tựa vào bất cứ một ai hết , dù là bậc cao tăng trọng vọng hay rừng kinh điển bao la. Đặc biệt, lời khuyên nêu trên của Phật còn hàm ý khuyên chúng đừng mê muội tránh bị sa vào cạm bẫy của bọn gian tăng, bịp bợm mà bất cứ thời nào , nước nào cũng đông đúc đầy rẫy trong xã hội. Trong kinh Pháp Cú, đức Phật còn nói rõ thêm:

    ”Chỉ có ta tạo nghiệp ác. Chỉ có ta chịu khổ đau. Chỉ có ta làm cho ta hết sai lầm. Chỉ có ta làm cho ta trở nên trong sạch. Không ai có thể khả dĩ cứu được ta, ngoại trừ chính ta. Chính ta phải đi trên con đường chính đạo. Chư Phật chỉ là người dẫn đường trỏ lối thôi!”
    (câu 145).

    (By ourselves is evil done. By ourselves we pain endure. By ourselves we cease from wrong. By ourselves become we pure. No-one saves us but ourselves. No-one can and no-one may, we ourselves must walk the Path. Budhas only show the Way!).

    Hoặc trong kinh còn kể chuyện ”ngón tay trỏ mặt trăng” hay câu: “Đáo bỉ ngạn” (đến bờ bên kia) và ”xích tử chi tâm” v.v… là một giáo lý chân chánh nêu cao tinh thần Độc lập , tự tin của mỗi cá nhân con người vốn có sẵn trong mỗi tiềm thức , chỉ cần được châm ngòi bằng ngọn đuốc tri thức thì ngọn đèn trí tuệ sẽ bật sáng. Chúng ta đừng vội lao mình vào rừng kinh điển sẽ bị rối mù như lạc vào trận Bát Quái Đồ khó tìm đường ra. Cũng đừng chấp đuôi theo các thầy tụng kinh gõ mõ , cầu nguyện ngày đêm. Chúng ta hãy tỉnh táo nhìn suốt 2550 năm nay có ai được giải thoát để về cõi Tịnh độ chưa , kể các các cao tăng đức dày , ân trọng. Chúng sanh có ai thoát khỏi khổ đau không , hay vẫn ngày ngày , tháng tháng lặn hụp trong cỏi ta bà đầy ô trược này không thay đổi. Trong khi đó nhìn vào Tăng – Ni nào thân hình cũng mập tròn , với phương tiện đời sống vật chất thừa mứa , sang trọng.

    Chưa có một tôn giáo nào kinh điển nhiều như lá rừng bằng Kinh Phật giáo. Thậm chí, nếu có ai để dành cả một đời người chỉ đọc chưa hết kinh Pháp Hoa , chắc vẫn không đủ , chứ nói là hiểu thông suốt. Đa số các thầy , cô tụng như vẹt cho qua ngày đoạn tháng làm kiếp thầy tu. Đó là chưa kể đến tính chất phức tạp, mâu thuẫn,thêm bớt , đan quyện nhiều rắc rối lung tung giữa các loại kinh do các cao tăng Trung Hoa thuộc Đại Thừa – Tịnh độ , Mật tông , Kim Cang thừa…… sáng chế thêm ra, sau khi Phật đã tịch diệt từ 300 năm đến 500 năm. Nhiều bộ kinh đã cóp ý của các kinh Vệ Đà, Upanishads và những chuyện giả tưởng , hoang đường trong sách thần thoại Purana của Ấn Độ được chắp vá vào kinh Phật.

    Từ đó , tôi nhận thấy nhiều thầy chùa chỉ tụng được loanh quanh vài bài kinh kệ thông dụng như cầu an , sám hối , cúng ngọ….. đồng thời dùng một mớ chuông mõ, với cách thức làm lễ cúng bái, cầu siêu , cầu cô hồn vớt vong ,cúng sao bổn mạng , trong khi Đức Phật phủ bác về Linh hồn thì họ vớt ai đây? Hình ảnh hàng ngày quá quen thuộc trông chẳng khác nào bọn thầy cúng, đồng bóng ở các nơi thôn làng xa xưa miền quê Việt Nam . Còn các bài thuyết pháp thì sao chép , lập đi lập lại nhằm tin sâu về cầu nguyện , cứu vớt để được về Tây phương.

    Với số lượng kinh điển nhiều hơn lá rừng như thế đã là một chướng ngại rất khó vượt qua cho bất cứ ai muốn tìm vào học Phật. Phương pháp đơn giản nhất để muốn tìm đường theo chân Phật chẳng tìm đâu xa “Phật tại tâm”, nhất là muốn đạt ngộ cứu cánh Niết Bàn ngay trong cuộc sống hiện hữu “Niết Bàn tại tâm”, mà không nên xông vào rừng kinh điển rậm rịt, chằng chịt các loại giây leo, giây chùm gởi, giây bìm bịp giăng mắc khắp núi kinh. Phải có tinh thần nghi ngờ và đặt câu hỏi như trong bài kinh “10 điều chớ vội tin ” của Đức Phật dạy cho người Kalama như là một phương châm học Phật và đồng thời là một chiếc chìa khóa vạn năng ( Master key ) để mở cửa vào nhà kinh Phật.

    Có bạn nôn nóng khi nghe tôi đề cập và phê phán Đại thừa thì muốn nhào vô chửi bới , để hiểu rõ thế nào gọi là Đại thừa , Tiểu thừa tôi phải lùi lại một bước để nói rõ hơn.
    Thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế không có chỗ nào gọi là Trưởng lão bộ (Theravàda) hay Đại thừa (Mahàyana). Chỉ sau khi Ngài tịch diệt 100 năm trong lúc họp các tăng ni cần thay đổi một số giới luật nhỏ. Một số tỳ kheo chính thống bảo rằng không có điều giới luật gì cần phải thay đổi trong khi những tăng sĩ trẽ khác cứ nhất định sữa đổi một số ít giới luật. Cuối cùng một số tỳ kheo rời bỏ đại hội và thành lập Đại chúng bộ (Mahasanghika). Mặc dù gọi là Đại chúng bộ không có nghĩa là Đại thừa (Mahayana) trong lúc này .

    Sau đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba, con trai vua Asoka, ngài Mahinda, mang Tam Tạng đến Tích Lan cùng với các Chú Giải đã được đại hội thứ ba trùng tuyên lại. Những kinh điển mang đến Tích Lan được bảo quản cho đến ngày hôm nay mà không có mất mát một trang nào. Kinh điển được viết bằng tiếng Pàli, dựa vào ngôn ngữ Ma-kiệt-đà (Magadhi) do Đức Phật thuyết giảng. Không có điều gì gọi là Đại thừa ở thời điểm đó.

    Khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên, chữ ĐẠI THỪA dần dần công khai ra mặt và được định nghĩa rõ ràng hơn. Ngài Long Mãng (Nagarjuna) ( Người Trung Hoa ) phát huy triết học Đại thừa về tánh Không và trong một bản kinh nhỏ được người ta gọi là Trung luận thuyết (Madhyamika-karika, còn gọi là Trung quán luận) chứng minh rằng vạn pháp đều rỗng không.
    Khoảng thế kỷ thứ IV, Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu )( cũng người Trung Hoa ) sáng tác một số tác phẩm về kinh điển Đại thừa. Sau thế kỷ thứ I sau công nguyên, những nhà Đại thừa bắt đầu tạo một lập trường rõ ràng, và từ đó, họ đưa vào các danh xưng ĐẠI THỪA – TIỂU THỪA . Điều mà chúng ta lưu ý rằng :Phật giáo Trưởng lão bộ truyền đến Tích Lan vào thế kỹ thứ III trước công nguyên, khi đó không có danh từ Đại thừa nào cả. Chứng tỏ rằng Đại thừa do Trung Hoa sáng lập ra. Đại thừa cũng là Tịnh độ tông chuyên về cầu nguyện và nhào nặn ra những vị Phật người Hoa , từ trên chín từng mây cùng hàng trăm vị Phật chẳng biết gốc tích ở đâu bên Tàu , giáo lý các Phật Hoa dạy gì , điều này tôi sẽ dẫn chứng về sau.

    Về giáo lý , kinh điển thì Đại thừa trà trộn , thêm bớt vào kinh Phật Thích Ca ,những điều khác nhau giữa đạo Phật Nguyên thủy và đạo Phật Đại thừa là giữa Tự lập và Cầu nguyện , tuy nhiên về mặt giáo lý căn bản thì thống nhất cùng những quan điểm sau :

    – Cả hai đều chấp nhận Đức Phật Thích Ca là bậc đạo sư.

    -Tứ Thánh Đế trong cả hai trường phái đều giống nhau.

    -Bát Chánh Đạo trong cả hai trường phái thì cũng tương tự .

    -Lý Duyên Khởi trong cả hai trường phái đều giống nhau.

    -Cả hai đều không chấp nhận tư tưởng về thượng đế tạo ra thế gian này.

    -Cả hai đều chấp nhận Tam tướng (Khổ, Vô thường, Vô ngã) và Tam vô lậu học (Giới, Định, Huệ) , không có bất kỳ sự khác biệt nào.

    Người Hoa thường tự hào , Đại thừa tức là cổ xe lớn , Tiểu thừa chỉ là cổ xe nhỏ. Vậy thì còn Đại thừa đâu nữa mà bảo chỉ nói Đại thừa chung chung???

    Vì Đại thừa do những cao tăng người Hoa sáng tác , dịch thuật và thêm bớt khi dịch kinh Phật từ tiếng Pali sang Hán văn . Vì vậy trong kinh Phật Đại thừa đầy rẫy nhưng chữ vay mượn từ Phạn Ngữ (gồm cả 2 thứ: sancrit (văn ngữ Bắc Phạn) và Pali (văn ngữ Nam Phạn) trộn lẫn với tiếng Hán khiến cho câu kinh trở nên tối tăm, lù mù chẳng khác ngọn đèn dầu ánh sáng yếu ớt, vàng vọt luôn lung lay bất định như kinh văn Phật giáo hiện hành.
    Người Việt chịu sự đô hộ 1000 năm mới dành được độc lập , cũng do người Hán mượn Phật giáo Đại thừa dạy cúi đầu cầu nguyện , làm mất hết ý chí đề kháng dành độc lập. Nếu kinh Thích Ca được lưu truyền thì người Hoa khó mà đô hộ Việt Nam lâu đến thế.Thời gian 1000 năm nô lệ , người Việt bị nhồi sọ bằng kinh Đại thừa – Tịnh độ và đã sanh sôi nảy nở ra không biết bao nhiêu cao tăng Việt chịu ảnh hưởng sâu rộng chịu nô lệ do Đại thừa – Tịnh độ đào tạo nên. Ngày nay muốn thoát khỏi vòng nô lệ tâm linh ấy phải có một sức tranh đấu bền bỉ và phải nhờ khai sáng trí tuệ con người mới mong giải phóng ách nô lệ này khỏi tay người Hoa , cũng giống như người Âu – Mỹ đã bị Kito giáo nô lệ như vậy.

    Sau khi Đức Phật đã qua đời , đạo Phật được du nhập vào Việt Nam cho đến giờ phút này, giới thầy chùa, đặc biệt là VIỆT NAM đã mang nặng nghiệp chướng nhìn ra là tu hành giả mạo , mang nặng tính cách PHẢN PHẬT đồng thời trắng trợn HỦY HOẠI PHẬT bằng giáo lý cầu nguyện của Đại thừa – Tịnh độ. Trong các giới tăng ni đã đua nhau biến cải đặc tính VÔ THẦN nguyên thủy của Phật thành HỮU THẦN và ĐA THẦN , biến cải tinh thần khoa học thực nghiệm của Phật thành cuồng tín, dị đoan ngu muội, (cúng kiếng, bói toán, xem ngày giờ tốt xấu, phương hướng, phong thủy, cầu siêu, vớt vong, làm đám cưới trong chùa rập khuôn Kito giáo …), biến mục tiêu bố thí thành ra trấn lột dã man , lợi dụng quyên góp từ thiện để bớt xén , biến cửa chùa thành hắc điếm,quyền uy và lạy lục , biến chủ trương xuất thế của Phật thành nhập thế để lập băng đảng làm chính trị như GHPGVNTN , GHPGVN ngày nay. Tự phong , tự đặt định ngôi thứ như Giáo chủ Khất sĩ Tăng già Thế giới , Tổng thư ký Viện Hóa Đạo II Thế giới …… Tự phong cấp bực để phân biệt kẻ nọ với người kia, từ đại lão đến tiểu lão , Tăng Thống với Ni Thống , Vô Thượng Sư đến Hữu Thượng Sư , Cố Phật với Bà Phật và đua chen nhau tranh dành chức vị thế tục, thu nhập quyền lợi vật chất một cách bẩn thỉu. Cuối cùng các giới tăng ni này còn biến đạo Phật thành một thứ đạo CỨU RỖI như Kito , ai cầu nguyện A Di Đà ngày đêm không ngừng nghĩ sẽ được cứu về cõi TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC mà đến nay tôi dám thách thức bất cứ một cao tăng nào chỉ cho tôi cõi ấy ở đâu , như tôi muốn biết thành Ca Tỳ La Vệ của Ngài Thích ca thì được chỉ dẫn rõ ràng và tôi đã mua vé may bay đến tham quan ở nơi Đức Phật ra đời tại đó.Quý vị nào chỉ cho tôi nước Tây phương Tịnh độ tôi cũng mua vé bay đến đó để chiêm ngưỡng ngay , hoàn toàn không ai dám chỉ cõi A Di Đà cho chúng sanh biết và đến. Những ngôn từ cứu nhân độ thế chỉ là lừa bịp của những tăng sĩ Đại thừa – Tịnh độ tông mục đích để kiếm miếng ăn bất chính và phát triễn , tồn tại trên sự lừa dối. Điều quan trọng là GIẾT giáo lý chân chánh của Thích Ca một cách cố ý hay vô tình . Tôi dám cam đoan rằng chính bản các tăng sĩ còn chưa tự cứu độ được thì cứu độ ai . Hằng ngày họ vẫn còn đang kiêu căng, mù quáng lặn ngụp trong vũng bùn gồm đủ mọi thứ tham dục bẩn thỉu chưa hề tỉnh ngộ. Họ chỉ dựa vào Như Lai để tồn tại và phát triễn trên xương máu , mồ hôi ngay chính của Phật tử mình , giống như những côn trùng ăn những côn trùng khác để sanh tồn. Tôi đố quý vị nào chỉ cho tôi một Tăng , Ni Đại Thừa nào ốm nhóm ốm nhách thử xem , nhất là Tăng Ni hải ngoại.

    Con bài cầu siêu cầu an và cứu độ là ngón nghề béo bở nhất của tăng Ni.

    -Cầu siêu , cầu an : Dù cầu gì cũng phải có thủ tục ĐẦU TIÊN ( giống như nhập cửa khẩu VN ). Dù bất cứ đám ma , đám cúng giỗ nào, và bất cứ một vụ thiên tai, thảm hoạ bão lụt nào xảy ra, các Phật tử cũng rước thầy chùa đến làm lễ cầu siêu, cầu an tưng bừng, chuông mõ phèng la ỏm tỏi. Sau vài giờ múa may tụng niệm khổ chủ phải móc túi chi tiền méo mặt. Nhiều khi trả tiền không vừa ý, quí thầy cô còn dỗi hờn vùng vằng ném tiền trả lại. Thầy còn dọa tiền nào của đó , tiền nhiều thì cúng cho ông bà phước nhiều , mau về cõi tịnh độ , đầu thai sung sướng giàu có hơn…….

    -Cứu độ : Lúc nào quý thầy giảng pháp cũng nói : Tu hành mục đích nhằm để cứu độ chúng sanh. Nhưng bản thân Viện chủ vẫn chết đau thương oằn oại, kéo dài hàng nửa năm trời khủng khiếp trên giường bệnh của đại lão HT Thích Huyền Vi, chủ nhân nhóm Linh Sơn. Thầy nằm liệt giường như một cái xác chết chưa chôn, ỉa đái vung vãi tại chỗ. Mắt mở, tai nghe, nhưng mồm không nói được ú ớ như đang bị ma đòi nợ. Còn những vị cao tăng khác như Thích Mãn Giác cũng quằn quoại trên giường bệnh trước khi chết mà các cao tăng khác không ra tay cứu độ cho về thiên đàng đi? Vậy thì thân tôi đòi như Phật tử làm sao được cứu độ đây?

    Các cao tăng , Phật tử có nghe , thấy giới trí thức tây phương đang lên án , chửi bới Phật giáo không ? Bằng chứng ông ROGER-POL DROIT trong bài “Phật giáo và hư vô chủ nghĩa ” cho rằng :

    Giờ thì chúng ta hoàn toàn quên lãng nỗi khiếp sợ xưa cũ này rồi. Tuy thế, ta tìm thấy nhiều chỉ dấu khác biệt về nỗi sợ hãi đó ở các triết gia Đức – Hegel, Schelling, Schopenhauer, Nietzsche và những người khác. Nó cũng để lại dấu vết nơi những người Pháp, từ Cousin cho đến Renouvier, xuyên qua Quinet, Taine, và Renan. Nói chung, dù hơn dù kém, họ đã đặt Niết bàn gần với hư vô, đã xem Phật Giáo như một thứ hư vô chủ nghĩa, đã gắn liền Phật Giáo với chủ nghĩa yếm thế. Có thể trưng dẫn hàng trăm thí dụ. Hégel, trong những phiên bản năm 1827 và năm 1830 của tác phẩm “Encyclopédie” (Bách khoa), trình bày ở đoạn 87 :]“Hư vômà những người theo đạo Phật tôn làm nguyên tắc của mọi sự, là mục đích tối hậu và cứu cánh tối hậu của mọi sự.” Trong “Lecons sur la philosophie de la religion,” ông giải thích rằng, đối với Phật Giáo, “con người phải tự biến thành hư vô”, thừa nhận “sự bình an vĩnh cửu của hư vô”. Tiếp đó, những triết gia xem thứ lý thuyết được truyền giảng bởi một người mà Edgar Quinet đặt tên là “Vị Chúa vĩ đại của cái không” (Le grand Christ du vide) là một thứ “chủ nghĩa cuồng tín hư vô”[1]. Riêng Ernest Renan thì kết luận rằng thứ tôn giáo không thể nhận thức được này “gán cho đời sống một mục tiêu tối cao là hư vô,” cái “bộ máy tạo khoảng trống trong tâm linh” này là chỉ dấu rằng có sự hiện hữu của một “giáo hội của hư vô chủ nghĩa”

    Thật là oan cho Ngài Thích Ca chúng tôi lắm ông ROGER-POL DROIT ơi , cái HƯ VÔ hay TÁNH KHÔNG ( Rỗng không ) là do các ông Trung Hoa viết ra trong Đại Thừa – Tịnh độ rồi quảng cáo là giáo lý Phật giáo , Ngài Thích Ca không nói chuyện Hư Vô , Tánh không nào đâu mà ông lên án , phê phán . Bởi các ông cứ nghiên cứu kinh Đại thừa chữ Hán mà hiểu là Phật giáo Thích ca thì hố to , cái phá nát , đại họa là do những cao tăng người Hoa sáng tác thêm quá nhiều trong kinh điển rồi gán là của Thích Ca . Ông hảy qua Tích Lan đọc những bản kinh gốc chữ Pali lưu còn trữ bên đó , đừng đọc kinh Phật bằng chữ Hán do Trung Hoa dịch ra đi sai giáo lý Ngài Cồ Đàm và ông nhớ dùm con Ngài Long Mãng (Nagarjuna) là ( Người Trung Hoa ) , tôi trích lại cho ông đọc nhé :

    Ngài Long Mãng (Nagarjuna) ( Người Trung Hoa ) phát huy triết học Đại thừa về tánh Không và trong một bản kinh nhỏ được người ta gọi là Trung luận thuyết (Madhyamika-karika, còn gọi là Trung quán luận) chứng minh rằng vạn pháp đều “RỖNG KHÔNG “.

    Các ông Tây bà đầm phải hiểu rằng khi giải minh theo xu hướng hư vô không tận như ROGER-POL DROIT ,Hegel, Schelling, Schopenhauer, Nietzsche …… chỉ có tánh cách hời hợt , một chiều . Tánh Không thường bị phê phán như là một thứ triết lý mông lung không hơn, không kém theo các ông hiểu là một sự biến thái ý nghĩa Phật giáo qua đầu óc Kito mà các ông tôn thờ từ lâu . Cũng không trách khi các ông thấy giáo lý Phật giáo cũng cầu nguyện , cứu rỗi ….. như đạo God , vì các ông đọc kinh Phật của Đại thừa – Tịnh độ nó sai trái và đi ngược , phản lại giáo lý gốc của Thích Ca là TỰ GIẢI THÓAT khổ đau , Niết bàn là ở đây , là TÂM của bạn chứ không hứa hảo huyền như thiên đàng , tây phương cực lạc nào đâu . Các cao tăng , Phật tử Đại thừa đọc đến đây đã thấy một sự tác hại , phá nát đạo Phật của Đại thừa chưa ? Còn nhiều bằng chứng mà tôi sẽ chỉ dẫn hầu giúp quý vị thấy rõ , chứ không HỒ ĐỒ như ông TC chỉ quote một đọan của tôi mà không lý luận đựơc câu nào , rồi cho đó “để cho thấy tác giả tự vả mồm mình như thế nào ” . Trình độ Phật học như vậy cũng đòi lên tiếng dạy đời .

    Về Tánh không , hư vô thầy Thích Tâm Thiện tạm giải thích thế này :

    Tánh Không tiếng Phạn gọi là Sùnyatà. Đây là một từ hợp biến của hai âm : sùnya và tà. Sùnya có nghĩa là không, là rỗng; tà là tiếp vĩ ngữ (tiếng hợp âm để biến thành danh từ) . Theo ngữ căn, thì từ sùnya được phát sinh từ động từ svi, có nghĩa là phồng lên, sưng lên…Ở đây, hễ cái gì phồng lên bên ngoài–như bong bóng chẳng hạn- thì bên trong nó bao giờ cũng rỗng không. Do đó, sùnyatà được hiểu như là tính cách của trương độ (sự phồng lên) nó luôn luôn bao gồm hai mặt : bên trong và bên ngoài; hễ bên ngoài phồng lên thì bên trong rỗng.

    Tuy nhiên, có lẽ do một lý do nào đó, hoặc không có sự tương đương trong ngôn ngữ phương Tây, nên sùnyatà thường được dịch chỉ có một chiều- đó là sự rỗng không. Như trong tiếng Anh, sùnya được dịch là empty hay void, và tà được dịch là ness, kết hợp giữa hai từ này (sùnya + tà= sùnyatà) sùnyatà được dịch là emptiness, voidness, hay nothingness … Và tất cả những từ trên đều có nghĩa là sự trống không, sự rỗng tuếch, sự không có gì cả…

    Tuy đó chỉ là một lối giải thích tương đối , nhưng cũng không mang lại giá trị chân lý của Ngài Thích Ca . Vì theo Ngài ” Vạn Pháp đều là Không ” , vậy thì phình ngoài rỗng trong mà làm gì ? Đã là Không dù bằng hình thức nào vạn lý cũng là Không .

    Phật Giáo như một thứ hư vô chủ nghĩa, đã gắn liền Phật Giáo với chủ nghĩa yếm thế. là Phật giáo ĐẠI THỪA – TỊNH ĐỘ đội lốt và MẠO NHẬN trùm lên đầu cho giáo lý Thích Ca . Ngài Cồ Đàm bi quan , yếm thế thì làm gì có chuyện từ bỏ danh vọng , giàu sang để xuất gia tìm đừơng cứu khổ , yếm thế thì làm gì sau 49 năm lăng xã vào đời giáo huấn chúng sanh và trước giờ nhập diệt Ngài còn dạy các đệ tử :

    -“Các ngươi hãy lấy Giới luật làm Thầy” (Vinayo Sasanassa Ayu – The Rule is the Life of the Teaching).

    – “Các ngươi hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, ta chỉ là Người chỉ đường.”

    – Các con hãy tinh tấn TIẾN LÊN để tìm đừơng giải thóat .
    Vậy thì các ông Tây bà đầm có lên án Phật giáo là BI QUAN – YẾM THẾ thì vui lòng móc thêm vài chữ : Phật giáo Đại thừa – Tịnh độ dạy BI QUAN – YẾM THẾ để khỏi lầm lẫn là Phật giáo Thích ca .

  15. Tom Nguyen nói:

    KINH PHÁP HOA .

    Hôm đi chùa dự đại lễ Phật Đản 2553 , tôi có nhân duyên hầu chuyện cùng TT Thích Thái H . Đầu thì loanh quanh chuyện đạo Phật ngày nay , sau lại vào chuyện kinh Phật và đề tài Kinh Pháp Hoa lại có duyên đến với tôi . Thầy Thái H là người chửng chạc , hiền hoà , cởi mở thuộc giới cấp tiến . Lời nói dịu dàng , trong sáng , mạch lạc dễ đưa lòng người đến với chơn tâm .

    Thầy cho rằng ý nghĩa kinh Hoa Sen đựơc nhiều Đại sư như : Ngài Nhật Liên Đại Sư ( Nhật ) , Hám Sơn – Đức Thanh Đại Sư …. Theo Thanh Đàm Đại Sư triều Gia Long, thì:” Diệu pháp là chỉ cho thực pháp. Pháp là tâm xưa nay thanh tịnh. Tâm ấy xưa nay không sinh, không diệt, không nhớp, không sạch, không thêm, không bớt, tại phiền não không loạn động, tại trần lao không ô nhiễm, nên gọi là tâm xưa nay thanh tịnh vậy.

    Lại nữa, tâm ấy là bản nguyên của chư Phật, là phật tánh của chúng sanh. Tròn đồng thái hư, rộng lớn không ngằn mé. Linh linh, lặng lặng, suốt xưa, suốt nay, yên yên, lắng lắng, chính là không, chính là sắc, không thể dùng tâm thức suy lường, phân biệt mà có thể biết được. ”

    Thầy cho rằng ý nghĩa Kinh Liên Hoa lấy Hoa Sen làm biểu tượng là để chỉ sự tinh khiết , tinh thần độc lập và không bị ô nhiểm dù sanh ra và lớn lên từ bùn nhơ .”Lấy trong sạch không ô nhiễm làm nghĩa. Tất cả thế gian không kham nhận tâm thanh tịnh ấy, nên kinh lấy hoa sen mà dụ cho tâm ấy. Hoa sen sinh ra ở trong bùn nước, nhưng không bị bùn nước làm cho ô nhiễm, cũng như tâm ở trong trần lao mà không bị trần lao làm mê hoặc.

    Tuy nhiên, tâm không có hình tướng, nhưng hoa lại có xanh vàng. Do nhân nơi hoa mà rõ được cái thấy. Nhân nơi cái thấy mà biết hoa. Sắc tướng của hoa là vô tình. Cái thấy, cái biết thuộc về tâm chân thực. Chỉ cần không vọng khởi phân biệt, thì vạn vật và ta vốn là như như ”

    – Bạch Thầy :” …tâm không có hình tướng, nhưng hoa lại có xanh vàng. Do nhân nơi hoa mà rõ được cái thấy. Nhân nơi cái thấy mà biết hoa .” Nếu một em bé mù đôi mắt từ nhỏ do bẩm sinh , không thấy Hoa Sen nhưng vẫn biết màu Sen trắng , đỏ , vàng . Em không thấy làm sao mà biết hoa ? Như vậy là tâm thấy hay thân thấy ?

    Thầy mỉm cười hiền từ rồi nói . Thay vì trả lời trực tiếp , Thầy trích vài đọan kinh Thủ Lăng Nghiêm cho con nghe :

    ÔNG A-NAN CHO RẰNG NHẮM MẮT
    THẤY TỐI LÀ TÂM THẤY TRONG THÂN

    Ông A-Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Giờ đây tôi suy nghĩ thế nầy: Thân thể con người trong có ngũ tạng lục phủ, ngoài có thất khiếu cửu huyệt. Tạng phủ có tánh che ngăn nên tối, khiếu huyệt có tánh rỗng không nên sáng. Nay tôi xin thưa với Phật rằng: Nhắm mắt thấy tối, tôi gọi là tâm thấy biết bên trong thân; mở mắt thấy sáng, gọi là tâm thấy biết bên ngoài.

    Phật bảo: A-Nan ! Đã gọi là thấy thì cái bị thấy phải “đối” ở trước mắt. Không “đối” trước mắt thì cái nghĩa thấy không còn.

    Nếu cái tối đã đối trước mắt mà cứ cho là thấy biết trong thân, vậy khi ở trong một phòng tối, không có ánh sáng, bấy giờ cái gì có ở trong phòng tối ấy đều là tạng phủ của ông cả hay sao ?

    Vả lại khi nhắm mắt thấy tối, ông cho là thấy bên trong thân, vậy khi mở mắt thấy sáng, sao ông không thấy cái mặt ?

    Đã không thấy mặt thì không thể nói con mắt đối vào trong mà thấy. Còn như thấy được mắt thì cái tâm và con mắt ắt đã lơ lững giữa hư không rồi, còn tương quan gì đến ông nữa ?

    Vậy nên biết rằng: Nhắm mắt thấy tối là thấy trong thân, chỉ là một ngụy thuyết không thành lập được.

    Thân anh ta không thể thấy được vì mắt đã mù . Vậy thì anh ta thấy là do tâm .

    Tôi biết thảo luận giáo lý thân tâm với Thầy là giống như đem trứng chọi vào đá . Tôi không dại gì làm thế . Mới tìm cách lái sang vấn đề khác . Liền thưa :

    -Bạch Thầy ! Thầy có tin Đại Thừa , Tịnh độ là đặt đức tin giống Kito trên hết không ? Vì con thấy khi niệm A Di Đà là phải tin tưởng tuyệt đối , phải chí tâm đảnh lễ không những một ngày , hai ngày ….. mà tới bảy ngày lựng .

    Có lẽ câu hỏi tôi đúng sở trường nên Thầy cao giọng giảng :

    -Phật tính ấy, cần có sự tác động của nhân duyên và sự yểm trợ của chánh pháp để chúng sinh khởi, đó là cách nhìn và cách thấy hết sức độc đáo và đặc biệt của kinh Pháp Hoa. Và lại càng độc đáo và đặc biệt hơn nữa là đức tin Pháp Hoa tin vào điều ấy là một sự thật. Kinh Pháp Hoa còn nói:

    “Nếu có người nào đối với việc này mà không nghi ngờ thì không bị đọa vào ác đạo, thường sinh trước chư Phật mười phương và sinh ở đâu cũng được nghe kinh Pháp Hoa. Sinh trong nhân loại hay chư Thiên thì được hưởng sự yên vui tuyệt diệu và nếu sinh ra trước Phật thì hóa sanh từ hoa sen”.

    Đức tin ấy, là đức tin độc đáo của Pháp Hoa, nhưng nó chưa dừng lại ở đó mà còn tin rằng, Phật tính không bị hạn hữu bởi giới tính hay chủng loại, nên tất cả mọi loài cũng đều có khả năng thành Phật, ngay cả loài súc sanh nữ.

    Việc tin tưởng hành động hiến dâng châu ngọc và tức thì biến thành nam tướng, đầy đủ phong cách Bồ tát, hướng ngay qua thế giới Vô Cấu ở phương Nam và thành Phật của Long nữ mới tám tuổi, con của vua rồng Diêm Hải, là đức tin độc đáo và bất khả tư nghì của Pháp Hoa.

    Lại nữa, Pháp Hoa tin rằng, tất cả chúng sanh ai cũng có Phật tính và ai cũng có khả năng thành Phật. Chính vì vậy mà ai cũng có khả năng thọ trì, đọc tụng, diễn giảng và hoằng truyền kinh Pháp Hoa đến với tất cả mọi người và mọi loài.

    -Con hiểu ý Thầy . Tin Phật , tin Pháp Hoa thì mới đựợc cứu độ về cõi Tây Phương Cực lạc . Nhưng con nghe Phật nói :”Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta “.Sự thật con không hiểu cõi Tây Phương nó nằm ở đâu ? Cũng như Phật A Di Đà trong kinh 48 lời nguyện ” GIẢ SỬ tôi thành Phật ” như vậy cho đến hôm nay Ngài vẫn còn giữ câu ” Giả sử ” , nghĩa là chưa thành Phật . Và ở phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự, Đức Phật nói:” Nếu có người nào nghe kinh Pháp Hoa, hoặc tự mình chép, hoặc bảo người khác chép, thì công đức của người ấy, chỉ có trí tuệ của Như Lai mới biết được là nhiều, ít hay vô hạn.

    Và nếu ai chép kinh này rồi, đem các loại hoa hương cúng dường thì công đức vô lượng. ”

    Cũng phẩm này, Đức Phật nói:

    “Nếu có người nào nghe phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự này lại thọ trì, người ấy sau khi kết thúc thân nữ, không còn thọ thân nữ trở lại.

    Và nếu sau khi Như Lai diệt độ, trong năm trăm năm sau, có người nữ nào nghe kinh Pháp Hoa, tu hành đúng như kinh dạy, đến lúc sinh mạng kết thúc, liền sanh về thế giới cực lạc của Phật A Di Đà, sinh ra trong hoa sen, an trú trên bảo tòa, được chúng Đại Bồ Tát vây quanh. ”

    Con trộm nghĩ thời Đức Phật làm gì có chữ viết mà Phật nói :” ….hoặc tự mình chép, hoặc bảo người khác chép, thì công đức của người ấy, chỉ có trí tuệ của Như Lai mới biết được là nhiều, ít hay vô hạn “Còn chuyện người nào nghe phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự này lại thọ trì, người ấy sau khi kết thúc thân nữ, không còn thọ thân nữ trở lại chắc là con không ham làm thân nam đâu . Thầy cũng biết thân nữ ở Tây phương đứng thứ ba trên thân nam đấy . Và pháp luật lúc nào cũng bênh vực , bảo vệ nữ giới hơn nam . Vì vậy con không ham làm thân nam nên không nghe phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự lại chẳng thọ trì đọc tụng .

    Trong các vị Phật chỉ có Ngài Thích Ca Mâu Ni là thị hiện ra đời. Vì vậy có một tiểu sử , gốc tích và giáo pháp truyền lại ngày nay. Cho nên Đại Thừa cố ý nhập nhằng đánh lận con đen , dùng danh từ chung chung là PHẬT. Pháp Môn mầu nhiệm của Phật tri kiến mục đích để độ chúng sanh ở cõi ta Bà ác trược. Đại Thừa biết Phật tri kiến thật là khó hiểu, khó tin, khó hành trì và khó chứng đắc nghĩa là khó tu mà thành Phật , ngoại trừ những Phật của Đại Thừa tự đặt ra như A Di Đà , Quán Âm , Phổ Hiền , Địa Tạng…….. Tôi cam đoan không một vị cao tăng nào chứng đắc thành Phật mà có một lịch sử bản thân rõ ràng như Thích Ca. Toàn là những vị Phật từ chín tầng mây xa vời mà chẳng ai dẫn dụ khi được hỏi đến.

    Đức Phật Thích Ca cũng như các đức Phật khác đều có ba thân: Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Hóa Thân. Đó là theo Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú, quyển 9, phần hạ giải thích rằng: Đức Như Lai có ba thân:

    1)- Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Như Lai:
    Tỳ Lô Giá Na, tiếng Phạn Vairocana, nghĩa là biến khắp tất cả xứ. Pháp Thân này tánh và tướng bản nhiên thường hằng bất biến, chân như bình đẳng bất diệt v.v… Pháp Thân và Quốc Độ thì vô ngại, biến khắp tất cả xứ sở.

    2)- Báo Thân Lô Xá Na Như Lai:
    Lô Xá Na, tiếng Phạn Rocana, nghĩa là thanh tịnh viên mãn. Báo Thân này đã đoạn trừ diệt tận gốc rễ các hoặc và và trở nên hoàn toàn thanh tịnh, muôn đức đều viên mãn. Báo Thân này có hai: một là Tự Báo Thân hay Tự Thọ Dụng Thân và Tha Báo Thân hay Tha Thọ Dụng Thân. (Báo Thân gọi là Bổn Môn).

    a)- Tự Báo Thân, nghĩa là thân này ở bên trong dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp tất cả chân pháp giới.

    b)- Tha Báo Thân, nghĩa là thân này ở bên ngoài dùng ánh sáng của thân chiếu soi và ứng hiện khắp tất cả mọi căn cơ chúng sanh.

    3)- Ứng Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Như Lai:
    Thích Ca Mâu Ni, tiếng Phạn Sàkyamuni, nghĩa là Năng Nhơn và Tịch Mặc. Năng Nhơn là chẳng an trụ nơi Niết Bàn, Tịch Mặc là chẳng trụ vào nơi sanh tử, tuỳ theo căn cơ của tất cả chúng sanh hóa hiện khắp nơi để thuyết pháp lợi sanh. Ứng Hóa Thân có hai loại: Ứng Thân và Hóa Thân. Ứng Thân nghĩa là Phật Thân ứng hiện để gia hộ chúng sanh và Hóa Thân là Phật Thân chuyển hóa sanh vào mọi loài chúng sanh để tùy duyên hóa độ.

    Ba ứng thân nói đến Phật Thích Ca thì đúng , nhưng với Phật A Di Đà , Di Lặc , Quán Âm , Phổ Hiền…… thì làm sao biết được ba ứng thân khi chính bản thân của những vị Phật đó cũng mù mờ như cái bánh VẼ . Chẳng qua Đại Thừa muốn dựa vào ứng thân của Thích Ca để vẽ vời thêm những ông Phật kiểu như God trên trời mà không dẫn chứng được gốc gác.

    Đức Phật Thích Ca muốn cho chúng sanh ai cũng có thể thành Phật là phải tìm đường giác ngộ qua đường tu tập theo Bát Chánh đạo , chứ không phải Ngài mở bày Kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà Đại Thừa đã bố láo , lừa bịp chúng sanh và tu sĩ. Kinh Hoa Sen xuất hiện sau khi Ngài Thích Ca tịch diệt 600 năm thì làm gì mà Ngài Thích ca nói phải nhờ kinh Diệu Pháp Liên Hoa , đó là một sự dối trá vĩ đại chỉ đánh lừa những kẻ vô minh như Tịnh độ. Cho nên Kinh Pháp Hoa mới dựa vào ô dù Thích Ca nếu ai muốn thành Phật thì thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa muốn được thành quả Phật phải thực hành đúng theo phương pháp chỉ dẫn sau đây:

    a/- Hành giả muốn thành Phật thì phải hành trì đúng theo pháp môn phương tiện trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Hành giả không nên chú trọng về sự kiến giải mà không chịu hành trì. Sự kiến giải không đem sự lợi lạc chút nào cho hành giả trên con đường tu tập đạo giác ngộ.

    b/- Hành giả phải theo yếu chỉ của kinh và không nên dựa theo lời văn của kinh. Lời văn của kinh không phải là yếu chỉ của kinh. Lời văn của kinh chỉ là những lời khen ngợi, những lời kích động dụ dỗ, những thí dụ mở lối tri kiến qua ngôn ngữ giới hạn không phải Diệu Pháp. Hành giả nào chỉ dựa theo lời văn của kinh là hành theo sự mê tín dị đoan là đi nghịch lại với yếu chỉ của Phật trong kinh.

    c/- Yếu chỉ của kinh là muốn hành giả phải phát huy Vô Tác Diệu Lực của Diệu Pháp để tẩy sạch vô minh phiền não và khiến cho sáu căn đều được thanh tịnh. Sau khi sáu căn được thanh tịnh, Pháp môn mầu nhiệm của Phật tri kiến mới có thể hiển lộ. Vô Tác Diệu Lực nghĩa là năng lực mầu nhiệm của Linh Giác Diệu Tâm tự động phát khởi. Nhờ Vô Tác Diệu Lực của Diệu Pháp Liên Hoa, hành giả mới thấy được tri kiến của Phật để tu trì.

    Kinh Diệu Pháp Liên Hoa dạy cứ đọc tụng , in ấn nhiều thì được phước. Cầu nguyện A Di Đà , Quán Âm thì được cứu độ , cứu rỗi về Tây phương……. hoàn toàn không giảng một điều gì dùng bằng trí tuệ để suy gẩm tìm một con đường giải thoát khổ đau , trái lại còn dạy cúi đầu nô lệ , chịu sự ràng buộc bằng những điều kiện ĐỨC TIN để được cứu rỗi . Có ai đầy đủ trí tuệ lại tin chuyện cầu nguyện Quán Âm là được tất cả , kể cả chuyện muốn cầu sanh con trái , con gái cũng Okay luôn. Quý vị đang ở thời đại khoa học này có tin chăng , ngoại trừ cấy thai nhân tạo thì đều đó đúng. Hãy nghe một đoạn kinh cầu nguyện Quán Âm sau đây quá viễn vông mà vẫn đánh lừa được Phật tử , đó là thủ đoạn của Đại Thừa qua kinh Pháp Hoa :

    Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức uy thần của Bồ Tát này được như vậy. Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ Tát này liền được chỗ cạn.

    Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu các thứ báu, vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia trôi tắp nơi nước quỉ La Sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời các người đó đều được thoát khỏi nạn quỉ La Sát. Do nhân duyên đó mà tên là Quán Thế Âm.

    Nếu lại có người sắp bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời dao gậy của người cầm liền gãy từng khúc, người ấy được thoát khỏi .

    Nếu quỉ Dạ Xoa cùng La Sát đầy trong cõi tam thiên đại thiên muốn đến hại người, nghe người xưng hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời các quỉ dữ đó còn không thể dùng mắt dữ mà nhìn người, huống lại làm hại được.

    Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thảy đều đứt rã, liền được thoát khỏi.

    Tôi sẽ phân tích khi đi sâu vào kinh Diệu Pháp Liên Hoa nhiều điều mâu thuẩn , mù quán và mang nặng tánh cách cứu rỗi của Kito không phải là Phật giáo Thích Ca. Cho nên ngày nay có một số thầy thấy được cái xảo trá , ru ngũ , phá hoại Phật giáo Thích Ca mà lên tiếng đã kích sự cúng kiến , vớt sao , cầu an , vớt vong …… hoặc chỉ rõ tông phái Mật tông là ĐẠO DÂM ĐẢNG thì họ hùa vào chửi bới ngày đêm không tiếc lời nhằm bảo vệ Đại thừa mù quán , Mật tông dâm đảng , ngay cả những bậc gọi là Đại Lão Hòa Thượng cũng một bài ca chợ đò cùng đám Phật tử phường tuồng nhắm mắt mạ lỵ , chửi rủa , điển hình con vật tế thần Thích Chơn Quang dám nói lên sự thật , mặt trái mê tín , dị đoan của Đại Thừa và Dâm đảng của Mật tông thì họ đưa ra chiến dịch sách báo điện tử , Video , thuê người mạ lỵ , chửi bới có trả tiền nhằm bịt miệng những kẻ vì chân lý Thích Ca mà lên tiếng. Lịch sử sẽ phê phán , Phật giáo chính gốc sẽ ghi nhớ và lương tâm cùng NGHIỆP BÁO không bao giờ phai mờ trong tâm của họ.

  16. Tom Nguyen nói:

    Nhiều học giả cho rằng ” Phật giáo không phải là một tôn giáo “. Vì Phật giáo không thừa nhận có một đấng Sáng Tạo và Quyền năng , nhất là Nguyên thủy Phật giáo vì không thừa nhận một linh hồn cố định của cá nhân, nên không có một khái niệm nào về sự quan hệ giữa Thần và Người. Để chạy đua với danh từ TÔN GIÁO nên Phật giáo cố gắng chứng minh mình là một tôn giáo , nhất là Đại Thừa – Tịnh Độ tông , phái này căn cứ vào sức bản nguyện của Phật Di Đà để thành lập “Cứu Độ Quan” như là sự cứu rỗi của Thiên Chúa , nhưng đứng về phương diện “Tự lực Thánh đạo môn” của Phật giáo mà nói thì quan niệm đó không thể được coi là quan niệm về một hình thức “liên hệ giữa Thần và Người”.
    Koryu Otani có nhận xét về lập trường cho rằng :tôn giáo là sự “quan hệ giữa Thần và Người” để quan sát Phật giáo bảo rằng “Phật giáo là khoa học chứ không phải là tôn giáo” , đối với Ngài Thích Ca những điều đó không quan trọng. Tại sao Đại Thừa lại quan tâm vấn đề TÔN GIÁO – THẦN – SÁNG TẠO .v.v….. vì Tịnh độ đang cần những vị Thần như A Di Đà , Quán Âm nhằm đưa đạo Phật vào con đường phải cầu nguyện mới được cứu rỗi như Kito. Như vậy đâu còn là Phật giáo nữa , đâu còn là giá trị chân lý . Ngài Thích Ca tìm ra đạo giác ngộ và giải thoát khổ đau bằng trí tuệ sáng suốt trong một thân thể tráng kiện , vì vậy Ngài đã bỏ con đường tu khổ hạnh sau 6 năm lãng phí thời gian. Chính sự cố gắng lèo lái , tạo dựng những vị Thần ( Phật ) của Tịnh độ như thế mới đảo lộn và đi ngược lại chân lý Như Lai , một côn trùng đục khoét , phá thối thân thể Thích Ca đã và đang đánh đỗ chân lý tuyệt vời , bất biến mà chưa một tôn giáo đạt đến được.

    Bác sĩ Kenchi Kato thường thảo luận , nghiêng cứu về Tôn giáo, ông ta căn cứ vào đề tài: “Nguyên thủy Phật giáo có phải là một Tôn giáo không?” và cho rằng Nguyên thủy Phật cũng chỉ là một Tôn giáo, nghĩa là nó cũng đã được thành lập theo hình thức “quan hệ giữa Thần và Người”. Theo ông, mặc dù Nguyên thủy Phật giáo không thừa nhận một vị Thần sáng tạo, nhưng Phật Thích Ca, Thủy Tổ của Phật giáo, dưới mắt của các đệ tử, cũng đã được coi như một vị Thần, không phải chỉ một vị Thần tầm thường, mà là một vị Thần trên hết các Thần , đó chỉ là quan niệm của từng cá nhân. Có thể cho rằng Phật giáo là một Triết lý , một Khoa Học hay một Tôn giáo tất cả đều đúng . Vì Phật giáo bao quát và đứng trên các phương thức ấy. Phật giáo không chủ trương con người tu chỉ để đạt đến một Thiên đường , Niết Bàn mà còn giải thoát qua bờ bên kia một cách toàn bộ và rốt ráo. Thế thì Tịnh độ đưa ra phương thức cầu nguyện các vị Thần A Di Đà , Quán Âm để được cứu độ hay về cõi Tây Phương thì quá tầm thường chẳng có nghĩa lý gì với giáo pháp giải thoát của Ngài Thích Ca. Chân lý là chỗ đó , vì tôn thờ một vị Thần tức là quay lại , dẩm bước trên những tôn giáo như Bà La Môn , Kito……. thì có chi là mới lạ. Những thứ tôn giáo đó đang bị xói mòn theo thời gian và bị khoa học chiếu ống kính tìm ra nhiều sai lầm trong giáo lý. Ví dụ điển hình là Bác học Galileo tìm ra quả đất tròn quay chung quanh mặt trời chứ không đứng yên như trong Thánh kinh dạy. Phép sáng tạo 6 ngày là phản khoa học khi ngày thứ ba tạo ra cây cỏ , ngày thứ tư tạo ra mặt trời mặt trăng là trái với thiên nhiên. Thảo mộc không thể sống khi thiếu quang năng mặt trời. Trái lại khoa học chưa tìm ra hay bắt bẻ một điều nào trong giáo lý Thích Ca là phản khoa học , nhưng nếu đem Đại thừa ra thì khoa học cũng bẻ gãy và soi mói giống như đạo Kito.

    Trên thực tế, những Phật tử đối với Đức Phật cũng giống như tâm lý của những tín đồ Bà La Môn giáo tin tưởng Phạm Thiên là đấng Từ Phụ của họ, God là Thượng đế của con chiên , điều này là một sự thực, nhưng ở đây có điểm hoàn toàn bất đồng là người Phật tử không xem Đức Phật như một vị cứu thế mà là một bậc Đại Đạo sư, một bậc thầy chỉ đường trí tuệ và vỹ đại , những lời chỉ dạy thực tiễn của Ngài để tự giác ngộ chứ không phải là cứu rỗi như Tịnh độ cổ xúy là phá nát giáo lý Phật giáo Như Lai. Đây là ĐIỂM NHẤN QUAN TRỌNG mà các tu sĩ , Phật tử phải lưu ý , sáng suốt nhận định để khỏi bị Đại Thừa Trung Hoa lừa dối nhằm hạ thấp tinh thần Độc lập có ảnh hưởng và giá trị tinh thần về mặt tồn vong Quốc Gia.

    Cho nên Đại thừa – Tịnh độ tông chủ trương Phật Thừa chính là tri kiến của Phật và Phật Thừa này ngoài tất cả tri kiến đã được thiết lập. Tự Tánh của Phật Thừa thì không có hai. Tự Tánh của Phật Thừa không phải chủng tử của Phật. Chủng Tử của Phật do nhân duyên sanh khởi. Tất cả pháp trong thế gian đều do nhân duyên sanh khởi cho nên không có tự tánh. Pháp nào thì an trụ nơi pháp đó và pháp này thì không phải pháp kia. Pháp sanh thì an trụ nơi ngôi sanh để phát khởi, pháp diệt thì an trụ nơi ngôi diệt để biến hoại theo luật Vô Thường. Tịnh độ cho rằng : Chứng ngộ khác hơn giác ngộ. Giác ngộ chỉ hiểu biết chính xác sự việc bằng sự quan sát, còn chứng ngộ là thể nhập và sống trọn vẹn trong sự việc đó một cách tinh tường. Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Ngộ Phật tri kiến và nhập Phật tri kiến”. Ngộ Phật tri kiến nghĩa là giác ngộ tri kiến của Phật và Nhập Phật tri kiến nghĩa là chứng nhập tri kiến của Phật. Từ đó cho thấy Giác Ngộ không phải là Chứng Ngộ.
    Đó là điều đương nhiên giữa hai ý nghĩa CHỨNG và GIÁC là khác nhau. Ngài Thích Ca dạy chúng sanh là cần đạt đến mức tối thượng là Giác Ngộ để giải thoát chứ không dừng lại ở Chứng Ngộ mới là sự hiểu biết ban đầu mà thôi. Từ quan điểm đó nên giáo lý Thích Ca mang tính cách một chân lý bất biến , tuyệt vời và cao cả là như vậy .

    Phật Thích Ca dạy con người muốn Độc lập – Tự do thì phải tìm đường giải thoát. Nhưng tâm lý thường tình chúng sanh không muốn tự do mà thích làm nô lệ , thích cúng dường , cầu đảo , cầu nguyện những vị Thần. Nhưng làm thế nào để thỏa mãn được yêu cầu đó? Đây chính thực là vấn đề căn bản của tôn giáo. Về điểm này tuy có nhiều giai cấp và chủng loại, nhưng loại tầm thường nhất là hòa giải mâu thuẫn, thỏa mãn yêu cầu mà người có thể đem lại những điều kiện đó là một người tồn tại trên loài người đó là Thần, hay tưởng tượng ra nhiều Thần. Đại thừa ra đời như là một giải toả tâm linh nhằm thoả mãn cho lớp người đó, điều mà giáo lý giải thoát của thích Ca quá cao siêu , không thích hợp với đa phần quần chúng thấp hèn ưa nương tựa , cầu nguyện Thần che chở. Họ tin tưởng rằng trên thế gian này, ngoài sự tồn tại của nhân loại, còn có một đấng thiêng liêng nắm giữ chìa khóa của tự do và thiên nhiên , nếu con người biết chìu theo ý muốn của đấng thiêng liêng ấy thì sẽ được giải thoát, được tự do một cách dễ dàng miễn sao họ chịu phục tòng , nô lệ là được.Đương nhiên là đấng thiêng liêng ấy có một phép lạ, có thể biến đổi thiên nhiên,biến nước thành rượu , biến ra nhiều bánh mì như God , nếu con người thành khẩn nguyện cầu, thì bất cứ lúc nào Ngài cũng hiển thị phép lạ xoá tang tội lỗi dù bao nhiêu kiếp như A Di Đà , niệm danh 35 vị Phật thì được xóa bỏ như đã hứa . Nếu không có phép lạ thì đấng thiêng liêng đã mất hết ý nghĩa, mà tín ngưỡng này, bất luận là xưa hay nay đều là hình thức tôn giáo thịnh hành như Đại thừa , Kito giáo.

    Giáo lý Thích Ca không thừa nhận một vị Thần siêu việt , sáng tạo ra thiên nhiên, vì những vị Thần chẳng qua cũng chỉ là một sự tồn tại tự nhiên nên cũng có những sự hạn chế, còn tôn giáo nảy mầm trong sự mâu thuẫn bất hợp lý của nhân sinh, về điểm này, tín ngưỡng tôn giáo cũng có những yếu tố bất hợp ý, đó là một thực tại, nhưng nếu đem những yếu tố bất hợp lý đó mà hợp lý hóa thì người ta không thể tìm thấy sự mãn túc toàn nhân cách, do đó mà Đức Phật Thích Ca đã không coi trọng vị Nhân Cách Thần là đối tượng của tín ngưỡng. Nhưng tại sao Đại thừa – Tịnh độ vẫn dựa vào danh xưng Phật giáo lại chủ trương cầu nguyện , vớt vong , vớt sao , cầu an , cầu siêu…… hoàn toàn trái với chân lý Thích Ca. Đó là oan nghiệt nhiều đời , nhiều kiếp của Phật giáo mới sanh ra những đứa con phản trắc Tịnh độ , dạy dâm dật như Mật tông.

    Tịnh độ – Mật tông làm sao quên được lời dạy cuối cùng của Đức Phật Thích Ca là:

    “Hãy tự mình thắp đuốc lên, hãy tự mình nương tựa nơi mình, nương tựa Chính Pháp, chứ đừng nương tựa vào một nơi nào khác”.

    Tại sao Đại thừa cứ dạy cầu nguyện A Di Đà , Phổ Hiền , Quán Âm….. sẽ được cứu vớt dù tai nạn cướp dật , thuyền chìm , lữa đốt , muốn con trai thì cho trai , muốn con gái thì cũng Okay luôn. Có hứa suông và chắc chắn như vậy mới đánh lừa chúng sanh đi theo để cúng dường , lo phục vụ mấy thầy tu có đời sống sung sướng , no cơm ấm cật còn bày đặt đấu tranh chính trị , chính em để vào tù ra khám , nổi danh hầu kiếm cái giải khăn hòa bình Nobel.

    Nếu không có Tịnh độ , Mật tông thì lời khuyên của Thích Ca quả thật là cao đẹp , chân lý và trong sáng biết bao. Theo lập trường của Phật giáo là lấy giải thoát làm mục đích và đằng sau đó dự tưởng một sinh mệnh vô hạn nhưng vô hạn sinh mệnh đó chỉ được thể nghiệm nội tại chứ không biểu tượng hóa: đó có thể nói là một hình thức tôn giáo mới, tuy thần bí nhưng rất hợp lý và đầy khoa học thực tế. Phật giáo lấy giải thoát làm tiêu biểu bên ngoài, mà vô hạn sinh mệnh vẫn không biểu tượng, nếu nói một cách miễn cưỡng thì đem sức KHÔNG vào nội tâm tất cả đều quy về nhất tâm: đó là lập trường độc hữu của Phật giáo.

    Cái cao ngạo của Đại thừa lúc nào cũng cho mình là cổ xe lớn hơn Tiểu thừa và đặt vào hàng đối thủ bất khoan dung. Trong thời Đức Phật còn tại thế vẫn chưa có Tiểu thừa, Đại thừa đối lập nhau từ phương diện giáo lý cho đến cách hành đạo . Tất cả sự phân chia đều là hiện tượng đã phát sinh sau thời Phật nhập diệt do giới tăng trẽ muốn cải cách nên đòi sữa đổi nhiều giới luật của Đức Phật , điều này các vị trưởng lão hoàn toàn bác bỏ .Nhưng tại sao cùng là giáo lý của Phật mà lại chia ra Đại thừa giáo và Tiểu thừa giáo? Vì Đại Thừa nuôi tham vọng muốn thống trị và nộ lệ Thế giới do Trung Hoa chủ trương. Họ bắt chước Constaintine Đại Đế La Mã dùng Công giáo đi mở đường, nằm vùng qua mặt tôn giáo sau đó dùng quân sự chiếm đóng đô hộ. Cũng công thức đó , Đại thừa phải truyền đạo , thêm thắt , sữa kinh Phật đưa vào cầu nguyện , cứu rỗi , hứa hảo huyền cái bánh VẼ Tây Phương Cực Lạc kiểu Kito nhằm mục đích đánh đổ chân lý Độc lập – Tự do – Dân chủ của Bổn sư Thích Ca.

    Trong phẩm thí dụ của kinh Pháp Hoa có ghi :

    Đại chúng sau khi thấy đức Phật thọ ký ngài Xá Lợi Phất sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang và sẽ làm giáo chủ ở cõi nước gọi là Ly Cấu nên rất vui mừng cho rằng, hàng Thinh Văn và Duyên Giác của mình cũng sẽ được đức Phật thọ ký như ngài Xá Lợi Phất. Đại chúng đặt hết niềm tin vào Diệu Pháp của Phật Tri Kiến, Để dứt hẳn lòng nghi, đại chúng lại thỉnh cầu đức Phật nói rõ hơn về vấn đề:

    “Đức Phật trước kia tại sao khai mở Quyền Thừa, nhưng hôm nay lại phủ nhận Quyền Thừa và chỉ đề cao Phật Thừa?”

    Đây là một sự sữa đổi bố láo về chuyện Đức Phật khai mở Quyền Thừa nay lại phủ nhận Quyền Thừa và chỉ đề cao Phật Thừa. Chính Trung Hoa Đại thừa phủ nhận rồi gán vào miệng Ngài Thích Ca , đó là một trong những đứa con nghịch tử của Như Lai. Để hổ trợ cho lời nói cao ngạo và xấc xược này , kinh Pháp Hoa dẫn dụ câu chuyện Trưởng Giả cứu đám con trong nhà lửa :

    a/- Đức Phật đem câu chuyện Trưởng Giả cứu đám con trong nhà lửa để giải đáp sự nghi vấn của đại chúng. Ông Trưởng Giả chỉ có mục đích duy nhất làm thế nào cứu đám con đang ham chơi trong nhà lửa. Lúc đầu ông Trưởng Giả dùng quyền biến dùng ba thứ xe để dụ các con chạy ra, nhưng về sau khi các con đã ra khỏi nhà lửa, ông Trưởng Giả chỉ cho các con mỗi đứa một thứ xe duy nhất đầy đủ vật báu trang nghiêm.

    b/- Để hợp pháp, ông Trưởng Giả chính là dụ cho đức Phật và đám con là chỉ cho tất cả chúng sanh. Nhà lửa là chỉ cho ba cõi sinh tử. Đám con ham chơi trong nhà lửa là chỉ cho tất cả chúng sanh đam mê ngũ dục trong ba cõi sinh tử. Mục đích của ông Trưởng Giả là làm thế nào cứu đám con ra khỏi nhà lửa cũng như mục đích của đức Phật ra đời là làm thế nào cứu chúng sanh thoát khỏi nhà sinh tử. Đầu tiên ông Trưởng Giả quyền biến dùng ba thứ xe (xe dê, xe nai, xe bò) để dụ các con cũng như đức Phật phương tiện mở bày ba Thừa (Tiểu Thừa, Trung Thừa và Đại Thừa) để dẫn dắt chúng sanh. Khi các con ra khỏi nhà lửa, ông Trưởng Giả chỉ cho mỗi đứa một thứ xe duy nhất đầy đủ vật báu trang nghiêm cũng như khi chúng sanh ra khỏi nhà sinh tử, đức Phật chỉ cho mỗi chúng sanh một thứ thừa duy nhất là Phật Thừa quý báu.

    c/- Đức Phật mặc dù thiết lập ba Thừa là phương tiện để độ chúng sanh nhiều căn cơ khác nhau, nhưng kỳ thật chỉ trình bày duy nhất có một Thừa mà thôi chính là Phật Thừa và tìm mọi cách dẫn dụ chúng sanh từ ba Thừa đi lần vào Phật Thừa tối thượng. Như Kinh nói: “Chư Phật dùng sức phương tiện nơi Phật Thừa, phân biệt nói thành ba”.

    Đại thừa thường dùng hình ảnh ” Ông Trưởng giả ” để dẫn dụ câu chuyện. Điều ngu xuẩn và điên cuồng của Đại thừa là xúc phạm nặng nề khi đem hình ảnh câu chuyện ông Trưởng giả so sánh với giáo lý Thích Ca : “Đầu tiên ông Trưởng Giả quyền biến dùng ba thứ xe (xe dê, xe nai, xe bò) để dụ các con cũng như đức Phật phương tiện mở bày ba Thừa (Tiểu Thừa, Trung Thừa và Đại Thừa) để dẫn dắt chúng sanh. ” Không thể dùng ba thứ xe (xe dê, xe nai, xe bò) để so sánh như đức Phật dùng phương tiện mở bày ba Thừa (Tiểu Thừa, Trung Thừa và Đại Thừa) dẫn dắt chúng sanh. Một lối dẫn dụ cặn bả đầy tà tâm.

    Đại thừa công kích không ngừng nghỉ và cho Tiểu thừa như là một địch thủ cần tiêu diệt , họ rao giảng giáo lý Tiểu thừa là nông cạn, giáo lý Tiểu thừa quá phiền toái, quá khó khăn , ngoài ra Tiểu thừa chỉ chú trọng đến phần hình thức mà không hiểu rằng vì muốn hóa độ đệ tử mà phải phá giới , thay đổi toàn bộ chủ trương hành đạo kiểu Như Lai . Họ cho rằng “Đức Phật đã phải tùy căn cơ đặt ra nhiều phương thức, chứ thật ra đó không phải là phần chủ yếu của Phật, nhưng lại coi đó là toàn thể mà xao lãng cái tinh thần hoạt bát của giáo pháp cũng như nhân cách của Phật”. Chẳng qua Tiểu thừa là những đứa con có hiếu , muốn duy trì tất cả những gì từ giáo lý cho đến hành đạo của Đức Bổn Sư , điều mà Đại thừa chê bai là cổ hủ , cứng nhắc như những ông già lụ khụ. Nếu công tâm mà nói , cũng có nhiều vấn đề cần thay đổi cho thích hợp theo đà tiến hoá của nhân loại. Nhưng tiến hóa không phải là phá hoại và thụt lùi và thay đổi chính giới . Đại thừa đã làm như thế khi cho Kinh Pháp Hoa ra đời nhằm cổ xúy sự an phận cúng dường ( Vu Lan ) , cầu nguyện để được cứu độ ( Phổ môn ) , cầu siêu , vớt vong ( kinh Địa Tạng ) ………. Đây là một sự ĐÃO CHÁNH toàn bộ giáo lý giải thoát của Thích Ca. Từ một chân lý trong sáng tuyệt vời , Đại thừa Trung Hoa đã đưa nhân loại trở về thời bán khai , thời kỳ đồ đá cổ đại làm cho con người luôn luôn sợ hãi trước thiên nhiên và chỉ nung nấu tinh thần nương tựa vào Thần Thánh kiểu Kito.

    Sau sáu năm tu ép xác khổ hạnh , Ngài Cồ Đàm nhận thấy tu con đường này khó mà thành chánh quả. Ngài hiểu rằng một giáo lý có giá trị để đạt đến chân lý tuyệt vời phải được dùng bằng trí tuệ. Đầu óc sẽ minh mẫn chỉ có trong một thân thể khoẻ mạnh , tráng kiện chứ trí tuệ không thể hoạt động trong tấm thân bệnh hoạn , bụng đói cồn cào. Ngài đã từ bỏ con đường tu khổ hạnh cho dù bạn bè chê cười , dư luận lên án , công kích. Ngài đã thay đổi cuộc sống tu hành bằng sự tắm rữa sạch sẽ và ăn uống trở lại. Ngài ngồi yên tịnh thiền định dưới gốc cây Bồ Đề tìm ra chân lý. Sự điều hòa hơi thở ra vào tức là một giây chuyền vận động cho cơ thể điều hòa và bình yên , nhờ đó mà tâm thanh tịnh sáng suốt , trí tuệ mới đầy đủ chức năng tìm ra vì sao có khổ và làm sao diệt khổ? Cuộc đời cứ trầm luân trong cảnh ta bà làm sao phải tìm đường giải thoát. Chính ta mới tự giải thoát cho ta , thế mà Đại thừa nghịch tử lại bày đặt tụng kinh , niệm Phật , kêu gọi van xin những ông Phật từ chín từng mây đến cứu độ. Cứ ngày tụng , đêm tụng kinh làm ông Phật ngồi nghe cũng nhảy mũi , thậm chí còn khua chuông gióng trống , ôm máy khúych đại tụng thật lớn , vì cứ tưởng ông Phật bằng đồng , đá không nghe vì điếc. Nhiều thầy cứ ngày ngày ê a mà chẳng hiểu ý kinh dạy gì , nhiều lúc cho rằng tụng kinh tiếng Phạn , tiếng Hán có vẽ cao siêu hơn tiếng Việt , thật là đáng thương cho họ. Tụng kinh là học lời Phật dạy cho CHÍNH MÌNH tu tập , chứ thật ra ông Phật Ấn Độ đâu có hiểu kinh chữ Hán , chữ Việt nói gì.Học kinh để hiểu, hiểu để tu chớ không phải đem đọc cho Phật nghe.

    Thiền định là con đường tu tập chính gốc của Đức Bổn Sư. Ngài không xưng hô , quãng bá có tài cứu vớt những ai cầu nguyện danh Ngài giống như A Di Đà , Quán Âm , Phổ Hiền…… Giáo lý của Ngài dạy là tùy bệnh cho thuốc. Gặp người tham ái nhiều, Phật dạy phương thuốc quán bất tịnh. Thấy thân nhơ nhớp quá sanh gớm nên hết tham ái. Người háo danh , cầu sắc , Phật dạy quán vô thừơng, danh vọng được rồi sẽ mất , sẽ bay đi chớ không bền vững lâu đời , nhờ quán như thế nên bớt háo danh , bớt tranh dành quyền lợi do vật chất đem đến. Ví như băng giảng DVD của Thầy này giảng hay , bán nhanh như gió , mấy Thầy kia tự ái và cho mình là cao tăng , là Giáo Hội mà thua thằng đệ tử nhóc con. Thế là tà tâm nổi lên chửi bới , ghép phim , cắt xén lời giảng và không ngần ngại chụp mũ VC , ôm gái ngoài bờ biển , nhằm bôi nhọ và hạ bệ uy tín …….

    Tổ Đạt Ma là người đem Thiền vào Trung Hoa đầu tiên , nhưng Duyên chưa đến nên Ngài ngồi quay lưng vào vách tường chín năm suy ngẫm. Câu chuyện Phật ghi lại :

    Ngài Huệ Khả trước tên Thần Quang, tu thiền cũng lâu. Khi nghe Tổ Đạt Ma sang Trung Hoa, ở chùa Thiếu Lâm ngồi xây mặt vào vách núi, mấy năm không nói chuyện với ai. Ngài tìm tới không biết làm sao thưa. Lúc ấy nhằm mùa đông tuyết xuống tới đầu gối, Ngài vẫn đứng thản nhiên từ đầu hôm đến sáng để cầu đạo. Biết được, Tổ xoay lại hỏi:

    – Ông cầu cái gì mà chịu khổ hạnh vậy?

    Ngài thưa:

    – Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con.

    Tổ bảo:

    – Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa ư?
    Nghe thế, Ngài liền đi ra phía sau, mượn cây dao chặt một cánh tay dâng lên Tổ để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Tổ Đạt Ma đồng ý và nhận làm đệ tử, đặt tên là Huệ Khả. Huệ là trí tuệ, Khả là khá. Ý Tổ khen ngài Thần Quang có trí tuệ khá lắm nên mới dám hy sinh như vậy.

    Khi được nhận làm đệ tử rồi, một hôm Huệ Khả thưa với Tổ Đạt Ma: “Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm”. Tổ Đạt Ma không trả lời thẳng, mà bảo: “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả xoay lại tìm một hồi, tâm bất an mất tiêu, không thấy nơi đâu. Ngài liền thưa: “Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được”. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Ngay đó ngài Huệ Khả liền biết đường vào.

    Vậy miệng cứ cầu nguyện , tay gõ mõ tụng kinh thì tâm làm sao thanh tịnh chứ đừng nói chuyện an ổn. Tâm an hay không là do ở chính mình , cũng như đến chùa nhiều lúc các Thầy , sư cô hỏi tôi cần ghi tên cầu an không? ( Cầu xong phải cúng tiền ) .Tôi trả lời KHÔNG. Vì an hay không là do ở chính mình , không đi chọc ghẹo , gây thù , gây oán với ai làm sao họ đánh phá , chửi bới mình , không phải tôi tiếc tiền mà không tin đó là sự thật Phật dạy , do bọn ma tăng đầu trọc Tịnh độ bày đặt , lừa đảo . Nhưng nghĩ lại , như mình Online viết bài , tìm chân lý , thấy ai sai thì lên tiếng , thấy thầy nào cô đơn bị bầy chó sói trọc đầu cùng kéo theo mấy đồ đệ cả đực lẫn cái , ngày đêm chửi bới còn hơn côn đồ chợ cầu muối. Mình vào lên tiếng bênh vực thế là bầy chó ngao quay sang cắn , sũa mình và cho là đồng bọn tà pháp. Thì đó là do tôi có tánh anh hùng , quân tử nên tự ôm họa vào mình để bị rủa sả . Nhưng tôi chẳng cần cầu Quán Âm nào hổ trợ , cứu vớt cả. Tự mình tinh tấn đấu tranh , tự mình giải thoát khỏi bầy chó ngao trọc sĩ hay mấy con mệ già như Tám tửng điên khùng , hay mấy thằng ongnoi nhóc con có cào cấu , khạc nhổ um sùm chẳng nhằm nhò gì . Với tâm Bồ Đề , với tinh thần Độc lập , tự chủ tôi vẫn bước thẳng tiến , giữ lập trường bảo vệ cho những kẻ bị cô thế , nhất là những thầy đang bị vây hảm với số đông của tăng chúng , trọc sĩ ỷ mạnh hiếp cô.

    Hành động của tôi có phải bị si mê nên mãi chìm trong sanh tử , bất chấp oán thù , tai nạn mà lên tiếng hay không? Tôi biết rằng dù có Si mê và chấp thân này là tâm mình thật là đúng với lẽ phải thì mình cứ mạnh dạn làm . Tôi thừa biết sự si mê này khiến mình cứ tạo nghiệp, đi mãi trong vòng sanh tử vẫn cứ hành động .

    Ví dụ có hai người cùng xem tấm ảnh ” Thầy tu ôm gái ngoài bờ biển ” , người thì cho đó là món đồ giả, lấp ghép vì chỉ có ảnh bất động. Trái lại một người nói thật . Vậy trong hai người đó, ai ngu ai trí? Giả mà tưởng thật là ngu, còn giả biết giả là trí.Như câu dưới signature của tôi là Ngũ mà biết mình ngũ , Thức mà biết mình thức. Đó là người Trí vậy . Bây giờ tôi đặt câu hỏi lại : “Tấm ảnh ôm gái này là thật hay giả?” Nếu quý vị chỉ thấy cái thật theo câu hỏi của tôi, thì khi ra đường này sẽ thấy nó là giả hết. Đó là chỗ mê lầm của chúng ta. Giữa thật và giả cũng không phân biệt được thì hỏi làm sao tu hành để tự giải thoát khổ đau làm sao được. Ngoài ra ngày đêm còn lo đi chửi bới , tranh chấp hơn thua để dành quyền bán DVD giảng pháp. Lo xúi Phật tử , đồ đệ online phá rối , chụp mũ VC , đánh hạ người nào dám lên tiếng cản trở việc làm của chúng. Điều đó hoàn toàn vô ích , vì Ngài Thích Ca không dạy làm như thế.Vậy thì xưng Cao tăng , Đại Lão Hòa Thượng mà làm cái gì???? Có xứng đáng trưởng tử Như Lai không????

    Nói đến thanh tịnh là nhờ Thiền chứ không phải do tụng niệm , cầu nguyện mà có đựơc . Vậy thì thanh tịnh đó là TÂM hay THÂN thanh tịnh ? Khi thân tâm ta thanh tịnh, hoàn cảnh sẽ tuỳ thuộc thanh tịnh để đựơc thanh tịnh . Nó không nhất định tốt – xấu – dài – ngắn – nhơ- sạch – trong hay ngoài thân , tùy hành động tư tưởng từng con người mà chuyển biến theo . Cầu nguyện thì bắt buộc vào khóa lễ nào cũng Chí tâm ” Đảnh Lễ ” .Chí tâm là chú tâm chưa hẳn đã ” Nhất tâm ” tức là một lòng chí nguyện . Đảnh lễ ai ? Đảnh lễ những ông Phật Tàu Phù sau này :

    -Chí tâm đảnh lễ : Nam mô tận hư không , biến pháp giới , quá , hiện , vị lai Thập phương chư Phật , Tôn pháp , Hiền – Thánh – Tăng , thường trú Tam – Bảo . ( 1 lạy ) O

    -Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Ta bà Giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật , Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật , Đại Trí Văn – Thù Sư Lợi Bồ Tát , Đại Hạnh Phổ – Hiền Bồ Tát , Hộ Pháp chư tôn Bồ Tát , Linh – Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát .(1 lạy ) O .

    -Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Tây phương cực lạc Thế giới đại từ , đại bi A – Di -Đà Phật , đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát , Đại Thế Chí Bồ Tát , Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát , Thanh Tịnh Đại hải chúng Bồ Tát . ( 1 lạy ) O .

    Tịnh độ không bao giờ quên mời Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật đứng ra làm ô dù che cho những ông Phật Tàu Phù từ 9 tầng mây phải cúi lạy , cầu nguyện mới đựơc về Tây phương . Con đừơng chân lý của đạo Phật là muốn cải thiện Xã hội, Quốc gia trước tiên phải cải thiện con người. Muốn cải thiện con người , đầu tiên phải cải thiện tư tưởng. Như vậy tư tưởng mới sanh ra ngôn ngữ và hành động con người thanh tịnh thì chính cõi Ta-bà này đã thành tịnh độ rồi, hay thế giới này chính là thế giới Cực Lạc thì cần chi phải cầu nguyện để về cõi Tây phương nào cho xa xôi . Đây là một ẩn dụ để dẫn dắt kẻ thấp trí tu tập ban đầu , nhưng dần dần các Cao tăng thấy chúng sanh sau khi đựơc an lạc là đang ở cõi Tịnh Độ mà không biết , nên vẫn lừa dối , hứa hảo huyền cứ nhắm mắt cầu thêm mới đến cõi an lạc và Tịnh Độ . Có như vậy họ mới nắm đựơc linh hồn người Phật tử (giống như Vatican nắm linh hồn con chiên ) để thống trị , trục lợi trên hai phương diện vật chất lẫn tinh thần . Vì vậy không bao giờ Tịnh Độ muốn cho chúng sanh giải thóat như giáo điều Đức Phật Thích Ca dạy giải thóat . Họ muốn kìm kẹp để thống trị kẻ muốn cúi đầu cam tâm xin làm nô lệ .

    Những Phật tử theo phái Đại thừa – Tịnh độ là những người ước mơ sanh về cõi Cực Lạc ( bao gồm những tu sĩ )mà miệng vẫn nói ác, nói đâm , nói móc , tâm vẫn tham, sân , si hờn giận đủ điều , quả thật là trái lẽ . Nhưng họ vẫn làm , bằng chứng là dùng mọi truyền thông hiện đại tân tiến ngày nay để chửi bới nhau do cạnh tranh buôn bán băng giảng pháp DVD từ trong nước kéo ra tới hải ngọai .

    Họ không nắm điều căn bản là : “Người Phật tử chân chánh không mơ ước gì hơn, ước mơ con người mình được thanh tịnh, không tranh đấu nào bằng tranh đấu với phiền não ở nội tâm. Thắng được phiền não, toàn thân đều thanh tịnh, thế là vạn vật tùy tâm, sống một cuộc đời tự do tự tại.” Họ lo đấu tranh chính trị , sách động đình công , bãi thị tại nhà , đấu tố bôi bẩn lẫn nhau vì chuyệnh kinh doanh băng đĩa . Vậy thì tu chỗ nào ? Họ giống như con Bạch Tuộc hút máu đồng lọai . Một vòi lừa dối hút máu Phật tử , vòi khác hút máu bạn đồng tu do cạnh tranh buôn bán DVD , còn vòi kia đưa ra tận hải ngọai vuốt váy Ỷ Lan , sờ quần Võ Văn Ái để cầu danh lợi . Vậy thì họ đã thấy đức thanh tịnh là căn bản của người tu Phật chưa ? Chẳng những căn bản chính gốc của người tu, mà đức thanh tịnh cũng là cội nguồn của một xã hội văn minh loài người cần phải có , chứ không lừa gạt , buôn Thánh bán Thần như Đại thừa – Tịnh độ ngày nay . Còn Phật tử đi chùa, lễ Phật nghe kinh mà không áp dụng triệt để đức thanh tịnh vào đời sống của mình, chỉ lo sau khi tụng bài kinh cầu an , sám hối …… rồi xúm nhau ăn , mang thức ăn còn lại cùng hoa quả về nhà , tụ tập khoe khoan quần áo , kiếm chuyện đâm thọc , nói xấu nhau , kể chuyện dâm dật ( nhất là nữ giới , kể cả ni cô ) . Thật là phản bội trắng trợn với tên Phật tử mà họ đang khoác trên mình .

    Nếu qúy thầy và Phật tử ai cũng hiểu hai chữ TINH TẤN thực nghĩa của nó thì tốt biết bao :

    -Tinh : là chuyên cần , thuần thục .

    -Tấn : là tiến tới.

    “Tinh tấn” là chuyên cần tiến tới theo một chiều hướng tốt đẹp, lợi ích, sáng suốt và an vui , hạnh phúc .Nhưng họ xuất gia tu mà không làm như thế , không bao giờ muốn TINH TẤN vì biết tinh tấn là sẽ nghèo khổ , đói rách phải ra lao động . Chúng tu vì lợi nhuận , thầy thì lo lừa đảo để trục lợi Phật tử , Phật tử thì lừa thầy cầu nguyện Phật để mua may bán đắt , giàu sang phú quý , nghĩa là có qua có lại mới toại lòng nhau , hai bên đều có lợi . Chúng chính là những tội phạm giết chết CHÂN LÝ Như Lai .

    Trong các tạng kinh điễn Tiểu Thừa làm gì có chuyện đức Phật Thích Ca giới thiệu thêm một vị Bồ Tát rất thân cận với tất cả chúng sanh nơi cõi Ta Bà đã chứng đắc tri kiến của Phật mang pháp hiệu là Quán Thế Âm. Kinh Pháp Hoa chỉ ra đời 600 năm sau khi Phật tịch diệt thì làm sao có chuyện Phật giới thiệu Quán Âm khi Ngài còn tại thế?Đó là điều mâu thuẩn trong kinh Pháp Hoa.
    Sự diễn giải danh từ Quán Thế Âm là quán sát tiếng kêu thương đau khổ của chúng sanh trong cõi Ta Bà và Phổ Môn là thị hiện sức diệu dụng thần lực của Diệu Pháp khắp muôn nơi để hóa độ. Như vậy nếu có Quán Âm thật thời đó thì Ngài Thích Ca cũng không giới thiệu và cổ xúy bao giờ. Vì Ngài chủ trương tự giải thoát thì làm sao giới thiệu cho một vị Bồ Tát đưa giáo lý , đường lối đối nghịch với Thích Ca là cúi đầu cầu nguyện đầy bi quan yếm thế . Vì cầu nguyện, van xin hay ước nguyện là một trạng thái tâm lý mong mỏi một điều gì đó sẽ được thực hiện, sẽ được thành tựu hay diễn ra theo chủ ý của người mong đợi đang cầu xin mà lòng tham không bao giờ có đáy . Nó phản ánh một thái độ mong chờ một sự kiện diễn ra theo chủ ý của người có ước mong điều mà Ngài Thích Ca không bao giờ đồng ý sự van xin , dựa dẩm vào người khác như thế. Cũng vậy , cầu nguyện có thể trở thành một trạng thái tâm lý THAM LAM tức mong muốn tất cả về cho cá nhân mình cùng gia đình , người thân mình, đó là một trạng thái tâm lý ÍCH KỶ mong cho mình được điều lợi ích, an lạc và hạnh phúc khi phải van xin người khác. Nó sẽ đánh mất tinh thần tự tin , độc lập và tinh tấn để vươn lên. Khi nghe Phẩm Phổ Môn nói :”Người nào nếu như chuyên trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm thì không bị tai nạn như: không bị lửa cháy, không bị nước cuốn trôi, không bị quỷ dữ làm hại, không bị đánh đập giết hại, không bị La Sát sát hại, không bị xiềng xích gông cùm, không bị nạn cướp.” quả là một lời hứa bánh Vẽ rất hợp với lòng tham con người , nhất là giới thấp kém.

    Phẩm Phổ Môn là chủ yếu đánh vào tâm lý con người gục ngã mạnh nhất trong bộ kinh Pháp Hoa. Đây là tâm điểm mà đề cương Pháp Hoa đang chủ trương cần nói đến.Thông thường các ước mong của cầu nguyện phần lớn đều hướng về tư lợi, tư hữu, cho cái ta và cái ta sở hữu , chứ ít khi vì tập thể , cọng đồng , nhân loại. Cầu nguyện để có tính cách vị tha của mục tiêu mong ước là rất hiếm trên cỏi đời này . Ở đây, sự cầu nguyện hướng đến phúc lợi và hạnh phúc của người khác, mong điều vui , an lành đến với xã hội loài người, hoàn toàn không có , nếu có chăng thì cũng nhằm mục đích ” xỏ xiên ” đấu tranh về mặt chính trị. Điều này GHPGVNTN hay mượn con đường cầu cho Việt Nam Quốc Thái Dân An , nhưng lòng thật thì không có mà muốn xáo trộn , lật đổ CSVN độc tài thì đúng hơn. Phát triễn quan điểm cầu nguyện chân chánh là đầu mối của tất cả hành vi đạo đức đem lại lợi ích cho bản thân và tha nhân không bao giờ xảy ra , hoàn toàn là những Phật tử , tu sĩ cầu cho mua may bán đắc , nhiều người đến chùa để cúng dường Tam Bảo ,chùa thật lớn , cầu làm quan to chức lớn , thậm chí cầu làm sao được giải Nobel danh tiếng với đời.

    Có ai đạt được những điều mà phẩm Phô Môn dạy như vậy chưa? “Chúng sanh nào nhiều tham dục, sân hận, ngu si nếu như thường niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm thì được dứt sạch. Hơn nữa người nào muốn cầu con trai hay cầu con gái thường lễ lạy cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm thì được như ý muốn.” Lòng tham dục, sân hận, ngu si vốn là bản ngã bất biến của con người thì ai dại cầu cho dứt sạch , nếu thế thì cầu cho cửa cao nhà lớn , con cháu hạnh phúc đầy đàn còn chi là cần thiết. Với một giá có chỉ tiêu rõ ràng :nếu ai muốn cầu con trai hay cầu con gái phải thường lễ lạy cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm cho đến sói đầu chưa hẳn đã có được. Biết bao nhiêu người vì nhẹ dạ nghe lời các Thầy tu mà tiền mất tật lưa. Khoa học ngày nay , may ra làm được những điều ước muốn con trai , gái như vậy qua thụ tinh nhân tạo . Những bậc trí thức thì hiểu biết , nhưng thành phần vô minh tin lầm vẫn không thiếu . Đọc qua những trang báo trong nước nói về sự vô minh như :

    ” Lao Động, Tuổi Trẻ v…v…ai cũng thấy hình ảnh mỗi ngày có đến hàng trăm nguời từ ba miền đổ xô về Trường Định để “uống nuớc Thánh ở giếng ông Hảo”. Những người dân ấy, gần hết là Phật tử chỉ có một thiểu số theo “đạo ông bà”. Tất cả họ đều thuê bao những chuyến xe từ Sài Gòn, từ bên kia đeo Hải Vân tranh nhau đến giếng ông Hảo từ lúc tờ mờ sáng, vì đến trể phải sắp hàng chờ đợi lâu hơn. Nhìn hình ảnh của những nguời dân mê tín dị đoan này, tay cầm nhang, đèn, miệng khấn vái, rồi chổng mông cúi đầu xì xụp lạy cái “giếng ông Hảo” rồi xin phép “Thánh” cho múc nước, uống xong còn múc đem về cho những nguời thân để uống nữa. Khi các nhà báo đến hỏi, họ đều nói là đã uống trước, đã hết bệnh ung thư, hết bệnh tiểu đường v…v… Họ cũng nói họ đã bỏ cả công việc làm ăn để từ trong Sài Gòn, từ ngoài Bắc, từ Huế vượt đèo Hải Vân để vào Trường Định “xin nuớc Thánh”. Còn những người dân địa phương thì cho biết, mỗi ngày, mỗi người đã bán được hơn một trăm bó nhang (hương) và rất nhiều những chiếc bình nhựa, để cho khách thập phương chứa nước đem về cho gia đình. Ngoài ra, những người dân địa phương cũng bán được rất nhiều thức ăn, thức uống. Và cho đến hôm nay những người Phật tử tứ phương này hàng ngày vẫn nối tiếp nhau xếp hàng “xin nước Thánh giếng ông Hảo”.

    Vậy thì sự mê tín của những tầng lớp vô minh bao giờ cũng đa số , cho nên cầu nguyện Quán Thế Âm để hứa đủ mà không bao giờ có. Quán Âm còn sống , còn được nhiều người sùng bái thì Đại Thừa – Tịnh độ còn tồn tại và phát triễn thì cái gông nô lệ của Tàu Phù vẫn còn đè nặng trên đôi vai chúng sanh . Chỉ có trí tuệ mới đánh thức và giải phóng con người , không ai khác hơn là giáo lý giải thoát , giác ngộ của Thích Ca mới là liều thuốc chữa được những mê tín dị đoan cùng sự cầu nguyện mà Đại thừa gieo rắc và ôm chặc suốt mấy ngàn năm nay.

    Những Phật tử nào có quan điểm chân chánh , một lòng vì chân lý Thích Ca cũng nhìn thấy được phương diện khác của cuộc đời là trạng thái hạnh phúc , an lạc là hoàn toàn tự bản thân chúng ta. Mọi sự mê lầm , bị đầu độc bởi Đại thừa qua kinh Pháp Hoa là do sự vắng bóng an lạc , tự tin ở chính mình , để cho các khổ đau sinh lý nhưng bị ma vương dụ dỗ , lèo lái đi vào con đường mê tín , nguyện cầu . Để đạt được an lạc này, không thể cầu xin một đấng Thần linh , Phật Thánh nào ban giáng hay trao đổi bằng tiền bạc, danh vọng, chức sắc, trái lại chỉ có phát triển trí tuệ chân chánh của Ngài Thích Ca mới mang lại cho chúng ta an lạc , hạnh phúc thật sự và bền lâu.

    Để phòng hờ khi những phương pháp “Chơn Quán, Thanh Tịnh Quán, Quảng Đại Trí Huệ Quán, Bi Quán và Từ Quán” đã trình bày trong phẩm Phổ Môn , những cách tu tập thiền quán để niệm Bồ Tát Quán Thế Âm không được hữu hiệu , các Thầy Đại thừa mới đưa ngón đòn khác là hành trì những phương pháp thiền quán để niệm Bồ Tát Quán Thế Âm dễ dàng nhứt , phổ thông nhất mà bất cứ hạng người nào cũng có thể hành trì, đó là pháp môn “Thường niệm thường chiêm ngưỡng”. được giải thích như sau :

    Thường Niệm Thường Chiêm Ngưỡng nghĩa là đi đứng nằm ngồi luôn luôn niệm tưởng đến danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và hai buổi sớm chiều phải thường xuyên chiêm ngưỡng lễ bái hình tượng Bồ Tát để cầu nguyện. Hành giả thường xuyên hành trì như thế đến khi nào giao cảm được Bồ Tát Quán Thế Âm là khi đó hạnh nguyện được viên thành. Phương pháp tu tập này dành cho những hạng sống trong những hoàn cảnh khó khăn ngang trái để gieo duyên với Bồ Tát Quán Thế Âm trong sự tín tâm kiên cố. Hành giả hành trì phương pháp này nếu như không có tín tâm kiên cố thì không thể thành quả dễ dàng trong sự cầu nguyện. Tín tâm kiên cố nghĩa là đặt trọn đức tin vào sự cầu người không có chút nghi ngờ trong đó thì sự giao cảm giữa những người cầu nguyện và tâm nơi Bồ Tát tiếp nhận một cách không ngăn ngại.”

    Điều mà Tịnh độ vẫn chưa nắm chắc phương pháp “Thường niệm thường chiêm ngưỡng” không thể đoán trước sự thành quả của những lời cầu nguyện; Phật tử chỉ biết được khi nào những lời cầu nguyện đó đạt đến những điều linh nghiệm trong sự bất ngờ thì có ai bắt bẻ hay mất tin tưởng bởi những câu thòng như vậy không? Chỉ có Đại thừa – Tịnh độ mới trả lời và biết được và họ sẵn sàng bẻ cong và trả lời : ” Vì tín tâm kiên cố chưa đúng.” . Thế là êm xuôi .

    Kinh tức là lời ghi lại những gì Đức Phật đã dạy , không phải do Ngài giảng trực tiếp . Vì vậy sau khi Ngài nhập diệt 100 năm các đại đệ tử họp lại đọc tụng để cùng nhau chép thành kinh . Câu mở đầu bất cứ bài kinh nào cũng ghi : “Như thị ngã văn ” ( Tôi nghe như vầy ) .

    Ngày nay văn minh , vấn đề đọc kinh quá dễ dàng nhờ hệ thống Internet , sách báo , băng đĩ DVD…… phổ biến rộng rải , không còn giới hạng in trên sách như các thế kỹ trước đây . Khi ta đọc kinh phải có một tâm niệm chính chắn , nghiêm túc , không thể đọc kinh điển giống như đọc sách, thích thú với những đoạn hay, tò mò với những ý tưởng lạ, đọc như thế là tâm bất kính. Có nhiều vị sư tụng kinh hàng ngày cho xong chuyện , đôi lúc chẳng hiểu gì về ý kinh , điều này cũng góp phần hoằng dương chánh pháp tốt thôi , nhưng vô tình đóng cửa chân tâm, lòng không để tác động của thần lực phát ra từ kinh điển chuyển mình, vì không hiểu được nghĩa kinh . Phật giáo không cần số đông hàng tỷ Phật tử hay hàng muôn triệu Kinh sách , mà Phật giáo cần những con người có tâm thành tín , thanh tịnh , hiểu ý Phật dạy để hành đạo giúp đời và tinh tấn tiến lên giải thóat cho chính mình .

    Nhiều người (ngay cả tu sĩ ) cho rằng tụng kinh là cầu an , cầu phước , đó là quan niệm sai lầm cực lớn . Khi tụng là học, là nghe kinh và phải hiểu để hành . Khi mở quyển kinh, lòng của chúng ta cũng phải sẵn sàng đón nhận những lời lẽ ấy với tất cả sự kính tín của lời kinh dạy . Hãy cẩn thận, muôn dặm đường xưa nay nằm trong tâm ta . Lời nói của Đức Phật một bản ngã , vô ngã chính là Pháp, đó không còn là lời nói, không còn là ngôn ngữ văn tự, đó là chân lý tuông tràn, ẩn chứa trong ấy tất cả sức mạnh của vũ trụ, của tánh KHÔNG . Vì chúng sanh mà có tướng âm thanh, nên có chúng sanh mới có Pháp là thế , có người khi nghe một câu kinh mà thấy Phật tánh, chính là hành giả đã hun đúc, nghiền ngẫm vấn đề của mình từ muôn kiếp , muôn ức na tha do tuần , tâm đã đạt chỗ “tri hành hiệp nhất”; lời nói và việc làm là một, nên chỉ cần một cái gõ mạnh trợ duyên là bừng sáng, đó là người đã sẵn chứa tạng Kinh trong tâm, người khác cũng có mà cũng không, vì chưa tự thấy biết tạng Kinh của mình. Gỏ mõ , nhịp chuông chỉ là những âm thanh hổ trợ phần sắc khí , tạo hòan cảnh êm dịu để trang điểm lời kinh . Mục đích chính là ý nghĩa kinh không phải là tiếng chuông mõ . Nhang , trầm là những mùi vị gây xúc tác tinh khiết và cũng là để đo thời gian . Ngày xưa chưa phát minh đồng hồ , có lẽ tổ tiên ta dùng nhan để biết thời gian . Ví dụ : Phạt quỳ sám hối hai cây nhang ( chừng 1 giờ ) .

    Khi thuộc Kinh tức là thuộc lời giảng của Phật Tổ , đem hành những Kinh ấy vào đời sống tuỳ duyên , tuỳ cảnh làm sao cho thế gian an lạc , quanh ta lúc nào cũng có những nụ cười chứ không phải “những tiếng kêu cứu ” của súc vật đang bị giết hàng ngày . Làm sao không còn tiếng bom rơi , đạn réo hay cảnh tự sát bằng xe bom như Hồi giáo đang làm theo ý Chúa mỗi ngày ở trên Thế giới . Điều đó không nên và Đức Phật dạy hãy dứt khóat đọan tuyệt khổ đau cho mình và cho người . Đó là Ý KINH.

    Trong kinh Lăng Nghiêm , Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói rằng Pháp Môn Quán Âm là Pháp Môn cao nhất để được sự khai ngộ. Nói đến khai ngộ tức là MỞ TRÍ TUỆ , nhưng kinh Phổ Môn hoàn toàn dạy cầu nguyện sẽ được cứu rỗi chứ không có gì vận dụng và suy nghĩ , chúng ta hãy đọc kinh Phổ Môn sau đây :

    Những kẻ ấy nghe tên Bồ tát,
    Một lòng tin, niệm đức Quan Âm.
    Ngài liền soi thấu tiếng tăm,
    Thảy đều thoát nạn lâng lâng chẳng phiền !
    Dù ai có lòng thành trì niệm,
    Quan Âm liền ứng hiện độ cho.
    Hoặc khi gặp nạn lửa to,
    Niệm Ngài, Ngài ắt cứu cho thoát nàn !
    Ấy, nhờ bởi oai thần Bồ tát,
    Vận thần thông cứu bạt chúng sinh.
    Hoặc khi sóng nước bất bình,
    Tấm thân trôi dạt bập bềnh nguy nan !
    Kíp niệm đức Quan Âm cứu khổ,
    Nơi cạn kia, gặp chỗ nương mình.
    Trăm ngàn muôn ức chúng sinh,
    Vào trong biển lớn kinh doanh như là :
    Hoặc tìm kiếm xa cừ, mã não,
    Kim, ngân cùng châu báu, lưu ly.
    San hô, hổ phách, trân kỳ,
    Chẳng may bão tố đương khi giữa vời !
    Thuyền trôi dạt vào nơi nước quỷ,
    Dù một người niệm mỹ hiệu Ngài.
    Cả thuyền, chẳng những một ai,
    Khỏi nạn La sát hại người đã quen.
    Ấy, bởi những nhân duyên như vậy,
    Quan Thế Âm, nên mới trì danh.
    Dù ai sắp giết hại mình,
    Niệm Quan Âm, ắt yên lành chẳng chi !
    Gươm đao thương, gẫy thì từng đoạn,
    Thế là người trì niệm thoát nàn !
    Ví trong thế giới ba ngàn,
    Dạ xoa, La sát, những toan hại người !
    Quỷ thấy ai niệm Ngài Bồ tát,
    Chẳng còn đem mắt ác nhìn người.
    Dám còn để ý hại ai,
    Ấy nhờ Bồ tát, Ngài hay cứu nàn !
    Hoặc kẻ bị gông cùm xiềng trói,
    Tội hay không, niệm tới hiệu Ngài.
    Xích xiềng hư hỏng rã rời,
    Thế là giải thoát, tức thời bình an.
    Dù khắp cả ba ngàn thế giới,
    Đầy giặc thù quấy rối lương dân !
    Lái buôn có một chủ nhân,
    Người cùng của báu theo chân cũng nhiều.
    Khi qua chốn hiểm nghèo như vậy,
    Có một ai đứng lại nói rằng :
    Thiện nam chớ có hãi hùng !
    Anh em xin dốc một lòng thành tâm.
    Đều xưng niệm Quan Âm bố thí,
    Ngài hay ban vô úy chẳng sai.
    Chúng ta xưng niệm hiệu Ngài,
    Phen này thoát khỏi nạn tai đây mà !
    Người nghe nói đều là nhất hướng,
    Một lòng tin, hiệp chưởng nam mô.
    Quan Âm Bồ tát cứu cho,
    Thảy đều thoát nạn, khỏi lo đó mà.

    Kinh Quán Âm dạy cúi đầu cầu nguyện bao nhiêu thì đi ngược giáo lý chính tông của Ngài Thích Ca dạy bấy nhiêu. Muốn thấy rõ hai đường lối hoàn toàn trái ngược như trắng và đen chúng ta đọc bài kinh Luận Bảo Vương ” Đức Thích Ca dạy như sau :

    Mười điều tâm niệm trong “Luận Bảo Vương Tam Muội”:

    Điều 1 : Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sanh. Hãy lấy bệnh khổ làm thuốc thần.

    Điều 2 : Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy. Hãy lấy hoạn nạn làm giải thoát.

    Điều 3 : Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo. Hãy lấy khúc mắc làm thú vị.

    Điều 4 : Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không ma chướng, vì không ma chướng thì chí nguyện không kiên cường. Hãy lấy ma quân làm bạn đạo.

    Điều 5 : Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường kiêu ngạo. Hãy lấy khó khăn làm thích thú.

    Điều 6 : Giao tiếp thì đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa. Hãy lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ.

    Điều 7 :Với người thì đừng mong tất cả thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng. Hãy lấy người chống đối làm nơi giao du.

    Điều 8 :Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có ý mưu đồ. Hãy coi thi ân như đôi dép bỏ.

    Điều 9 :Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động. Hãy lấy sự xả lợi làm vinh hoa.

    Điều 10 :Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả. Hãy lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh.

    Ngài chỉ bày rất rõ ràng :

    -Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ

    -Ở đời đừng cầu không hoạn nạn

    -Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không ma chướng

    -………………………………………………..

    Nếu đường đời bằng phẳng cả , hoặc có chông gai thì cầu nguyện Quán Âm cứu vớt , như vậy làm cho con người ỷ lại , tiêu cực , và mất ý chí độc lập tiến lên. Các bạn thấy Thích Ca dạy thế nào , còn Quán Âm , A Di Đà dạy thế nào , đến đây quý vị đã có khái niệm về tinh thần kinh Như Lai và Tịnh độ trái nghịch nhau một trời một vực.

    Ca tụng Quán Âm ngày nay còn có hiện tượng mới là Thanh Hải Vô Thượng Sư cũng dựa vào ô dù Phật giáo để ” ĐẼ ” ra một giáo lý mới đánh đu hàng hai , vừa ca tụng Quán Âm , vừa níu khố Chúa nhằm dung hòa và lôi kéo hội viên. Sắp tới tôi sẽ đề cập hiện tượng phá chân lý Phật giáo của Thượng Sư Thanh Hải này

  17. Tom Nguyen nói:

    Như tôi đã trình bày là kinh Pháp Hoa ra đời khi mà sự tranh chấp nội bộ giữa Tiểu Thừa , Đại Thừa đồng thời ngoại đạo Bà La Môn chỉa mủi dùi vào Phật giáo bằng những triết lý vô cùng thâm độc nhằm hạ thấp Phật giáo khi không còn vị Thầy Thích Ca . Trong hoàn cảnh này thì kinh Diệu Pháp Liên Hoa ra đời gần 600 năm khi Đức Phật tịch diệt. Vậy thì làm sao cuốn : Yếu chỉ KINH PHÁP HOA của thầy Thích Thắng Hoan viết Phật thuyết núi nầy rừng nọ :

    Đức Phật Thích Ca thiết lập hai Đạo Tràng giảng Kinh Pháp Hoa để độ chúng sanh:

    a/- Đạo Tràng thứ nhất, đức Phật mở hội Linh Thứu nơi núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đà giảng Kinh Pháp Hoa bằng Thiền Định Tam Muội, nên gọi là Thiền Định Thuyết Pháp.

    b/- Đạo Tràng thứ hai, đức Phật Thích Ca mở hội Bảo Tháp nơi Không Giới để giảng Kinh Pháp Hoa, nên gọi là Không Giới Thuyết Pháp.”

    Nhìn chung , hầu hết kinh Pháp Hoa đưa ra nhằm mục đích ca tụng Đại thừa là một môn pháp rộng lớn ( cổ xe lớn ) nhằm tiến đến Niết Bàn nhanh hơn , vĩ đại hơn Tiểu thừa. Đặc biệt phẩm THÍ DỤ sau đây dẫn chứng câu chuyện ông Trưởng giả và đàn con khi bị cháy nhà là ám chỉ rõ nhất :

    Lúc bấy giờ Ông Xá lợi Phất hớn hở vui mừng, đứng dậy cung kính chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan Phật và bạch rằng: “Hôm nay con được nghe những điều Phật dạy, lòng con hân hoan chưa từng có. Bao nhiêu nghi ngờ của con đã hết. Trước kia con thường nghĩ ngợi và tự hỏi: Phật cũng ở trong Pháp tánh như mình, cớ sao Phật được là Phật, còn mình thì lại không ? Cớ sao Như Lai lại đem pháp “Tiểu thừa” mà dạy cho ? Cớ sao các Bồ tát được thọ ký thành Phật, còn mình chẳng được dự vào việc đó ? Con tự cảm thương mình ! Chẳng lẽ mình mất hết vô lượng Tri kiến Phật, mất hết khả năng thành Phật hay sao” ? Nay nghe Phật dạy, con mới hiểu rằng, lỗi tại chúng con, vì mê mờ thiển cận, vừa được nghe pháp phương tiện là đã vội ham, tư duy tu tập để cầu chứng đắc. Nay con đã hiểu rõ, rằng giáo lý Tiểu thừa là “pháp phương tiện” tùy nghi dẫn dụ của Như Lai. Dù “chứng đắc Niết bàn” nhưng chưa hoàn toàn diệt độ. Giờ đây con rất sung sướng tự biết mình là con thật của Phật. Từ kim khẩu Phật sanh ra, từ pháp hóa của Phật sanh ra, con được dự phần trong “Phật tánh và Pháp tánh” vô thượng.

    Ông Xá lợi Phất thưa tiếp: “Lúc mới nghe Phật “thọ ký” con sẽ thành Phật, con nghi ngờ tự hỏi có phải ma giả Phật để não loạn lòng con. Nhưng sau nhờ những tỷ dụ của Phật, con mới hết nghi và tin quả quyết rằng con sẽ thành Phật”.

    Đức Phật lại bảo: Xá lợi Phất ! Ta xưa đã từng giáo hóa ông, từng dẫn dắt ông trong thời gian dài ở hai muôn ức Phật. Ta hướng dẫn ông đi trên con đường thành Phật, nhưng ông lại quên mà tưởng là diệt độ trong khi chưa đến đích. Nay ta muốn cho ông nhớ lại chí nguyện thành Phật xưa kia mà vì hàng Thanh Văn nói kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm nầy. Như Lai cũng nói trước cho ông biết, trong vị lai vô số kiếp, ông cúng dường vô số Phật, phụng trì chánh pháp làm đủ đạo Bồ tát rồi ông sẽ thành Phật hiệu Hoa Quang Như Lai đủ mười đức hiệu, nước tên Ly Cấu, kiếp tên Đại Bảo Trang Nghiêm. Số Bồ tát được ông giáo hóa nhiều vô lượng.

    Xá lợi Phất ! Đức Hoa Quang Như Lai sau đó “thọ ký” cho Bồ tát Kiên Mãn sẽ thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai đủ mười đức hiệu và cõi nước cũng trang nghiêm như vâỵ.

    Đại chúng thấy Phật “thọ ký” ông Xá lợi Phất được thành Phật, vui mừng hớn hở, mỗi người cởi thượng y của mình dâng lên cúng Phật.

    Xá lợi Phất thưa: Bạch Thế Tôn ! “Trước kia Phật thường dạy: “Giáo pháp của Như Lai có công năng xa lìa sanh, già, bệnh, chết và được cứu cánh Niết bàn”. Các hàng Thanh Văn đã nghe và hành theo, ai cũng tưởng là mình được Niết bàn rồi. Nay Phật lại đưa ra thứ giáo pháp chưa ai từng nghe: Rằng “Niết bàn ấy chưa phải rốt ráo tịch diệt, mà rốt ráo phải thành Phật”. Con e sợ hàng Thanh Văn còn chỗ nghi ngờ. Cúi xin Thế Tôn, vì bốn chúng giải thích rõ ý thú của lời Phật”.

    Phật bảo: Trước đây Như Lai há chẳng nói rằng, tất cả giáo pháp của Phật dạy đều là phương tiện đưa đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đó sao? Nhưng thôi, để cho người trí hiểu được Như Lai có cái thí dụ nầy:

    Trong một xứ nọ, có ông Trưởng giả giàu to của cải vô lượng, nhưng tuổi đã già suy. Nhà của ông rộng lớn chứa rất nhiều người, trong số có các con của ông, nhưng phải cái nguy là ngôi nhà mục nát, cột kèo ngả đổ, vách phên xiêu sập, rắn rít rất nhiều, thêm nỗi lửa cháy bốn bề mà lối ra thì chỉ có một cửa.

    Ông Trưởng giả đứng ngoài lo sợ cho các con, nghĩ bụng rằng: Ta có thể xông vào cứu chúng, nhưng nhớ đến cửa nhỏ hẹp, sợ các con dùng dằng không đem ra được hết. Trong lúc nguy hại trước mắt các con của ông cứ đùa giỡn vui chơi, không biết sợ sệt gì hết và cũng không có ý muốn ra, vì không biết nhà cháy là gì, lửa là gì !

    Ông Trưởng giả bèn lập kế, ông hô to: “Các con! Cha có những đồ chơi đẹp lắm đây. Xe dê, xe hưu, xe trâu trắng, xe nào cũng đẹp đẽ trang sức lộng lẫy, các con mau ra tự chọn lấy xe theo ý thích”.

    Các con ganh đua xô đẩy lẫn nhau kéo nhau chạy ra khỏi nhà cháy. Ông Trưởng giả rất mừng khi thấy các con được an ổn. Ở nơi ngã tư đường không còn nguy hại.

    Bấy giờ các con xúm lại đòi đồ chơi, với ước muốn riêng, xe dê, xe hưu theo ý thích, nhưng ông Trưởng giả chỉ ban cho các con đồng một thứ xe lớn tốt đẹp vô cùng, đầy đủ tiện nghi trang hoàng lộng lẫy. Vì sao ông Trưởng giả không cho ba thứ xe lớn nhỏ, tốt đẹp khác nhau mà lại cho đồng một thứ xe tuyệt đẹp. Vì ông Trưởng giả quá giàu, kho tàng đầy ngập, của cải vô lượng !

    Đến đây, đức Phật hỏi ông Xá lợi Phất: “Ông Trưởng giả trước hứa cho ba thứ xe, nay lại cho có một thứ, mà là thứ lớn, đẹp nhất. Vậy ông Trưởng giả có lỗi nói dối không” ?

    Ông Xá lợi Phất đáp: “Dạ không. Giả như cho chiếc xe nhỏ và xấu nhất, ông Trưởng giả cũng không có lỗi nói dối, huống gì cho thứ xe lớn và đẹp nhất. Vì sao ? Vì việc hứa cho xe chỉ là một sách lược, một cách phương tiện, nhằm cứu các con ra khỏi nhà lửa đang ngùn ngụt cháy”.

    Phật khen: Đúng vậy, Xá lợi Phất ! Như Lai là cha của tất cả thế gian. Tuy đã ra khỏi thế gian nhưng vẫn vì sự lợi ích của thế gian mà trở vào nhà lửa tam giới cũ mục nguy hiểm nầy để độ chúng sanh ra khỏi nạn lửa sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, khổ não, tham lam, hung bạo, si mê, tắm mình trong biển độc hại khổ đau. Sống trong cảnh khổ nhà cháy như thế mà chúng sanh vẫn cứ vui chơi hỉ hả, chẳng hay mình đang bị lửa đốt, không sợ, không nhàm, không có ý cầu ra khỏi.

    Trong việc cứu độ chúng sanh, Như Lai đã từng suy nghĩ: Đem trí tuệ thần thông, giảng nói các tri kiến, trí lực, vô sở úy….của Như Lai không thể được. Vì chúng sanh đang dong duỗi, nô đùa trong rừng vô minh tam độc, bị thiêu đốt trong nhà lửa sanh, già, bệnh, chết, khổ não, ưu bi thì làm gì nghe hiểu mà tiếp thu. Do vậy, Như Lai phải dùng phương tiện, quyền lập pháp tu: Một là Thanh Văn thừa (xe dê). Hai là Duyên Giác thừa (xe hưu). Ba là Bồ tát thừa (xe trâu trắng). Đó là Như Lai vận dụng phương tiện đáp ứng căn cơ của mỗi hạng chúng sanh.

    Ông Trưởng giả cho đều các con mỗi đứa một cỗ xe to đẹp, khi chúng ra khỏi nhà lửa. Như Lai cũng vậy, khi chúng sanh ra khỏi sự khổ não, ưu bi, sanh, già bệnh, chết, bất luận là Thanh Văn, Duyên Giác hay Bồ tát, Như Lai bèn cho cái vui tuyệt đỉnh là: Thiền định, trí tuệ và Tri kiến Phật…..là những cỗ xe đưa đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như ông Trưởng giả kia, đức Phật không phạm tội nói dối.

    Xá lợi Phất ! Vì nhân duyên đó, các Như Lai dùng sức phương tiện: chỉ có một Phật thừa, phân biệt nói thành ba.

    Trong suốt thời gian hơn hơn 40 năm, Như Lai sử dụng vô số “phương tiện” nhằm hóa độ chúng sanh. Trước đây khi mới nghe pháp “phương tiện” các đệ tử vội ham và mong cầu chứng đắc Niết bàn. Giờ nghe Phật dạy, họ biết rõ quả chứng của Tiểu thừa dù được Niết bàn, nhưng chưa phải là thật diệt độ. Đó là bước ngoặc Đại thừa đưa ra nhằm chê bai Tiểu thừa quá nông cạn về đường tu tập . Đại thừa cho rằng diệt độ phải là người đi cỗ xe Vô thượng Chánh Biến Tri Giác. Và đến đây Tịnh độ tự xác định có đủ điều kiện, đủ khả năng đi trên cỗ xe lớn đó.

    Họ cho rằng giờ thì ông Xá lợi Phất đã hiểu chân lý đức Phật dạy cho Tiểu thừa có chín bộ kinh. “Phương quảng”, “thọ ký” và “vô vấn tự thuyết” đối với người Tiểu thừa Phật chưa đề cập đến. Vì vậy với hàng Thanh văn được “thọ ký” thành Phật là một sự bất ngờ sửng sốt, quá sức tin hiểu của mình. Đại thừa lý luận :”Trong nguồn giáo lý Phật dạy cho Tiểu thừa vẫn có mầm mống Đại thừa. Vả lại, trong những thời của hai muôn đức Phật xa xưa, Xá lợi Phất và Phật đã từng gieo trồng hạt giống Đại thừa: “Thế thế thường hành Bồ tát đạo”.

    Phẩm thí dụ đưa ra để giải thích tại sao chỉ có một “Phật thừa” mà trước kia Phật lại dạy có ba :Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát.

    Hình ảnh Ông Trưởng giả là ám chỉ Phật. Những đứa con chỉ chúng sanh. Lửa cháy,ngôi nhà mục nát, cột kèo ngả đổ, vách phên xiêu sập, rắn rít đầy dẩy …. là ám chỉ cảnh khổ: sanh, già, bệnh, tử, ưu phiền , khổ não của chúng sanh trong cõi ta bà . Ba xe, dụ ba thừa, hay ba bậc tu hành là Thanh văn, Duyên Giác và Bồ tát. Thanh văn tiểu quả, ví xe Dê. Duyên giác trung thừa, ví xe Hưu. Bồ tát hay Phật thừa, ví xe Trâu trắng lớn.

    Xe nhỏ, ví hạng người chỉ có khả năng tự độ như Tiểu thừa , không giúp ích được cho người khác. Xe lớn như Đại thừa ám chỉ tánh tích cực của hạng người ngoài phần tự độ còn xem trọng việc độ tha. Đến đây thì các bạn đã thấy phần lộ liễu của kinh Pháp Hoa lý luận đi ra ngoài giáo lý chủ đích của Thích Ca từng dạy ” Ai ăn nấy no , ai tu nấy hưởng “. Không thể mình tu dùm cho người khác. Ông A ăn cơm mà bà Tám ngồi chầu rìa bên cạnh tự no được.

    Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy rằng:

    “Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
    Chỉ có ta làm ta tránh được điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta.
    Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
    Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”.

    Chỉ có ta làm cho ta được trong sạch , tinh tấn , giải thoát…… không ai có thể giúp cho ta kể cả Thần Thánh , Thượng đế , đây là GIÁO LÝ ĐẶC BIỆT mà chỉ Phật giáo mới có , mà phải là Phật giáo Ngài Thích Ca chứ đừng nhầm lẫn Phật giáo Đại Thừa , Mật tông thường đánh lộn con đen để núp bóng ô dù Như Lai. Chúng ta cần phân tích và làm sáng tỏ sự gian lận , manh tâm của Tịnh độ tông ở những điểm này .

    Đối với cá nhân tôi cho rằng : PHẨM 4 nói về TÍN GIẢI trong kinh Pháp Hoa là ngạo mạng và hạ bệ ngay chính đức Bổn Sư một cách tồi tệ nhất . Đại thừa dẫn dụ Ông Tu-bồ-đề, Ca Chiên Diên, Đại Ca Diếp, Mục Kiền Liên đựơc thọ ký thành Phật đã được Niết bàn và tự thấy đã thỏa mãn với pháp thiền: Không, Vô Tướng, Vô Tác của Tiểu thừa, không có ý chí tiến lên cầu quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác bằng câu chuyện :

    Có một người, lúc nhỏ bé đã bỏ nhà bỏ cha đi hoang, sau mấy mươi năm rày đây mai đó phiêu bạt, lại thêm nghèo khổ rách rưới lang thang, phải đi xin mà độ nhật. Tình cờ chàng ta trở về đến xứ sở mà không hay biết.

    Thời gian ấy cha của chàng tìm con khắp nơi mà không gặp. Ông là Trưởng giả một nhà giàu lớn, châu báu đầy kho, tài sản vô lượng, tôi trai tớ gái đầy nhà. Ông chẳng những là một nhà giàu trong nước mà còn là người giao dịch thương mại lớn, của cải vô số ở khắp nhiều nước khác.

    Không nói với ai về việc cha con ly biệt, ông thường suy nghĩ: Ta nay giàu có thế này mà con không có, một mai chết đi thì sự nghiệp nầy giao phó cho ai, chắc phải mất hết. Ước gì ta gặp được con giao phó gia tài cho nó thì lúc chết được an lòng.

    Một hôm đứa con lạc loài tình cờ đến trước nhà cha mà không biết. Đứng ngoài cổng ngó vào, thấy Trưởng giả sang trọng uy nghiêm, đang ngồi trên ghế cao, xung quanh có đông người hầu hạ, trong nhà thì ngọc ngà châu báu không biết bao nhiêu. Chàng ta đâm hốt hoảng thầm nghĩ là mình lạc đến chỗ vua chúa. Nghĩ vậy, chàng sợ bị bắt, lén bỏ đi tìm một xóm nghèo hợp với tình cảnh chàng để kiếm việc làm lấy tiền độ nhật.

    Nhưng Trưởng giả đã thấy và nhận biết chàng cùng tử ấy là con mình. Ông liền sai hai gia nhân theo bắt chàng lại.

    Bị bắt chàng ta sợ quá, van xin mà không được tha, chàng ngã xuống đất chết ngất.

    Ông Trưởng giả thấy vậy ra lệnh: Thôi ta không cần con người ấy nữa đâu, hãy lấy nước lạnh rưới lên mặt cho nó tỉnh rồi cho đi, đừng nói gì với nó nữa.

    Biết con mình quen sống với cảnh nghèo hèn, ty tiện nay nếu đột nhiên nhận nó là con mình và mình lại giàu sang tột bậc, chắc chắn nó không tin mà còn đem lòng sợ sệt. Chi bằng thả nó đi rồi lập kế mà dẫn dụ nó.

    Ông Trưởng giả mật sai hai người giả dạng bần khổ, tìm đến anh chàng cùng tử, rủ đi làm thuê với công việc hốt phân. Khi nghe biết được trả công gấp đôi, chàng cùng tử nhận lời và cả ba vào làm việc hốt phân, ở nhà sau vườn ông Trưởng giả.

    Thấy con tiều tụy phân đất bẩn thỉu khắp mình, Trưởng giả thương xót quá, ông thay bỏ áo quần tốt đẹp sang trọng, mặc đồ thô rách lấm nhơ để lân la với ba người hốt phân. Một hôm ông Trưởng giả bảo chàng cùng tử: Anh này, nên tiếp tục làm việc ở đây đừng đi đâu nữa. Ta sẽ thêm tiền công cho. Nhà ta giàu có của cải vô số muốn cần dùng gì tùy ý ta sẽ thuận cho hết. Từ nay về sau cứ xem như con đẻ của ta và hãy gọi ta là cha nhé ! Nói xong ông Trưởng giả gọi chàng cùng tử bằng con. Chàng ta rất mừng, nhưng chàng vẫn tự đặt mình là kẻ hạ tiện làm thuê.

    Ít lâu sau, ông Trưởng giả có bệnh cho kêu anh chàng đến, giao cho anh việc quản lý gia tài và cho anh được quyền xuất nhập bất cấm trong nhà. Anh làm tròn bổn phận, nhưng không bao giờ dám tiêu xài quá số tiền công nhật của anh. Ở thì cũng ở nhà sau, chỗ cũ không dám tự tại lui tới nhà trên.

    Thời gian lâu sau,Trưởng giả biết mình sắp lìa trần, và đứa con nay đã thông minh có chí lớn. Ông bèn hội hết thân tộc, trước mặt vua quan ông chỉ chàng cùng tử mà tuyên bố: Anh này là con ruột của tôi. Bấy lâu xa cách, vì nó bỏ nhà ra đi từ lúc bé. Nay cha con chúng tôi được trùng phùng, tôi giao cho nó tất cả gia tài của tôi mà trước đây nó đã quản lý và biết rõ.

    Người con nghe nói mừng quá, cho là việc chưa từng có và tự nghĩ: “Ta vốn không có lòng mong cầu, nay kho tàng châu báu này tự nhiên mà đến”.

    Nói câu chuyện “thí dụ” xong, ông Tu Bồ Đề, Ca Chiên Diên…bạch Phật:

    Ông Trưởng giả ví như đức Như Lai, còn chúng con thì như chàng cùng tử thất lạc bỏ cha bỏ nhà…Như Lai là cha, chúng con là con Phật mà không biết.

    Chúng con vì ba món khổ mà trong cảnh sanh, già, bệnh, chết, khổ não, sầu lo, chịu các sự mê lầm, ngu dốt cho nên ưa thích giáo pháp Tiểu thừa làm cái việc hốt phân tầm thường mà tự cho là thỏa mãn với cái giá trả công: Niết bàn.

    Như Lai không “bắt”, không cưỡng bức chúng con đi theo con đường: Tất cả đều có phần hưởng thọ kho tàng tri kiến Như Lai mà tha cho chúng con theo ý chí thấp hèn, rồi phương tiện thuận theo chúng con mà lần lần dạy bảo.

    Chúng con là con của Phật mà không biết. Vì không biết nên không dám mong hưởng thọ cái sự nghiệp, cái gia tài vĩ đại của cha là Phật mà chỉ cam phận với số tiền làm thuê Nhị thừa. Ấy tại vì chúng con không dám nhận mình là con Phật nên Phật cũng không thể tự nhận là cha (không thể dạy pháp Đại thừa).

    Nay thì kho tàng pháp bảo vô giá của pháp vương lại tự nhiên mà đến, không mong cầu mà được !

    Đại thừa không dám nói thẳng là Ngài Thích Ca đã thành Phật lại vui mừng hớn hở và phát khởi lòng tin kiên cố mà mượn hình ảnh các Ông Tu-bồ-đề, Ca Chiên Diên, Đại Ca Diếp, Mục Kiền Liên .Họ quên rằng suốt 49 năm thuyết giảng chính Đức Phật hành đạo bằng phương pháp thiền: Không, Vô Tướng, Vô Tác mà ngày nay Tiểu thừa vẫn giữ đúng nguyên tắc không biến cải , thay đổi . Phải chăng Tiểu thừa không muốn tiến lên cầu quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác , điều mà Đại thừa cho là phải làm và cần thiết .Với giáo lý xây dựng cõi Phật thanh tịnh, hóa độ chúng sanh, hào quang đồng sự của Bồ tát hạnh, không có lòng ưa thích. Về ví dụ Cùng Tử để trình lên Phật về sự Tín Giải của Nhị thừa là câu chuyện bần cùng cơ cực vì bỏ cha, bỏ nhà đi hoang, cho nên cùng tử cũng có nghĩa là “đứa con bỏ đi hoang”. Ngoài ra ý cùng tử bỏ đi hoang là đã có sự ở chung trong sự Viên Giác Diệu Tâm Thanh Tịnh Như Lai ngày xưa . Đây là điều Đại thừa diễn giải thêm nhằm chê trách Như Lai chứ chẳng phải các Đại đệ tử nào cả . Đại thừa không phải là lần đầu tiên mà hầu hết trong kinh Tịnh độ đều dùng nhiều ẩn dụ nhằm HẠ BỆ Như Lai . Ví dụ : Bộ kinh Duy Ma Cật là một cổ trọng pháo nhắm thẳng vào thành trì Như Lai bắn phá nặng nhất khi họ mượn những câu chuyện 10 Đại đệ tử của Ngài Thích Ca lần lược bị ông ta làm nhục nên không dám đi thăm bệnh . Không một đối tác nào sụp đỗ bằng sự không vâng lời dù Ngài Thích Ca là bậc thầy chính thức cắc cử các đệ tử đến thăm bệnh Duy Ma Cật .

    Tịnh độ huynh hoang , tự đắc nói rằng :

    Cha lúc nào cũng nhớ con, tìm con với ước mong tha thiết là giao hết cho con cái gia tài vô giá của mình, trước ngày nhắm mắt. Phật ra đời vì chúng sanh, tất cả cho chúng sanh, không lúc nào xao lãng nguyện vọng truyền trao trọn vẹn cho chúng sanh cái Tri Kiến Phật mà chúng sanh vốn có, trước khi nhập Niết bàn.

    Cha bỏ xứ đi tìm con, chỉ cái việc Phật xuất thế, hạ trần vì chúng sanh mà vào đời ngũ trược.

    Khi cha con gặp nhau thì quá cách biệt. Cha giàu có tột bậc, con thì nghèo khổ rách rưới lang thang. Cha thì biết rõ con mà con thì tự thấy mình quá hèn, quá thấp, không dám ngó thì còn nói chi tới việc nhìn cha. Phật xuất thế tìm đến chúng sanh nhưng Phật thì Chánh Biến Tri Giác Vô Thượng, còn chúng sanh thì vô minh dày đặc, nghiệp chướng nặng nề, một chút chánh kiến không có, thì ai mà dám bảo mình là con của Phật (Phật tử). Ai dám nghĩ rằng mình có quyền thừa hưởng kho tàng pháp bảo của Như Lai ?

    Đó là lý do, bằng chứng phát xuất từ ý nghĩ không chánh lý nhưng mà chúng sanh thường nảy ra ý nghĩ tự khinh . Một hình ảnh so sánh quá chênh lệch và hạ tiện . Đối với giai cấp hạ tiện ( nô lệ ) thời đó tại Ấn Độ là chỉ làm nghề đi hốt phân . Vậy mà Đại thừa dám cho là Đức Phật và cả các đệ tử không biết diệu dụng Đại thừa giống như một gia tài nhiều bảo vật trân quý , lại bỏ đi hoang , lang thang suốt 49 năm chỉ giảng toàn là những vấn đề hạng hẹp như Không, Vô Tướng, Vô Tác chẳng khác nào kẻ chỉ đi HỐT PHÂN . Đức Phật và tăng đoàn hoàn toàn mê muội và tự mãn khi quanh quẩn chừng ấy giáo lý mà đạt đến Niết Bàn và thành Phật .

    Đại thừa cho rằng Phật không dạy thẳng NHẤT THỪA vì trình độ chúng sanh thấp kém . Vì vậy Ngài phải tuỳ cơ mà diệu dụng giảng HAI THỪA ( nhị thừa ) qua hình ảnh sai hai người không uy đức làm môi giới dẫn dụ chúng sanh cùng tử lần theo vào nhà Tri Kiến Phật . Cái kho tàng pháp bảo vô giá mà bấy lâu nay dạy dỗ, tập cho sử dụng, nay trao trọn cho tất cả chúng sanh, con Phật thì Tất cả chúng sanh sẽ thành Phật.Điều này Đại thừa quá ngạo mạng và chủ quang . Sau hơn 2000 năm Đại thừa – Tịnh độ hành giáo như vậy đã đưa đựơc bao nhiêu con người thành PHẬT ? Phải chăng chỉ có hàng trăm vị Phật từ chín tầng mây không ai biết đến do Trung Hoa bày ra trong kinh Sám hối , Phổ Hiền , Pháp Hoa , Lăng Nghiêm v.v…..

    Mặc dầu Đức Phật là đấng chánh đẳng chánh giác , nhưng vì thương chúng sanh mà thị hiện giữa đời , va chạm và sống hẳn ở thế gian suốt 80 năm dài đăng đẳng. Cõi ta bà đầy ô trọc và nham hiểm , thâm độc vì bản chất do tam độc THAM – SÂN – SI. Những gì tốt xấu ở cõi này ví như bùn lầy , nhưng Ngài là cánh Hoa Sen từ bùn mà thị hiện vươn lên một cách Anh hùng ( Đại hùng ) – Độc lập ( Tự lực ) – Hiền lành ( Từ bi ) hoàn toàn trong sạch không bị ô nhiểm .

    Suốt 49 năm hành đạo , tiếp xúc va chạm với đời đủ hạng người , đủ mọi loài….. không làm sao khỏi gặp những chuyện trần ai khổ não , những kẻ thù cùng anh em ( Đề Ba Đạt Đa ) và người ngoại đạo Bà La Môn nhiều lần mắng chửi , giết hại , trong đó phụ nữ là kẻ thù nguy hiểm nhất. Trích bài giảng Phẩm năm : Dược Thảo Dụ , kinh Pháp Hoa ghi :

    Ca Diếp, nên biết ! Như Lai hiện ra đời ví như vầng mây lớn hiện ra ấy. Giữa trời, người A tu la….trong ba ngàn thế giới, Phật đường hoàng tuyên bố:

    “Ta là đấng Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hành túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế tôn.

    Người chưa được độ thì làm cho được độ. Người chưa tỏ ngộ thì làm cho ngộ. Người chưa an thì làm cho an. Người chưa có Niết bàn thì làm cho chứng. Đời nầy và đời sau Phật đều biết đúng như thật. Ta là bậc Nhất thiết trí, bậc Nhất thiết kiến, là bậc trí đạo, bậc khai đạo, bậc thuyết đạo. Hàng trời, người, A tu la đều nên đến để nghe và học pháp”.

    Đức Phật thương chúng sanh nên hóa độ tất cả , dù ai tốt xấu cũng tùy duyên mà hóa độ , tuỳ bệnh mà cho thuốc , Ngài hành đạo bằng tình thương cao cả , vĩ đại như một lương y hơn là một giáo chủ quyền uy muốn cứu rỗi , tha , phạt ai tùy thích , điểm TRONG SÁNG và NỔI BẬC chân lý Thích Ca là đấy. Ai bảo bài chân lý mà KHÔNG THẤY nói về chân lý , vì họ còn vô minh.

    Vì sao phụ nữ nguy hiểm? Cái bản tánh do Duyên tạo con người họ phải như vậy , không những đối với nhận định của Đức Phật mà ngay cả God cũng biết như thế. Bởi vậy khi bà Dì mẫu Pajapati Gotami ( Ma Ha Ba Xà Ba Đề) xin xuất gia Ngài cương quyết từ chối. Ngài Anan ba lần năng nỉ và trình bày công lao nuôi dưỡng và cuối cùng Ngài xuôi lòng chấp nhận với điều kiện phải thi hành đúng 8 điều luật cho một người nữ trong Tăng đoàn. Khi nghe Ananda thuật lại 8 điều ấy, bà Maha Pajàpati cùng các vị trong đoàn đều hoan hỷ đồng ý, và thế là Giáo hội Ni giới được thành lập. Ngài nói với Anan rằng :

    ” Này Anan , nếu Phụ nữ không được xuất gia trong Chánh pháp và Luật của Ta thì cuộc sống Thánh hạnh các đệ tử của Ta có thể kéo dài lâu một ngàn năm , từ nay Chánh pháp ấy chỉ còn tồn tại 500 năm ”

    “Này Ananda, trong ngôi nhà nào nhiều nữ giới và ít đàn ông thì ăn trộm dễ lọt vào. Cũng dường như thế, nếu hàng phụ nữ sống trong pháp và luật của Như Lai thì giáo pháp thiêng liêng khó duy trì lâu. Cũng như người đắp đê bên một hồ nước rộng lớn cho nước không tràn qua, ta cũng vậy, chế ra Bát kỉnh pháp cho các Tỳ kheo ni để họ tuân thủ trọn đời”.

    Thế thì một cư sĩ mới mon men bên bờ Chánh đẳng Chánh giác còn lờ mờ như tôi làm sao không sợ và dám gần phụ nữ được chứ ? Tránh xa không đối thoại với họ là tốt như lời Đức Thế Tôn đã dạy cho Anan.

    Vì thương chúng sanh mà thị hiện vào đời là Ngài chấp nhận tất cả khổ đau , xấu tốt của đời mà hành đạo. Bài Pháp đầu tiên là bài giảng về Tứ diệu đế (Tứ Thánh đế) được Đức Thế Tôn chỉ bày rõ ràng. Nghe xong, tôn giả Kodanna (Kiều Trần Như) chứng quả Tu Đà Hoàn. Đức Thế Tôn thu nhận năm tôn giả làm các đệ tử xuất gia đầu tiên , từ đó ngôi Tam bảo đã được hình thành. Ngài cũng hoá độ chúng sanh và hai con Nai biểu tượng cho địa điểm thuyết pháp (Lộc Uyển) và bánh xe Dhamma Cakka tức là bánh xe pháp – “Pháp Luân”. Cả đầu đề bài khi được giảng là: Dhamma Cakkappavattana, có nghĩa là Chuyển Pháp Luân . Ngài giảng rõ ràng bằng lời khuyên các tu sĩ không nên mắc vào hai cực đoan:

    – Một là đam mê thú vui dục lạc thế gian, vì nó giả tạm, nhất thời, tầm thường, ngăn cản mọi tiến bộ tâm linh, cực đoan.

    -Hai là khổ hạnh ép sát, nó làm mỏi mệt tinh thần, mê mờ trí tuệ.

    Ngài khuyến tấn họ nên theo con đường trung đạo dẫn tới một cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ, sáng suốt, giải thoát tối hậu. Đó là con đường đạo 8 chánh – Bát chánh đạo:

    1. Chánh tri kiến: thấy biết chân chánh,

    2. Chánh tư duy: suy nghĩ chân chánh,

    3. Chánh ngữ: nói năng chân chánh,

    4. Chánh nghiệp: hành động chân chánh,

    5. Chánh mạng: sinh sống chân chánh,

    6. Chánh tinh tấn: siêng năng chân chánh,

    7. Chánh niệm: nhớ nghĩ chân chánh,

    8. Chánh định: tập trung tư tưởng chân chánh.

    Và bốn Thánh đế được Đức Phật giảng tiếp theo, đó là chân lý về sự Khổ (Khổ đế), chân lý về nguyên nhân của sự Khổ (Tập đế), chân lý về sự diệt Khổ (Diệt đế) và chân lý về con đường diệt Khổ (Đạo đế). Một lần nữa quý Phật tử có thấy Ngài dạy cho ai phải cầu nguyện danh Ngài một ngày , hai ngày….. cho đến bảy ngày bằng ” Một tâm không loạn ” ( Nhất tâm bất lọan ) đâu. Đây là điểm để thấy sự khác biệt giữa giáo lý Thích Ca và kinh tự sáng tác của Đại thừa – Tịnh độ thêm vào như thế nào .

    Đức Bổn Sư đã có 60 người đệ tử đầu tiên đều là A La Hán. Ngài quyết định đưa họ đi khắp nơi để truyền bá chánh pháp. Trước khi họ lên đường, Ngài đã động viên, kêu gọi các đệ tử rằng:

    “Này các Tỳ kheo! Như Lai đã được giải thoát hết mọi ràng buộc thế gian và xuất thế gian (các cõi trời). Các ông cũng vậy… Này các Tỳ kheo, hãy đi vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người. các ông hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng, hãy đi mỗi người một ngã, hãy truyền bá chánh pháp. Này các Tỳ kheo, chánh pháp toàn thiện ở phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ và lời văn. Hãy tuyên bố về cuộc sống toàn thiện và thanh tịnh… Chính Như Lai cũng đi, Như Lai sẽ đi về hướng Uruve là ở Sanànigàma để hoằng dương giáo pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác; được vậy, là các ông đã hoàn tất nhiệm vụ”
    (Mahavagga, 19-20).

    Đức Phật không khuyên tất cả mọi người nên rời bỏ đời sống gia đình để xuất gia, trở thành người sống không nhà cửa, không tài sản, sự nghiệp , điều này ngoại đạo xuyên tạc Phật giáo là ” Vô gia đình , vô tổ quốc , bi quan , yếm thế…. ” là không đúng , có lẽ họ nhìn lầm Phật giáo Đại thừa chăng? Tôi nói nguy hiểm mà Tịnh độ đã bóp méo giáo lý , phá nát gia tài của Thích Ca là những điểm này. Một người cư sĩ cũng có thể sống đời cao đẹp thích ứng với giáo pháp và đắc quả Thánh như thường , không cần phải xây chùa to , Phật lớn , đặt nhiều thùng Tam Bảo quanh các Phật đài để thâu hụi nhằm làm béo bở những tu sĩ Đại thừa. Ngài không dạy như thế , mà Thế tôn luôn luôn nhắc nhở phải có cuộc sống đầy ĐẠO HẠNH lấy giới luật làm kim chỉ nam. Giới luật thì Tịnh độ nung nẩy , phá rào từ lâu khi mà mang danh xưng CỔ XE LỚN ( Đại thừa ) , thế thiên hành đạo , vung đao hành hiệp với đời bằng phương thức kinh doanh tiền bạc , buôn bán băng giảng DVD để đưa đến tranh chấp , hạ bệ nhau vì quyền lợi , tập võ công như Thiếu Lâm Tự , trang bị vũ khí , quân đội như Phật giáo Cao Đài , Hòa Hảo , làm chính trị như GHPGVNTN ngày nay , lại còn mua danh bán tước nhằm đoạt giải Nobel Hòa Bình ……. những thứ đó là giết hại Chân lý Thích Ca và Ngài hoàn toàn không giáo huấn như thế .

    Hầu hết bộ kinh Pháp Hoa mượn tiếng là do Như Lai thuyết giảng nhưng thực chất là hạ bệ và bôi nhọ Thích Ca không còn manh giáp . Nếu không đọc sâu nhìn kỷ thì bề ngoài cứ tin rằng quả thật do Thích Ca thuyết tức là Pháp Hoa đúng không sai . Ngay đức Phật phải tu qua 12 kiếp cũng không nhanh bằng thọ ký Pháp Hoa . Trong Phẩm 6 THỌ KÝ có ghi rõ :

    Biết tâm niệm của các đệ tử, Thế Tôn bèn bảo:

    “Ông Tu Bồ Đề, ở đời vị lai phụng thờ 300 muôn ức na-do-tha Phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, tròn đủ đạo Bồ tát. Thân rốt sau thành Phật hiệu Danh Tướng Như Lai, đầy đủ mười đức hiệu. Kiếp tên Hữu Bửu, nước tên Bửu Sanh, quốc độ bằng thẳng, đất lưu ly, cây báu trang nghiêm, hoa báu khắp đất. Không có các thứ nhiễm ô bất tịnh. Dân cõi nước đó chỗ ở đẹp đẽ, nguy nga, tráng lệ. Hàng đệ tử Thanh Văn đông không kể xiết. Chúng Bồ tát vô số ức na do tha. Đức Phật thọ 12 tiểu kiếp. Chánh pháp trụ ở đời 20 tiểu kiếp. Phật thường trụ trong hư không thuyết pháp độ thoát vô lượng Bồ tát và Thanh Văn.

    Rồi đức Thế Tôn cũng nói bài kệ lập lại ý nghĩa trên.

    Đức Thế Tôn dạy tiếp: Ông Ca Chiên Diên đời vị lai dùng các đồ cúng dường và phụng thờ 8.000 ức Phật. Sau khi chư Phật diệt độ, ông dựng tháp cao 1.000 do tuần, rộng 500 do tuần, toàn bằng vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não, san hô, hổ phách, còn cúng các thứ hoa thơm, chuỗi ngọc, hương xoa, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan….làm cho tháp miếu huy hoàng tráng lệ. Sau đó, lại cúng dường 20 muôn ức Phật nữa. Bấy giờ đầy đủ đạo Bồ tát, ông sẽ được thành Phật hiệu Diêm Phù Na Đề Kim Quang Như Lai đủ mười đức hiệu. Quốc độ của Phật toàn thất bảo hợp thành. Lan can trang trí bằng vàng ròng, châu ngọc báu lạ, cõi nước của Phật Kim Quang Như Lai không có bốn đường dữ: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và A tu la. Chỉ có Trời, người và vô lượng Thanh Văn, Bồ tát. Phật thọ mạng 12 tiểu kiếp, chánh pháp trụ thế 20 tiểu kiếp, tượng pháp cũng vậy.

    Đức Thế Tôn tuyên lại ý nghĩa trên bằng một bài kệ:

    Sau hết, Đức Phật thọ ký cho ông Đại Mục Kiền Liên rằng ông Đại Mục Kiền Liên sau nầy sẽ cúng dường 8.000 ức Phật. Sau các Phật diệt độ, dựng tháp miếu cao 1.000 do tuần, rộng 500 do tuần, cũng toàn bằng thất bảo. Trang trí hương hoa, chuỗi ngọc, vàng ròng, lọng nhiễu, tràng phan….để cúng dường trang nghiêm tháp miếu.

    Sau đó, lại cúng dường 200 muôn ức Phật, rồi được thành Phật hiệu: Đa ma la bạt chiên đàn hương đủ mười đức hiệu. Kiếp tên Hi Mãn, nước tên Ý Lạc. Quốc độ bằng thẳng. Đất pha lê cây vàng, lá bạc, hoa trân châu, khắp nơi sạch sẽ, ai thấy cũng hoan hỉ. Trời người vô số, Thanh Văn, Bồ tát không thể đếm xiết. Phật thọ 24 tiểu kiếp. Chánh pháp trụ thế 40 tiểu kiếp, tượng pháp cũng vậy.

    Thì ra Phương pháp tu Phật thừa mau thành chánh quả và hàng ngàn vị Phật như thế . Tại sao Phật Thích Ca giảng như vậy lại không tu lúc Ngài còn tại thế , đợi khi Ngài Tịch diệt 600 năm mới nói trong kinh Pháp Hoa để chúng sanh bắt chước ? Như vậy có đúng Như lai nói không hay Đại thừa – Tịnh độ phịa thêm ? Còn nữa . Ngón độc hạ bệ Thích đã thành Chánh Đẳng Chánh Giác còn THAM NHŨNG . Điều này đựơc tố cáo trong hành động nàng Long Nữ 8 tuổi đưa hối lộ cho Phật mà Tịnh độ đã dựng đứng và vu cáo một cách trắng trợn trong phẩm 12 ” ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA ” như sau :

    Bồ tát Đại Trí Văn Thù nói: Ở biển, tôi thường tuyên dạy Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bồ tát Trí Tích hỏi: Kinh nầy rất thâm diệu. Vậy có chúng sanh nào siêng tu theo kinh nầy mà mau thành Phật không? Bồ tát Văn Thù đáp: có con gái của Long vương mới lên tám tuổi mà đầy đủ trí đức, trong khoảnh khắc phát Bồ đề tâm là được bất thối chuyển, biện tài vô ngại, từ bi rộng lớn, công đức đầy đủ, có khả năng đến quả Bồ đề.

    Bồ tát Trí Tích nói: Chính đức Phật Thích Ca còn phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ, chứa nhiều công đức, làm những việc khó làm mới thành được đạo Bồ đề, làm sao tin được chuyện Long nữ trong chốc lát mà chứng thành Chánh giác.

    Luận đàm chưa dứt bỗng nhiên Long nữ hiện ra lễ Phật rồi đứng qua một bên nói bài kệ tán thán Pháp thân, Báo thân và Ứng thân Phật và cho biết là nàng do đã nghe được nghĩa “thật tướng” của nền giáo lý “nhất thừa” mà được chóng thành Bồ đề đạo. Nhưng việc nầy chỉ có Phật mới chứng biết mà thôi.

    Bấy giờ ông Xá Lợi Phất nói với Long nữ: Thân gái nhơ uế, có năm điều chướng ngại: không được làm Phạm thiên, Đế Thích, Ma Vương, Chuyển Luân Thánh Vương và Phật thì làm sao cô thành Phật được ? Vả lại con đường Phật xa vời phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ mới đi cùng mà cô nói tu không bao lâu là chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác làm sao tin được ?

    Long nữ liền lấy một hạt châu hiến dâng cho đức Phật. Phật nhận.

    Long nữ hỏi Trí Tích: Tôi hiến châu, Thế Tôn nhận lấy, việc ấy có mau chăng ?

    _ Mau. Trí Tích đáp !

    _ Ông hãy lấy sức thần của ông xem đây, tôi thành Phật còn mau hơn việc đó.

    Toàn thể chúng hội liền thấy Long nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ tát qua cõi Vô cấu ở phương Nam, ngồi tòa sen báu thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

    Bồ tát Trí Tích và Văn Thù làm thinh.

    Long nữ liền lấy một hạt châu hiến dâng cho đức Phật. Phật nhận.Chứng minh rằng Phật Thích Ca mang tội HỐI LỘ . Điều mà ngày nay thế giới lên án nặng nề mà Việt Nam là tệ trạng tham nhũng lớn nhất .

    Vì sao Long Nữ là thân gái chỉ nhờ lo lót cho Phật lại đựơc hoá thành Nam nhi để thọ Phật . Kỳ sau tôi sẽ đề cập đến vì sao thân gái ô uế khó mà chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác .

  18. Tom Nguyen nói:

    Đại thừa do Trung Hoa phịa thêm rất nhiều điều , nhưng điểm chính yếu làm sao triệt hạ uy tín Thích Ca . Họ chê Ngài phải qua bao nhiêu kiếp mới thành Phật . Điều mà ông Bồ tát Trí Tích nói: “Chính đức Phật Thích Ca còn phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ, chứa nhiều công đức, làm những việc khó làm mới thành được đạo Bồ đề, làm sao tin được chuyện Long nữ trong chốc lát mà chứng thành Chánh giác.” Thua xa cách tu Phật thừa của Tịnh độ . Trong khi giáo lý của Như Lai là tự tu để tiến lên đâu có dạy thờ cúng Thánh Thần nào khác , nhưng trong Kinh Pháp Hoa gán cho Ngài dạy đủ chuyện . Nào là Thế Tôn bèn bảo:

    “Ông Tu Bồ Đề, ở đời vị lai phụng thờ 300 muôn ức na-do-tha Phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, tròn đủ đạo Bồ tát. ”

    “Đức Phật thọ ký cho ông Đại Mục Kiền Liên rằng ông Đại Mục Kiền Liên sau nầy sẽ cúng dường 8.000 ức Phật. Sau các Phật diệt độ, dựng tháp miếu cao 1.000 do tuần, rộng 500 do tuần, cũng toàn bằng thất bảo. Trang trí hương hoa, chuỗi ngọc, vàng ròng, lọng nhiễu, tràng phan….để cúng dường trang nghiêm tháp miếu.

    Sau đó, lại cúng dường 200 muôn ức Phật, rồi được thành Phật hiệu: Đa ma la bạt chiên đàn hương đủ mười đức hiệu. Kiếp tên Hi Mãn, nước tên Ý Lạc ”

    Nghĩa là hết bái lạy , cầu nguyện và cúng dường …… đó là đừơng lối và thâm ý của Đại thừa – Tịnh độ . Không biết Phật Tàu Phù đâu mà 8000 ức Phật nhiều thế , nhưng hỏi ở đâu chẳng ai chỉ ra , kể các Đại lão , tiểu lão cũng mù tịt , thế mà không thiếu những bậc trí thức tin theo , kẻ cùng trí thấp hèn thì không nói đến . Đó là nổi đau của Như Lai và các Phật tử trí tuệ .

    Bây giờ vì sao muốn thành Phật như nàng Long Nữ mà phải hoá thân nam ? Tại sao thân nữ nhiều ô uế ? Vì hàng tháng người nữ phải bị kinh nguyệt nhơ nhớp là do trời phạt . Bản tánh người nữ ngoài gian ác , hiểm độc còn mang tánh ngạo mạng . Ngay cả loài vật con cái(nữ) bao giờ cũng giết con đực và bất nghĩa . Ví dụ : Con cua cái thay võ thì cua đực bảo vệ không cho con nào tấn công , ăn thịt . Nhưng cua đực thay võ ( lúc đó võ rất mềm ) thì cua cái đi kéo các cua khác đến ăn thịt . Con ong Chúa sau khi sex con ong đực nào bay theo kịp, mỗi lần giao hợp xong là ong Chúa chích chết ong đực . Con Bò ngựa cái sau khi ân ái là ăn thịt con đực ……. bản tính nữ là gian ác như thế , con người lại càng thâm hiểm hơn và độc ác hơn .

    Về tánh kiêu căng , ngạo mạng , thâm hiểm của người nữ là do điển tích kể lại . Khi tiểu tiện thì thân nam biết lễ độ , vái lại trời đất . Còn thân nữ thì kiêu ngạo không vái lại còn mở miệng cười ngạo trời :

    Nam nhi tiểu tiện bái bái thiên địa ,

    Nữ nhi bất phục điểm nhất tiếu .

    Thiên lôi nhãn thị hà thịnh nộ ,

    Nhất nguyệt thu hề xuất huyết thanh .

    Nghĩa là :

    Đàn ông đái xong thì lại trời đất ,

    Đàn bà không phục còn nhoẻn miệng cười .

    Ông trời thấy vậy bèn tức giận ,

    Bắt phạt mỗi tháng học máu một lần .

    Quý vị thấy lọai máu tươi là do trứng của người nữ vỡ ra khi không kết hợp với tinh trùng . Mỗi trứng là một sanh mạng con người tương lai . Vậy thì người nữ đã giết bao nhiêu mạng những đứa con tương lai của chính mình hàng tháng . Ngoài ra tinh trùng đàn ông mỗi lần giao hợp vào hàng triệu con , trong lúc nằm chờ trứng rụng ở tử cung người nữ , nếu trứng không rụng thì tử cung tiết ra một chất acit giết chết các tinh trùng đó , lại thêm một vụ đẩm máu , giết người rùng rợn . Đồng thời người nữ cũng đi đứng , nằm ngồi , uống nước nấu ăn , mỗi động tác là giết hàng triệu triệu sinh linh bằng người nam , cọng thêm hàng triệu trứng của họ và tinh trùng người nam , cho nên tội ác của người nữ gấp trăm ngàn lần người nam , những tội ác và ô uế như thế thì khó thành Phật . Muốn thành Phật như Long Nữ phải hối lộ ngọc quý cho Phật và phải biến qua thân nam mới thành Phật . Điều này Đại thừa viết ra quá lố bịch , cái điều đó không đứng vững thì không thể gọi là chân lý khi mà các nước Âu Mỹ ngày nay trọng thân nữ trước thân nam . Họ xếp đặt ưu tiên : Trẽ em – phụ nữ – chó – đàn ông . Như vậy thân đàn ông còn thua chó chứ đừng nói là nữ . Đại thừa chê bai , khinh khi nữ không còn hợp lý , tồn tại vào thế kỹ ngày nay . Điều này là Phật của Tịnh độ chứ không phải Phật Thích Ca dạy như vậy . Tà đạo thì sẽ thay đổi và đánh gục bởi thời gian và trí huệ của loài người tiến bộ .

    Qua sự kiện đó, ta thấy Kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa là kinh tối thượng ,tối tôn chỉ do Tàu Phù vẽ vời , sáng kiến rồi gán cho Thích ca , kinh này đối với Tịnh độ là cao quý nhất , nhưng không phải quí với mọi hạng Bồ tát trên cõi đời. Có người ham thích , nhất là người Việt ta , mà cũng có người không thể nghe êm tai và không thể chấp nhận . Nó trái nghịch với giáo lý Ngài Thích Ca 180 độ . Tôi nhận thấy không có điểm nào trong kinh Đại thừa là lời dạy của Thích ca . Những bài kinh Đại thừa hoàn toàn xoáy vào cầu nguyện ,cổ vũ cúng dường , phải tin tưởng tuyệt đối vào Pháp Hoa , không đựơc nghi ngờ , nhắm mắt tụng niệm ngày này qua ngày nọ chết bỏ . Những điều này chẳng khác gì giáo lý Kito . Vừa cực đoan , vừa yếm thế , vừa nhu nhược tham lam , hối lộ , cầu cạnh , đút lót đủ điều chẳng khác chi ngoài xã hội trần tục …….

    Nói tóm lại Tịnh độ cũng như Kito là những tập đoàn thế tục đội lốt tôn giáo nhằm thống trị , đô hộ và cai trị con người bằng những giáo lý mù quáng như thế . Đó không phải là tôn giáo cao thượng , thuần lý như giáo lý Thích Ca . Những con người manh tâm chính trị , thống lãnh và nhằm đô hộ , đào tạo cho con người nguyện làm nô lệ , tôi tớ đời đời cho tập đoàn tu sĩ mà thôi .

    Khi quý vị đọc kinh Pháp Hoa đến PHẨM 14 : AN LẠC HẠNH , nếu các thầy , Giáo Hội và tập đoàn Lotuspro tu theo Tịnh độ cũng biết đọan kinh An Lạc Hạnh dạy thế nào ?

    3. An lạc hạnh:

    Phật nói tiếp: Sau Như Lai diệt độ, trong đời mạt pháp muốn nói kinh nầy, Bồ tát phải ở yên trong “An lạc hạnh”. Nghĩa là, khi nói cũng như khi đọc kinh nầy, chẳng nên nói đến sự sai quấy của người và của kinh điển, cũng chẳng nên có lòng khinh rẻ, kiêu ngạo đối với các Pháp sư, chẳng nên nói đến sự tốt xấu, hay dở của người khác. Đối với hàng Thanh Văn, chẳng nên kêu đích danh mà vạch sự sai lầm, gàn dở của họ, cũng không nên kêu đích danh mà khen tặng cái hay của họ, lại cũng không sanh tâm thù hiềm. Khéo sửa lòng cho được an lạc như vậy thì không làm nghịch ý người nghe. Còn có ai vấn nạn thì đừng giải đáp bằng pháp tiểu thừa, mà bằng pháp đại thừa, để cho người hỏi được Chánh giác.

    Bồ tát muốn thuyết pháp phải giữ lòng an vui, trong sạch, thân thể phải tắm rửa cho sạch, mặc y mới. Nói tóm là trong ngoài phải thanh tịnh, nhiên hậu mới lên ngồi pháp tòa, tùy lời hỏi của người mà giảng. Đối với người vì Đạo thì đem diệu nghĩa ra mà dạy, mặt mày hòa nhã. Đối với người vấn nạn, thì tùy nghĩa mà đáp, khi thì dùng nhân duyên, khi thì dùng thí dụ mà diễn mà giải rạch ròi, để lần hồi dẫn dắt họ vào đường sáng (Phật Đạo). Tự mình, phải trừ mọi ý niệm ỷ lại, mọi tư tưởng lười biếng, xa lìa mọi lo nghĩ, buồn rầu. Mở rộng lòng từ, ngày đêm nói pháp để mở mắt cho chúng sanh mà không bao giờ mong cầu sự cúng dường, chỉ một lòng tưởng nhớ đến việc lấy pháp làm nhân duyên để thành Phật đạo, khiến người nghe cũng cùng một tâm niệm.

    Trong thời mạt pháp, Bồ tát nào thọ trì, đọc tụng kinh này thì không nên chứa chấp sự ganh ghét, tà vạy, khinh khi người học Phật, không làm cho hàng tu hành chán nản, cũng không nên đem Đạo Pháp ra bàn chơi, tranh cãi. Phải:

    _ Đối với tất cả chúng sanh, khởi lòng đại bi.
    _ Đối với chư Như Lai, sanh lòng kính trọng như Cha lành.
    _ Đối với Bồ tát, sanh lòng tôn kính như Thầy.
    _ Đối với mười phương Bồ tát, sanh lòng cung kính cúng dường.

    Thực hiện đầy đủ pháp “an lạc” thứ ba nầy, thì khi thuyết kinh, không làm cho người nghe hoang mang, được người cùng theo mình mà đọc tụng, còn đại chúng sẽ tới nghe lãnh lời kinh, lãnh rồi nắm giữ, giữ rồi sẽ đọc, đọc rồi sẽ thuyết, thuyết rồi sẽ chép và khiến người cùng chép.

    Có lẽ quý thầy và Giáo Hội PGVN không thuộc kinh Pháp Hoa dạy đoạn này : chẳng nên nói đến sự sai quấy của người và của kinh điển, cũng chẳng nên có lòng khinh rẻ, kiêu ngạo đối với các Pháp sư, chẳng nên nói đến sự tốt xấu, hay dở của người khác. Vì vậy mới công kích , chống đối , bôi nhọ thầy Chân Quang, Thích Thông Lạc v.v… đã giác ngộ và hiểu thâm sâu chân lý của Đức Phật mà thuyết giảng . Tuy thầy tu sau nhưng tri kiến của thầy giống Lục Tổ Huệ Năng . Thầy lại xuất thân từ nghèo hèn , bần cùng giống hoàn cảnh Lục Tổ . Thầy giảng ” Ăn cá đựơc phước ” nhưng trình độ của nhóm thầy tu Thần Tú tân thời ngày nay chưa hiểu thấu nên tụ tập ngày đêm la ó . Kẻ mắng người chửi , đòi thu băng giảng , kinh sách , người thì lo cắt xén phim ảnh để tuyên truyền , nhất là mấy mụ Phật tử đựơc dịp la mắng , ăn nói hổn hào khi đựơc các thầy khuyến khích . Đặt giả sử thầy Chân Quang giảng sai đi nửa các thầy cũng không nên làm như thế , huống gì kích động cho nhóm phường tuồng , chợ đò đối với một vị tu sĩ của Như Lai , rồi còn khinh rẻ , kiêu ngạo đối với thầy và cũng không đựơc nói đến chuyện tốt xấu . Các thầy thì cùng ở trong hoàn cảnh của các bậc tu hành , còn các Phật tử thì vào hạng con cái .Nói xấu thầy này thì cũng sẽ nói xấu thầy khác , điều đó là cấm kỵ lúc phỉ báng Tăng . Cho nên dột từ nóc dột xuống , sai từ Đại lão cho đến Hoà thượng , Giáo hội sai xuống . Chẳng qua vì chút lợi ích bán băng đĩa , sách báo , áo quần mà thầy chùa cùng Phật tử cạnh tranh nhau đem ra bôi nhọ đấu đá không chừa một danh từ nhơ bẩn nào . Có xứng đáng là trưởng tử Như Lai không ? Như vậy thấy Phật giáo có đẹp mặt đẹp mày không ?

    Những người đã mang tiếng xuất gia học Phật thì hảy quên đi lợi nhuận , danh lợi cá nhân . Ở đây hầu hết các thầy không làm đựơc điều đó . Đối với dân tộc thì các thầy tiếp tay Đại thừa ru ngũ làm mềm yếu đi tinh thần Độc lập của Dân tộc , đối với đạo pháp thì lo cũng cố chùa to , Phật tử đóng góp nhiều . Các thầy không nghĩ gì đến quyền lợi đất nước , ngay chuyện tổ chức cho qui y để có số Phật tử theo đạo Phật rõ ràng . Giáo Hội phải thống nhất và lập danh sách ghi tên con số Phật tử đang có . Thay làm những chuyện vì tồn vong của đạo Phật , các thầy không làm . Thầy thì đấu tranh chính trị , cấu kết với ngoại quốc để khuấy động sự bình an của đất nước . Thầy thì lo kinh doanh , xuất ngoại thuyết giảng kiếm tiền , cạnh tranh buôn bán băng đĩa . Tất cả những người như thế đều có tội với Tổ quốc và đạo pháp . Trí tuệ của các thầy để ở đâu ? Nhìn chung quý thầy chưa làm tròn bổn phận đệ tử Như Lai , chưa xứng đáng là bậc thầy lãnh đạo tinh thần , chưa áp dụng trí huệ để nhận xét kinh điển , không dành thời giờ dịch kinh ra Việt ngữ để giáo hoá Phật tử đựơc dễ dàng . Nói tóm lại tất cả các thầy đều có lỗi phải sám hối , nhất là làm sao cởi cái ách nô lệ tâm linh của Đại thừa suốt mấy ngàn năm nay ra khỏi đất nước Việt Nam .

    • Phan Hoàng Sơn nói:

      Cám ơn trang web này. Những người tham gia đều rất công phu trình bày cái dở cái tà của Bắc tông.
      Đối với ngươì chân chính học Phật, không cần nói nhiều.
      Chỉ khổ cho nhiều người u mê, theo bắc tông từ thờ thầy tổ cho đến tận ngày nay mà chưa thoát vòng kim cô của tà giáo.

  19. Tom Nguyen nói:

    Càng đi sâu vào kinh Pháp Hoa càng thấy sự gán ép cho Thích Ca nói và làm quá sức mù quáng đầy mê tín dị đoan . Pháp Hoa càng đọc càng nặng mùi theo lối truyện Tàu loại kiếm hiệp Kim Dung . Kinh kể lại những chuyện phù phép biến hoá thần thông , đi mây về gió , độn thổ thăng thiên . Điều đó không ai cấm đóan vì đầu óc nhiều tưởng tượng của người Tàu vốn có từ xưa nay . Sự đáng trách là những chuyện hoang đừơng đó lại gán cho Bổn Sư thuyết giảng , đây là một hình thức bôi nhọ và huyền thoại . Trong Phẩm 15 :TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT người Hoa lúc nào cũng ca tụng bộ kinh Pháp Hoa , nhưng hầu hết là nhằm tuyên truyền , ca tụng và nhắc nhủ đọc tụng , in chép . Thử hỏi thời đức Phật làm gì có chuông mõ , hết công phu khuya đến công phu sáng để tụng niệm . Chúng ta thử đọc đọan đối thọai của Như Lai trong phẩm này thật là buồn cười đầy thế tục :

    Lúc bấy giờ, các Bồ tát, nguyên từ các nước phương khác lại, đông hơn cát của tám sông Hằng, ở trong đại chúng, đồng đứng dậy chắp tay bạch Phật: “Thế Tôn ! Nếu Thế Tôn nhận lời, chúng con nguyện, sau khi Phật diệt độ, sẽ rộng nói kinh Pháp Hoa ở thế giới Ta bà, để gia tăng tinh tấn và hộ trì những người đọc tụng, sao chép, cúng dường kinh này”.

    Phật đáp: “Thôi khỏi. Này Thiện nam tử ! Không cần các con hộ trì kinh nầy. Vì sao ? Vì thế giới Ta bà của ta tự có Bồ tát đông như cát của sáu muôn sông Hằng. Những Bồ tát và quyến thuộc ấy, sau khi ta diệt độ, sẽ có khả năng giữ gìn, đọc tụng, rộng nói kinh này”.

    Lúc Phật nói lời này, trong ba ngàn đại thiên quốc độ ở thế giới Ta bà, đất đều rung nứt, và từ trong lòng đất, vô lượng ngàn muôn ức Bồ tát đồng thời vọt lên. Các Bồ tát ấy, thân như vàng ròng, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, sáng ánh khôn lường, trước kia trú trong hư không của chỗ thấp nhất ở thế giới Ta bà, nay nghe tiếng của Phật Thích Ca, nên từ chỗ thấp ấy mà xuất hiện đến. Mỗi mỗi Bồ tát đều là bậc thủ lãnh dẫn đường cho đại chúng và mỗi vị đều có hoặc sáu, hoặc năm, bốn, ba, hai, một muôn hằng sa quyến thuộc, hoặc một hằng hà sa, nửa hằng hà sa, một phần hằng hà sa hay một phần trong ngàn ức na do tha phần hằng hà sa, hoặc từ ngàn muôn ức na do tha sụt lần xuống cho tới một muôn, một ngàn, một trăm, mười, năm, bốn, ba, hai, một quyến thuộc đệ tử. Lại cũng có những Bồ tát chỉ có một mình, thích hạnh “viễn ly”. Tất cả các Bồ tát ấy đông vô số kể.

    Từ dưới đất vọt lên rồi, Các Bồ tát ấy đều đến ngọn tháp bảy báu nhiệm mầu trên hư không, là chỗ Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca đang ngự, vập đầu xuống chân làm lễ, rồi lại đến tòa sư tử, dưới cột báu, chỗ Phật ngồi mà làm lễ. Xong, các vị đi quanh bên mặt Phật ba vòng, rồi chắp tay cung kính chiêm ngưỡng Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca.

    Từ lúc các Bồ tát xuất hiện cho đến khi làm lễ xưng tán Phật, một khoảng thời gian trôi qua, lâu năm mươi tiểu kiếp.

    Ai đã nghe mà bảo Phật đáp: “Thôi khỏi. ? Trong ba lần kiết tập kinh điễn không thấy Ngài A Nan , Ca Diếp hay bất cứ một Đại đệ tử nào nhắc những câu chuyện như thế . Lại còn chuyện vô lượng ngàn muôn ức Bồ tát đồng thời từ dưới đất vọt lên . Nhân vật Phật Đa Bảo gốc tích từ đâu mà lại cùng Phật Thích Ca đang ngự ở toà sen để các vị Bồ tát vập đầu xuống chân làm lễ, rồi lại đến tòa sư tử, dưới cột báu, chỗ Phật ngồi mà làm lễ nữa ? Rỏ ràng người Hoa muốn dựng đứng Phật Đa Bảo là cùng thời và giáo chủ Phật giáo là người Hoa . Sự dối trá và đánh bóng những Phật Tàu quá lố và hoàn toàn dối trá , vậy mà những Đại lão gọi là Cao tăng không một chút thắc mắc và đặt dấu hỏi . Kinh Pháp Hoa nêu rõ ràng là Phật Đa Bảo cùng lãnh đạo với Thích Ca vào thời ấy . Câu kinh này thấy rõ nhất :”Xong, các vị đi quanh bên mặt Phật ba vòng, rồi chắp tay cung kính chiêm ngưỡng Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca.”( xem như hai giáo chủ ) .

    Như Lai sống một kiếp chỉ 80 năm , vậy mà thời gian các Bồ Tát làm lễ Phật Đa Bảo và Thích Ca lâu bằng 50 tiểu kiếp , câu kinh chứng minh : “Từ lúc các Bồ tát xuất hiện cho đến khi làm lễ xưng tán Phật, một khoảng thời gian trôi qua, lâu năm mươi tiểu kiếp.” Chuyện bố láo còn hơn cả Thần Thánh phù phép không thể tin đựơc , vậy mà các sư Đại thừa vẫn nghe theo và tin tuyệt đối . Đúng là ” Phúc cho ai không thấy mà tin ” . Cho nên Phật giáo Đại thừa bị Tây phương phê phán là đạo Phật cứu rỗi quả không ngoa . Vì vậy phần nhiều các con chiên sau khi có thiện cảm với đạo Phật đã quay về với Chúa , họ không thấy gì gọi là mới lạ ở đạo Phật . Phật giáo Đại thừa đã làm những điều mà Kito giáo đã làm . Nếu Tây phương đọc giáo lý giải thóat của Thích Ca thì họ không có so sánh và đặt cái nhìn với Phật giáo như thế .

    Nếu các chư tăng Đại thừa có trí huệ thì biết đặt câu hỏi giống như Bồ tát Di Lặc cùng tám ngàn hằng sa Bồ tát trong pháp hội đều thắc mắc hỏi Phật :

    “Nguyện Thế Tôn cho chúng con biết, vô lượng Bồ tát này từ đâu mà đến và nhóm họp để làm gì ? Ai đã thuyết pháp giáo hóa cho các vị ? Các vị đã theo ai mà pháp tâm, đã thọ trì và thực hành kinh điển thế nào ? Lại tu tập Phật đạo nào mà sức trí thần thông to lớn như thế ? Bạch Thế Tôn, chúng con chưa từng thấy một việc như vậy. Con thường đi qua nhiều nước, gặp gỡ nhiều người, chưa hề biết một vị trong số Bồ tát ấy. Vậy kính xin Thế Tôn nói cho con biết các Bồ tát ấy ở nước nào đến mà hốt nhiên từ đất vọt lên”.

    Nếu một vị Phật hay Bồ Tát thôi cũng có căn gốc , lý lịch rõ ràng , giáo lý dạy gì và hành đạo ở đâu ? Bao lâu ? v.v……
    Chúng ta thấy kinh Pháp Hoa diễn dịch lồi trước láo sau và cứ lấy Thích Ca làm bia đở đạn cho cái gọi là Pháp Hoa mà tồn tại .

    Càng đi sâu vào Pháp Hoa tôi càng thịnh nộ mấy tổ sư Ba Tàu chửi xiêng , chửi xéo Như Lai qua các câu chuyện ẩn dụ một cách vô liêm sĩ. Trong phẩm 16 nói về NHƯ LAI THỌ LƯỢNG Pháp Hoa đã kể câu chuyện người cha và mấy đứa con :

    Thí dụ có một ông thầy thuốc giỏi, trí tuệ sáng suốt, phương dược khéo luyện, bệnh nào cũng trị hết, nhà con cái rất đông. Gặp lúc ông có việc phải đi ra nước ngoài, các con ở nhà uống phải thuốc độc, cơn điên nổi lên, té nằm dưới đất. Ngay lúc đó ông cha về đến nhà. Các con của ông, có đứa mất tâm, có đứa còn tâm, nhưng khi xa thấy cha về, tất cả đều vui mừng quỳ lạy, chào hỏi và thưa: “Rằng vì ngu si nên uống phải độc dược, xin cha cứu tử”. Cha thấy con khổ não như vậy, bèn theo các phương pháp đã kinh nghiệm mà chế thuốc, màu sắc hương vị đều tốt đẹp và bảo các con uống: “Đây là lương dược, mùi ngon, sắc đẹp, các con hãy uống đi thì sẽ mau trừ khổ não và bao nhiêu khổ hoạn sẽ không tái phục”.

    Những đứa không mất tâm nghe xong liền uống và được hết bệnh. Còn những đứa mất tâm, tuy thấy cha cũng vui mừng, cầu xin chữa bệnh, nhưng thuốc thì không chịu uống. Vì sao? Vì bị độc thấm sâu, đã mất tâm trí rồi, cho nên thuốc ngon, sắc đẹp lại cho là không ngon không đẹp. Ông cha thấy vậy mới suy nghĩ: Những đứa con nầy mới đáng thương, thấy cha vui mừng cầu cứu, nhưng khi cho thuốc lại không chịu uống. Ấy cũng vì bị chất độc cho nên tâm trí đều điên đảo. Vậy phải dùng chước mới được. Nghĩ xong ông mới nói rằng: “Cha nay già yếu, sắp chết nay mai, có mấy món thuốc hay để lại, các con nên giữ mà dùng, khỏi sợ lầm thuốc dở. Nói rồi ông bỏ nhà ra đi qua nước khác và cho người về báo tin ông đã chết. Hay tin dữ, các con mất tâm của ông mới nghĩ, cha lành đã chết thì nay còn ai đâu mà cứu hộ cho mình! Vì thường nhớ thương như thế, tâm bèn tỉnh ngộ, biết thuốc của cha để lại là hay, liền lấy ra dùng, bao nhiêu độc bệnh đều lành hết. Nghe tin nầy, ông cha trở về xứ cho con cái thấy mặt.

    Đại thừa bịa đặt ra câu chuyện này nhằm tố giác Như Lai là KẺ NÓI DỐI , mặc dù giới luật Ngài cấm tất cả không được nói dối , hay chỉ Ngài là có quyền mà cấm tất cả đệ tử nói dối , như thế đâu còn là Như Lai. Thế mà Tịnh độ dám bịa chuyện cho rằng Thích Ca đã nói dối. Đức Phật hỏi tiếp :

    “Này thiện nam tử, các ngươi nghĩ thế nào ? Nói dối như ông lương y kia, có phải là một tội không?”

    “Bạch Thế Tôn, không”.

    Đức Phật nói: “Ta cũng thế. Từ thành Phật đến nay, vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp, nhưng vì muốn cứu độ chúng sanh, cho nên phương tiện mà nói là sẽ diệt độ. Như vậy, đối với sự thật, cũng không thể nói rằng ta đã phạm tội nói sai nói dối “.

    Khi đã nói dối thì không biện bạch một lý do gì. Ở đây Đại thừa muốn lương lẹo nhằm chửi xéo , hạ bệ Như Lai. Vì Như Lai nhận thức tam giới đúng như thật: không có sanh tử, không vào, không ra cũng không có người đời và người diệt độ. Nó chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải như, chẳng phải dị, chẳng phải như ba cõi mà thấy ba cõi. Các việc như thế, Như Lai thấy rõ không sai lầm. Chúng sanh có nhiều căn tánh, nhiều mong muốn, nhiều nết hạnh khác nhau, Như Lai vận dụng nhân duyên, thí dụ, lời lẽ thuyết pháp làm Phật sự rồi nói có xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập Niết bàn. Vì vậy thầy Chân Quang giảng bài ” Chánh đạo ” phải tùy phương tiện và trình độ chúng sanh mà dạy , nhưng có người văn sĩ Quỳnh Giao vì không hiểu tý nào về Phật pháp lại chửi thầy giảng bá láp ,cũng chính là chửi Thích Ca như Đại thừa đang chửi vậy. ” Like father like son ” ( cha nào con nấy ) , bà ta giống nhóm thầy tu Thần Tú Lotuspro đội lốt Phật giáo thì chẳng có chi là lạ. Đúng là thời loạn pháp.

    Nói chung bộ kinh Pháp Hoa hầu hết không ngoài mục đích nâng cao Phật Tàu phù A Di Đà , Di Lặc , Quán Âm , Phồ Hiền ….và gán vào miệng Ngài Thích Ca những giáo điều bi quan , yếm thế nhằm cổ động cho một giáo lý cứu rỗi . Nay tôi tạm dừng kinh Pháp Hoa của Đại thừa ở đây để phân tích và nhận định về Mật tông cũng dựa vào Phật Thích Ca để phá đạo Phật giống như Đại Thừa – Tịnh Độ . Mật Tông thịnh hành ở Tây Tạng cũng là lãnh thổ của Trung Hoa . Tôi tạm gát kinh Pháp Hoa ở đây để trình bày sự đánh phá , bôi nhọ Phật Tổ của Mật Tông qua cách hành đạo dâm dục mà Thầy Chân Quang dám vạch trần đã bị đồng đạo Đại Thừa lên án , bôi nhọ , tẩy chay ….. việc tạm ngừng Đại Thừa ở đây nhằm tránh sự nhàm chán cho độc giả .

  20. Tom Nguyen nói:

    Nếu nói rằng : Mật tông là một phương thức tu riêng của một tông phái thì không ai bàn đến , mục đích tu là gì , phương pháp tu như thế nào thì đó là quyền của họ . Mỗi vị tổ sư có quyền sáng tác thêm những cách thức để hành đạo , làm sao có người tin và nghe theo là đựơc . Nhưng trên phương diện chân lý và đạo đức , dù là tôn giáo hay tông phái nào cũng phải nhắm đến đạo hạnh , tình thương và nhân ái . Như các giáo phái Hồi giáo ở Trung Đông tuyên truyền rằng :” Ôm bom tự sát giết kẻ thù sau khi chết sẽ đựơc lên thiên đàng ở cùng Chúa ” . Đó là một cách thức dạy giết người được che đậy bằng những hứa hẹn hảo huyền vô nhân đạo . Cũng vậy , Mật tông viết kinh đưa ra phương pháp tu hành mà theo họ là giải thóat nhanh nhất :

    PHƯƠNG PHÁP MẬT TÔNG

    Theo Kinh thừa, con đường thành tựu tuệ giác là một tiến trình tuần tự thanh lọc tâm thức khỏi những lỗi lầm và giới hạn, để thay vào đấy, phát huy những đức tính như trí tuệ, từ bi. Con đường này bao gồm việc tạo những nhân tố đặc biệt như giữ giới, phát triển khả năng tập trung và đào luyện thiền minh sát, vân vân, để tương lai sẽ đạt được sự tỉnh thức toàn vẹn. Chính vì nhấn mạnh đến việc tạo nhân tố cho một kết quả tương lai, mà phương pháp kinh thừa hay tiệm giáo đôi khi còn gọi là “nhân thừa” (nhân với nghĩa nguyên nhân) để đưa đến giác ngộ.

    So với phương pháp tiệm giáo của kinh thừa, thì Mật thừa là con đường tiến đến giác ngộ nhanh hơn rất nhiều. Mặc dù hành giả Mật thừa cũng không xao lãng việc gieo nhân như hành giả Kinh thừa, song họ lấy hậu quả tương lai của sự tu hành làm khởi điểm tu tập. Nói cách khác, hành giả Mật thừa tập nghĩ, nói và làm ngay trong hiện tại như thể họ đã là một đức phật. Vì phương pháp mãnh liệt này – đưa hậu quả toàn giác vào giây phút hiện tại, khi đang tu – mà Mật tông còn được gọi là “quả thừa” đưa đến giác ngộ.

    Theo Mật tông, sự toàn vẹn không phải đang chờ đợi chúng ta ở một thời điểm nào trong tương lai, theo kiểu suy tư “Nếu bây giờ tôi tu hành nghiêm túc, tương lai tôi sẽ thành Phật” hay “Nếu đời này tôi có đạo đức, đời sau tôi sẽ được lên thiên đàng.” Theo Mật tông, thiên đàng là ngay bây giờ: chúng ta đáng lý là những vị trời ngay trong hiện tại; song chúng ta lại bị vướng bận những khái niệm hạn cuộc như đàn ông là thế này, phụ nữ là thế kia, tôi sinh ra đã là thế ấy không thể khác, vân vân. Đấy là lý do ta có những xung đột nội tâm và xung đột với người khác. Mọi xung đột này sẽ tan biến nếu ta luyện tập theo quan điểm mật tông, nghĩa là nhận chân rằng mỗi một người nam hay nữ bản chất đều tự đầy đủ, toàn vẹn. Hơn thế nữa, mỗi người nam nữ đều chứa cả hai năng lực âm dương. Thực tế là mỗi người trong chúng ta đều là một hợp thể của tất cả năng lực vũ trụ. Tất cả những gì ta cần để được toàn vẹn đều đã sẵn trong ta ngay giờ phút này, chỉ có điều là ta có khả năng nhận thức điều ấy hay không. Đấy là cái nhìn theo Mật giáo.

    Họ cho thiên đàng là ở thế gian này . Theo Mật tông, thiên đàng là ngay bây giờ: chúng ta đáng lý là những vị trời ngay trong hiện tại , chúng ta cũng là Thượng Đế , song chúng ta lại bị vướng bận những khái niệm hạn cuộc như đàn ông là thế này, phụ nữ là thế kia, tôi sinh ra đã là thế ấy không thể khác, vân vân nghĩa là thiên đàng là cuộc sống đầy ý nghĩa , chỉ cần hạnh phúc giữa nam và nữ là thấy thiên đàng . Điều này cũng giống nhà văn hào Jean Paul Sarte đã viết trong cuốn ” La nausé ” ( Nôn mữa ) như sau :

    ” Âm hộ là một hố sâu thâm thẩm và ươn ứơt mà nơi đó người ta tìm ra Thượng Đế”

    Như vậy khi ta hạnh phúc , sung sướng chính là ta đã hội ngộ với Thượng Đế , hay đang ở Thiên đàng , Tây phương cực lạc .

    Giáo lý VÔ THƯỜNG của Như Lai bao trùm lên tất cả vạn vật , ngày nay khoa học cũng chứng minh, vũ trụ vật chất với muôn ngàn trạng thái, từ những hạt phân tử nhỏ li ti đến những tinh vân lớn nhất, tất cả đều ở trong một trạng thái chuyển hóa không ngừng và tiến hóa từ một dạng năng lượng này đến dạng năng lượng khác. Thân thể và trí huệ của chúng ta cũng là một năng lượng: ta mạnh khỏe hay đau ốm, tâm trí quân bình hay mất bình thường , đều tùy thuộc sự kiện các năng lượng tâm vật lý trong ta có nhịp nhàng hòa điệu hay không. Họ cho rằng nếu chúng ta thực hành Mật tông đúng phương pháp, tất cả năng lượng trong thân thể chúng ta, kể cả những năng lượng vi tế rất mãnh liệt thông thường nhất , chúng ta không ý thức hay biết đến, đều được xử dụng để tựu thành sự chuyển hóa quan trọng nhất trong mọi cuộc chuyển hóa, đó là từ một con người phàm tình mê muội hạn cuộc trong cái bản ngã của chúng ta để trở thành một con người hoàn toàn tỉnh giác có lòng bi mẫn và tri kiến bao la như các vị Phật .

    Mật tông quan niệm và cho rằng trong cuộc sống con người luôn luôn bị dục vọng lôi cuốn . Suốt ngày đêm , từ khi thức dậy cho đến lúc đi ngủ, cả trong những giấc mơ, chúng ta luôn luôn bị dục vọng đòi hỏi , lôi cuốn một cách mãnh liệt . Mỗi giác quan là một sự ham muốn khác nhau . Con mắt ưa nhìn những cái đẹp và luôn luôn để ý , soi mói những chỗ thầm kín nhất của phái nữ , đôi môi muốn hôn một cách nồng thấm và chiếc lưỡi tìm kiếm những vị ngon ngọt , mới lạ, và xúc giác ta thì luôn luôn khát khao gặp gỡ những loại xác thịt khác giới tính .
    Lòng ham muốn đối với sự kích thích giác quan ấy vốn ăn sâu tận gốc rễ trong thân , tâm chúng ta đến nỗi nếu bị cô lập khỏi sắc thanh hương vị xúc trong một thời gian dài, ta sẽ khởi sự có những ảo giác mơ tưởng về chúng. Trong cuộc sống , con người ao ứơc đạt đến thành quả không những về vật chất , tiền tài mà ngay cả xác thịt ,chính lòng ham muốn dưới mỗi một hình thức này hay hình thức khác, đã thúc đẩy ta phải thành công trong lãnh vực ấy hầu thỏa mãn dục vọng . Lòng ham muốn là một phần bất khả phân trong đời sống như hình với bóng , đến nỗi người ta coi cuộc đời mà không có ham muốn thì chẳng khác gì một cái chết đang sống , hoặc nôm na hơn là một tu sĩ đang gậm nhắm cuộc đời .

    Mật tông đưa ra lý luận sự giác ngộ có thể do từ hưởng lạc thú mà thành , điều này họ nghĩ về phương diện vật chất có tính cách thể xác nhất thời.Giải thoát trong Phật giáo là đi ra hẳn mọi khổ đau vĩnh viển. Khi bạn ham muốn tình dục được thoả mãn , có thể bạn thấy khoái cảm và có người nói lúc đó họ ” gặp Thượng Đế ” là tuỳ ý của họ . Nhưng Mật tông không thể dẫn dụ chuyện đức phật Thích Ca có những giai đoạn chứng minh sự thù thắng của phương pháp sử dụng ham muốn như ăn uống , có một đời sống tu sĩ tương đối hơn là phương pháp ép xác, đè nén dục vọng. Lúc từ bỏ đời sống đam mê khoái lạc và khởi sự đi tìm phương pháp diệt khổ. Sự tu ép xác khi Ngài nhịn ăn, từ bỏ các tiện nghi đến nỗi cuối cùng thân thể ngài chỉ còn là một bộ xương. Sau sáu năm khổ hạnh, Ngài thấy phương pháp ấy vô hiệu và Ngài quyết định đi theo con đường khác , Ngài đã chấm dứt tuyệt thực và nhận một bát cháo do tín nữ Sujata dâng cúng. Điều này đã đem lại một hiệu quả to lớn , thần tình cho cơ thể lẫn tâm trí, lúc đó Ngài trở thành dũng mãnh, sáng suốt , an lạc. Khi Ngài ngồi thiền 49 ngày đêm dưới cội Bồ đề rồi đạt toàn giác, chứng tỏ đã đúng lúc Ngài nên từ bỏ lối tu khổ hạnh. Theo quan điểm và lý luận của Mật tông ” những sự cố này cho thấy rằng biết xử dụng lạc thú là một phương pháp sâu xa và hiệu quả hơn ép xác khổ hạnh rất nhiều.” Vấn đề ăn uống là nhằm nuôi sống và bồi bổ thân thể không thể so sánh sự kiện này với tình dục. Vì sau khi làm tình tuy có thoả mãn , khoái cảm nhất thời về lòng ham muốn , nhưng thể xác uể oải , rã rời vì mất nhiều sức lực . Điều mà Mật tông muốn gán ép giữa hai vấn đề như là một sự khoái cảm chung để rồi họ gọi đó là giải thoát là không đứng vững .

    Không hiểu câu chuyện Phật giảng cho ông vua có thật viết thêm , khi ông vua đến xin ngài chỉ dạy một phương pháp tu hành thích hợp cho một người bận nhiều phận sự đa đoan. Vua nói :

    -Con có phận sự chăm lo cho thần dân, con thực không nên bỏ bê quần chúng. Con không thể làm như Ngài, từ bỏ mọi sự để vào rừng tu khổ hạnh. Con cần biết cách làm sao có thể dùng ngay sinh hoạt của một vương gia làm đường lối tu hành. Bởi thế, xin đức Thế tôn dạy cho con cách chuyển hóa những hành vi thường nhật của một vị vua thành pháp tu.

    Đức Phật trả lời :

    -Quả thực ngài có một phương pháp như vậy, đó là pháp thực hành Mật tông. “Với phương pháp này nhà vua có thể tiếp tục thi hành phận sự của mình, mà lại không cần phải từ bỏ một thứ lạc thú vương giả nào hết.”

    Đó là cái lý lẽ của Mật tông muốn biện luận cho tình dục nhằm thoả mãn thú tánh con người. Khi tu là từ bỏ tất cả những ham muốn thể xác , vật chất , tiền tài…… Những thứ đó liên hoàn với cấu kết với nhau như một mắc xích nhằm đưa đến tội lỗi. Ví dụ : Tôi muốn có vợ đẹp đương nhiên phải học cao , làm thật nhiều tiền bất chấp thủ đoạn , có khi gây oán thù. Mục đích tối hậu là ” có tiền mua tiên cũng được “. Nếu nghèo xơ xác , bụng không đủ no làm sao còn ham muốn dục vọng? Phải chăng Mật tông có con mắt nhìn tổng thể , đầy quyền uy của một tu sĩ khi muốn thoả mãn dục vọng nên có thể làm tình với bất cứ phụ nữ nào cũng được do giáo lý về tình dục là giải thoát như là một chiếc chìa khoá thiên đường nếu những phụ nữ đó muốn đạt đến. Đây là một trò ma mảnh trong đường tu. Cũng giống như Hồi giáo nhồi sọ ” Ôm bom tự sát là được lên thiên đàng sống cùng Chúa , còn được nhiều bà vợ xinh đẹp “. Những giáo điều như thế không thể gọi là chân lý và giải thoát được. Cho nên dù Mật tông hay Tịnh độ dựa vào Thích Ca để đưa ra những giáo lý mới nhằm tính cách lợi ích , thoả mãn cho cá nhân , những điều đó hoàn toàn trái ngược những gì Thích Ca đã từ bỏ để ra đi tìm đường cứu khổ. Không lẽ ngày xưa Ngài xa lánh danh vọng , tiền tài , dục tính thì sau khi đạt đến giác ngộ Ngài quay trở lại dạy , hay hô hào cúi đầu cầu nguyện xin cứu rỗi , hay lấy lạc thú làm cứu cánh trong vấn đề giác ngộ. Điều ấy hoàn toàn mâu thuẩn không những trong nội tại mà ngay cả trí tuệ cũng không bao giờ cho phép. Đây chính là một minh chứng rõ ràng nhất để các bạn nhận định đúng – sai để tin tưởng về chân lý Như Lai mà không theo Mật tông hay Tịnh độ tông .

    Vấn đề dục vọng là một trong những rào cản lớn nhất trên bước đường tu tập. Nhưng điều đáng buồn thay Mật tông lại cổ xúy , bày vẽ ,hướng dẫn phương thức hành lạc làm sao được lâu , những vùng cấm địa nào khoái cảm ….. như Osho đã viết . Cách hành dục thế nào cho được lâu và khoái cảm tột cùng của thể xác được Osho , Mật tông , Shiva tận tình hướng dẫn , từ đó thay vì khuyên ta tránh xa lạc thú thế tục như giáo lý Đức Bổn sư và nhiều tôn giáo khác, Mật tông nhấn mạnh rằng : “Tốt hơn con người ta nên cứ hưởng lạc tự nhiên, nhưng chuyển cái năng lượng của lạc thú thành con đường nhanh chóng hiệu nghiệm đưa đến sự toại ý và giác ngộ hoàn toàn. Các bạn có tin những điều như vậy không? Nếu trả lời tin thì cứ thử nghiệm xem ( đối với mấy bà sồn sồn ) , nam giới thì cứ cho vợ của bạn vào thiền với mấy thầy Mật tông xem sao , những gì sẽ xảy ra như tôi đã trình bày ở những bài vừa qua , bạn có can đảm nhìn vợ bạn đang hưởng khoái lạc cùng thầy chăng . Các bà cứ tự nhiên thử nghiệm vì con người ai cũng có khả năng tiếp nhận , thưởng thức hạnh phúc , khoái cảm về thể xác , nhưng nhớ đừng mê vọng vốn thường nhiễm độc lạc thú đưa đến sa đoạ về thân thể. Điều này ta nhận thấy có sự lấp lững và mâu thuẩn của Mật tông , họ cho rằng thưởng thức và khoái lạc là cần có , nhưng không được đam mê. Đây là một vấn nạn thử thách ý chí cao tột đỉnh của con người. Có mấy ai dám từ chối khi đứng trước sự cám dỗ của kẻ khác phái đang sẳn sàng nắm tay bước vào hành trình tình dục để tìm sự giải thoát. Tôi nghĩ nếu ai đạt được tính quân bình trước thể xác thì quả là đạt đến Bồ Tát.

    Mật tông đòi hỏi phải sáng suốt từ bỏ để tạo không gian trong tâm của ta. Họ lý luận rằng :”Ta chỉ có thể thực hành Mật tông hữu hiệu khi đã chấm dứt ảo tưởng đối với các dục vọng. Ta phải nhận thức sâu xa từ đáy lòng rằng, sự bám víu không bao giờ đưa đến thỏa mãn, mà chỉ đem lại khổ đau thất vọng. Nếu không thấy được rằng sự bám víu khoái lạc giác quan buộc chặt chúng ta vào bánh xe sinh tử, thì khi tu Mật tông ta sẽ lặp lại lỗi lầm ta đã phạm khi theo đuổi khoái lạc: Mỗi khi được một cảm giác phúc lạc, ta sẽ bám lấy nó như một cái gì thực hữu nội tại, có thể đem lại cho ta niềm vui bất tận.” Khi nào cần buông bỏ và khi nào phải bám lấy nó như một cái gì thực hữu nội tại mới có niềm vui bất tận? Cho nên Mật tông lý luận loanh quanh khó mà hiểu được khi hành trì. Họ có thể biện luận khi bạn hành dục mà không đạt đến an lạc , hạnh phúc và giải thoát , tại vì bạn :”Khoái lạc tự chúng không là vấn đề, mà vấn đề chính là sự bám víu chấp thủ vào khoái lạc. Bởi thế, nếu có thể thoát ly thói quen bám víu, thì ta có thể tha hồ vui thú mà không bị những rắc rối vẫn thường kèm theo sự tìm kiếm khoái lạc. ” Nhưng có ai phản đối vì lập luận ngược xuôi có tính cách bất nhất thì họ lại bẻ quặt bạn bằng lý luận mới :”Từ bỏ không phải đồng nghĩa với khước từ lạc thú hay chối bỏ hạnh phúc, mà có nghĩa “không còn mong đợi gì nơi những lạc thú thông thường.” Chính những mong đợi ấy đã biến lạc thú thành đau khổ. Cần nhắc lại, lạc thú không có gì sai quấy, mà chính thái độ bám víu, thổi phồng, bóp méo và ô nhiễm của ta đối với lạc thú mới là cái cần từ bỏ. “Tình dục là vấn đề then chốt và cấm kỵ của Ngài Thích Ca , thế mà Mật tông vẫn nhấn mạnh lạc thú không có gì sai quấy, họ cho sự khoái cảm thể xác là ĐÚNG và CẦN CÓ. Đây là một luận điệu bát bỏ tất cả những gì mà giáo lý Thích Ca cho là chân lý. Khi con người tu hành không nhằm giải thoát mà nhằm giải toả sự tồn đọng của sinh lý thì điều này khó mà đứng vững trước thời gian , sớm muộn gì cũng bị khoa học soi mói hay các nhà tâm lý học bẻ gảy.

    Sự đòi hỏi về tình dục của nữ giới bao giờ cũng mạnh hơn nam. Những lúc bị đòi hỏi và thôi thúc như thế , người nữ có thể làm bằng mọi cách để thoả mãn nhu cầu. Ngày nay nhờ văn minh tiến bộ , ngoài việc ” may tay ” người nữ rẫt dễ dàng đến những quầy hàng hay Adult Video mua những bộ sinh dục giả của nam giới làm bằng cao su về tự giải quyết lấy , hoặc bí tỷ thì online theo chọc , bươi móc , nói xa nói gần nick nam giới nào để gây sự chú ý của họ , đây chỉ cách giải quyết sinh lý về mặt tâm lý mà thôi , dù sao có cũng hơn không. Tất cả những dẫn dụ tôi đưa ra như thế để chỉ rõ phần nào về dục tính khi cần giải tỏa của con người nhất là phụ nữ .

    Tu tập nhằm mục đích là giải thoát , nhưng tu theo kiểu Mật tông thì chẳng ai muốn giải thoát mà thích ở thế gian tu theo kiểu dâm đảng này sướng hơn. Chính tâm tư và cá nhân tôi cũng không từ chối điều đó. Xuất gia là TỪ BỎ tất cả sau lưng kể cả danh vọng , tiền tài , vợ con….. đồng thời cũng có nghĩa đen là sự “quyết định ngoi lên.” Đây là một quyết tâm sâu xa nhất định ngoi lên khỏi những bất mãn thất vọng triền miên của đời sống tầm thường chán ngấy trước những vấn đề không ngừng tái diễn, đến nỗi cuối cùng ta hết khát khao ham muốn thứ này sang thứ nọ, từ đó ta khởi sự tìm cách làm cho đời ta có ý nghĩa, thỏa lòng mong đợi . Vậy đào luyện sự từ bỏ, hay quyết định ngoi lên, cũng chính là tự giải thoát khỏi những thói dính mắc đã làm trì trệ chúng ta, khiến ta không thực nghiệm được tiềm năng con người viên mãn nhất trong mình. Điều này được Mật tông giải thích như vậy có đúng không? Có lẽ đúng với Mật tông , Osho , Shiva hay những ai tôn thờ chủ nghĩa xác thịt , chứ đối với Phật giáo Thích Ca thì hoàn toàn bát bỏ. Bởi vậy đời tu sĩ mới cấm lấy vợ , nếu nhở có thầy nào đi biển ôm gái thì bị la làng , chửi rủa , nhưng ” chơi ” hay sờ chỗ kín của nữ giới thì họ che đậy , bênh vực. Tại sao các thầy Tịnh độ không hè nhau tu theo Mật tông có phải sướng hơn không? Hoặc là sửa giới luật ” Tu sĩ có quyền lấy vợ ” như Tin Lành thì có ai cấm cảng đâu. Luật là do nhân tạo , tự con người đặt ra để ràng buộc và gây khổ đau cho nhau. Ví như luật của DV cấm đem chuyện web khác vào bàn luận gây tranh chấp , họ cứ làm. Cấm đã kích , bôi nhọ cá nhân họ vẫn phớt lờ , ngày đêm moi móc , sĩ vả từ tu sỹ cho đến hội viên. Vậy mà họ bảo không phạm giới tại sao xóa bài mà không thông báo , giải thích. Luật nói rằng : ” Nếu vi phạm xóa không cần thông báo ” , thì ra dù giới cảnh ta bà , tăng hay tạo cũng bị giới luật nghiêm khắc hành trì.

  21. Tom Nguyen nói:

    Sự truyền đạt hầu hết trong những bộ kinh của Mật tông đều là đối thoại giữa Shiva và người tình Devi. Bạn nên nhớ rằng Mật tông không phải là một đối thoại giữa thầy và trò, mà là giữa hai tình nhân hỏi và đáp với nhau. Giữa thầy và đệ tử phải là những cặp tình nhân khắn khít nhất. Được như thế thì những điều siêu việt, cao cả mới có thể được biểu hiện lúc thiền định . Có phải thầy Chân Quang đã bắt đầu thấm nhuần triết lý , phương thức thiền định của Mật tông nên đi biển cùng đệ tử để truyền đạt vai qua vai , tay sờ bụng chăng? Tôi bắt đầu có sự suy xét như thế. Vậy việc thầy làm tại sao Đại thừa và nhóm Phật tử cùng cao tăng , Giáo hội Hải phòng lên tiếng công kích và chống báng triệt để? Tại sao các vị ấy không chống đối và lên án thẳng Mật tông là một tông phái chủ trương , cổ xúy và hành đạo qua con đường tình dục mấy ngàn năm nay có bài bản , kinh sách lâu nay chẳng ai lên tiếng chống đối , lại còn in ấn ra truyền dạy như là một trong những hàng ngàn cách thiền đưa đến giác ngộ qua xác thịt của nam và nữ . Phải chăng thầy Chân Quang bị chống đối vì chính trị hơn là một hành trình đạo pháp được thầy nhắc đến như một bước ngoặc trong đoạn đường dài của Mật tông. Điều mà Shiva có đề cập “Tantra là ngôn ngữ của tình yêu. Đệ tử phải có tình yêu đối với đạo sư. Nhưng bạn cũng có thể là tình nhân. Tantra nói rằng đệ tử phải cởi mở, phải sẵn sàng tiếp nhận như thể người vợ chờ chồng về. Trên đỉnh yêu đương ấy tất cả đều có thể xảy ra. Đệ tử không nhất thiết phải là người nữ, nhưng bạn phải có tính tiếp nhận như một người nữ. Devi hỏi. Đó là thái độ của một người nữ. Nhưng sao phải có thái độ của một người nữ? ”

    Vậy thì Đệ tử phải có tình yêu đối với đạo sư có chi là tội lỗi khi thầy Chân Quang có lẽ muốn thực tập thiền vòng tròn với nữ đệ tử như Mật tông giảng. Sự ôm ấp giữa thầy và trò , nam và nữ không có chi là dâm dục , kinh Mật tông không cho rằng chung đụng xác thịt không phải là dục tình. Mật tông là tình yêu nhưng dùng dục để đạt đến thiền định. Vậy thì những cao tăng nào dám lớn tiếng phê phán , kết tội thầy Chân Quang là hoàn toàn vô lý và không hiểu gì về con tim lẫn tình yêu mà Mật tông đề xướng. Từ đó Osho nói :

    Mật tông là sự thăng hoa của tình yêu đến thiền định. Vì lý do đó Mật tông nói rất nhiều về dục và tình yêu. Mật tông nói rất nhiều về tình yêu, về dục. Tại sao? Bởi vì tình yêu là cánh cửa tự nhiên và dễ nhất để bạn có thể siêu việt thế giới này, chiều ngang này…

    Tình yêu bất ngờ thay đổi chiều của bạn. Bạn bị ném ra khỏi thời gian và đối diện với vĩnh cửu. Tình yêu có thể trở thành thiền rất sâu sắc – sâu sắc nhất…

    Tình yêu đối với Shiva là một cánh cửa rất tốt. Dục đối với ông ấy không phải là cái phải nguyền rủa. Nó là hạt giống mà tình yêu là hoa. Nếu nguyền rủa hạt giống, bạn cũng nguyền rủa hoa. Dục có thể trở thành tình yêu. Nếu không trở thành tình yêu, nó đã bị tê liệt. Hãy nguyền rủa sự tê liệt, đừng nguyền rủa dục. Tình yêu phải thăng hoa, và dục phải trở thành tình yêu. Nếu không, đó là lỗi của bạn, không phải tại dục.

    Dục không thể là dục mãi mãi; đó là quan điểm của Mật tông. Nó phải biến thành tình yêu. Và tình yêu cũng không phải là tình yêu mãi mãi. Nó phải biến thành kinh nghiệm tâm linh, thành đỉnh cao của huyền niệm. Chuyển hóa tình yêu như thế nào? Hãy trở nên hành động và quên người hành động. Khi yêu, trở thành tình yêu. Nó sẽ không phải là tình yêu của bạn, hay của tôi, hay của người khác. Nó chỉ là tình yêu. Khi không còn nữa, bạn hội nhập với cái nguồn tối thượng. Khi yêu, bạn không phải là người đang yêu. Khi đã bị tình yêu nhận chìm, bạn đã biến mất; bạn đã trở thành sinh lực đang lan tràn.

    Chuyện tâm lý đời thường , Mật tông cho rằng dục đã bị lạm dụng vì nó đã bị kết án quá nhiều trong quá khứ khi tiếp xúc truyền giáo giữa thầy và trò , giữa nam và nữ đã đi quá xa vời về thể xác . Những sự kết án quá nhiều về dục đã buộc nó phải chạy trốn trong vô thức như là một điều chối bỏ gần như đánh mất , đã tạo ra một cảm giác đến nỗi chúng ta cũng không nhận ra nó là gì , chân tướng thế nào khi đang đối mặt thiền định . Osho nói thêm rằng :

    Sự nhồi sọ liên tục rằng dục là tội lỗi đã tạo ra một rào chắn bên trong bạn. Bạn không cho phép bạn thư giãn. Sự nguyền rủa ấy luôn luôn ám ảnh mọi thế hệ, kể cả thế hệ mới. Họ có thể nói rằng họ không bị ràng buộc, không bị ám ảnh, rằng dục không phải là cái bị cấm đoán đối với họ, nhưng bạn không thể trút bỏ gánh nặng của vô thức một cách dễ dàng. Nó đã kéo dài qua nhiều thế kỷ; tất cả quá khứ của nhân loại đều có đủ. Cho nên một cách ý thức bạn có thể không nguyền rủa dục, nhưng nó luôn luôn bị vô thức ám ảnh. Vì vậy bạn không đi vào dục một cách trọn vẹn. Cái gì đó luôn luôn bị đè nén. Cái bị đè nén ấy làm bạn phân liệt. Cho nên Mật tông nói bạn phải đi vào với cả thể xác và tâm hồn. Hãy quên chính mình, quên văn minh, quên tôn giáo, văn hoá và ý hệ. Hãy quên tất cả mà chỉ biết có dục. Hãy đi vào một cách trọn vẹn; đừng để lại gì cả. Và tuyệt đối không có một ý tưởng nào. Được như thế thì bạn mới nhận ra là bạn đã trở thành một với người nào đó. Và cảm giác nhất thể này có thể tách rời khỏi người yêu của bạn mà gắn liền với toàn thể vũ trụ. Bạn có thể yêu cây, yêu trăng sao, yêu tất cả. Một khi bạn biết nối vòng tay lớn này, bạn có thể thực hiện với tất cả – thậm chí bạn cũng chẳng cần gì cả.

    Vì sao Mật tông dạy bạn hảy quên đi tất cả mà chỉ biết có DỤC , như thế mới đi vào thiền một cách trọn vẹn. Mật tông đã nói rất rõ ràng không có gì phải úp mở , che dấu , thế thì Đại thừa , quý cao tăng nhất là mấy Phật tử phường tuồng sao không hạ ngay từ căn gốc là Mật tông lại đi chống báng , hạ bệ Chân Quang. Phải chăng việc làm như thế là ” Đánh ngọn mà không dám đụng đến gốc “.

    Biết đâu khi ôm ấp , sờ mó nữ đệ tử là lúc thầy đang thực tập Thám Hiểm Luân Xa. Điều này Shiva ghi rất rỏ khi thực tập ” Vòng tròn tình yêu ” “Khi hai người yêu nhau, nếu ông ấy trao sinh lực dương từ luân xa thứ nhất cho bà, vốn là âm và sẵn sàng tiếp nhận, nó sẽ đi vào cơ thể và lên đến vùng trái tim vì đó là dương. Từ đó nó có thể đi vào vùng trái tim của ông ấy vì đó là âm, và nếu ông ấy biết cách nhận được nó, nó sẽ đi xuống luân xa thứ nhất. Một vòng sinh lực tình yêu được tạo ra.

    Có lần tôi thực tập phương pháp này với chồng mà không cho ông ấy biết. Kết quả là quá nhiều sinh lực tập trung tại tim làm tôi cảm thấy nó sẽ nổ tung. Tôi phải nói với anh ấy, “Anh có thể mở tim anh ra một chút được không?” Sau khi tim anh ấy mở ra, một vòng sinh lực được tạo ra.”

    Và ngay chính Osho cũng không phủ nhận điều đó , vì ông quan niệm :

    Nếu vòng tròn tình yêu được tạo ra, một cảm giác thay đổi giới tính có thể xảy ra; lúc ấy người nam cảm thấy là nữ, và người nữ cảm thấy là nam, và sau đó trở lại như cũ.

    Trong tình yêu lúc bắt đầu gặp nhau và làm thành một vòng tròn tình yêu thì chuyện gì sẽ xảy ra? Ngay giờ phút đó người nam trở thành nữ, và nữ trở thành nam , bởi vì sinh lực di chuyển và đã trở thành một vòng tròn. Lúc đó bạn đi vào một phương pháp thiền rất sâu sắc tuyệt diệu. Bạn sẽ cảm thấy bị mất hút trong người yêu, phúc lạc tự động sẽ xảy ra cùng những ham muốn thể xác bừng dậy , nếu bạn không kìm hảm sẽ đi vào con đường xác thịt và hoàn bị rơi tỏm vào con đường khác ngoài thiền định .

    Đến đây bạn có cảm giác và suy nghĩ gì về Mật tông , những việc làm và hành động của Thầy Chân Quang có thật đang đi vào thiền Mật tông không? Trước mắt thầy đang đi vào vòng tròn tình yêu với nữ đệ tử , điều này Mật tông dạy như thế. Vậy trên phương diện một tu sĩ có gì lầm lỗi không? Nếu không tại sao làng sóng tu sĩ , cư sĩ đồng loạt đứng lên chống đối. Hạ bệ và ” ám sát ” Chân Quang chính là triệt hạ toàn bộ giáo lý cơ bản của Mật tông bắt đầu vậy.

    Vì sao Ngài Thích Ca quyết định thiền định 49 ngày đêm dưới gốc cây Bồ Đề. Ngài quyết tâm không tìm được con đường giải thoát khổ đau thì không bao giờ rời khỏi nơi đây. Quả thật Ngài đã chứng ngộ và tìm được con đường giải thoát. Phải chăng nhờ sự im lặng của thiền mà tìm được chân lý giải thoát. Thật ra thiền mang lại sự lành mạnh tinh thần cho con người khắp thế giới, một sự lành mạnh hoàn toàn từ ý tưởng cho đến thân xác , không có tính chất dục vọng mà tìm ra con đường giảc ngộ đi đến chánh đẳng , chánh giác nhờ vào tính dục như Mật Tông , Osho , Shiva cổ xúy. Vì bản chất của thiền là giải trừ tất cả mọi giáo điều,dục vọng , lẫn quan niệm ý thức hệ giữa nam và nữ , khi nói: “Hãy trở nên trống rỗng. Hãy nhìn bằng đôi mắt vô niệm. Nhìn thẳng vào bản tánh của vạn pháp, mà không khởi lên một ý niệm, không thiên kiến, không giả định.”

    Khi quý vị đã mang sẵn một ý tưởng ở trong đầu, thường một điều chắc chắn là quí vị sẽ tìm thấy nó ở trong thực tế ,bởi vì tâm rất là sáng tạo và luôn luôn biến động không ngừng cũng vì muốn sáng tạo . Dĩ nhiên cái sáng tạo này chỉ đơn thuần là trừu tượng trong tưởng tượng , lúc nào trong đầu óc quý vị cũng ao ước sự giàu sang , quyền quý cùng vợ đẹp con thơ. Thậm chí có nhiều vị tưởng tượng sẽ lên chín từng mây hội thoại cùng Chúa , hay có vị muốn đến cõi Tây phương nào đó chiêm ngưỡng dung nhang Phật A Di Đà. Cũng lắm vị quay quanh ý nghĩ không biết A Di Đà đã thành Phật chưa? Trong 48 hạnh nguyện chữ đầu câu lúc nào cũng ” GIẢ SỬ tôi thành Phật …… giả sử là trừu tượng chưa phải là thật , A Di Đà cũng vậy. Lúc nào đầu óc Ngài cũng có những suy nghĩ vẫn vơ đầy trừu tượng đẹp như mơ giống của quý vị , đó là tâm lý thường tình của bản chất con người.

    Nếu quý vị muốn sẽ thấy những ảo ảnh về Chúa Jesus, tất cả đều là hư huyễn. Nếu có vị đang tìm kiếm Einstein , Descartes thì bạn có thể bắt đầu thấy Einstein , Descartes , nhưng tất cả cũng chỉ là hư huyễn trong ảo giác .
    Thiền là con đường rất thực tế , thiền để tâm thanh tịnh ,lắng đọng và suy tư tìm điều hơn lẽ thật , sự phải trái của cuộc đời cần làm và nên tránh , đó là cội nguồn tìm về chân lý rốt ráo mà Thích Ca chọn lựa và dạy dỗ chúng sanh . Cầu nguyện là nương tựa , ỷ lại , chai lười muốn nhờ người khác. Không tự cầm chén cơm đưa vào miệng , chỉ biết nhờ người khác giúp cho thì làm sao no bụng , làm sao tìm đường giải thoát khổ đau? Nguyện cầu chỉ là một sự van xin thì dễ bị lừa dối , điều này thực tế đã chứng minh hàng ngàn năm nay , vì Ngài Thích Ca cho rằng những gì là ảo tưởng cần phải được loại trừ. Ảo tưởng đến từ quá khứ cho tới tương lai đều do vọng tưởng , chỉ có hiện tại là tuyệt vời. Quý vị có bao giờ thấy Như Lai dạy cầu nguyện danh tánh Thích Ca không? Hoàn toàn chỉ có Đại Thừa dạy cầu nguyện A Di Đà , Quán Âm , Dược Sư……. thì sẽ được cứu vớt và cho về nước phương Tây sống ấm no hạnh phúc. Mà nước Phương Tây chính là Trung Hoa ở về hướng mặt trời lặng. Trong mỗi lời nói , mỗi câu kinh cho đến những câu chuyện cổ tích và ngày nay bản đồ chiếc lưỡi bò trên biển Đông là Trung Hoa để lộ ý đồ thống trị mà qua các triều đại Hán tộc chưa thực hiện được nay người Trung Hoa Cộng Sản hùng mạnh sẽ tiếp nối tổ tiên để đồng hóa và nô lệ các nước khác .

  22. Tom Nguyen nói:

    Nay tôi trở lại Đại Thừa qua hiện tượng Quán Thế Âm lại được tuyên truyền cổ xúy ở Mỹ .

    Nhân đọc bài ” Lối về Thiền viện ” của Phổ Nghĩa VÕ THIỆN HIẾU tôi có mấy cảm nhận như sau :

    http://thuvienhoasen.org/thienvienchannguyen.htm

    Mới đầu chữ ” Thiền viện ” tôi ngỡ là viện thiền định tức là tu thiền theo giáo lý Thích Ca. Nơi đây là vùng đất sa mạc nhiều nắng gió giá buốt và đầy cát bụi của Adelanto , do Phật tử và thầy Thích Ðăng Pháp xây dựng.Tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cao 25 feet nằm cạnh con đường Hwy US 395 về hướng bắc được khánh thành vào ngày 25 tháng 11 năm 2007. Nếu là tôn tượng Quán Thế Âm biểu tượng cho tình mẫu tử mà phần nhiều con người muốn nhắc đến , bên Kito giáo thì có Mẹ Maria thế thôi. Nhưng sự kiện không dừng lại ở đây mà hiện tượng ” kỳ quái ” lúc đó có Hào Quang Quán Thế Âm đã linh ứng thị hiện toả chiếu từ 5 giờ sáng cho đến suốt buổi lễ dưới sự chứng kiến của trên 500 Chư tôn Giáo phẩm cùng Ðồng hương và Ðồng bào Phật tử hiện diện. Phải chăng Thiền Viện Chân Nguyên, Adelanto đã trở thành một địa danh linh thiêng giống như địa danh La Vang / Quảng Trị ở Việt Nam khi có Mẹ Maria hiện lên toả hào quang. Từ đó hằng tuần chẳng những có hằng trăm đồng hương và đồng bào Phật tử khắp nơi từ các Tiểu bang của Hoa Kỳ cho đến các nước từ Âu Châu, Úc châu và Á Châu kể cả rất đông đồng hương từ Việt Nam đến hành hương và chiêm bái mà nhiều người nước ngoài như Lào, Thái Lan, Hoa Kỳ….cũng lui tới nơi đây.

    Đối với nước văn minh và tự do báo chí như Hoa Kỳ thì không mấy ai ngạc nhiên về các giới săn tin vì vấn đề cần có tài liệu , hình ảnh để đăng báo :”Thiền Viện Chân Nguyên sau đó đã được được giới truyền thông Hoa Kỳ biết đến, ngoài sự thông tin của hầu hết các giới truyền thông , báo chí , phát thanh, truyền hình cũng như trên mạng lưới Internet của Việt Nam còn có cả hệ thống truyền thông của Hoa Kỳ cũng loan tải sự hiện diện của Thiền Viện Chân Nguyên trên vùng sa mạc Adelanto. “ Temple is special in Adelanto.The light from the sky and from the Statue come out…”. Các nhật báo Los Angeles Times làm phóng sự bởi Ðặc phái viên Louis Sahagun đăng tải tháng 6-2008, Tuần báo Actual Life Publishing phát hành khắp nước Mỹ do phóng viên Dave Mc. Lane viết phóng sự 28-11-2008, Tuần báo The Press Interprise của David Olson cũng đã thường xuyên theo dỏi và đăng tải nhiều lần sự phát triển và tiến trình xây cất của Thiền Viện số mới nhất 30-11-2008, nhật báo The Sun San Bernardino County’s News Paper do thông tín viên Joe Nelson đăng tải 01- 12-2008, cũng như trên hệ thống truyền hình đài số 9 cũng đã làm phóng sự vào tháng 10 năm 2008..v…v.” là chuyện thường tình.

    Ngoài ra không thiếu những nhân chứng sống được chửa lành bệnh. Có lẽ trong một thời gian ngắn Thiền viện Chân Nguyên sẽ biến thành một bệnh viện lớn nhất Hoa Kỳ. Điểm quan trọng là Bà Quán Thế Âm là vị Bác sĩ giỏi nhất ,vỹ đại nhất , thế là ngành y khoa của Mỹ xem như dẹp tiệm.

    Về những hiện tượng hào quang từ Mẹ Maria cho đến Quán Âm được khoa học ” sờ ” đến và ngay bạn tamgoilathu phát biểu :

    -Tôi nghĩ đó chỉ là hiện tuợng tình cờ của trời trăng, lúc đó là 5 giờ sáng. Theo tôi, phép nhiệm màu đó không đúng với giáo lý nhà Phật. Phật đã từng nói, “Ta không có quyền ban phước, giáng họa cho ai cả” Đức Quán Thế Âm chỉ là một biểu tượng, không có môt lịch sử nào viết về ĐQTA, chẳng hạn sinh ở đâu, năm nào, làm những gì v.v… Nếu nói rằng, uống tịnh thủy do thày Trụ Trì Thích Đăng Pháp làm phép thì được lành bệnh, thì vô tình đã ngược lại với thuyết Nhân Quả của Đạo Phật. Dù là đã xin sám hối, bệnh nhân cũng phải thể hiện bằng những hành động thiện để bớt được nghiệp xấu, thì mới hy vọng bệnh thuyên giảm nếu những nghiệp thiện đó mang lại quả thiện ngay trong kiếp này. Theo như tôi được biết, TV đã thành lập được 5 năm rồi, mà hiện nay, thiền viện này chỉ có một người duy nhất sống ở đây, đó là trụ trì Thich Đăng Pháp, tại sao??? với một ĐQTA màu nhiệm như vậy.

    Anh ta đã lý luận và chứng minh bằng khoa học đầy trí tuệ như sau :

    – Ngoài ra, với computer technique hiện tại + kỹ thuật phim ảnh, một vòng hào quang không có gì khó để làm. Trong những hình ảnh thật sự chụp được trên website:

    http://hoituthienphohien.com/2009pic…hannguyen.html

    tôi không thấy hình DQTA có hào quang nào cả. Nếu nói là 500 người nhìn thấy suốt buổi lễ, thì những hình ảnh thu thập được và những chứng nhân đâu, tôi rất hoan hỉ được gặp và xem hình ảnh thực sự được ghi lại bằng máy chụp hình purely without modifications.

    – Program such as Photoshop can easily add “hào quang” and any color of cloud to a picture.

    Hào quang chiếu sáng

    Đối với tôi về Quán Âm hay A Di Đà , thầy Tuyên Hóa của Đại Thừa Trung Hoa không có gì đáng ngạc nhiên những sự tuyên truyền dối trá về cứu rỗi và phép lạ.Nếu Đại Thừa cứ nhận là một tôn giáo độc lập không dính dáng gì đến Phật giáo Thích Ca thì đó là quyền của họ.Nhưng khổ nổi bên cạnh các Phật Đại Thừa luôn luôn có kèm theo hình ảnh Ngài Thích Ca. Đó là điểm cần QUANG TÂM và NHẤN MẠNH.( xem hình )

    Tượng Thích Ca – Quán Âm

    Tượng Di Lạc

    Tựơng La Hán

    Giáo lý Ngài Thích Ca là giải thoát khổ đau , tinh tấn tiến lên để tu học bằng trí tuệ của chính mình. Tự tu tự hưởng chứ không một ai có quyền tha tội và cứu vớt khổ đau , bệnh tật , nghiệp quả do mình gây ra. Giáo lý và hình ảnh có tính cách cứu rỗi do cầu nguyện của Đại Thừa gán vào Phật Thích Ca đã đồng hoá với cứu rỗi của Chúa Jesus , cũng hào quang , chữa bệnh , ban phép , làm phép giống nhau. Đây là một mục đích có chủ ý của Đại Thừa – Tịnh Độ Trung Hoa nhằm triệt hạ chân lý Thích Ca. Lm Trần Cao Tường đã viết :

    Những chương trình như Chữa Nghiện Rượu AA (Alcoholic Anonymous) đã tìm ra được chìa khóa tâm lý chữa bệnh và giải thoát: Chừng nào mình còn nghĩ tự sức mình có thể chừa được thì sẽ không bao giờ chừa được. Điều này cũng được áp dụng hiệu quả cho những chuyện chữa nghiện ma túy, nghiện sex, nghiện cờ bạc, mê ăn thái quá…

    Vì thế thái độ đầu tiên của người đang cần được chữa trị là phải nhận mình không thể làm gì được hơn để tự giải quyết, mà phải ngửa trông lên nhìn nhận có một lực từ trên cao giải thoát mình.

    Khám phá khoa học lạ lùng này rõ ràng là ngược với thái độ duy vật hão huyền tự suy ra mà không có thật của Karl Marx. Cũng như một khuynh hướng quá đà về Thiền như vậy ở Nhật: “Gặp Đức Phật ngoài đường thì hãy giết đi!” Có nghĩa là cứ tự sức mình mà giải quyết mọi sự chứ đừng “vong thân” nương tựa vào sư phụ này hay Đấng cao cả nọ! Đang khi khuynh hướng Tịnh Độ của Phật giáo ở Việt nam thì lại rất cần lực Trời Phật độ trì. Niềm tin vào trời này đã nằm sẵn trong máu người Việt mình

    Người Công Giáo Tây phương đón nhận Phật giáo như một luồn gió mới. Phật giáo là chiếc chìa khóa tâm linh giải thoát mặt tư tưởng của họ đang bị bế tắc hàng trăm năm nay. Ở nơi Phật giáo toả ra một hào khí về lòng tự tin , quả cảm , dũng mảnh độc lập tiến lên chứ không dạy sự cầu xin có tính cách bi quan , yếm thế như đạo Kito ngàn năm của tổ tiên họ. Nhưng hởi ơi , sau khi theo Phật giáo , đa số giới trẽ Tây phương hoặc lưng chừng hoặc quay trở lại đạo Chúa. Họ lý luận rằng :” Phật giáo cũng cầu cứu rỗi như Kito giáo , thế thì theo Chúa còn hơn.” Họ đâu có biết rằng Phật giáo cứu rỗi đó là của Đại Thừa – Tịnh Độ là đứa con phản Phật , giết Phật làm ra. Vì thế Vatican gặp được ĐỒNG MINH Đại Thừa cứu rỗi như vậy , nên họ hết sức cổ động , phò trợ cho Phật giáo Đại Thừa bành trướng mạnh hơn. Giúp đó chính là GIẾT Phật giáo và giữ được các con chiên lạc đạo. May thay chỉ có giới trí thức tây phương hiểu được giữa Phật giáo Tịnh Độ và Chân lý Thích Ca mà nhận định , nhưng số học giả , trí thức này lại quá ít.

    Khi nói đến đạo Phật chân chính là phải nói đến GIÁC NGỘ

    Nhân loại và thế giới không những tôn kính Đức Phật Thích Ca mà còn cho rằng :” Đạo Phật là đạo giác ngộ “.

    Giác ngộ 覺悟 [juéwù]: nghĩa là tỉnh thức, hiểu biết.

    Trong sơ đẳng Phật học giáo khoa thư có ghi :

    佛者,佛陀之省稱。是覺悟自心,救 度衆生,達到圓满者之德號。如中国之尊稱孔子為聖人一樣,有歷史,有事實。而其智蕙能力尤大,所以尊稱為佛。

    佛之智慧,是專為破除貪,瞋遲,慢等煩腦。佛之能力,確能使一切衆生,離一切苦,得究竟樂,故吾人當立志學佛。

    (Phật giả, phật đà chi tỉnh xưng. Thị giác ngộ tự tâm, cứu độ chúng sinh, đạt đáo viên mãn giả chi đức hiệu. Như trung quốc chi tôn xưng khổng tử vi thánh nhân nhất dạng, hữu lịch sử, hữu sự thực. Nhi kì trí huệ năng lực vưu đại, sở dĩ tôn xưng vi phật.
    Phật chi trí tuệ, thị chuyên vi phá trừ tham,sân si, mạn đẳng phiền não. Phật chi năng lực, xác năng sử nhất thiết chúng sinh, li nhất thiết khổ, đắc cứu cánh lạc, cố ngô nhân đương lập chí học phật .)

    Tại sao chúng ta chưa được Giác ngộ? Vì do Phiền não 煩腦: buồn phiền, phiền não (đặc tính của tâm thức sinh ra các pháp bất thiện, làm con người bị vướng mãi trong luân hồi). Mọi sự phiền não bắt nguồn từ Tham, sân, si, mạn 貪,瞋,遲,慢: tham lam, giận giữ, si mê, và kiêu ngạo. Đây là đặc tính cố hữu của chúng sanh. Những nguyên nhân này là động lực đưa đến tội lỗi và phiền não. Tâm lúc nào cũng động thì đưa đến khổ đau không khác gì đó là địa ngục trần gian. Vì sao Đức Phật đặt trí huệ lên hàng đầu? Vì Trí huệ của Phật mục đích là phá trừ bao nhiêu phiền não: tham, sân, si, và ngã mạn v.v…
    Năng lực của Phật quyết làmcho tất cả mọi loài, xa lìa tất cả khổ đau , hoàn toàn an hưởng những sự vui, vì lẽ ấy chúng ta cần phải lập chí học Phật bằng trí tuệ chứ không hoàn toàn nương tựa vào cứu rỗi , van xin.

    Hai yếu tố quan trọng của Ðạo Giác Ngộ. Đó là sự tập trung tâm ý hoàn toàn và lòng từ bi. Lòng từ bi không giới hạng ở quốc gia , xã hội hay tôn giáo nào , từ bi ở khắp mọi nơi và ở trong mỗi chúng ta. Điều mà Đức Đạt Lai Lạt Ma trong cuốn “The Compassionate Life”. có đoạn :

    “Tôi tin rằng trên mọi bình diện của xã hội – gia đình, quốc gia và quốc tế – bí quyết để giúp cho thế giới nhân loại có được hạnh phúc và an lạc hơn là nên phát triển tâm từ bi. Chúng ta không cần trở thành một người có tôn giáo, và đặc biệt phải tin theo bất cứ một chủ nghĩa hay ý thức hệ nào. Điều quan trọng là mỗi chúng ta nên tu tập nhằm phát triển những thiện tánh nơi các bạn. Tôi nghĩ rằng sự vun bồi hạnh phúc cá nhân có thể góp phần tích cực vào việc cải thiện đời sống toàn thể cộng đồng nhân loại.

    Tất cả chúng ta đều chia xẻ sự cần thiết đến tình thương và trên căn bản chung này, các bạn có thể nghĩ rằng những người mà chúng ta gặp trong bất cứ hoàn cảnh nào đều là anh chị em thân thương của quý vị. Dù cho khuôn mặt của họ là mới hay cũ, quần áo hay tính tình của người đó khác nhau như thế nào, vẫn không có sự phân chia ngăn cảch giữa chúng ta và những kẻ khác. Thật là sai lầm khi các bạn chú tâm đến sự khác biệt nhau ở bề ngoài, vì bản chất căn bản của chúng ta đều giống nhau.

    Để vượt qua nhận thức về sự sai khác giả tạo đó, chúng ta hãy nhìn vào tình trạng toàn cầu của chúng ta. Cuối cùng rõ ràng nhân loại chỉ là một và hành tinh bé nhỏ này là ngôi nhà duy nhấ của chúng ta. Nếu các bạn muốn bảo vệ nó, mỗi chúng ta cần thực hành lòng vị tha và từ bi phổ quát toàn cầu. Chỉ bằng cách đó, chúng ta mới có thể diệt trừ được tánh vị kỷ khiến con người hay lường gạt và lợi dụng lẫn nhau. Nếu các bạn có một tấm lòng thành thực và rộng mở, tự nhiên tâm quý vị cảm thấy bình an và không sợ ai làm hại đến mình.

    Một bầu không khí hiểu biết, thân thiện và hợp tác trên toàn thế giới thực sự khẩn cấp cần thiết vào lúc này. Trong thời hiện đại, các dịch vụ liên quan đến thương mại và kinh tế không còn giới hạn trong phạm vi gia đình hay ngăn cách bởi hàng rào quốc gia nữa, mà chúng liên hệ đến nhiều nước khác và ngay cả các châu lục. Kinh tế của mỗi quốc gia này tùy thuộc rất nhiều đến quốc gia khác. Muốn phát triển kinh tế xứ sở mình, chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình kinh tế của những nước bạn láng giềng. Thực vậy, sự cải thiện nền kinh tế của những nước trên thế giới gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của chính quốc gia các bạn.

    Theo quan điểm này trong thế giới hiện đại, quý vị cần đến một cuộc cách mạng tổng quát về tư tưởng và những tập quán của chúng ta. Mỗi ngày chúng ta càng nhận thấy rõ ràng hơn là một hệ thống kinh tế tốt đẹp cần được xây dựng trên nền tảng chân chính của trách nhiệm phổ quát toàn cầu. Nói tắt, điều chúng ta mong ước là cố gắng thực hiện tình anh chị em phổ cập trên toàn thế giới. Đây không chỉ là lý tưởng thánh thiện, đạo đức hay tôn giáo mà là thực tế đời sống của con người hiện đại…..”

    Thật là cao quý và vỹ đại thay hai chữ TỪ BI.

    Khi nói đến Phật giáo , dù người khác đạo , thù ghét như Kito giáo họ cũng đồng ý :Từ bi – Hỹ xã – Hòa bình nhất Thế giới. Trong đó hình ảnh lưu vong hải ngoại là hai vị tu sĩ Phật giáo trí thức , đạo hạnh được Âu Mỹ kính trọng đó là : HT Thích Nhất Hạnh làng Mai và Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.

    Khi đề ra phương hướng tiến hành bình chọn cho các thành viên trong hội đồng bình chọn, Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) đã nghiên cứu 38 tôn giáo khác nhau trên toàn cầu, đưa ra tiêu chuẩn, sự cống hiến của một tôn giáo, triết học, và vai trò tôn giáo trong lãnh vực điều hành và phúc lợi. Trưởng ban nghiên cứu của Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS), ông Jonna Hult nhận xét:

    – “Quả thật không ngạc nhiên với tôi khi Phật giáo là đại biểu xứng đáng danh hiệu Tôn Giáo Tuyệt Vời Nhất Toàn Cầu (Best Religion in the World), bởi vì chúng tôi đã tìm thấy Phật giáo truyền bá không bao giờ có sự can thiệp của vũ lực, ngược lại những tôn giáo khác dường như đi qua xa với tinh thần bất bạo động. Chúng tôi thật sự có một ấn tượng sâu sắc khi nhận ra được trong lịch sử Phật giáo chưa bao giờ dùng vũ lực bạo động. Người Phật tử thực hành những gì mà họ nói, cái mà chúng tôi không thể chứng minh được ở những truyền thống tâm linh khác.”

    Ít nhất một trong số thành viên theo đạo Công giáo đại diện để nói về quan điểm này đối với Phật giáo. Cha Ted O’Shaughnessy nói từ Belfast:

    – “Tôi theo giáo hội Thiên Chúa giáo, nhưng cứ làm tôi khó xử đó là chúng tôi đã thực sự nói về tình thương trong kinh thánh hay chưa, rồi cho đó là ý Chúa khi đến giết người khác. Với lí do này, tôi đã bình chọn Phật giáo bằng lương tri của mình.”

    Giáo sĩ Tal Bin Wassad của Hồi giáo ở Pakistan đã đồng ý và nói, được thông ngôn dịch rằng:

    – “Tôi theo Hồi giáo, tôi có thể biết được sự truyền giáo có mặt của sự giận dữ và đổ máu thành sông nhiều hơn là tình thương. Phật giáo ngăn ngừa được điều đó.”

    Bin Wassad, một thành viên bình chọn trong hội đồng ICARUS thuộc cộng đồng Hồi giáo ở Pakistan nói thêm:

    – “Thực sự, tôi có rất nhiều người bạn theo Phật giáo.”

    Và Rabbi Shmuel Wasserstein đến từ Jerusalem đã phát biểu:

    -“Dĩ nhiên, tôi yêu đạo Do Thái, và tôi nghĩ Phật giáo là một tôn giáo vĩ đại nhất thế giới. Nói với danh dự, tôi đang tu tập theo phương pháp Thiền Minh Sát của Phật giáo hằng ngày trước khi làm lễ cầu nguyện minyan (lễ cầu nguyện hằng ngày của đạo Do Thái) từ năm 1993. Vì thế tôi đồng ý với quý vị như thế.”

    Groehlichen đã tuyên bố rằng kế hoạch bình chọn giải thưởng cho Phật giáo là tôn giáo vĩ đại nhất thế giới đã công bố và thông báo cho các nhà lãnh đạo và cộng đồng Phật giáo. Tuy nhiên vẫn con một trở ngại, ông nói:

    – “Trên cơ bản, chúng tôi chưa tìm ra vị lãnh tụ Phật giáo nào để trao giải thưởng.”

    Groehlichen hứa sẽ sớm công bố sớm vào thứ ba tới.

    -“Tất cả tín đồ đạo Phật đều nói rằng họ không xứng đáng để nhận lấy phần thưởng,”

    Groehlichen giải thích với một tính cách ngay thẳng, ông tiếp: “Lập trường của Phật giáo, họ luôn cho rằng tôn giáo mà họ theo là một giáo lí thực nghiệm chứ không phải một tôn giáo. Nhưng chân lí vẫn bất di bất dịch, với sự thật này chúng tôi công nhận triết học và sự cống hiến của họ là tuyệt vời nhất thế giới và trọng yếu nhất trong sự thách thức và đối mặt với những kỉ nguyên về sau của mỗi cá nhân và con người trên hành tinh của chúng ta.”

    Khi được hỏi lý do tại sao các cộng đồng Phật giáo Miến Điện từ chối giải thưởng, Sư Bhante Ghurata Hanta cho biết:

    – “Chúng tôi rất biết ơn đối với sự công nhận của quý vị, nhưng chúng tôi nhường giải thưởng này cho tất cả nhân loại, cho Phật tánh nằm trong mỗi người chúng ta.”

    Groehlichen trân trọng nói thêm:

    – “Chúng tôi sẽ tiếp tục thỉnh cầu cho đến khi chúng tôi tìm thấy một vị trong cộng đồng Phật giáo tiếp nhận giải thưởng. Chúng tôi sẽ cho các bạn biết khi nào chúng tôi hoàn thành.”

    (Linda Moulin/ Thiện Hữu dịch)

  23. Tom Nguyen nói:

    ĐẠO PHẬT : TỰ DO và DÂN CHỦ

    Khi nói đến đạo Phật là con người nghĩ ngay đến sự TỰ DO & DÂN CHỦ. Nếu đạt đến hai yếu tố này tức là đang có HÒA BÌNH thật sự. Giáo lý của Ngài nhiều hơn lá rừng nhưng đố ai tìm được dù một chữ , một câu chứ đừng nói cả bài kinh mà trong đó chứa đựng hận thù và giết chóc.

    Ông LLoyd M. Graham trong cuốn “Deceptions and Myths of the Bible” có đoạn viết :

    ” Một nhân vật lịch sử với một tiểu sử rõ ràng đã sinh ra đời để mở đường cho chúng sinh thấy, giác ngộ và hội nhập cái biết và cái thấy của Đức Phật là :Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật tri kiến . Nhân vật lịch sử này chính là Thái Tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn ở miền Nam Népal ngày nay.

    Ngài đã quan niệm một cách khoa học và đầy lòng nhân đạo :”nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ thì khổ đau nào cũng giống nhau.” Cho chúng ta thấy được sự sâu sắc về tình thương yêu nhân loại không những cùng chủng tộc mà kể đến cả muôn loài. Ngài hơn hẳn và vượt xa bất cứ một Thần Linh , Giáo chủ nào trên thế gian này và không bao giờ Ngài trừng phạt hay hờn giận , oán trách một ai.

    Đức Phật chỉ là một con người , nhưng con người có nhiều ĐẶC BIỆT.

    -Đặc biệt và cao cả vì Đức Phật là vị Giáo Chủ tôn giáo duy nhất trên thế gian đưa ra một khẳng định tuyệt đối bình đẳng: “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành”. Nghĩa là về bản chất, Giáo Chủ và tín đồ không có gì khác nhau.

    -Đặc biệt và cao cả vì Đức Phật đã không hề bắt buộc bất cứ ai phải tin vào Phật hay những điều giảng dạy của Phật một cách mù quáng, không cần biết, không cần hiểu ” Không thấy mà tin “.

    – Đặc biệt hơn cả là Đức Phật đã thấy rõ sự vận hành của vạn Pháp (Như Thực tri Kiến: to see things as they really are) và đã để lại cho hậu thế một giáo lý không có giáo lý nào hơn, không có giáo lý nào bằng.

    Đó là một thực tế mà Đức Phật không cần ai rao truyền , đánh bóng. Ngài đã được thế giới văn minh và khoa học nghiêng mình bái phục một cách thành kính. Vì những điều Ngài giảng về Vi trùng , tạo thành vũ trụ , thiên hà ……. bằng trí tuệ và nhãn quang mà do sự giác ngộ đưa đến cách đây hơn 2550 năm , trong khi khoa học đang còn dò dẩm trong bóng tối. Giai đoạn này không thiếu những kẻ vô minh , thủ đoạn mê hoặc bằng cách tạo ra những vị thần đầy quyền uy , phép tắc vô cùng nhằm giải quyết sự thắc mắc của con người trước bí ẩn của thiên nhiên. Đức Phật đã khai sáng bằng trí tuệ và giải thích các hiện tượng một cách thực tiễn hơn cả khoa học.

    Các giới Phật tử sơ đẳng như chúng ta , hoặc các thầy trong Đại Thừa – Tịnh Độ chỉ biết đến vài bài kinh , giáo lý căn bản của Phật Giáo xuyên qua các triết lý về :”Tam Độc (Tham, Sân, Si), Tam Pháp Ấn (Vô Thường, Khổ, Vô Ngã), Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), Tứ Niệm Xứ (Quán Thân, Thụ, Tâm, Pháp), Bát Chánh Đạo (Chánh Kiến, Tư Duy, Ngữ, Nghiệp, Mệnh, Tinh Tấn, Niệm, Định) , cầu an , cầu siêu , địa tạng … Nếu ai muốn thành tâm nghiên cứu , tìm hiểu về Phật Giáo thì chúng ta sẽ khám phá ra rằng, tư tưởng Phật Giáo và “tri kiến” của Đức Phật đã đi trước sự tiến hóa tư tưởng , sự hiểu biết của nhân loại khá lâu. Tuy rằng với một tinh thần khoa học, Phật Giáo sẵn sàng chấp nhận những sai lầm (nếu có ) nhưng cho tới ngày nay, Phật Giáo chưa bao giờ phải xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những tiến bộ về tư tưởng cũng như những khám phá mới của các ngành khoa học như các tôn giáo khác.

    Điều quan trọng nhất khi muốn nhận định Ngài ( Ngài Okay như thế ) về mặt khoa học thì phải nắm điều căn bản , chủ chốt : “Đức Phật không phải là một khoa học gia, Ngài không theo các phương pháp khoa học như thu thập dữ kiện, đặt giả thuyết hay lý thuyết, rồi dựa vào những dụng cụ trong phòng thí nghiệm để kiểm nghiệm và thực chứng lý thuyết đó. Tất cả những hiểu biết của Ngài là từ Thiền quán.”

    Sơ lược vài tri thức khoa học mà Ngài đã dạy :

    1-Đức Phật thường khuyên các đệ tử trước khi uống nước hãy niệm chú để phổ độ cho các vi chúng sinh có trong nước. Mải đến hơn 22 thế kỷ sau, vào cuối thế kỷ 17, các khoa học gia đã phát minh ra cái kính hiển vi đầu tiên và nhờ đó đã có thể nhìn thấy trong một giọt nước có một số lớn các vi sinh vật.

    2-Khi nói về quan điểm vũ trụ Đức Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm : có vô số những thế giới có hình dạng khác nhau với vô số chúng sinh khác nhau. Hơn 21 thế kỷ sau, vào cuối thế kỷ 16, Giordano Bruno cũng đưa ra quan niệm về một vũ trụ bao la vô cùng tận trong đó, ngoài thế giới của chúng ta, có thể còn có vô số các thế giới khác nhau với vô số dạng sống (life-forms) khác nhau.

    3-Thuyết Duyên Sinh hay Duyên Khởi là thuyết căn bản nhất trong Phật Giáo ” Có Duyên thì tụ , không Duyên thì tán ” .
    Giữa thế kỷ 19, Charles Darwin đưa ra thuyết Tiến Hóa, ngày nay, càng ngày chúng ta càng thấy thuyết này rất phù hợp với thuyết Duyên Sinh. Vạn Pháp trong vũ trụ đều do đủ duyên mà thành, hết duyên thì diệt, và đây cũng là căn bản của thuyết Tiến Hóa, từ sự xuất hiện của các cây cỏ cho đến con người. Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết trong cuốn “L’Infini Dans La Paume de la Main”:
    “Tiến hóa từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm”
    (Poussières d’étoiles, nous partageons la même histoire cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande).

    4-Thuyết Vô Thường của Phật Giáo là một hệ luận của thuyết Duyên Sinh.

    5-Thuyết Tương Duyên, Tương Tức, Dung Thông Vô Ngại, Một là Tất Cả v..v.. của Phật giáo trong Kinh Hoa Nghiêm. Khoa học ngày nay, nhất là khoa Vật Lý Nguyên Lượng (Quantum Physics), nghĩa là môn vật lý khảo sát thế giới của các hạt “Tiềm Nguyên Tử” (Subatomic particles) cũng đã chứng minh rằng mọi vật đều liên hệ tới nhau, không có cái gì có thể có tự tính, nghĩa là độc lập, không tùy thuộc bất cứ cái gì khác. Đây cũng là căn bản thuyết Vô Ngã của nhà Phật.

    6-Phật Giáo là một tôn giáo trị liệu, nghĩa là một tôn giáo chữa những căn bệnh gốc của thế gian , tuỳ bệnh mà cho thuốc. Thiền định là một phương pháp trị liệu tâm thần hữu hiệu mà ngày nay nhiều người Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo v..v.. áp dụng.

    Đức Phật quan niệm trí tuệ mới là giải thoát cho con người , chứ không cầu xin , van nài bất cứ một vị Thần , Thánh , Phật nào đầy đủ quyền uy có thể giải thoát cho chúng ta được.

    * Tôi xin lưu ý : chỉ có Phật của Đại Thừa là dạy cầu nguyện sẽ được cứu rỗi như Kito giáo. Đừng nhầm đó là Phật giáo chính gốc của Thích Ca.

  24. Tom Nguyen nói:

    Đối với Đức Bổn Sư Thích Ca chỉ có lòng tin tự nơi mình sau khi xét nghiệm điều ấy không gây đổ máu , khổ đau và chết chóc cho ai , điều ấy đựơc các bậc thiện trí thức tán dương và đồng tình . Nếu đem ra thực hiện thì đem đến hạnh phúc và an lạc thì ta mới tin . Trái lại Đại Thừa không dạy đức tin như thế . Khi nói đến ĐỨC TIN là bắt buộc phải tuyệt đối (Absolute) .Nếu so sánh đức tin theo lối này thì Kito giáo và Phật giáo ( Đại Thừa ) hoàn toàn giống nhau . Vì cả hai tin cậy vào lời cầu nguyện Jesus và A Di Đà không một chút hoài nghi và tâm không được nghĩ loạn bậy . Cứ nhắm mắt mà tin thì sẽ được cứu vớt . Về Phật giáo Đại Thừa thì có kinh 48 lời nguyện của A Di Đà . Riêng Ca-tô Roma thì có kinh TIN KÍNH ( Tin rồi còn phải kính nễ ) như sau :

    KINH TIN KÍNH .

    -Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.

    -Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu KiTô là con một Đức Chúa Cha cũng là Chúa chúng tôi, bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Maria đồng trinh,
    chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô,
    chịu đóng đanh trên cây thánh giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông,
    ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng;
    ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

    -Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.

    -Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công.

    -Tôi tin phép tha tội.

    -Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.

    -Tôi tin hằng sống vậy.

    Amen.

    Nếu nói đến Phật giáo nguyên Thũy của Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni thì đức tin Ngài không dạy tin mù quán như thế . Đối với Ngài thấy chưa hẳn đã tin , nghe cũng đừng tin vội ….. mà chỉ thực sự tin khi đã nhận thức , suy nghĩ cùng đem ra thực hành không gây khổ đau , đỗ máu cho ai rồi mới tin . Không phải Ngài dạy chúng ta tánh đa nghi , mà Ngài biết rằng sau khi Phật nhập diệt thì kinh sách in ấn , dịch thuật có thêm bớt và sai . Thậm chí ngay cả những cao tăng đức độ nhiều lúc vì hoàn cảnh , thời cuộc cũng giảng sai ý kinh . Đó là nguyên nhân mà Như Lai biết sẽ xẩy ra và đã xảy ra thật . Mời quý vi nghe kinh ” Đức Tin ” của Ngài Thích Ca dạy rất rõ ràng , sáng suốt , thông minh và khoa học hơn các tôn giáo khác :

    KINH 10 ĐIỀU CHỚ VỘI TIN

    …Này các thiện nam tín nữ Ka-la-ma, nhân đây Như Lai sẽ giảng giải về 10 nền tảng của đức tin chân chánh:

    – Một là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.

    – Hai là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.

    – Ba là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.

    – Bốn là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách vở.

    – Năm là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình.

    – Sáu là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.

    – Bảy là, chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.

    – Tám là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.

    – Chín là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.

    – Mười là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.

    Này các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì, các vị phải quán sát, suy tư và thể nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy: “Lời dạy này tốt lành, đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán, nếu sống và thực hiện lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc , không gây khổ đau , làm đổ máu ngay hiện tại và về lâu, về dài” thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo.

    Cùng là ĐỨC TIN nhưng người thì dạy cứ đặt niềm tin tuyệt đối , thậm chí ” Không thấy mà tin ” như Ca tô Roma giáo và Phật giáo Đại Thừa . Đó chỉ là những lời dạy đức tin nhằm ru ngũ , đánh lừa chúng sanh nhằm mang theo một ý đồ thống trị đằng sau . Càng đọc lời kinh dạy của Như Lai chúng ta thấy dù hàng triệu triệu năm sau vẫn hợp thời vì mang tính cách tự do – dân chủ – độc lập cho con người . Ngài luôn luôn nâng cao tinh thần hiểu biết để suy đoán trước khi tin và làm . Cái chân lý ấy ngàn ngàn đời không bao giờ thay đổi .

  25. Tom Nguyen nói:

    GIẢI THOÁT .

    Đạo Phật của Ngài Thích Ca là đạo Giải Thoát . Giải thoát là gì ? Là vượt ra ngoài không còn vướn bận khổ đau , không còn luẩn quẩn trong vòng sanh – già – bệnh – chết . Vậy thì cái gì tạo ra khổ đau ? Khổ đau là do sự nhớ nhung , thương tiếc , ước vọng mà tạo nên . Khi thương nhớ một người thân như cha mẹ , anh em , họ hàng quyến thuộc , ngoài xã hội có bạn bè và thân thiết hơn là người yêu . Nếu không đạt được hoặc do điều kiện , hoàn cảnh làm cho xa cách ngắn hạng hoặc dài hạng là biệt ly ( chết ) vĩnh viễn không còn gặp nhau . Những sự kiện đó là cho ta tiếc nuối , nhớ nhung , cầu khẩn ….. đó là những mầm mống tạo nên khổ đau . Muốn tránh được điều đó thì đừng bao giờ khởi niệm nhớ gia đình, nhớ nhà cửa, nhớ con cái và những người thân quyến thuộc của mình . Vì vậy, nếu chúng ta muốn tu hành chứng đạo thì đừng bao giờ nhớ nghĩ đến cha mẹ, con cái, bè bạn, những người thân bằng, quyến thuộc của mình thì tu hành mới chứng đạo . Ngày xưa Đức Phật muốn xuất gia để tìm đường giải thoát thì bước đầu vẫn là từ bỏ gia đình , vợ con , danh vọng , ngôi vị , tiền tài để lên rừng tìm một nơi vắng vẽ để tu một mình khỏi phải vướng bận một ai .

    Khi sống một mình như con Tê Ngưu một sừng thì không còn sự liên hệ về tình cảm gia đình , xã hội . Một cuộc sống đơn độc từ thể xác đến tâm hồn .

    Cho nên trong câu kệ này Phật dạy:

    -“Con cái còn không nhớ
    Nói gì đến bạn bè” .

    Như vậy một sự cô lập không còn vây quanh ràng buộc bởi tình cảm , hay nói rộng ra là những cảm xúc vui – buồn – hờn – giận . Nếu cứ sống còn quan hệ gia đình , xã hội sẽ nảy sinh ra tình cảm . Đúng vậy, điều quan trọng không thể sống MỘT MÌNH là khi chúng ta có con cái thì cứ lo nghĩ đến con cái, vì thế tâm không bao giờ yên ổn. Tâm không yên ổn do nhớ nghĩ đến đứa con này, đứa con khác . Sự thương ghét nhiều lúc không đồng điều , công bằng tạo nên cảnh xáo trộn ảnh hưởng tâm lý . Vậy thì làm sao muốn giải thoát mà còn dây dưa , tụ tập chúng sanh , Phật tử ngày đêm tụng niệm , lại bày ra cúng sớ sao , vớt vong vớt cốt , còn xin xâm bói toán đầy mê tín dị đoan , cầu an , sám hối hoàn toàn đi ngược lại lời dạy của Đức Phật . Phật dạy: “Các con hãy tự thắp đuốc lên mà đi”, có nghĩa là các con đừng cầu khẩn ai giúp cho các con được mà phải chính sức tự lực của các con mới cứu các con thoát mọi sự khổ đau của chính các con. Mà chính các con muốn thoát ra mọi sự khổ đau của cuộc đời mình thì chỉ có sống MỘT MÌNH.

    Vì sợ sống một mình thì cô đơn , buồn tẽ nên các Thầy Đại thừa – Tịnh độ rất sợ . Họ muốn nhiều Phật tử tụ họp cầu nguyện , đàn ca xướng hát , hội họp bầu bán Ban Trị Sự để phát triễn chùa , gom thêm Phật tử . Ngoài ra còn có dịp Phật tử chùi dọn , nấu nướng hầu hạ Thầy còn hơn cả vị lãnh tụ , như vậy thì tu để giải thoát cái gì ? Giải thoát để ai hưởng sự sung sướng này ? Vì vậy các Thầy tu mà không muốn giải thoát . Ở trần thế còn sướng hơn . Chính vì sợ cô đơn nên tu sĩ Phật giáo Trung Hoa mới sản xuất ra nhiều đức Phật như:

    Phật A Di Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, Bồ Tát Địa Tạng Vương, Phật Mẫu Chuẩn Đề, Phật Di Lặc v.v.. . Còn tệ hại hơn là con khỉ Tề Thiên Đại Thánh cũng đựơc phong thành Phật Tàu để tụng niệm : Nam mô đấu chiến thắng Phật ” (92).

    Phật Di Lặc là một đức Phật được các nhà sư Trung Quốc sắp đảo chánh cho lên thay thế đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm Giáo Chủ cõi Ta Bà. Các nhà sư Đại Thừa Tịnh độ rất khéo léo , tinh vi làm một cuộc cách mạng lật đổ đức Phật Thích Ca Mâu Ni và thay thế vào một đức Phật Di Lặc làm giáo chủ mà Tu sĩ , phật tử không ai hay biết cả. Hoặc có biết cũng khó thoát khỏi chiếc vòng kim cô do lớp Tỳ kheo thâm niên tu lên thành Tổ lèo lái một cách mù quáng . Nó đã di truyền và ăn sâu hàng trăm năm trở thành tập tục giống như chuyện thờ ông táo , bình vôi của người Hoa nhồi nhét . Muốn thoát khỏi những vô minh đó thì chỉ ánh sáng trí tuệ , giáo dục nâng tầm hiểu biết của Phật tử mà quý thầy trí thức là con tàu dẫn đầu mới phá thạch , lấp sông cứu nguy đạo pháp chân lý Thích Ca .

    Trở lại kinh Pháp Hoa mà người Tàu phái Đại Thừa Tịnh độ sáng tác và gán cho lời Đức Phật Thích Ca mà ngày nay nhưng Phật tử thấp hèn tin theo thì không chấp trách , ngay các bậc trưỡng lão , Hòa Thượng mà vẫn không nhìn ra được hành động thô bỉ của Đại Thừa chửi bới Thích Ca là ngu dốt như đứa con bỏ nhà ra đi của câu chuyện ông trửơng lão . Còn nhục mạ trắn trợ hơn là gán cho Ngài Thích Ca tội THAM NHŨNG khi nàng Long nữ hối lộ dâng chuổi hạt để xin thành Phật trong kinh Pháp Hoa , phẩm 12 như sau :

    Bấy giờ, ngài Xá-Lợi-Phất nói với Long-Nữ rằng : “Ngươi nói không bao lâu chứng được đạo vô thượng, việc đó khó tin. Vì sao? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể được thành vô-thượng chánh-giác? Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng: Một, chẳng được làm Phạm-thiên-vương; hai, chẳng được làm Đế-Thích; ba, chẳng được làm Ma-vương; bốn, chẳng được làm Chuyển-luân thánh-vương; năm, chẳng được làm Phật. Thế nào thân gái được mau thành Phật?”.

    Lúc đó, Long-Nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi tam-thiên đại-thiên đem dâng đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long-nữ nói với Trí-Tích Bồ-Tát cùng tôn giả Xá-Lợi-Phất rằng: “Tôi hiến châu báu, đức Thế-Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?”.

    – Đáp: “Rất mau”.

    – Long-Nữ nói: “Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó”.

    (Kinh Pháp Hoa -Phẩm “Đề Bà Đạt Đa ” : thứ 12 ,trang 310 )

    nguồn :http://www.quangduc.com/kinhdien/23phaphoa12.html

    Thật là một tệ hại và nham hiểm của phái Đại Thừa Tịnh độ gán ép , thêm thắt nhằm vu khống , bôi nhọ nhằm hạ bệ Đức Thế Tôn để chuẩn bị đưa Di Lặc người Hoa lên làm giáo chủ . Họ ghi vào kinh Pháp Hoa và bảo lời Đức Thích Ca dạy là sau này có Di Lạc xuất hiện và lãnh đạo thế Thích Ca . Nhưng cái giáo lý cúi đầu cầu nguyện A Di Đà – Di Lạc , Quán Thế Âm để nô lệ Trung Hoa thì Phật tử sẽ từ bỏ và tẩy chay giống như Thanh Hải Vô Thượng Sư đang bỏ của chạy lấy người . Chân lý bao giờ cũng trường tồn , dù cho bị mây mù che phủ , bôi nhọ một thời gian rồi vẫn sáng . Cho nên hành động xảo trá của Đại Thừa Trung Hoa đã đánh lừa qua 2000 năm bao nhiêu bậc thiện trí thức , Tăng sỹ thâm niên đều cúi đầu đọc tụng mà không suy nghĩ vì vô minh đang che lấp . Để lừa bịp trong các kinh họ còn lớn tiếng đó là lời Ngài Thích Ca Mâu Ni nói không tin sao ? Thật là hổ thẹn và khốn đốn cho những đầu óc Phật tử thường tự hào theo đạo giác ngộ Như Lai .

    Phật tử chúng ta không phải chê trách hay bắt buộc theo Phật này bỏ Phật kia . Đó là quyền tự do tín ngưỡng chọn lựa của mỗi cá nhân . Nhưng sĩ nhục ở điểm là họ lồng vào đạo Phật Thích Ca và mượn Ngài để lừa đảo chúng sanh và tu sĩ . Tại sao Đại Thừa Trung Hoa không đưa ra một tên tôn giáo riêng mà A Di Đà hay Di Lạc là giáo chủ . Có ai cấm đâu , muốn dạy cúi đầu cầu nguyện hay mê tín dị đoan , hứa hảo huyền cái bánh VẼ trên trời như đạo chúa có sao đâu . Điều ô nhục và hèn hạ của Đại Thừa là ” Ném đá dấu tay ” . Làm chuyện xấu , đê hèn rồi gán cho Ngài Thích Ca . Nếu đức Bổn sư ham danh lợi , quyền uy , vàng bạc , vợ đẹp con thơ thì Ngài từ bỏ tất cả để ra đi tìm đường giải thoát làm gì ? Nay chỉ vì nàng Long Nữ hối lộ xâu chuổi giả sử là giá trị 1 tỷ Đô – La cho Ngài cũng không thể sánh bằng ngôi vua mà Ngài sắp trị vì ngày xưa , hoặc hiểu theo nghĩa bóng là giá trị về giáo lý cao siêu thì hình thức trao và nhận cũng là hình thức tham nhũng , hối lộ mà Đại Thừa đặt ra nhằm bôi nhọ Ngài Thích Ca . Đại Thừa đặt ra kinh Pháp Hoa để đánh lừa những Tỳ kheo vô minh chứ không thể đánh lừa ai lâu dài được . Ngày nay rất nhiều bậc trí thức , tu sĩ như HT Thích Thông Lạc , HT Thích Chân Quang và trong đó có tôi đang cố gắng chứng minh và VẠCH TRẦN sự đánh phá , đội lốt Phật giáo giải thoát của Đại Thừa Trung Hoa muốn cướp ngôi vị và quyền lãnh đạo Phật giáo Thế giới . Đối với Đức Thích Ca tất cả những thứ đó Ngài xem như ĐÔI DÉP RÁCH mà Ngài đã vứt bỏ hơn 2555 năm nay rồi . Ai tham thì nhặt lấy , ai mù quán thì tin theo , nhưng XIN ĐỪNG ĐỘI LỐT THÍCH CA , đó là cái nhân lẫn đức tối thiểu của một con người bình thường chứ đừng nói gì đến bậc tu hành hay Phật tử .

  26. Tom Nguyen nói:

    Sự sai lầm to lớn của phái Đại Thừa Tịnh độ càng ngày càng lún xuống bùn sâu . Đã nhận chìm và mang đi một phần ( chỉ một phần thôi ) nhỏ của chân lý Ngài Thích Ca . Đạo của Ngài là giải thoát khổ đau chứ không phải đạo kinh doanh , làm giàu và hưởng thụ . Ngày nay nhìn vào các chùa , các thầy , các Phật tử đang hụp lặng trong mê lầm đi sai đường của Phật tổ mà đau lòng không nguôi . Tôi xin thuật lại câu chuyện câu chuyện của Thiền sư Ấn Độ Ram Gopal Muzumdar:

    “Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị thiền sư sống trong một cái cốc nhỏ, sống đạm bạc, quyết chí tu hành. Một này kia, có công việc, vị thiền sư phải đi xa, dặn đệ tử ở lại phải lo chăm chỉ tu hành, chớ hề xao lãng cũng, giữ lối sống đạm bạc và tâm hồn thanh tịnh.

    Người đệ tử này chỉ có một chiếc khố che thân, đêm tới khi ngủ, máng trên vách, thường bị chuột ra cắn rách, phải xin vải thừa bá tánh thay đổi nhiều lần.

    Thấy vậy, thương người tu hành, người làng đến biếu thầy một con mèo dùng để đuổi bầy chuột. Từ khi có mèo, chuột hết cắn phá khố của thầy nhưng lại phải lo thức ăn thêm cho mèo. Một phú nông trong làng có lòng biếu thầy một con bò để thầy vắt sữa nuôi mèo. Có bò rồi, thầy lại phải lo đi cắt cỏ nuôi bò. Dân làng lại có lòng tốt biếu thầy một đám ruộng màu mỡ để thầy canh tác.
    Chẳng mấy lúc, được mùa, lại bò mèo đều sinh sản thêm, thầy phải nhờ đến dân làng phụ lực cày cấy. Không bao lâu, chốn thanh tịnh xưa kia trở thành một nông trại rộng lớn giàu có.

    Thầy lúc ấy tiền bạc không thiếu, mới có ý định phá bỏ chùa nghèo cũ, xây chùa mới, bá tính mới nghe đã dốc lòng, ùn ùn góp công góp của cúng dường để lấy phước. Chẳng mấy chốc thầy đã xây dựng một ngôi chùa mới nguy nga tráng lệ, tượng lớn, cửa cao, trong ngoài đều sơn son thếp vàng như chốn cung đình của Vua Chúa. Quá giàu, thêm đa đoan công việc, tính toán kinh doanh làm sao được nhiều tiền hơn, đêm đêm thầy bù đầu với những con số thu chi, không còn dốc tâm cũng như có thời gian để tu học. Ngày nay thầy đã trở thành triệu phú, đại tư bản, chỉ có bộ áo cà sa bên ngoài cho biết thầy là một tu sĩ.

    Một ngày kia sư phụ trở về, mới đến rẻo đất cũ đã thất kinh rụng rời, hồn phi lạc phách, không thấy túp lều cỏ đơn sơ ngày xưa mình ra đi, mà trước mặt là một ngôi đền tráng lệ, khách thập phương lui tới chiêm bái, ngựa xe dầy đặc, ồn ào không kém gì chốn phồn hoa trần tục. Thấy sư phụ chống gậy, tay nải trở về, thầy hân hoan ra đón, cặn kẽ trình bày lại những chuyện đổi thay tuần tự theo thời gian, hy vọng được sư phụ nhiệt liệt khen ngợi, xiễn dương công đức của thầy.
    Sư phụ nín lặng hồi lâu, cuối cùng thở dài mà nói rằng:

    – Từ một cái khố rách chuột cắn, con đã lầm đường đi một bước quá xa đến cái lâu đài này, ngược với những điều gì ta đã dạy con tu học nhằm để giải thoát và giúp người giải thoát. Chùa lớn nguy nga thì phải lo tu bổ coi sóc, tín đồ đông thì ồn ào, hỗn tạp, được phước thì thời giờ đâu nữa mà tu học.

    “Người tu sĩ đó là tôi, tôi đã từ bỏ hết để theo thầy lên non học đạo, và nay tôi áp dụng nó (đoạn tuyệt tài sản) để chữa mọi bệnh nan y trong tu viện này…”

    Câu chuyện Thiền sư Ấn Độ Ram Gopal Muzumdar ở trên được đọc lại trong Video dưới đây mà Tác giả Huy Phương có nhắc lại trong truyện “Hạnh Phúc xót xa ” http://www.voanews.com/vietnamese/ne…105074464.html

    [center][flash(425,350)]http://www.youtube.com/v/nBnd3QD7pds[/flash][/center]

    Tác giả ngậm ngùi thương xót cho tiếng chuông chùa năm nào vẫn còn nhưng không hiện thực nói lên cõi lòng thanh tịnh , từ bi của Như Lai . Tiếng chuông chùa ngày nay vẫn có ở Việt Nam nhưng không còn ngân nga , trầm tĩnh vang vọng một cõi thanh tịnh ngôi chùa nhỏ bên giòng sông xanh . Tiếng chuông chùa ngày nay vẫn có nhưng nó đang pha trộn một sự trần tục , ồn ào , ma quoái đầy mê tín dị đoan của thời mạt pháp . Ở các chùa hải ngoại tiếng chuông chùa còn thê thảm hơn khi bị bao bọc trong những cửa kính không thoát âm thanh ra cỏi ta bà chốn trần gian . Không những bị giới hạng bằng bốn bức tường kín mà nó hình như không mấy được hoan hỹ đón nhận của những người khác đạo ở chung quanh . Vì họ từng nghe tiếng chuông nhà thờ réo rắc thúc dục, dồn dập không thong thả ngân nga đi vào tâm hồn thanh tịnh như chuông chùa . Tôi sẽ đưa Video sau .Tại sao khi nghe lại tiếng chuông chùa Huy Phương rất hạnh phúc , nhưng tại sao lại xót xa trong cái hạnh phúc đó ? Vì vũ trụ biến đổi xoay vần đã làm xói mòn tiếng từ bi cũng ô nhiểm , suy thoái theo thời gian .

    Qua câu chuyện của Thiền sư Ấn Độ Ram Gopal Muzumdar mà quý vị vừa nghe đã và đang là một niềm đau xót trong tâm tư những người con Phật thức tĩnh mà Huy Phương là người đại diện nói lên nói lên .

    Tác giả quê gốc ở Huế , sau bao nhiêu năm lưu lạc vì thời cuộc ra đi sống một phương trời xa xăm . Khi trở lại ngôi nhà từ đường thờ cúng tổ tiên bên giòng sông Hương . Lúc mờ sáng tác giả lắng nghe tiếng chuông chùa từ bên bờ kia vọng lại . Huy Phương đã tâm sự nổi lòng khao khát muốn nghe lại tiếng chuông cảnh tĩnh của Ngài Thích Ca ngàn năm trước mà lòng cảm thấy vừa ấm cúng cũng vừa xót xa bên cái hạnh phúc bất chợt . Huy Phương tâm sự :

    Nhiều đêm thức giấc trong sự vắng lặng của thành phố nhỏ này, lan man nhớ lại thời tuổi trẻ, bỗng dưng tôi thèm nghe một tiếng chuông chùa.

    Tiếng chuông đó tôi đã từng gặp trong những ngày tháng thơ ấu, tiếng chuông thanh thoát như gợi lên từ tĩnh lặng, đến đây từ hư vô, đem lại cho tâm hồn sự bình an, không phiền muộn.

    Một buổi chiều nào đó, thời niên thiếu, tôi đã nghe tiếng chuông từ chùa Linh Mụ vọng về theo dòng sông, qua những bờ lau lách, qua những ruộng mía xanh rì vẳng đến ngôi trường học bên bờ sông Hương. Ngày tôi trở về thăm lại quê hương đổ nát sau những năm dài lưu lạc khổ đau, mỗi đêm gần sáng, trong ngôi từ đường, tôi thường thức giấc bởi những hồi chuông từ ngôi chùa nhỏ bên kia sông vọng lại. Tôi nằm nghe tiếng chuông dóng dả khoan thai như một lời an ủi, tỉ tê. Tiếng chuông như ru tôi rũ sạch mọi muộn phiền.

    Tôi đã xa những tiếng chuông như thế trong nhiều năm, bỏ lại thành phố nhỏ, con sông mượt mà và cả tuổi thơ không bao giờ có thể tìm lại. Danh lợi, chiến tranh, và hận thù đã xô đẩy loài người đến với âm thanh của những tiếng bom đạn, tiếng kẻng tù, tiếng rú của những nhà máy nhả khói mịt mù và thế giới văn minh với những dòng xe rộn ràng, vội vã.

    Ngày xưa chúng ta đã từng nghe tiếng chuông trong Đường thi của Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Thường Kiến. Chúng ta ai mà không biết đến cái nửa đêm trăng tàn, sương xuống, quạ kêu và tiếng chuông chùa Hàn San vọng lại giữa đêm của Trương Kế. Và gần đây Quách Tấn với: “Những đêm buồn tỉnh giấc, chùa cũ tiếng chuông ngân.” Tiếng chuông luôn luôn là của phần hồn, của siêu thoát, của an nhiên tự tại khác hẳn với những gì trần tục, đời thường. Vậy mà tiếng chuông chùa đã không còn nghe nữa!

    Khi bạn nghe tiếng chuông nhà thờ có một âm vang náo nức – thúc dục – chát chúa – nóng bỏng nếu không muốn nói thêm là BẠO ĐỘNG .

    Khi nghe chuông đổ như một sự tĩnh thức tâm hồn ” Dậy mà đi ” . Đi đâu thì tùy tâm ý của mỗi người . Bạn không thể an nhiên tự tại , vô cảm khi tiếng chuông nhà thờ vang vọng bên tai . Nào mời bạn vào video thử lắng nghe :
    [/size]

    [center][flash(425,350)]http://www.youtube.com/v/-ANo0249W0E[/flash][/center]

    Trái lại tiếng chuông chùa nghe ngân vang và thấm sâu vào tâm hồn dễ cảm xúc . Vốn không vồn vã – thúc dục – chát chúa , mà nó làm cho người nghe tự nhiên trầm tĩnh ,lắng đọng tâm tư , thấm thía như xoáy vào những tấm lòng tha thiết , ước ao một sự giải thoát tâm linh .

    Lúc đánh chuông phải khoan thai , từ tốn và niệm bài kinh ” Thỉnh chuông ” , điều này cũng do mấy ông Đại Thừa bày vẽ ra thôi , chứ ngày xưa Đức Phật Thích Ca hành đạo đâu có chùa to , chuông lớn nói chi là đủ hạng Phật ngồi chểm chệ trên cao đầy bánh chuối cúng dường cho chúng sanh bái lạy . Hể có nhận quà cáp tất phải thỏa mãn lời cầu nguyện của chúng sanh . Nói đến cầu nguyện thì ai cũng mong nhà cao cửa lớn , vợ đẹp con thơ , giấc mơ làm quan lớn v.v……. Điều này Ngài hoàn toàn không có và cương quyết bác bỏ . Hình thức lễ lược chỉ là những biểu diễn hát ca , múa may có tính thế tục . Vậy thì làm sao tâm hồn yên tĩnh để quán giải thoát đây .

    Mời quý vị thử nghe tiếng chuông chùa :

    [center][flash(425,350)]http://www.youtube.com/v/K5Bi_BWtURg[/flash][/center]

  27. Tom Nguyen nói:

    Trong cuộc đời này ai mà chẳng muốn hạnh phúc . Nhưng tại sao Thái tử Tất Đạt Đa con vua Tịnh Phạn sống trong giàu sang , uy quyền tột đỉnh . Nhưng tiền bạc danh vọng chưa hẳn đem lại hạnh phúc . Điều đáng ngạc nhiên là vị Thái tử này đang sống bên nàng công chúa Ma-Da đẹp tuyệt trần lại vừa sanh ra một hoàng tử thông minh đỉnh ngộ , nhìn vào không ai dám bảo Ngài là người mất hạnh phúc . Nhưng không đâu , trong cái hạnh phúc đó Ngài đang khổ đau , cái đau khổ của chúng sanh khi ra bốn cửa thành Ngài vẫn thấy những người già yếu , bệnh tật , những người đang thiếu ăn và lang thang tìm sự sống từng giờ . Ngài đau khổ khi con người mới sanh ra đã tuôn ra tiếng khóc như oán hờn trách móc mà văn hào Jean Paul Sartre đã viết trong cuốn ” La Nausé ” ( Nôn mữa ) rằng :

    “Tôi sanh ra là do tình dục giữa hai người .Tại sao lúc sanh ra cha mẹ không hỏi ý kiến tôi trước . Rồi đặt cho tôi một tôn giáo mà tôi hoàn toàn không hay biết “.

    Cũng như anh chàng thanh niên Hữu Hưng kể lại :

    “Một buổi sáng, sau khi vừa lĩnh lương, vợ tôi “bí mật” đi mua về một cặp lồng bún giò heo đầy tú hụ, nghĩ là tôi hẳn sẽ ngạc nhiên và sung sướng vì nhà tôi ít khi đi ăn sáng ở quán. Nhưng tôi bảo:

    – Lâu nay có viết được bài nào đâu, nhuận bút không có, tiền đâu mà ăn sáng thế? Mình ăn cơm nguội với vừng thôi!

    Tôi viện cớ ấy, chứ thực ra chủ yếu vì tôi “phát hiện” ra mình dạo này bụng đã bắt đầu phệ mà các nhà khoa học khuyên là tuổi già cần bớt ăn thịt mỡ. Đương nhiên là bà xã bất mãn, giọng gắt gỏng:

    – Không có ai như anh! Sướng không muốn, lại muốn khổ! ”

    Trong cái sung sướng vẫn có khổ đau , có những cái khổ đau trong sung sướng . Điều mà chúng ta chưa hiểu trong hạnh phúc mà lại xót xa như Huy Phương mang ý nghĩa thế nào .

    Cái giá hạnh phúc bao giờ cũng trả bằng khổ đau , trong cái khổ đau còn chất chứa sự nhịn nhục và nhục nhã . Nhưng nếu đi sâu và hiểu giáo điều Đức Phật thì đó là những hạnh TỪ BI – HỸ XÃ cần có và đáng quý nhất của người tu học , một Phật tử chân chính . Nói đến tín đồ Phật Giáo có thể chia làm năm loại:

    1. Người tín đồ đến chùa cúng bái, cầu an, cầu siêu, xin xăm, bói quẻ, xem ngày tốt xấu, cúng sao, giải hạn v.v…….. ( Phật tử mê tín ).

    2. Người tín đồ đến chùa cúng dường chư Tăng, nghe thuyết pháp giảng kinh để tìm hiểu Đạo Phật, những người này có học thức nhưng lại thiếu cân nhắc, nghe giảng pháp nào tin ngay pháp nấy. Không biết pháp có đúng hay sai của Đạo Phật, cứ nghe giảng có lý là cứ tu tập. Do thế, sanh ra kiến chấp, tranh luận hơn thua ……. (Phật tử nông nỗi).

    3. Người tín đồ đến chùa ít cúng dường chư Tăng, ít lễ Phật, ít cúng bái, chỉ chuyên nghe thuyết giảng kinh điển, học thuộc làu nghĩa lý và thỉnh nhiều loại kinh sách của các nhà học giả nghiên cứu sưu tầm soạn ra, lấy đó làm tiêu chuẩn, rồi cũng tự kiến giải nghĩa lý ấy, theo quan điểm riêng tư của mình, tìm các bậc tu hành tranh luận hơn thua để hạ nhục họ và tự cho mình như một bậc Thầy thông suốt lý đạo. Đôi khi, còn tỏ ra như mình đã tu chứng (Phật tử kiêu căng ).

    4. Người tín đồ đến chùa không cúng bái Phật, không cúng dường chư Tăng, không nghe thuyết giảng kinh, chỉ móc nối làm ăn ( Phật tử mượn danh làm ăn ).

    5. Người tín đồ đến chùa cúng bái Phật, cúng dường chư Tăng, nghe thuyết giảng kinh điển để tìm hiểu và cân nhắc pháp môn nào đúng, pháp môn nào sai, để chọn lấy pháp môn chân chánh của Đạo Phật rồi mới tu tập ( Phật tử chân chánh ).

    Trong năm loại Phật tử, chỉ có loại Phật tử thứ năm, mới chính là tín đồ Phật Giáo thuần thành, chấp hành nghiêm túc theo đúng lời dạy của Đức Phật, còn bốn loại Phật tử kia, là tín đồ không hiểu Đạo Phật chịu ảnh hưởng tà giáo ngoại đạo khiến Phật Giáo suy vong cũng chính do bốn hạng Phật tử trên, nhất là hạng Phật tử mê tín.

    Ai đến chùa cũng mong cầu Phật cho giàu sang , sung sướng , ăn ra làm nên , quyền cao chức trọng v.v…… Không ai cầu cho mình HẠNH PHÚC mà cái hạnh phúc không khổ đau , xót xa mới là đáng quý .

    Huy Phương với tựa đề cuốn sách ” Hạnh Phúc xót Xa ” tuy để nói về niềm đau của những người con Phật như anh phải xót xa trong sự đi sai con đường giác ngộ của Ngài Thích Ca . Đại Thừa có công cải biến đưa đạo giác ngộ thành đạo cầu nguyện , mê tín dị đoan . Ngày nay dưới hình thức mang tính chất cầu đạo bên ngoài , con người đâm ra suy yếu trước Thần linh , bất cứ sự thất bại , khổ đau trên trường đời họ tin rằng cúi đầu cầu nguyện sẽ được giúp đở sẽ toại nguyện . Bên cạnh đó kẽ gian manh lợi dụng giữa con người và con người ,kể cả các Thầy khai thác triệt để . Như chuyện cầu may mắn , cầu duyên , cầu phước , bói tướng , làm bùa phép ……do người Trung Hoa đặt ra ngoài xã hội đã được quý Thầy đưa vào chùa chiền là nơi tu tập thành một siêu thị mua bán đức tin . Mời xem phim :

    Nếu nhìn chung ngoài xã hội về hạnh phúc sao lại chua xót , nó mang một triết lý trừu tượng và quá rộng rải . Nay thử lấy bản thân gia đình tôi để làm ví dụ .

    Ngày xưa tôi chưa hiểu thế nào là chân lý là đạo giải thoát của Ngài Thích Ca . Tôi cũng nghĩ Phật nào cũng là Phật nên cứ lễ bái , cầu nguyện bú sua mỗi lần theo Mẹ lên chùa . Đương nhiên người cổ hủ như Mẹ tôi thì mê tín hết chỗ chê . Ngay chuyện xem tuổi hỏi vợ cho anh tôi cũng hàng chục mối , chỗ thì hai tuổi không hạp nhau , chỗ thì thầy bói là khắc khẩu , sát phu …… tội cho anh tôi nhiều mối cô ta rất xinh đẹp , dễ thương lại học thức cao nhưng cô thì bị chê tuổi hiếm muộn đường con cái , tuổi làm ăn không ra ……. Cứ thế mà Mẹ chọn lựa hoài . Kéo dài hai năm Mẹ mới chọn một cô gái con nhà quan tuổi Dần ( cọp ) và anh tôi là tuổi Thân ( Khỉ ) nhỏ hơn anh tôi 6 tuổi . Ai cũng biết Cọp và Khỉ làm sao ưa nhau , nhưng Mẹ thích là được .

    Những chuổi ngày sống bên nhau . Chị ta nay đã lớn và con cái đùm đề . Bên ngoài thì ai cũng khen anh chị rất hạnh phúc , vì chị lúc nào cũng dịu dàng với mọi người , nhất là những bạn trai từ đâu gọi phone đến thì chị rất ngọt ngào gần như bồ bịch . Trái lại trong nhà đối với anh tôi thì khi nào cũng nạt nộ , có lúc chửi bới , sừng sộ mỗi khi nói chuyện tâm tư . Nhưng anh tôi thương Mẹ , thương vợ , thương cái danh giá cho các con , phải im lặng nhịn thua để được tiếng gia đình hạnh phúc . Nhiều đêm tâm sự với tôi anh đã chảy nước mắt và cay đắng xót xa . Anh thường bảo tôi :” Anh rất đau đớn và buồn chán cho cái hạnh phúc của anh ” .

    Đến bây giờ tôi mới hiểu sâu khi đọc cuốn ” Hạnh phúc xót xa ” của Huy Phương mà thấy thương cho anh tôi cũng chính là khóc cho con người của tôi đang nghiệt ngã , xót xa , hận thù cho những thứ hạnh phúc kiểu đó . Hạnh phúc của tôi không giới hạng trong gia đình mà nó bao quát ngoài xã hội , về mặt tâm linh và tôn giáo . Cái xót xa mà tôi đồng cảm với Huy Phương về một tôn giáo nhìn bề ngoài rất thịnh vượng , huy hoàng với những chùa to , Phật lớn . Ngày nay ở trong nước rất nhiều chùa như : Đại Nam Quốc Tự , Trúc Lâm Yên Tử , chùa GHVN …… ngoài nước tuy rằng chưa đầy 100 năm nhưng người Việt hải ngoại đã đưa Phật giáo vào các nước văn minh Âu Mỹ bằng những chùa rất to lớn . Ở Mỹ những chùa Việt Nam , chùa Từ Đàm Hải ngoại , chùa Quán Âm …….. tính hơn 400 chùa , chưa kể các nước Úc , Gia Nã Đại , Pháp như Làng Mai của Thầy Nhất Hạnh , cũng như ở Hòa Lan , Đức , Nga …… Nói chung là một sự phát triễn tột độ của Phật giáo . Đó là một niềm kiêu hảnh , một sự tự hào và một niềm HẠNH PHÚC chưa từng có trong thế giới Phật giáo . Thế thì Huy Phương cho cái hạnh phúc này xót xa chỗ nào ? Phải chăng cái hạnh phúc , cái hào nhoáng bên ngoài nhưng không đem lại một thực tiễn về an lạc , tĩnh thức giúp cho con người giải thoát giống như câu chuyện của Thiền sư Ấn Độ Ram Gopal Muzumdar mà tôi đã thuật lại ở trên .

    Một cái xót xa trong đỗ nát của tâm linh mà không ai biết . Một sự xót xa vì phản bội lại công lao và cuộc đời mà Ngài Thích Ca đã hy sinh tạo dựng . Cái xót xa là sự Hạnh Phúc bề ngoài của phái Đại Thừa không đem lại Hạnh phúc tâm linh như ý muốn của Phật Tổ . Hạnh phúc không phải nhà cao chùa lớn , Phật tử nượp nà đông đúc nhưng bị các thầy đưa vào con đường mê tín dị đoan trở lại thời kỳ cổ đại ngày xưa . Một thời kỳ con người còn mang rợ và bị vô minh che lấp nên khiếp sợ tất cả Thần linh . Ngày nay tuy văn minh khoa học nhưng Đại Thừa vẫn cố tình đưa loài người trở về thượng cổ nhằm những ý đồ ngu dân , đen tối để trục lợi . Đó là cái xót xa không phải dành cho Ngài Thích Ca mà cho chúng ta . Gia tài hạnh phúc đó Ngài đã khổ công tìm ra nhưng chúng ta không biết giữ lấy , phát huy cùng cực để thừa hưởng , đó là nổi đau đớn , xót xa nhất chung của nhân loại .

  28. Tom Nguyen nói:

    Đạo Phật giác ngộ của Đức Bổn Sư Thích Ca nhằm giải thoát con người ra khỏi khổ đau và nô lệ bằng con đường Độc Lập-Tự Tin và Trí Tuệ . Không bao giờ yếm thế , đầu hàng , qụy lụy , van xin sự cứu giúp của người khác .Những nước nào thuần túy theo giáo lý Ngài Thích Ca sẽ hoàn toàn mang sắc thái về tinh thần dân tộc khác với những Quốc Gia tuy theo Phật giáo nhưng dựa vào Đại Thừa cầu nguyện , Mật Tông bùa phép và dâm ô thì nước đó thể hiện cái tinh thần bạc nhược , tàn ác , tham ô và thiếu tự tin mới đi cầu người khác . Qua trận động đất và sóng Thần tại Nhật năm 2011 tôi kể dưới đây là điều minh chứng cụ thể :

    Tại sao người Nhật được ca ngợi sau thiên tai? Đó là một câu hỏi , một thắc mắc lớn không những cho những nước tự hào văn minh hàng đầu Âu Mỹ , mà ngay cả những nước nhỏ bé , chậm tiến , nghèo nàn ở Á Châu , Phi Châu cũng đang cúi gầm nét mặt suy gẫm . Một tấm gương anh hùng , vỹ đại đáng kính đáng mến mà nó không chỉ thể hiện ở một giai tầng quý tộc , trí thức mà ở đây nó được đồng loạt hàng triệu người như một , cùng nhau thể hiện cái tư cách , cái tinh thần bình tĩnh , tương thân tương trợ , nhường nhịn , chia bùi xẻ ngọt cùng nhau trên bước đường hoạn nạn . Dân tộc Nhật sinh ra và lớn lên trong Thần Giáo và Phật giáo đã đào tạo cho mỗi con người một lòng dũng cảm đối với Tổ quốc qua Thần giáo và đồng thời họ được rèn luyện , dạy dỗ tính an lạc , bình tĩnh , chan hòa ( Từ bi – Hỹ xã của Phật giáo ) khi được giáo lý Thích Ca dạy về VÔ THƯỜNG . Cuộc đời đã sanh ra thì phải có hũy hoại , cho nên họ an nhiên tự tại trước mọi hoàn cảnh khổ đau , khi chuyện đã qua thì không còn níu kéo được . Vậy thì ôm cái khổ đau trong quá khứ có ích lợi gì . Họ chia xẻ cho nhau từng nắm cơm trong bóng đêm thiếu ánh sáng đèn điện , họ nhường cho nhau từng chai nước , họ vẫn kiên nhẫn xếp hàng thứ tự cả ngàn người để mua vài lít xăng . Mỗi người chỉ mua 2 lít vừa đủ xe chạy , họ không bon chen tích trử mua thật nhiều trong khi người khác không có . Họ cũng không lợi dụng thời cơ để tăng giá gạo , giá xăng dầu , thức ăn …… Một cái tự trọng cao đến độ mà người Tây phương nào cũng cúi đầu thán phục , khi thấy một siêu thị đèn vẫn sáng , cửa vẫn mở , nhưng con người bỏ chạy loạn vì động đất . Một em bé 10 tuổi vào mua vài hộp bánh kẹo , tự động bỏ tiền vào quầy mà không ăn cắp . Đó là cái tự hào , lòng tự trọng sáng giá của người dân Nhật . Biết bao nhiêu chuyện như thế đã và đang xảy ra trên đất Nhật hôm nay và có lẽ cả ngày mai vẫn cai tinh thần đó .

    Mời các bạn nghe đài truyền hình TV ca ngợi và phân tích tinh thần của người Nhật nhờ họ có được hai tôn giáo hòa đồng là Thần Giáo và Phật Giáo Thích Ca đã nuôi nấng tinh thần dân Nhật . Tại sao Nhật khước từ Phật giáo Đại Thừa – Tịnh Độ đầy mê tín dị đoan , cầu nguyện viễn vông đi ra ngoài giáo lý của Ngài Bổn Sư Mâu Ni , đó là người Nhật đã mạnh dạn gạt bỏ cái tôn giáo dạy con người trở thành bi quan yếm thế , cầu nguyện làm nhụt chí tinh thần tự lập và độc lập của con cháu Thái Dương Thần Nữ . Họ hơn Phật giáo Trung Hoa , Đại Hàn , Việt Nam là ở chỗ biết chọn cho mình một hướng đi về tương lai độc lập – tự cường về cuộc sống trên mặt tôn giáo theo con đường giải thoát – trí tuệ của Phật Thích Ca .

  29. anti_quaden nói:

    cứ lo cãi thì thiên chúa đã cải đạo xong vietnam rồi

  30. Tuệ Đức
    Trong kinh Bát Nhã, ” …Tướng Không của các Pháp Không sanh không diệt, không nhơ không sach, không thêm không bớt,…”
    Thế mà còn luận bàn theo kiểu “thừa này hơn thừa kia” thì cái cách luận giải ấy chỉ dành cho các bậc sơ cơ (cho rằng cái của ta To mà chê cái của người khác là Nhỏ), còn với các bậc đã giác ngộ thì liệu có còn tranh biện kiến giải theo kiểu đó hay không?

  31. nguyen thanh nói:

    Điều gì, cái gì hợp với căn cơ mình thì điều đó cái đó là cao nhất ( đối với mình ) ,đạo PHẬT không có tranh luận cải vả chỉ có trình bày vấn đề, thấy khế hợp thì bàn tiếp không thì thôi, tôi thấy chỉ nội cái việc tu là tự xét mình đễ sữa đổi , tu là đễ độ các loài chúng sanh trong tự tâm vọng của mình vậy mà vô số quí thầy từng nghiên cứu kinh Phật xuất gia tu hành cả đời vẩn sự thật luôn mờ ớ nghỉ là ta cần lo dốc lòng độ chúng sanh ở bên ngoài , giống hệt như người đang bị sắp chết chìm giữa biển khơi không lo vượt thoát lội vào bờ trước – sau đó sẻ dùng phương tiện có thể như thuyền tàu vớt người – mà ngay lúc sắp bị chết chìm ấy cứ lảm nhảm nói , lo cứu vớt mọi người cùng đang sắp bị chết chìm giống mình , – hèn gì họ tranh luận cải vả nhau là phải , chuyện rất dể thấy mà không thấy được thì chuyện khó thấy hơn làm sao họ có thể thấy được , hầu hết tất cả cải nhau chí tử thôi ! ! !

    • cannguyen nói:

      Câu chuyện này đã tốn rất nhiều công sức của quí vị vì phải mất công tìm tài liệu để bảo vệ quan điễm của mình.Nó giống như câu chuyện Phướn động.Thôi thì hãy chấm dứt đi để TÂM đươc an bình .

      • vuacoitroi nói:

        camnguyen: “Câu chuyện này đã tốn rất nhiều công sức của quí vị vì phải mất công tìm tài liệu để bảo vệ quan điễm của mình.Nó giống như câu chuyện Phướn động.Thôi thì hãy chấm dứt đi để TÂM đươc an bình .”

        Trả lời: Khuyên như thế thì thà đừng khuyên.
        Trước tiên Phật tử phải có Chánh Kiến về Chánh Pháp thì mới có thể đi đúng hướng tu hành. Tu hành cũng như đi đường, nhắm mắt đi thì có bị té không? Do vậy, cần phải vạch rõ bản chất giả dối của Đại Thừa cho những người u mê thức tỉnh. Đó là sự từ bi của “tiết lộ sự thật”.
        Mấy cái chuyện “Phướn động”, “gió động”, “tâm động”…là câu chuyện thiền nhạt nhẽo, vô ích của các sư Đại Thừa nhà quê học dốt, tu lười biếng.

        nguyen thanh: “Điều gì, cái gì hợp với căn cơ mình thì điều đó cái đó là cao nhất ( đối với mình ) ,đạo PHẬT không có tranh luận cải vả chỉ có trình bày vấn đề, thấy khế hợp thì bàn tiếp không thì thôi…..”
        Trả lời: Nói như thế thì thà đừng nói. Ở đây là trang blog cung cấp thông tin cho Phật tử biết về Chánh pháp. Thời đại này là thời đại thông tin cần phải lan truyền sự thật cho thiên hạ biết về giả dối của Đại Thừa (đã bị vùi dập hàng ngàn năm tại VN). Phật luôn khuyến khích mọi người đàm luận pháp để tìm cho ra chân lý như sau:
        “Câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến.
        Này các Tỷ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này
        Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy tiếp tục nói những câu chuyện liên hệ đến mười đề tài để nói chuyện này, thời các Thầy có thể với ánh sáng (của mình) đánh bạt ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, có uy lực, còn nói gì của các du sĩ ngoại đạo. ” (Tăng Chi Kinh, phẩm 10 pháp)
        Cần phải làm cho rõ: Đại Thừa là giả, là dỏm. Tôn thờ và binh vực cho cái giả, dỏm thì không xứng đáng là Phật tử.
        Đâu ai phản bác lời vuacoitroi thì hãy chứng minh “Kinh đại thừa là Kinh thiệt xem” (do có sự kiết tập và truyền tụng miệng)
        Thân ái.
        Vuacoitroi.

  32. Nhan Qua Nhan nói:

    Đức Phật đã từng tuyên bố Thành ,Trụ, Hoại, Diệt.theo quý vị Đạo Phật đang ở thời kỳ nào? Nếu tính theo Theravada đã hơn nữa chặng đường vì Đức Phật tuyên bố giáo pháp của Ngài chỉ tồn tại năm ngàn năm chắn (5000).nếu tính theo Bắc Tông thì vào thời kì mạc pháp.nếu đã hiểu vậy Giả Danh này khuyên quý vị hãy cứ để theo quy luật tự nhiên Thành, Trụ, Hoại, Diệt.tùy theo căn cơ nhân, duyên của mỗi chúng sanh mà sẽ cảm nhận Đạo Phật đúng,sai khác nhau, chúng ta hãy dành thời gian quý báu ngắn ngủi của kiếp người mà lo hành Thiền vì cả hai phái đều công nhận Thiền là của Đức Phật, một ngày nào đó các bạn sẽ vở lẻ ra tất cả các kiến chấp, các hí luận của ngày hôm nay.các bạn có lòng tốt bảo vệ Chánh Pháp của Đức Phật nhưng căn cơ trình độ của mỗi chúng sanh thì khác nhau nếu các bạn cho Định Kiến của mình là đúng Chánh Pháp nhất rồi muốn tất cả phải theo ý của mình thì các bạn đã giỏi hơn Đức Phật rồi, vì chính Đức Phật cũng không thể độ những người không có duyên với Ngài, hãy để Nhân, Quả vận hành theo quy luật của nó.Thiền, Thiền, Thiền.

    • Vô thủ nói:

      Này Hiền giả! “Pháp do Thế Tôn khéo thuyết là Thiết Thực Hiện Tại, KHÔNG CÓ THỜI GIAN, đến để mà Thấy, … ” nên Hiền giả nêu câu hỏi liên hệ Thời Gian là câu hỏi không thích hợp.

      Lại nữa, này Hiền giả! thuở xưa, trong thời Thế Tôn còn tại thế, Ngài đã bác bỏ việc phân chia giai cấp bằng câu nói: “KHÔNG Có Giai Cấp trong giọt máu cùng đỏ, KHÔNG Có Giai Cấp trong giọt nước mắt cùng mặn”, thời chúng sinh đời nay phân chia Giai Cấp bằng danh tự “căn cơ”. Mà thời Phật thì còn có 4 giai cấp hẳn hoi, còn thời nay trong giáo pháp này, không biết có bao nhiều hạng “căn cơ” nữa (Hạ, Trung, Thượng, Tiểu, Đại, Tối Thượng Thừa…); thời cũng vậy này Hiền giả! “KHÔNG CÓ CĂN CƠ trong tánh khổ Vô Thường, KHÔNG CÓ CĂN CƠ trong nổi đau Già Chết”.
      Lời Hiền giả khích lệ cho những ai muốn tìm lối thoát cho tự thân, điều này thì cũng tốt nhưng lại không tương ưng trong bối cảnh người ta muốn trình bày ra hết những “Sự Thật” (vì động cơ phục dựng Chánh Pháp, tẩy trừ Tà Pháp)

      Cảm ơn Hiền giả đã chia sẻ. Kính chúc an lạc và tinh tấn !!!

    • Phan Hoàng Sơn nói:

      Đúng Đúng Đúng!

  33. chinhkie nói:

    ĐẠI THỪA VÀ TIỂU THỪA ĐỀU CÓ MỘT SỐ ĐIỀU ĐÚNG VÀ SAI?
    – THÍCH THÔNG LẠC ĐÚNG NHƯ THẾ NÀO KHÔNG BIẾT! NHƯNG ÔNG ĐÃ SAI KHI KHI CHO RẰNG KHÔNG CÓ CÕI SIÊU HÌNH, KHÔNG CÓ LINH HỒN?
    – cÒN DỰA VÀO SÁCH TIỂU THỪA CHO RẰNG KHÔNG CÓ ĐẤNG TẠO HÓA TOÀN NĂNG LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI THÌ RÕ RÀNG PHẬT GIÁO TIỂU THỪA ĐÃ PHỈ BÁNG PHẬT THÍCH CA RỒI ĐÓ? BỞI LẼ CÓ ÔNG PHẬT NÀO LÊN NGỰ TRÊN NIẾT BÀN OAI NGHIÊM SÁNG LÁNG MÀ LẠI CÓ THỂ CHỐI BỎ CÕI SIÊU HÌNH HAY CHỐI BỎ LINH HỒN?
    – CÒN NÓI ĐẦU THAI LÀ DO DUYÊN VÀ NGHIỆP NÊN MỚI HÌNH THÀNH RA KIẾP MỚI! VÂY THÌ THỬ HỎI CÁI GÌ LÀ NHÂN TỐ TRUNG GIAN ĐỂ TẠO NÊN SỰ TÁI SINH TRONG KIẾP MỚI CHỨ ? NẾU KHÔNG PHẢI LÀ LINH HÔN THÌ LÀ CÁI GÌ?
    – TRONG PHẬT GIÁO TIỂU THỪA HAY ĐẠI THỪA CÓ NÓI ĐẾN “THẦN THỨC”? TỨC LÀ LINH HỒN?
    – PHẬT THÍCH CA KHÔNG CHỐI BỎ CÕI LINH HỒN , CÕI SIÊU HÌNH HAY CHỐI BỎ ĐẤNG SÁNG TẠO MÀ NGÀI CHỈ TẠM TRẢ LỜI VỚI NHỮNG NGƯỜI CHƯA HIỂU RÕ VỀ ĐẤNG TẠO HÓA NHƯ THIÊN CHÚA GIÁO CHẲNG HẠN? BỞI VÌ VỚI THƯỢNG ĐẾ NHƯ PHẠM THIÊN LÚC ĐÓ THÌ PHẬT THÍCH CA KHÔNG THẤY CAO SIÊU HƠN NGÀI NÊN NGÀI KHÔNG NHÌN NHẬN NHỮNG THƯỢNG ĐẾ KÉM CÕI TỰ XƯNG LÀ ĐẤNG TẠO HÓA TRONG KHI ĐẤNG CHÂN LÝ TẠO HÓA THỰC SỰ CHỈ CÓ Ở TRONG DO THÁI GIÁO , CHÍNH THỐNG GIÁO, ANH GIÁO, TIN LÀNH GIÁO MÀ THÔI…NHỮNG VỊ PHẬT TIÊN THÁNH THẦN NHƯ PHẬT GIÁO, ẤN GIÁO VV TRONG KINH THÁNH CÓ NÓI ĐẾN NHIỀU LẦN MÀ CÁC THẦN HỌC GIA DO THÁI, CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG, ANH GIÁO, TÌN LÀNH GIÁO ĐA SỐ KHÔNG NHẬN RA! NHƯNG TRÊNTHỰC TẾ KINH THÁNH CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC ĐỀU CÓ NÓI ĐẾN?…ĐÂY CHÍNH LÀ MỘT MẦU NHIỆM ẨN GIẤU LÂU ĐỜI TRONG BA NGÔI THIÊN CHÚA ĐÍCH THỰC!…

  34. sự thật nói:

    các bạn hãy hành thiền đi, khi đạt tới một tầng thiền nào đó các bạn hãy dùng trí tuệ quán xét, sẽ thấy rõ thật giả trong các pháp. Thân ái

    • Tuấn Trần nói:

      Gởi tất cr Quí vị đã có ý kiến trong phần comment nầy,
      Tôi thật sự mến mộ Quí vị đã có một sự hiểu biết sâu sắc về giáo lý của Phật giáo Nguyên thủy và cũng vì sự hiểu biết cao thâm ấy,Quí vị đã không còn thời gian để tìm hiểu về Phât
      Giáo Bắc tông…Vì thật ra,tôi không hề phân biệt Nam hay Bắc tông,do đó tôi cũng không
      cần biết Pháp ” Tứ Y ” Quí vị bên Nam tông có đọc qua không,tôi chỉ cấn biết đây là Pháp
      Mà những Phật tử sơ cơ- như tôi-đọc và áp dụng ,tức Tu và Hành,rất là có ích …Và qua
      Y thứ nhứt : y trí bất y thức cũng như y thứ 2 : y nghĩa bất y ngữ…Quí vị bên Nam tông đều
      để qua một bên khi Quí vị phê phán về kinh Vu Lan cũng như kinhA di Đà và hình tượng
      Quán thế Âm Bồ Tát…Quí vị chỉ suy xét bằng Trí chớ không bằng Thức,Quí vị phê phán cỏi
      Cực lạc của Đức A di Đà,hạnh Nguyện của Quán thế Âm Bồ Tát bằng ngữ chớ không bằng
      Nghĩa…
      Ngoài ra,tôi thấy ,hình như Quí vị để cho sân hận chiếm đầy trí tuệ khi nói về Đại thừa ??!!
      Với hiểu biết sâu rộng của Quí vị,thay vì đem ra ” chưởi bới ” ” sĩ nhục ” Đại thừa” ….Quí vị
      Đem cái sở học của mình để vun bồi Chánh pháp …tốt lắm thay.

  35. Phan Hoàng Sơn nói:

    Kính thứ quý vị

    Tôi đề nghị ông chủ web này nên sửa lại cái tên của nó, không nên so sánh phái nào cao siêu hơn.
    Đem so sánh, nghĩa là đã vô hình chung đặt hai thứ đó ngang nhau. Vậy thì còn gì mà bàn ?????

    Không có đại thừa, không có tểu thừa. Chỉ có nhất thừa, đó là kinh Phật duy nhất và kinh Phật duy nhất chân chính. cái mà gọi là đại thừa là kinh giả Phật, khơng có cơ đứng ngang hàng. Một số kinh có giá trị của đại thừa, đó chính là luận. Chúng không thể gọi là kinh. Cho nên gọi kinh đại thừa là kinhngục tạo là hoàn toàn chính xác về lý và về sự.

    Và lý luận của những bậy cao tăng” nhầm lẫn”, cho rằng nói bừa Phật thuyết sẽ ” tăng lòng tin tưởng mà tinh tấn tu hành”.
    Nực cười thay, họ tiếp tay cho thầy cúng cô hồn và các loại vô thượng sư giả danh buôn bán Phật kinh doanh lấy tiền và lấy danh vọng, mà nói là “tiếp thị” bừa đi miễn là nhiều người theo tinh tất “tu hành lầm lẫn” mà khôngbiết cả đời nấu cát mong thành cơm.

    Quý vị sang bên mục hỏi đáp yahoo, tôn giáo và tâm linh, đại thừy đựợc đặt tên xứng đáng là tà đạo. mà ở đây quý vị còn xem nhẹ, nương gựợng cho cái bóng ma vất vưởng ngàn năm hay mấy trăn năm qua mà lịch sử sẽ dần dần cho vào cỗ xe lớn đẩy đi ra bãi rác thế nhân.

    Rồi hàng ngàn hàng trăm quý vị phân vân cả đời: làm sao biết kinh nào thật kinh nào giả: đó là chứng cớ của sự say đắm kinh mà khơng chịu thực hành kinh là vậy. Chịu dùng quán chiếu tu tập, dùng tuệ nhãn trạch pháp, sẽ thấy rất rõ ràng về lý, kinh Phật không ngoài quán chiếu các pháp tới khổ vô thường vô ngã. Đó là kinh Phật chân chính.

    Kinh cầu xin van vái, nói thần thông tu theo tu phước, phước niều hưởng nhiều phước ít hưởng ít,lại tệ hơn, còn vãng sanh còn cực lạc thì thấy dễ hơn việc là con nít bắt chuồn chuồn. Lại cần ca đủ 6 câu vọng cổ là thành Phật. Ai tu cũng thành Phât ngay lập tức, vì Cực lạc chờ sẵn. vì đại thừa dùng Cực lạc thay cho Niết bàn, từ đó thiên hạ vui tươi đi tu đại thừa như trẩy hội.

    Chẳng có chuyện không phân biệt nổi kinh thật kinhgiả, chỉ có chuyện không tu hành quán chiếu rốt ráo các pháp thế gián cho tới vô pháp. Tới vô pháp thì thấy các pháp của đại thừa là pháp thế gian không dùng cho kẻ tu hành chân chính được.

  36. Phan Hoàng Sơn nói:

    Xin lỗi có mấy lỗi ngữ pháp xin quý vị bỏ qua. Kính gửi BS Phạm Doãn, ý của ông hay, nhưng dần dần chúng ta sẽ thu gọn chiến trường và biến dần nơi này thành nơi tu hành một đạo chân chính, không có thừa nào mà chỉ một đủ mà thôi.

    Nhiều người lỡ mang danh , thì nay cứ tu theo Phật chẳng cần mang danh đại hay tiểu. Việc của lịch sử và quá khứ cho nó qua mau. Mới đầu tháng đã tới cuối tháng rồi, quý vị có thấy thời gian như tên bắn và bóng câu qua cửa sổ chúng ta không còn có nhiều thời giờ nữa mà chiêm ngưỡng. Hãy tận hưởng cuộc đời bằng những sát na nhiệm mầu trong từng hơi thở ra và trong từng hơi thở vô . Đó chính là kinh Phật chân chính và duy nhất đúng.

    Có nghĩa ai tu và thực hành tứ niệm xứ và kinh quán niệm hơi thở là kinh Phật chân chính, ai tu theo kinh khác xa rời thiền định xa rời quán ba chân lý tối cao, là kinh giả

  37. Tuan tran nói:

    Bài viết rất đầy đủ và rõ ràng.Qua đó, chúng ta có thể nói không nên nêu vấn đề ” hơn kém, đúng sai” giữa Đại và Tiểu thừa nữa…Nếu là 1 Phật tử chân chánh, chúng ta nên cùng nhau xây dựng ngôi nhà Phật giáo luôn bền vững vì rõ ràng là thời gian qua, ngôi nhà Phật giáo VN đã rệu rả lắm rồi!!

  38. Thu Trang nói:

    Xin giới thiệu bài viết của bà Tâm Nguyện:

    ————————————————-

    VÌ SAO TÔI CHỌN GIÁO PHÁP ĐẠI THỪA

    TÂM NGUYỆN

    Nhiều người không chấp nhận Kinh Đại Thừa, cho đó không phải là những lời do Đức Thích Ca giảng dạy, mà do những người sau ngụy tạo ra. Điều đó chúng ta nên hiểu như thế nào, bởi đúng là ngay thời kỳ Kết Tập lần thứ I chỉ có 4 Bộ Kinh được nói đến, đó là các Bộ TRƯỜNG A HÀM, TRUNG A HÀM, TĂNG NHẤT A HÀM và TẠP A HÀM.
    Lịch Sử của Đạo Phật còn ghi lại: Ngay thời kỳ Kết tập Lần II, sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm là đã có sự bất đồng quan điểm trong Nội Bộ Tăng chúng. Kể từ đó, các nhà lãnh đạo tinh thần Phật Giáo chia ra thành hai nhóm. Một nhóm là Thượng Tọa Bộ, là Trưởng Lão trong Tăng chúng, nói rằng giữ nguyên những gì Phật thuyết lúc sinh thời, ngày xưa gọi là Tiểu Thừa, sau này gọi là Phật Giáo Nguyên Thủy và nhóm thứ hai là Đại Chúng Bộ hay còn gọi là Đại Thừa.
    Là người muốn tìm hiểu để tu tập, hẳn chúng ta không khỏi hoang mang, vì rõ ràng hai bên, dù cùng xuất phát từ Giáo Pháp của Đức Thích Ca, nhưng khi đã tách ra ắt hẳn có một số điểm khác biệt. Tôi là người được học Giáo Pháp và Kinh Điển Đại Thừa. Quá trình tìm hiểu, tôi chấp nhận được lý lẽ của Giáo Pháp này, vì đã mang lại cho tôi một số hiểu biết mà khi đưa vào áp dụng thấy có nhiều lợi ích cho bản thân. Hoàn toàn không mê tín, thần quyền, cầu xin, nương tựa. Cũng không Cầu An, cầu Siêu mà chỉ tự mình giữ Giới, hành theo Bát Chánh Đạo là hai căn bản của Đạo Phật mà tôi tin là dù theo Thừa nào cũng phải giữ. Vì đã thận trọng đối chiếu nhiều Kinh với nhau, nhưng không thấy có gì mâu thuẫn trong lời Phật dạy, nên tôi cũng không thắc mắc xem Giáo Pháp của bên Phật Giáo Nguyên Thủy khác với bên Đại Thừa như thế nào. Dù vậy, trước khi đưa ra một quyển Kinh bên Đại Thừa là PHÁP BẢO ĐÀN KINH ra để mổ xẻ nghĩa lý, tôi cũng muốn tham khảo, nên lên mạng để tìm hiểu xem thế nào là sự khác biệt của hai Thừa.
    Thật là bất ngờ, khi tôi đọc được một bài bênh vực Giáo Pháp Phật Giáo Nguyên Thủy của một Phật Tử. Tôi đồng ý là mọi người đều có quyền chọn lựa giáo pháp nào mà mình thấy thích hợp và dùng mọi lý lẽ để bảo vệ. Nhưng đã là người tu Phật thì nên trình bày lý lẽ trong ôn hòa. Vì thế, tôi rất ngạc nhiên khi thấy người bênh vực Phật Giáo Nguyên Thủy lại thóa mạ người tin theo Đại Thừa là “ngu”, “óc heo” và thách thức bất cứ ai đưa ra luận cứ nào để chứng minh Đại Thừa là đúng! Bản thân tôi học Đạo với một cư Sĩ, không Quy Y với Thầy nào, Chùa nào, chỉ nghiên cứu và thực hành theo Kinh của Đại Thừa. Nhưng với lời Phật dạy thì tôi không cần xem do Phật Giáo Nguyên Thủy hay Đại Thừa phổ biến, cứ theo đó để tu sửa, nên không bao giờ có ý tranh biện hay ganh đua, đúng, sai, cao, thấp với ai. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, đây là một vấn đề khá tế nhị mà người Phật Tử thường phân vân, thắc mắc mà chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Bên nào lập luận xem ra cũng vững vàng. Người đi sau chỉ còn trông chờ vào duyên phận. Bởi suy cho cùng thì dù theo Phật giáo Nguyên Thủy hay Đại Thừa, dù hành chưa tới rốt ráo, nhưng ít ra cũng được pháp Thập Thiện, không còn gieo nhân xấu. Được vậy thì cũng tạm ổn rồi. Tuy vậy tôi phải tự trả lời cho chính mình: Điều gì khiến cho tôi hoàn toàn tin vào Giáo Pháp Đại Thừa mà dù nghe chê bai, xúc xiểm đến như vậy mà niềm tin không bị lung lay? Giả sử có ai hỏi thì tôi sẽ bảo vệ quan điểm của mình như thế nào cho đúng lý nhất?
    Theo tôi, nếu chỉ đơn thuần vin vào hai từ Nguyên Thủy, hẳn chúng ta sẽ bị thu nhiếp, vì hai từ đó nói lên sự giữ gìn, bảo tồn những gì Phật đã thuyết, đồng thời, cũng hàm ý là phía Đại Chúng Bộ có nhiều cách tân, không còn giữ đúng y như những gì Phật dạy từ buổi đầu. Kinh Điển của Đại Thừa cũng không do chính Phật thuyết, vì theo tài liệu ghi lại là những Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA, HOA NGHIÊM, KIM CANG, BÁT NHÃ, ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, LĂNG NGHIÊM, VIÊN GIÁC, DUY MA CẬT, A DI ĐÀ, KINH GIẢI THÂM MẬT, ĐẠI THỪA TRANG NGHIÊM KINH LUẬN, LĂNG GIÀ, KINH THẮNG MAN vv… đều xuất hiện sau khi Phật nhập diệt cả 500 năm. Do đó, phía bên Phật Giáo Nguyên Thủy cho rằng những Kinh đó là ngụy tạo. Vì thế, theo Thừa này, tu tập theo đó làm sao bằng tu tập với ngay chính lời của Đức Phật thuyết giảng? Một Phật Tử khác cũng trích dẫn những điểm khác biệt giữa hai Thừa như sau:
    – Đại Thừa cho rằng mình là cỗ xe lớn, có thể chở được nhiều người đến Giải Thoát, trong khi Tiểu Thừa là cỗ xe nhỏ, chỉ độ được bản thân, hay độ được số ít.
    – Đại Thừa chê bên Tiểu Thừa là “tiêu nha bại chủng”, là hạt giống chết.
    – Phật Giáo Nguyên Thủy thì cho rằng Đức Phật chỉ là một người bình thường như mọi người trên quả địa cầu này, nhờ tu tập Thiền Định, đoạn trừ tận gốc Tham, Sân, Si, lậu hoặc mà đắc thành Chánh Quả, có được giải thoát, Niết Bàn, vì thế, mọi người ai cũng có thể noi theo và chứng quả như Phật. Trong khi đó, Đại Thừa nói rằng Phật đã thành Phật từ vô thỉ. Pháp Thân mới đúng là Thân Phật. Còn Nhục thân chỉ là ứng thân. Như thế, Đại Thừa đã biến Đức Phật từ người bình thường thành siêu nhân. Việc thần thánh hóa Đức Phật làm cho tín đồ trở thành người cầu xin, van vái, lệ thuộc vào tha lực.
    – Phật giáo Nguyên Thủy là tự giác, không tín ngưỡng. Trong khi đó, Đại Thừa xem đức tin là quan trọng bằng cách đưa ra một loạt các vị Thánh, Bồ Tát, Chư Phật có khả năng cứu rỗi chúng sinh.
    – Tư tưởng của Đại Thừa là “Vạn Pháp giai không, duyên sanh như huyễn”, nên không chấp vào sự hiện hữu của thế gian, vũ trụ. Nghĩa là tuy vạn pháp có đó mà trong tâm vẫn cứ như không. Vì không chấp nên không xa lánh thế gian mà không hề bị thế gian đắm nhiễm, tự tại, thanh tịnh Niết Bàn. Trong khi đó, nhận thức theo Phật Giáo Nguyên Thủy thì cuộc đời Vô thường, Hoại diệt, nay có, mai không, nên cố tu để chứng đắc Niết Bàn, Giải Thoát Sinh Tử Luân Hồi.
    – Phật Giáo Nguyên Thủy cho rằng Đức Phật là vị A La Hán đầu tiên của tất cả, mà có vài điểm đặc biệt đã nâng Ngài lên tầm mức phi thường, trở thành đấng Vô Thượng Đạo Sư của cả thế giới, đứng trên tất cả A La Hán khác. Do đó, A La Hán là quả vị tối thượng của con đường Giải Thoát, giác ngộ. Ngược lại phía Đại Thừa cho rẳng A La Hán chỉ là sự chứng đắc nửa đường, cứu cánh tối thượng là phải Thành Phật.
    Dù đây chưa phải là tiếng nói chính thức của Phật Giáo Nguyên Thủy, chỉ do một Phật Tử của bên này viết lên, trong đó cũng có cái nhận định đúng và chưa đúng về Kinh Đại Thừa theo như tôi đã tìm hiểu, nhưng tôi cũng nêu ra nhận định của mình để thử trả lời về những nhận xét đó.
    Thật ra, cũng theo tài liệu Đạo Phật, thì ngay chính 4 Bộ Kinh đầu tiên cũng không hẳn xuất phát từ thời kỳ Kết Tập lần đầu tiên, mà sau Phật nhập diệt khoảng 200 năm. Thời xưa có lẽ chưa có giấy và chữ viết, nên Lời Phật dạy chỉ do khẩu truyền, chư Đệ Tử chỉ học thuộc lòng thôi.
    Trước khi đi vào mổ xẻ Giáo Pháp của hai bên, theo tôi, chúng ta cần lưu ý điểm này để có nhận xét cho trung thực. Đó là thời điểm Kết Tập lần thứ II diễn ra khoảng 100 năm sau khi Đức Thích Ca nhập Niết Bàn. Như vậy, tất cả các vị Tu Sĩ thời bấy giờ không còn người nào chính thức được nghe lời Đức Thích Ca giảng dạy, Kinh điển cũng chưa có. Tất cả đều do Khẩu Truyền. Mà chúng ta đều biết, đâu phải ai tu học cũng đều thuộc, đều ghi nhớ tất cả những gì đã được nghe thuyết. Lại không có văn bản để dò lại. Như vậy, chuyện người thuộc ít, kẻ thuộc nhiều. Người nhớ đúng, kẻ nhớ nhầm là chuyện đương nhiên. Dù vậy, có một điều đáng lưu ý, là bên ĐẠI CHÚNG BỘ vẫn không quên di ngôn của Đức Thích Ca, vẫn giữ nguyên việc TRUYỀN Y BÁT, là chỉ VỊ NÀO CHỨNG ĐẮC mới được thay mặt Tổ trước, cầm nắm Chánh Pháp, thống lĩnh Tăng Đoàn. Quyết định mọi việc của Đạo. Chính Thượng Tọa Bộ mới là nhóm phản đối để tách ra riêng, thành lập giáo phái riêng. Đầu tiên gọi là Tiểu Thừa, sau đổi thành Phật Giáo Nguyên Thủy. Từ đó, bên Phật Giáo Nguyên Thủy không hề nhắc gì đến việc TRUYỀN Y BÁT, là một phần hết sức quan trọng trong Đạo Phật. Trái lại, còn cho Kinh Điển do các Tổ giảng là ngụy tạo!
    Lý do vì sao có việc Truyền Y Bát cũng chẳng có gì là khó hiểu. Ai có học qua lý thuyết của Đạo Phật đều biết, Phật dạy: “Những gì CÓ TƯỚNG đều là hư vọng”. Chính vì vậy, hơn ai hết, Đức Thích Ca biết rằng cái Thân Phàm của Ngài một thời gian nào đó cũng sẽ bị hư hoại. Trong khi đó, Giáo Pháp mà Ngài đưa ra giảng dạy mới được có hơn 40 năm. Tăng Già mới thành lập, còn non trẻ. Một số còn chưa nắm vững Giáo Pháp. Nếu không có người Chứng đắc, Lý, Hạnh vẹn toàn để thay mặt Ngài cằm nắm Tăng Đoàn và phát huy Đạo Pháp thì e rằng những gì Ngài đã giảng dạy khó thể tồn tại lâu dài, nên VIỆC TRUYỀN Y BÁT được đặt ra trước khi Ngài nhập Niết Bàn.
    Việc làm đó được lịch sử của Đạo ghi lại, là trong một lần thuyết pháp, giữa Đại chúng, Đức Phật cầm cành SEN đưa lên. Đại chúng đều ngơ ngác, riêng Ngài Ca Diếp mỉm cười. Nụ cười đó đến nay hãy còn là bí ẩn đối với nhiều người tu Phật. Nhưng với người có nghiên cứu thì đều biết là trong khi mọi người không hiểu Đức Thích Ca muốn nói gì trong việc đưa cành Hoa Sen – sau này được dùng làm biểu tượng cho Đạo Phật – thì Ngài Ca Diếp mỉm cười, vì Ngài đã nắm vững Giáo Lý của Đạo Phật. Biết rằng dù Đức Thích Ca dùng bao nhiêu phương tiện để dẫn dắt. Nói bao nhiêu Quả Vị. Tả bao nhiêu cảnh giới. Nhưng cuối cùng chỉ là để người học, hành theo ĐƯỢC NHƯ HOA SEN, dù sinh trưởng trong bùn, nhưng không bị bùn làm cho ô nhiễm. Cũng giống như con người, dù sinh trưởng trong Phiền Não, nhờ Giáo Pháp của Đạo Phật mà không bị Phiền Não nhấn chìm, để cuộc sống ngắn ngủi này được an vui. Vì thế, Đức Thích Ca biết Ngài Ca Diếp đã nắm vững Giáo Pháp, Lý, Hạnh viên dung, nên giữa Đại Chúng, TRAO Y BÁT cho Ngài.
    Do vậy Y, BÁT không chỉ là hai vật dụng Đức Phật dùng khi sinh thời, mà còn là Tín vật của Phật được trao truyền từ đời nọ sang đời kia, để mọi người nhìn vào, biết đó là người thay mặt Phật để cầm nắm Chánh Pháp, thống lãnh Tăng Đoàn và quyết định mọi việc khi Phật không còn tại thế. Người được trao Y Bát để làm Tổ kế nhiệm là người đã CHỨNG ĐẮC, nên đương nhiên cũng được xem như PHẬT HIỆN TIỀN. Do đó, những gì Tổ sau dạy bảo thì cũng không khác với Tổ trước và với Phật trước kia. Do đó, người tự mình chê Kinh Đại Thừa là coi thường các Tổ và bất lợi cho mình rồi. Truyền bá tư tưởng đó để người khác phỉ báng và ngăn trở để họ không có cơ hội đọc để mở mang sự hiểu biết thì tội còn nặng thêm. Chỉ những người không hiểu Nhân Quả mới dám làm.
    Sau khi trao Y Bát cho Ngài Ca Diếp, Đức Phật dặn dò sau đó trao lại cho Ngài A Nan, vì trong nhóm Đại Đệ tử đương thời, Ngài A Nan là người thuộc Pháp của Phật làu thông “Như nước trong bình đổ ra, không thiếu một giọt”. Duy có điều lúc đó cái Hạnh của Ngài còn thiếu sót, nên phải chờ thêm một thời gian để hoàn chỉnh. Đức Phật cũng dặn dò là Y BÁT sau đó sẽ tiếp tục truyền mãi để thời nào cũng có người cầm nắm Chánh Pháp.
    Chính vì không hiểu hết ý nghĩa của việc Truyền Y Bát, chỉ thấy rằng đó là tín vật mà người giữ nó sẽ được thay mặt Phật, cầm nắm Tăng đoàn, phát huy Đạo Pháp, nên nhiều người tìm cách để tranh đoạt. Sự tranh chấp ngày càng gay gắt đến độ người giữ nó sẽ nguy đến tính mạng nên Ngũ Tổ dặn Lục Tổ phải dấu đi, không được Truyền nữa. Y Bát được truyền đến đời Lục Tổ là Tổ Thứ 33 thì mất dấu.
    Chúng ta đều biết, Đức Thích Ca đầu tiên đắc đạo ra giảng dạy cách đây đã hơn 2.550 năm. Thời đó ngôn ngữ chưa phong phú. Sự hiểu biết của con người cũng có giới hạn. Phật Pháp lại nói về cảnh giới sâu kín ở trong Tâm nên rất khó diễn tả. Cũng nhờ có các Tổ về sau gần thời của chúng ta khai triển, nên Giáo Pháp của Đạo Phật ngày càng rõ ràng thêm. Những vị giảng Kinh Đại Thừa đều là những TỔ CHÂN TRUYỀN. Không phải thầy tu nào cứ đi tu một thời gian là có quyền giảng và viết Kinh tràn lan như hiện nay. Dù vậy, chỉ có những quyển Kinh do các Tổ giảng dạy mới có giá trị đối với Đạo Phật mà Lịch sử Đạo còn ghi lại: Đó là Ngài MÃ MINH, Tổ thứ 12. LONG THỌ, là TỔ thứ 13. Ngài Đề Bà, Tổ Thứ 14. Tổ Đạt Ma thứ 27 và cuối cùng là Lục Tổ Huệ Năng. Còn lại là biết bao nhiêu Luật, Luận do các giảng sư thời trước đã viết, nhưng không thể gọi đó là chính Kinh, không thể xem đó như lời của Phật để tin theo.
    Việc TRUYỀN Y BÁT cho người Chứng Đắc đã quá rõ ràng, lịch sử Đạo còn ghi lại đầy đủ. Vì thế Kinh của các Tổ viết hay giảng không thể nói là ngụy tạo, là kinh của ngoại đạo được. Ngược lại, các Ngài còn khai sáng thêm những điều trước đây do không đủ ngôn từ để diễn tả nên tưởng là “xa kín nhiệm sâu”. Chính các nhà nghiên cứu về sau cũng thừa nhận là Kinh của các Tổ cũng bắt nguồn từ những lời Phật đã giảng khi xưa. Việc chối bỏ những lời dạy của các Tổ chứng tỏ người làm như vậy đã coi thường Di Ngôn của Đức Thích Ca. Vì nếu việc Truyền Y Bát không có giá trị của sự thông đạt Giáo Pháp thì cần gì phải lựa chọn người Chứng Đắc mới truyền? Người này không cần tu lâu. Không cần uyên bác. Không luận già hay trẻ. Thậm chí xem lịch sử Chư Tổ ta thấy còn truyền cả cho người chưa Xuất Gia, chưa thế phát, Quy Y, như trường hợp của Lục Tổ Huệ Năng. Chính điều đó làm cho nhiều người không hiểu nên không chấp nhận được. Nhưng nếu ai có đọc Pháp Bảo Đàn Kinh sẽ có dịp so sánh thế nào là lời giảng của vị đã Đắc Pháp và của người chưa đắc pháp, chứng tỏ Ngũ Tổ không hề nhầm lẫn.
    Tiếp theo đây, xin trả lời một số điểm đã nêu ra theo những gì tôi lãnh hội được từ Kinh Đại Thừa.
    * Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, Đức Thích Ca cũng là vị A La Hán đầu tiên. Do đó quả vị A La Hán là quả vị tối thượng, giác ngộ.
    * Giác Ngộ trong Đạo Phật cũng có nhiều tầng bậc mà chư Cổ Đức gọi là “Nghi lớn, Ngộ lớn. Không nghi, không Ngộ”. Không phải vị Giác Ngộ nào cũng toàn giác như Đức Thích Ca. Chúng ta cũng gọi Đức Thích Ca là Phật Thích Ca, không ai gọi Ngài là A La Hán Thích Ca. Chính Ngài cũng xưng: “Ta là Phật đã thành”. Như vậy quả vị A La Hán và quả vị Phật là hai sự thành tựu khác nhau. Không thể là A La Hán rồi nâng cấp lên thành Phật được.
    Quả Vị A La Hán là do Đức Thích Ca đặt ra vì sợ nhiều người tu hoài mà không thấy đạt được thành tựu nào sẽ nản lòng. Theo Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì Kinh này chính là để giảng cho các vị A La Hán để mở Con Đường Độ Sinh cho các vị bước vào Hạnh Bồ Tát, nhưng nhiều vị đã bỏ ra về trước khi Phật giảng. Điều đó chứng tỏ vì sao bên Phật Giáo Nguyên Thủy không đề cập đến Hạnh Bồ Tát, vì các Ngài dừng ở Quả vị A La Hán, nên chỉ thấy các Pháp là KHÔNG. Và theo Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, người chưa hiểu, chưa Hành Hạnh Bồ Tát, chưa biết Con Đường Độ Sinh thì không thể nào đạt đến quả vị Phật được.
    * PHẬT theo Kinh Đại Thừa, thì không phải là một vị Thần Linh, mà nói về người đã “Thành tựu công việc giải Thoát cho bản thân”. Cũng không phải là ngôi vị độc tôn. Người nào làm được thì người đó là PHẬT. Chính vì vậy mà Đức Thích ca đã Thọ Ký: “Ta là Phật đã thành, Chúng sinh là Phật sẽ thành.”Nên nói rằng Đại Thừa “thần thánh hóa” Đức Phật để tín đồ lấy Đức Tin là quan trọng, rồi cầu xin, van vái, lệ thuộc vào tha lực là hoàn toàn sai.
    A LA HÁN theo mô tả trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA là: “Các lậu đã hết, không còn phiền não, việc lợi mình đã xong. Dứt sự ràng buộc trong các cõi”. Pháp của các vị Chứng Đắc là PHÁP KHÔNG. Các vị đã tưởng chỉ cần làm như thế là xong, vì đã được cảnh an lạc, gọi là Niết Bàn. Vì thế, nên khi Đức Phật bắt đầu giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì các vị đều nghi ngờ, thắc mắc, không hiểu Phật dạy pháp Giải Thoát, chứng Niết Bàn, các Ngài đã chứng rồi, nay cớ gì Phật lại khen ngợi pháp Phương Tiện, cho là nhiệm mầu, rất sâu, khó hiểu?
    Bài Kệ giải thích: “Vì các loại chúng sanh. Phân biệt nói ba Thừa. Trí kém ưa pháp nhỏ. Chẳng tự tin Thành Phật. Cho nên dùng phương tiện. Phân biệt nói các Quả. Dầu lại nói Ba Thừa. Chỉ vì dạy Bồ Tát”. “Các pháp tướng tịch diệt. Không thể dùng lời bày. Bèn dùng sức phương tiện Vì Năm tỳ Kheo nói. Đó gọi Chuyển Pháp Luân. Bèn có tiếng Niết Bàn. Tên Pháp,Tăng sai khác”.
    Theo lời Kinh, sau khi nghe giải thích, các vị A La Hán rất vui mừng, biết rằng mình cũng sẽ được Thành Phật, nên các Ngài đã dùng Thí Dụ để diễn tả lại là trước kia các Ngài trừ hết tà kiến, được chứng Pháp KHÔNG thì cho rằng mình đã được diệt độ, không còn ham muốn gì nữa. Bây giờ nghe Phật nói mới biết rằng muốn Thành phật là phải đủ 32 tướng, được Trời, rồng, thần cung kính, chuyển Pháp Luân Vô thượng, Giáo Hóa các Bồ Tát thì mới Thành Phật được.
    Có đọc Kinh Đại Thừa để thấy lời giảng của Chư Tổ, ta mới thấy tất cả những cảnh giới, những nhân vật, từ Nước Phật, cho đến PHẬT, BỒ TÁT, Chúng Sinh, Chư Thần, thiên ma, trời, rồng dữ vv… kể cả Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới… đều là những mô tả của Phật về cảnh giới trong NỘI TÂM của mỗi người. Do vậy, người không biết đến CÁI TÂM mà Đạo Phật diễn tả, thường hướng ra, tưởng tượng đó là một cảnh giới ở đâu đó, do đó mà trở thành Thần Quyền, mê tín. Ngay việc CÚNG DƯỜNG PHẬT cũng chỉ để nói về việc ĐỘ CHO CHÚNG SINH CỦA CHÍNH MÌNH, không phải cúng dường một hay nhiều vị Phật nào đó ở bên ngoài!
    CHÚNG SINH được chư Tổ giải thích rõ: Đó là tư tưởng của mỗi chúng ta. Chuyển hóa được một tư tưởng xấu, ác trở nên trong sạch, thánh thiện, để nó được Giải Thoát thì gọi là CÚNG DƯỜNG MỘT VỊ PHẬT. Vì thế, một kiếp sống mỗi người sẽ CÚNG DƯỜNG VÔ LƯỢNG VÔ SỐ ỨC ĐỨC PHẬT.
    PHẬT là nghĩa của GIẢI THOÁT. Tu là điều phục, sửa chữa, tháo gỡ nơi Cái Tâm đang dính mắc của mỗi người để cuối cùng được Giải Thoát, nên gọi là TU PHẬT. Không phải sửa nơi hình tướng, mà là SỬA NƠI TÂM. Vì thế, Tu PHẬT được gọi là TU TÂM. Người chưa Thấy Tâm của mình để Sửa thì như lời Ngũ Tổ dạy: ‘NẾU KHÔNG THẤY BỔN TÂM THÌ HỌC PHÁP VÔ ÍCH”. Bởi không Thấy TÂM thì việc tu hành chỉ thực hiện nơi hình tướng bên ngoài mà thôi.
    Các Tổ ví cái TÂM như con trâu, THÂN là cái xe. Con Trâu kéo cái xe đi phá hư lúa mạ. Nếu chúng ta không không chế CON TRÂU, lại o ép, đánh dập, hành hạ CÁI XE thì vô ích, vì khi CÁI XE bị hư, thì CON TRÂU lại tiếp tục kéo CÁI XE khác đi phá. Do đó, khi tu hành, nếu không thấy được THỦ PHẠM là CÁI TÂM để điều phục, thì dù có bắt CÁI THÂN giữ 250, 350, thậm chí giữ cả ngàn GIỚI thì cũng vô ích mà thôi…
    * Đã biết được cái TÂM thì biết rằng Nhục Thân không phải là Phật, vì nó không thoát khỏi Quy Luật Sinh, Lão, Bệnh Tử. Chỉ có Pháp Thân hay Pháp Tánh là Vô Tướng mới thoát khỏi Quy Luật này thôi. Nếu Nhục Thân của Đức Thích Ca là Phật, thì chính ngài cũng đã Nhập Niết Bàn, Trà tỳ. Làm sao nói rằng Thoát Sinh tử? Sở dĩ Đại Thừa nói rằng Đức Thích Ca đã thành Phật từ Vô Thỉ, là vì không riêng gì Ngài. Tất cả mọi chúng ta đều có sẵn Bổn Tánh Giải Thoát, nhưng vì trôi lăn nên quên mất. Vì vậy, tu hành chỉ là Xả Bỏ những ràng buộc để Trở Lại với cái Vốn Có, không phải thành tựu điều gì mới mẻ. Vì thế, không riêng gì Đức Thích Ca, mà ai Biết cách và có quyết tâm cũng đều có thể làm được.
    * Sở dĩ Kinh Đại Thừa chê Tiểu Thừa là “hạt giống lép”, là “tiêu nha bại chủng”, là vì nếu các vị thật sự ĐẮC CÁI KHÔNG, thì đâu còn thấy gì. Trên không thấy có Phật để học hỏi. Dưới cũng không thấy chúng sinh để độ, thì còn làm ích gì được cho ai? Còn nếu chưa Đắc cái Không thì làm sao đạt được Quả Vị A La Hán? Hơn nữa, cái THẤY CÁC PHÁP LÀ KHÔNG đó không ứng dụng được và mâu thuẫn. Bởi hàng ngày các vị vẫn mặc áo, ăn cơm, tiếp xúc với mọi người, toàn là PHÁP CÓ, sao nói là KHÔNG được. Ngược lại, Đại Thừa cũng biết các pháp là Không, nhưng chấp nhận hiện tại nó đang TẠM CÓ, nên điều phục cái Tâm mình để KHÔNG CHẤP vào đó. Nhờ đó mà không bị Phiền Não, gọi là được Giải Thoát. Lý giải đó thuận đời mà cũng không trái với Đạo. Hơn nữa, Tu Phật là ĐỂ ĐƯỢC GIẢI THOÁT. Đâu phải để ĐẮC QUẢ.
    * Cho rằng kinh Đại Thừa viết: “Chỉ có Phật mới hiểu Phật”. Như vậy thì sai chỗ nào? Phải chăng chỉ người có đến nơi nào đó mới thấy, mới hiểu, mới tả được cảnh vật nơi đó. Người chưa đến, chỉ tưởng tượng làm sao biết để tả được! Cái đó đâu thể gọi là Tăng thượng Mạn?
    Dù có nhiều điểm dị biệt, nhưng cho đến hiện nay, hai bên Đại Thừa và Phật Giáo Nguyên Thủy đều chấp nhận một số Giáo Pháp căn bản của Đức Thích Ca đã giảng dạy gồm:
    – Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, Lý Duyên Khởi
    – Tam Pháp Ấn: Khổ, Không, Vô Ngã
    – Con đường tu tập: Giới, Định, Huệ
    Xét cho kỹ thì Giáo Pháp Đại Thừa đâu có khác gì với bên Phật Giáo Nguyên Thủy, vì cũng dùng các Pháp của Đức Thích Ca đã dạy, là Tứ Thánh Đế, BÁT CHÁNH ĐẠO, Giới Định Huệ, là những căn bản mà người tu nào cũng phải thực hành. Nếu người tu theo bất kể Thừa nào, Phái nào mà thật sự hành theo Bát Chánh Đạo, hẳn lúc nào cũng lo Thu thúc Lục căn. Vì có CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY, CHÁNH NIỆM, CHÁNH NGỮ vv… Hành đúng theo đây thì THÂN, KHẤU Ý lúc nào cũng được giữ gìn, nhờ đó sẽ được thanh tịnh, tâm sẽ an lạc. Do đó, bất kỳ người bên Thừa nào. Nếu còn tranh phải quấy, hơn thua. Còn dành nhau Danh uy, tài, lợi thì chứng tỏ là người đó chưa thật sự Tu sửa.
    Dù vậy, tôi vẫn chọn ĐẠI THỪA bởi các lý do:
    1/- Đại Thừa vẫn trung thành tuân giữ DI NGÔN của Đức Thích Ca trong việc Truyền Y Bát, để người Chứng Đắc mới được cầm nắm và rao giảng Chánh Pháp. Điều đó có lợi cho bá tánh. Kẻ chưa chứng đắc thì làm sao biết Pháp để giảng cho đúng đường lối Phật dạy? Nếu không Chứng Đắc mà cứ “Y Kinh giải nghĩa” thì “Tam thế Phật oan”, chồng mê cho người. Đó là tội Phá Pháp!
    2/- Quan niệm, đường lối tu hành của Đại Thừa theo tôi, hợp lý, đúng với thực tế hơn. Không gò bó trong khuôn khổ, hình thức, mà chú trọng nội dung. Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết: “Cõi nước chỗ nào nếu có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, ĐÚNG NHƯ LỜI TU HÀNH, hoặc là chỗ có quyển Kinh, hoặc trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc dưới cây, hoặc tăng phường, hoặc nhà bạch y, hoặc ở điện đường, hoặc núi hang đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường.
    Vì sao? Phải biết chỗ đó chính là đạo tràng, các Đức Phật ở đây mà đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các Đức Phật ở đây mà Chuyển Pháp Luân. Các Đức Phật ở đây mà nhập Niết Bàn”.
    “ Ở đây” theo tôi hiểu, là ở chỗ ‘ĐÚNG NHƯ LỜI TU HÀNH”. Như vậy thì cần gì phải mặc Y, cạo tóc, ở trong Chùa? Bởi người đời cũng nói “Chiếc áo không làm nên thầy tu”. Phật cũng dạy: “Nếu chiếc áo Cà sa có oai lực giải trừ Tham, Sân, Si, thì cha mẹ hoặc người thân chỉ cần khoác nó lên mình đưa bé khi nó mới chào đời là đã được được toại nguyện”. Ai cũng hiểu, giả sử nếu có người đầy đủ hình tướng, ở trong Chùa, nhưng phá Giới, tâm địa thì nhỏ nhen, ác độc, dối thế, gạt đời… liệu có thể gọi đó là bậc tu hành, và tu lâu thì đắc đạo chăng? Nếu không phải, thì đã xác nhận lời Kinh Diệu pháp Liên Hoa là chính xác rồi.
    * Tiểu Thừa thì hạn chế, cho rằng phải Xuất Gia, phải đầy đủ hình tướng mới tu hành được. Trong khi Đại Thừa cho rằng: Bất cứ ai. Bất cứ ở đâu. Ăn vận như thế nào. Có gia đình hay độc thân. Nam hay Nữ. Già hay trẻ. Vẫn làm ăn kinh doanh bình thường như mọi người, MIỄN Y PHÁP TU HÀNH thì đều thành Phật. Như vậy Đại Thừa chẳng phải là Cỗ Xe Lớn, ĐỘ được nhiều người sao?
    Quan trọng hơn hết là Giáo Pháp của PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY do không chấp nhận sự hướng dẫn của CHƯ TỔ được TRUYỀN Y BÁT, nên các Ngài dừng ở chỗ thấy được CÁI KHÔNG của các PHÁP mà thôi. Không thấy, không đề cập đến Cái Tâm. Vì thế, người thực hành theo Giáo Pháp này thì cũng giống như Bài Kệ của Sư THẦN TÚ, mới chỉ nhận ra THIỆN, ÁC để CẢI ÁC, HÀNH THIỆN. Trong khi người THẤY TÁNH như Ngài Huệ Năng, biết rằng mỗi người đều có cái CHÂN TÁNH. Cái này vượt lên cả THIỆN ÁC. Tu hành chính là tìm về với cái CHÂN TÁNH, hay còn gọi là BỔN THỂ TÂM đó.
    Nếu có đọc Kinh Đại Thừa, ta sẽ thấy rất nhiều giải thích về ý nghĩa thật sự những hình tướng mà các Tu Sĩ vẫn đang thể hiện. Xin tạm nêu một số sau:
    – XUẤT GIA không phải là chỉ rời bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con… mà là RA KHỎI NHÀ LỬA TAM GIỚI.
    – CẠO TÓC không phải là cạo đầu, mà ý nghĩa thật sự là CẠO SẠCH PHIẾN NÃO
    – ĐẮP Y không chỉ là khoác trên người mảnh Y màu vàng của nhà Phật, mà là TRÙM PHỦ LÊN THÂN TÂM một màu Giải thoát.
    – KHẤT THỰC không phải là đi xin thức ăn phàm tục, và với người Tu có nghĩa là KHẤT PHÁP THỰC. Vì thực phẩm phàm chỉ nuôi dưỡng cái Thân Phàm. Chỉ có Pháp Thực mới nuôi dưỡng Pháp Tánh. Do đó, nếu chỉ làm theo hình thức mà không hiểu được ý nghĩa thì việc Khất Thực có khác gì với người phàm đi xin ăn?
    – Việc THẮP HƯƠNG cũng không phải là lấy lửa đốt lên những cây nhang có tẩm mùi thơm. Mà là lấy LỬA TRÍ HUỆ, đốt lên HƯƠNG GIỚI, ĐỊNH, HUỆ, GIẢI THOÁT, GIẢI THOÁT TRI KIẾN. tức là Giữ cái Tâm không tưởng nhớ điều quấy, không làm việc ác, không Tham Lam, Giận Hờn, Thương, Ghét. Giữ cái Tâm không tán loạn, không dính vào lành, dữ, nhân, ngã, lại học rộng, nghe nhiều để củng cố sự hiểu biết về Đạo pháp vv…
    – CHÙA là nghĩa của THANH TỊNH ĐỊA. ĐỊA đây là nói về ĐẤT TÂM. Có nghĩa là tẩy, rửa, cải tạo cho cái TÂM của mình hết tội lỗi, hết nghĩ ác, làm ác, để nó được thanh tịnh, là ta đã biến cái TÂM của mình thành nơi cho Phật ngự. Không phải là dùng vật liệu phàm tục rồi xây cái nhà với mái cong và đặt nhiều tượng Phật vô đấy với vài vị Sư, Tăng đầu tròn, áo vuông thì nơi đó trở thành Chùa.
    – PHẬT có nghĩa là GIẢI THOÁT. Người Giải Thoát cho bản thân hết Phiền Não thì đó là PHẬT. Do vậy mà Kinh mới gọi là BA ĐỜI PHẬT. Tức là Quá Khứ đã có nhiều vị được Giải Thoát. Hiện Tại cũng có, mà Tương Lai cũng sẽ có nếu làm đúng theo những lời Phật dạy.
    – Phật Thừa là Đắc cái Vô Sở Đắc, cái không còn Ta Chứng Đắc. A LA HÁN còn Sở Đắc. Kinh Đại Thừa viết: Trong Phật Pháp, người có chứng đắc là kẻ Tăng thượng mạn.
    – TRỪ TAM TÂM không có nghĩa là bỏ hết các Tâm Quá Khứ, Tâm hiện tại, Tâm vị lai, mà là TRỪ ĐI TÂM THAM, TÂM SÂN, TÂM SI. Bởi vì nếu con người đang sống mà bỏ hết mọi nghĩ tưởng thì trở thanh gỗ, đá vô tri. Đạo Phật đâu có dạy người tu để trở thành vật vô tri.
    Do vậy mà Kinh dạy có 4 điều nên Y theo, gọi là TỨ Y: Y TRÍ BẤT Y THỨC. PHÁP BẤT Y NHÂN. Y NGHĨA BẤT Y NGỮ. Y KINH LIỄU NGHĨA BẤT Y KINH VỊ LIỄU NGHĨA. Có nghĩa là hãy Y theo TRÍ, tức là sự hiểu biết sáng suốt về Đạo Pháp, dừng y theo sự hiểu biết thông thường của con người. Y theo Pháp mà học hỏi, tu hành, đừng Y theo người, (nghĩa bóng là hình tướng bên ngoài). Y theo NGHĨA, đừng Y theo chữ. Và Y theo Kinh khi đã rõ nghĩa, đừng y theo Kinh khi chưa rõ nghĩa. Những lời như thế liệu phàm phu, ngoại đạo nào có thể viết ra?
    Ngoài ra, khi đối chiếu với Chính Kinh, tôi thấy có rất nhiều nghi vấn đối với các vị tu hành hiện nay. Trước hết, tôi cho rằng cái hiểu về ngôn từ của Đạo Phật dù chùa chiền nhiều như vậy nhưng Phật Tử vẫn chưa được giải thích rõ ràng. Đến thời này nhiều người vẫn còn hiểu, còn tin là Phật quyền phép vô song, cứu độ tất cả chúng sinh, cầu gì được nấy, nên sống thì cầu an, chết thì cầu siêu. Cầu thăng quan tiến chức, tai qua, nạn khỏi, không biết rằng Đạo Phật cũng được gọi là Đạo NHÂN QUẢ. Nếu đã thật sự tin vào Nhân Quả thì việc cầu xin, cúng kiến có ích gì?
    Ngoài ra, nếu chúng ta đã hiểu Ý NGHĨA THẬT SỰ CỦA CHÙA, thì mỗi người cần thành lập, cải tạo cho cái Tâm đầy gò nỗng, rồng dữ, cá trạch, thuồng luồng, độc ác của mình thành một khu đất Thanh Tịnh. Chuyển những chúng sinh độc ác thành thánh thiện. Cảnh nhơ bẩn thành trong sạch. Ai cũng có nghe nói là PHẬT TẠI TÂM. Vì vậy, Nước Phật được Kinh tả là có “Ao nước chứa tám Công Đức”. Thật ra đó chỉ là ý nghĩa của kết quả việc Hành theo Bát Chánh Đạo. Và“dây vàng, Bảy Báu giăng khắp”. Đó chỉ là thành tựu của việc trừ 7 Nghiệp nơi THÂN, KHẨU, Ý. Những công việc như vậy gọi là DỰNG MỘT CẢNH CHÙA TRONG NỘI TÂM, để cho CHƯ PHẬT của mình ngụ. Kinh giải thích “Phật là Vô Tướng, do vô lượng Công Đức mà thành”, tức là nói về Công Đức Trì Giới, hành Thiện hạnh của mỗi người, tạo thành những sự an lạc, thanh tịnh trong Tâm. Như vậy thì xây Chùa hữu tướng cho to để Phật nào ngự?
    Nếu chúng ta ý thức được Đạo Phật dạy mỗi người “TỰ TU”, “TỰ ĐỘ”. Con của Phật là La Hầu La, em của Ngài là A Nan cũng phải tự tu để tự độ thì mỗi người lo TỰ ĐỘ LẤY MÌNH, đâu cần người khác phải Độ cho. Thời xưa, khi mới nhóm họp Tăng Chúng, Đức Thích Ca cần phải tách rời những người tu ra khỏi mọi xô bồ, làm ăn, chung đụng với người đời, để tập trung lo học hỏi đạo pháp làm nồng cốt cho Đạo, nên cần có người cung dưỡng để những người tu toàn tâm toàn ý mà học hỏi để sau này quảng bá. Cho nên Phật dùng phương tiện nói rằng “Chùa Chiền là ruộng phước của bá tánh. Người cúng dường nơi đó sẽ được phước báu vô lượng”. Nhưng tới thời này, Đạo Phật đã thịnh hành, Kinh Điển đã được dịch ra tiếng Việt, ai cũng có thể thỉnh về để tự đọc và hành trì theo. Phật pháp cần phổ cập, để mọi người vẫn cứ giữ tròn bổn phận làm người, làm công dân, làm con, làm cha mẹ của mình, tùy theo khả năng để chung tay, góp sức trả nợ cuộc đời. Trong đó vẫn tu sửa cái Tâm để bản thân mình ngày càng hoàn thiện hơn. Xã hội không còn cảnh đấu tranh, giành giật, tàn sát lẩn nhau. Để mọi người cùng được an vui trong kiếp sống ngắn ngủi này. Kiếp sau nếu có thì lại càng tốt đẹp hơn. Đó là mục đích của Đạo Phật, và như thế mới đúng với ý nghĩa của HOA SEN mà Đạo Phật dùng làm biểu tượng. Đâu cần phải đóng khung, lìa bỏ cuộc đời mới tu được ? TU chỉ mang một nghĩa duy nhất là SỬA. Vậy thì Ở đâu? Mặc gì? làm gì mà không SỬA được? Hơn nữa, nếu tách rời thế gian, tránh né pháp, không tiếp xúc với nó thì mới tu được thì làm mất đi ý nghĩa thật sự của Hoa Sen mà Phật muốn con người noi theo, vì HOA SEN vẫn tiếp tục nở hoa trong bùn, đâu có bứng đi để trồng vào chậu nước tinh khiết, tách rời khỏi bùn?
    Ai cũng biết: “Ông tu, ông đắc, bà tu, bà đắc” thì việc thu nhận quá nhiều người đang tuổi trẻ, sức khỏe dồi dào, có thể đóng góp cho xã hội, lại rủ bỏ hết, vô Chùa để chỉ tụng Kinh, Niệm Phật, trở thành gánh nặng thêm cho người đời vốn đã mỏi mệt với bon chen. Hưởng dụng đồng tiền mồ hôi, nước mắt của người khác liệu có đúng Chánh Pháp không? Vả lại, trong đó kẻ thật tâm tu hành cũng có, mà kẻ lợi dụng Đạo để được nhàn thân ắt là đông hơn – Bằng chứng là trong số hơn mười mấy ngàn ngôi Chùa rải rác trên cả nước và cả mấy trăm ngàn Tăng Ni chính thức, được bao nhiêu người thật sự Ngộ Đạo, có thể giảng nói Phật Pháp, làm ích lợi cho bá tánh? Hơn nữa, dù là thật tâm tu hành đi nữa, nhưng việc tu hành theo Đạo Phật chỉ là TỰ ĐỘ, thì việc nhờ người khác Độ cho để mình rảnh rang, nhàn thân để tu hành, Thành Phật, liệu có phải là Chánh Nghiệp, Chánh Mạng?
    Đối chiếu cuộc sống của Phật, Tổ, và nhìn vào thực tế của các vị tu hành hiện nay tôi thấy có quá nhiều khác biệt. Trong khi Đức Phật Thích Ca và Chư Tổ cả đời tu hành chỉ Một Y, Một Bát. Đức Thích Ca còn mặc vải liệm thi. Mã Tổ Bách Trượng còn “Nhất Nhật bất tác, nhất nhật bất thực” mà nhiều người tu thời nay chưa thoát được cái ham hố vật chất. Dùng điện thoại di động đời mới. Di chuyển bằng phương tiện đắt tiền. Chùa sang còn gắn máy lạnh cho tu sĩ! Chùa nhỏ phấn đấu để cất to thêm. Thậm chí như một ngôi Chùa ở Đài Loan, Bồ Đoàn ở Chánh Điện dùng toàn gấm đắt tiền. Các Sư còn có phòng tắm Sauna để thư giãn. Đi khất thực bằng xe Lexus! Như vậy rõ ràng vẫn tiếp tục cưng chiều, phục vụ cho cái Thân và phung phí tiền bạc của bá tánh. Như vậy mà cho rằng đang Tu hành phải chăng là Vọng Ngữ, mà đã Vọng Ngữ thì có xứng đáng là Đệ Tử Phật? Như thế thì việc thọ nhận sự kính trọng và cúng dường của bá tánh liệu có thoát được nghiệp quả?
    Ở nước ta thì người dân còn nghèo khổ. Nhiều nơi không làm nổi chiếc cầu để đi. Qua sông phải đu giây, tính mạng bị đe dọa từng ngày. Bệnh Viện thì không đủ. Cơ sở vật chất thiếu thốn. Trường học rất cần cho bọn trẻ để mở mang kiến thức, làm vốn để vào đời thì nhếch nhác, vá víu tạm bợ. Trẻ thơ thì cha mẹ không có tiền cho đi học, tuổi thơ phải chịu cơ cực, mò cua, bắt ốc kiếm sống qua ngày. Người nghèo không tiền trị bệnh, sống lây lất chờ chết! Bao nhiêu người già không nơi tựa nương, bệnh hoạn hành hạ, Chùa nghèo mang về cưu mang, thiếu thốn đủ thứ. Rất nhiều lớp trẻ thi đỗ mà không tiền đóng học phí phải bỏ dở việc học hành, mất cả tương lai! Biết bao đứa trẻ bị bỏ rơi phải nhờ vào những tấm lòng nhân hậu của những con người cũng nghèo xác xơ mang về đùm bọc! Trong khi đó thì Chùa Chiền ngày càng mọc lên, hoành tráng, nhà ngang nhà dọc, trang hoàng lộng lẫy, đổ bao nhiêu tỷ tỷ vào đấy! Liệu Đức Phật có hài lòng khi thấy đệ tử của Ngài cứ chăm chút chùa to, Phật lớn mà không nhìn ngó ra xã hội để thấy bá tánh đang lầm than? Như vậy thì Tâm TỪ, BI, Hạnh thí, xả, được coi là ưu thế của Đạo Phật mà các tôn giáo khác không có được áp dụng vào đâu? Ngày xưa, có vị Sư đi quyên góp để cất Chùa, nhưng thấy trong nước có thiên tai thì Ngài dùng tiền đó để giúp cho bá tánh. Đến mấy lần như vậy mới cất được ngôi Chùa. Ngày nay không thấy có Cao Tăng nào có được Hạnh như thế. Như vậy phải chăng Lý một nơi, Sự một nẻo?!
    Ai cũng biết, Đạo Phật sở dĩ có mặt ở trần gian là vì con người. Tát cạn vực nước mắt của chúng sinh, đưa con người Thoát được cảnh Khổ là nguyện ước của Chư Phật Ba Đời. Tôi tin rằng Đức Phật không cần ta vinh danh bằng Chùa lớn, Phật to, tín đồ ngày một đông. Mà bao giờ chúng sinh hết lầm than, không còn cảnh đói, khổ, thiếu thốn hành hạ, chừng đó mới nói rằng Đạo Phật đã đi vào đời một cách thiết thực, thật sự gần gũi với con người. Đại Thừa hay Phật Giáo Nguyên Thủy đều cho rằng Phật, Bồ Tát không phải là thần linh thì lời cầu xin bao giờ mới được đáp ứng? Và lời nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát: “Ngày nào còn một chúng sinh chưa được độ, con thề chưa ngồi vào nơi Vô Thượng Chánh Giác” phải chăng là lời nhắc nhở cho những vị tu hành. Thay vì giảng hay, có uy tín lớn, thu nạp thêm nhiều tín đồ Quy y với mình, rồi dùng tiền quyên góp xây Chùa to, Phật lớn để lưu danh hậu thế. Sao Quý Sư không cùng hợp lực, dùng ảnh hưởng của mình, hô hào, quyên góp bá tánh để xây thêm Trường Học, Bệnh Viện, xây Cầu, và giúp đỡ những người đang đau khổ, thiếu thốn, bệnh tật là những việc làm thiết thực để chia sẻ bớt gánh nặng cho cuộc đời?
    Vào khoảng cuối tháng Tư vừa qua, dư luận rộ lên thông tin những cái chết quá thương tâm làm rúng động lòng người: Một phụ nữ bệnh hoạn, con đỗ Cao Đẳng mà chạy vạy khắp nơi không có tiền cho con đi học. Xin sổ hộ nghèo cũng không được cấp. Bí quá viết thư tuyệt mệnh để lại rồi treo cổ tự vẫn, mong có được số tiền phúng điếu để trả nợ và cho con đi học! Hai phụ nữ đang trẻ trung không có tiền đóng tiền phạt giao thông nên uống thuốc diệt cỏ. Một phụ nữ khác đông con, vợ chồng không lo nổi, nhà thì túng thiếu nên thường xuyên cãi nhau đã uống thuốc tự tử để các con được đưa vào Cô Nhi Viện. Hai vợ chồng ôm nhau trầm mình cùng với đứa con 5 tuổi! Tất cả cũng chỉ vì nghèo túng, bế tắc! Nếu có được sự quan tâm chia sẻ của mọi người thì bi kịch đâu đến nỗi xảy ra! Người đời quen thói ích kỷ thì vô tình đã đành. Còn các đệ tử của Phật có nhiệm vụ “Cứu độ chúng sinh” đang ở đâu? Chùa thì xây bao nhiêu mới đủ? Tượng lớn cỡ nào mới vừa? Làm bằng chất liệu gì mới xứng đáng? Cổ nhân có câu: “Dẫu xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”. Không cần phân biệt là các vị đang tu theo Phật Giáo Nguyên Thủy hay Đại Thừa. Nhưng các vị đã mang trên người hình ảnh của Đức Đạo Sư thì nên giữ cho thật trong sạch, xứng đáng. Nếu các vị sử dụng đồng tiền của bá tánh một cách có ý nghĩa thì việc làm đó mới thể hiện được đức Từ Bi của nhà Phật làm cho mọi người thêm tin tưởng vảo Phật Pháp, vào sự cứu độ của Phật, Bồ tát. Như vậy các vị mới thực sự là Đệ Tử của Phật, đang đem ánh sáng Phật Đạo đến với mọi tầng lớp, làm vơi đi nước mắt của chúng sinh. Đang Giảng Đạo Phật bằng thực tế, không chỉ bằng lời nói suông vậy.

    Tháng 6/2013

    TÂM NGUYỆN

    ————————————————-
    :
    Xin giới thiệu đến quý anh chị 1 website của bà Tâm Nguyện dưới đây:

    http://newvietart.com/TAMNGUYEN_saigon.html


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 92 other followers