Đại kinh Xóm ngựa
Đăng trong: 17/05/2012 Filed under: Trung Bộ Kinh, đạo lộ tu tập | Tags: đạo lộ tu tập Leave a comment »Trung Bộ Kinh
Majjhima Nikaya
39. Ðại kinh Xóm ngựa
(Mahà-Assapura sutta)
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương- già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
– Này các Tỷ-kheo.
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
– Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông được hỏi: “Các Ông là ai!” Các Ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn”. Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: “Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn, những pháp tác thành Bà-la-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chân chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”.
(Giới hạnh)
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn, và các pháp tác thành Bà-la-môn? “Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý”, như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các Ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Thân hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Khẩu hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì khẩu hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Ý hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì ý hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, và ý hành thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? “Sanh mạng chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì sanh mạng thanh tịnh ấy, khen mình, chê người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
(Hộ trì các căn)
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, và các căn đã được hộ trì, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
(Tiết chế ăn uống)
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh và các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
(Chú tâm cảnh giác)
Này các Tỷ-kheo, thế nào la các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
(Chánh niệm tỉnh giác)
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? “Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: “Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa”. Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.
(Ðoạn trừ các triền cái)
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối tiếc, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
Này các Tỷ-kheo, như một người mắc nợ liền làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia mắc nợ nên làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, ta không những trả được những nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Sau một thời gian, người ấy khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Nay ta khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người bị nhốt trong ngục. Người ấy sau một thời gian được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị nhốt trong ngục, nay ta được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. “Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Người ấy sau một thời gian thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người giải thoát, được tự do đi lại.
Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị cảnh nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Nay ta thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người giải thoát, được tự do đi lại”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc. Người ấy sau một thời gian đã đi khỏi bãi sa mạc ấy, đến đầu làng, yên ổn, không có nguy hiểm, tài sản không bị tổn giảm. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia giàu có, nhiều tài sản, đi qua bãi sa mạc. Nay ta đã đi qua khỏi bãi sa mạc ấy, yên ổn, không có nguy hiểm, tài sản không bị tổn giảm”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự mình, quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường qua sa mạc. Này các Tỷ-kheo, cũng như không mắc nợ, không bị bệnh tật được khỏi tù tội, được tự do, đến được đất lành yên ổn. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán năm triền cái khi chúng được diệt trừ.
(Bốn tầng thiền-na)
Sau khi đã đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly ác, bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm lão luyện, hay đệ tử người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như một hồ nước, nước từ trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh thấm nhuần.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Này các Tỷ-kheo, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
(Ba Minh)
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sinh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỷ-kheo, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình, người ấy nghĩ: “Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây, ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này các Tỷ-kheo, ví như có hai nhà có cửa, và ở đây, một người có mắt đứng ở giữa, người này có thể thấy các người (khác) đi vào nhà, đi ra, đi qua, đi lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, vị ấy thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của Khổ”, biết như thật: “Ðây là sự Diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là sự đoạn trừ các lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.
Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.
Này các Tỷ-kheo, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: “Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết như thật: “Ðây là khổ… biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc!” Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần phải làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.
(Bậc A-la-hán)
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được gọi là Sa-môn, là Bà-la-môn, là vị đã tắm sạch sẽ, là vị đã biết và hiểu rõ, là bậc có học, là bậc Thánh, là bậc A-la-hán.
Này các Tỷ-kheo, như thế nào, Tỷ-kheo là Sa-môn? Vị này đã làm cho dừng lại các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là Sa-môn.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào Tỷ-kheo là Bà-la-môn? Vị này đã tẩn xuất ra ngoài các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là Bà-la-môn.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo đã tắm sạch sẽ? Vị này đã tắm gội sạch sẽ các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã tắm sạch sẽ.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo đã biết và hiểu rõ? Vị này đã biết và hiểu rõ các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã biết và hiểu rõ.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo có học? Vị này đã tiêu diệt các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có học.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo được gọi là bậc Thánh? Vị này đã làm cho xa lìa các ác pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được gọi là bậc Thánh.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo được gọi là bậc A-la-hán? Vị này đã làm cho xa lìa các ác, các pháp bất thiện, những pháp này ô nhiễm, đưa đến tái sanh, đáng sợ hãi, đem lại khổ quả, đưa đến sanh già, chết trong tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
.
Ý kiến riêng:
Đây là một trong những bài kinh mô tả Đạo Lộ tu tập của Đạo Phật theo bài bản và thứ tự.
- Nội dung bài kinh nhắc nhở ta rằng: Trừ những trường hợp ngoại lệ (exception), một người bình thường không có thể tu hành “vượt cấp” được.
- Nhớ tới thời điểm này, đang nở rộ những phong trào “tu hành vượt cấp” đáng phải lưu ý:
Ví dụ:
- Các khóa thiền đang được khai trương hàng loạt theo phong trào. Các khóa thiền này thường dành cho các cư sĩ, sinh viên, người mới tìm hiểu Đạo Phật v.v… Dù thiền sinh chưa tu tập đủ về Giới, chưa quan tâm về các lỗi nhỏ nhặt, chưa biết phòng hộ các căn, chưa từng thực hành Chánh Niệm, tất cả cũng được dạy ngay các kĩ thuật Thiền Định (Samadhi) hoặc Thiền Quán (Vipassana).
- Sao vội vã thế? Có hiệu quả không? Lý do gì khiến các chùa đua nhau mở các khóa thiền kiểu “vượt cấp” như vậy?
Phạm Doãn
Đức Phật nói tiếng gì?
Đăng trong: 16/05/2012 Filed under: Thảo Luận | Tags: Pali Leave a comment »Thảo luận của nhóm Pali Chuyên Đề
Huỳnh Phúc Kiến hỏi
Xin kính thỉnh các sư và các cô ,các bác cư sĩ ở đây giúp Phúc Kiến đc hiểu rõ vấn đề thắc mắc sau đây :
Phúc Kiến được biết là đức Phật thuyết pháp bằng ngôn ngữ Magadhi (của xứ Magadha) chứ không phải là ngôn ngữ Pali ,vậy điều đó có đúng không ạ? Và nếu đúng như vậy thì tại sao kinh điển lại ko kết tập bằng ngôn ngữ Magadhii mà lại kết tập bằng ngôn ngữ Pali . Theo Phúc Kiến được biết thì ngôn ngữ Pali thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Aryan ,nó khác hẳn hoàn toàn ngôn ngữ Magadha và đc sử dụng bởi một bộ tộc ít người còn tồn tại đến bây giờ ở Phía Bác xứ Ấn Độ
_ Cuối cùng Phúc Kiến xin đc cám ơn các sư và cô bác đã quan tâm đến thắc mắc của Phúc Kiến. Những thông tin ở trên Phúc Ki én cũng chỉ đọc lại từ những nguồn tài liệu và Phúc Kiến ko còn nhớ những nguồn tài liệu đó tên gì nên ko thể dẫn chứng cho các sư và cô bác, nếu có gì sai sót mong càc sư và cô bác cư sĩ chỉ bảo thêm cho. Xin cám ơn
PHẦN THẢO LUẬN
Vo Trong Phi Đóng góp vài link tiếng Anh gởi bạn. (Mình đang bận nên chưa có thời gian để tìm nhiều hơn):
http://www.britannica.com/EBchecked/topic/439818/Pali-language
http://www.palitext.com/subpages/lan_lite.htm
http://buddhamind.info/leftside/teachings/ti-pi3.htm
Pali language : Introduction — Britannica Online Encyclopedia
sacred language of the Theravāda Buddhist canon, a Middle Indo-Aryan language of north Indian origin. On the whole, Pāli seems closely related to the Old Indo-Aryan Vedic and Sanskrit dialects but is…
Phamj Ngocj Taan Phật thuyết pháp bằng nhiều thứ tiếng mà
Huỳnh Phúc Kiến Chú gì đó ơi ,chú có thể giúp con dịch ra tiếng Việt bài văn trong trang web thứ hai đc ko,con xin cam on chu.
Vo Trong Phi Huỳnh Phúc Kiến nhờ các thành viên khác dịch giúp đi. Lúc này đang rất bận.
Tính Nguyễn Cứ kiên nhẫn đã, không cần phải vội! Cám ơn bạn đã thay mặt mọi người đưa ra câu hỏi lớn! Bấm like ở đây nghĩa là mọi người hoan hỷ, đồng thắc mắc với bạn; để “núp lùm” chờ các bậc thượng thủ khác vào trả lời trước; để nói với bạn rằng: “hãy đợi đấy”! hi hi…
Huỳnh Phúc Kiến Tại cái này nó liên quan đến niềm tin của em nên em mới lên đây hỏi cho rõ ,vì em mắc bệnh hay hoài nghi , hết thuốc chữa rồi ,từ khi đọc đc những thông tin này trên mạng thì mỗi l ần niệm Ân Đức Phật thì nghi ngờ nó lại nổi lên ,chiếm hết tâm trí làm em rất là nhức đầu
Hạnh Trương Cái này phải thỉnh anh Binh Anson giải đáp rồi :)
Hiếu Nguyễn Vụ này mình tính đặt câu hỏi lâu rồi. Nhưng sau đó mình cũng phần nào tự tìm được câu trả lời cho riêng mình.
Mình xin gửi tặng bạn Huỳnh Phúc Kiến, và các đạo hữu trên Pali chuyên đề đường link tới luận án tiến sỹ của HT. Thích Minh Châu (người đã dịch những bộ kinh lớn trong Tam Tạng Pali sang tiếng Việt).
http://www.budsas.org/uni/u-sosanh-trung/sosanh00.htm
Dưới đây là 1 trích đoạn hay, (HT. TMC) chỉ ra rằng không phải bản P (Pali) lúc nào cũng là chuẩn nhất:
–
Điểm qua vai trò của các nhân vật trong 98 kinh được so sánh, ta thấy rõ ràng có một nguồn gốc chung cho cả hai bản C và P, từ đó những nhà kết tập chọn những tài liệu và dữ kiện cho bản kinh của họ, nhưng không thiếu những dị biệt về chi tiết, và điều này hoặc do sự chọn lựa của các nhà kết tập hoặc do đặc điểm của các bộ phái mà họ tiêu biểu.
Như về phương diện nhân vật, trong NC15, kinh C 115, Mật hoàn du,ï nói chính Phật dẫn ví dụ về viên mật; trong kinh P18, nói Tôn giả A Nan dẫn. Trong NC 10, kinh C 99, Khổ ấm, kể một số đông tín đồ ngoại đạo đến gặp các Tỳ-kheo trong giảng đường khi họ đang tụ hội sau bữa ăn trưa. Nhưng trong P13, Đại kinh khổ uẩn, các Tỳ-kheo sau khi vào thành Xá Vệ khất thực, thấy còn sớm nên đi đến trú xứ của các du sĩ và cuộc đàm thoại bắt đầu. Trong NC 26, C184 nói Đại Ca-chiên-diên (Ta-chia-chan-yen) trả lời Tỳ-kheo thiện xảo về luận thuyết (Abhidharma) (sẽ làm sáng chói khu rừng), nhưng theo kinh P32, đó là câu trả lời của Đại Mục-kiền-liên (Mahàmoggallàna) ; trong khi ở kinh C, Đại Mục-kiền-liên trả lời là Tỳ-kheo thiện xảo về thần thông. Như vậy bản C ở đây trung thực và đáng tin cậy hơn, vì Đại Ca-chiên-diên (Mahàkaccàna) nổi tiếng là chuyên môn về luận nghị, Mục-kiền-liên nổi tiếng là chuyên môn về thần thông. Chúng ta trích dẫn ở đây một nhận xét của tiến sĩ Anesaki(71): “Trong kinh P, Gosinga(72), chúng ta thấy nói đến sáu đệ tử của đức Phật; trong bản C tương đương có thêm một người nữa là Ca-chiên-diên (Katyàyana) . Trong cuộc đàm luận giữa những Tỳ-kheo ấy, Mục-kiền-liên ở bản P đóng vai trò một đệ tử tinh thông về các nguyên lý của pháp và phân tích pháp. Trong bản C, vai trò này do Ca-chiên-diên đóng, và Mục-kiền-liên (Maudgalyàyana) là một người nổi tiếng về thần thông. Khi so sánh điều này với những tài năng của các đệ tử như được nói trong kinh Tăng chi bộ (Anguttara) I,14, chúng ta có thể thấy rằng bản C phù hợp với truyền thống chung. Vì như trong kinh Tăng chi I nói, Mục-kiền-liên là người thần thông (iddhimantànam) đệ nhất, Ca-chiên-diên (Kaccàna) là ‘người thiện xảo về nói pháp và phân tích ý nghĩa’ (sankhittena bhàsitassa vitthàrena attham vibhajantànam). Kinh Tăng-nhất-A-hàm (Ekottara) C cũng nói như vậy. Có thể sự khác nhau này chứng tỏ rằng không phải bản P luôn luôn thuần túy và nguyên chất hơn bản C.”
Trung A-ham & Trung Bo – 00
A.M.R.H. : “Đại thừa liên hệ với Tiểu thừa”, N. Dutt.C : Chữ Hán.C.A.P.N…See More
Hiếu Nguyễn Lưu ý thêm: nhưng mà khi không có được vàng mười, thì vàng pha một tý vẫn ngon chán!
Kusalaguṇa Thiện Đức Có nhớ một lần ở đâu đó Đ Đ Indacanda đã thảo luận đề tài này. Để khỏi mất thời gian researchi, thỉnh Đ Đ Indacanda trích dẫn lại để bà con mở rông thêm quan kiến ạ.
Nguyên Hương :
- Chúng ta không thực sự biết ĐPhật đã thuyết giảng bằng ngôn ngữ nào, vì ở India có rất nhiều ngôn ngữ hay phương ngữ. Nhiều giả thuyết cho rằng ĐP nói chủ yếu là bằng ngôn ngữ Magandhi, nhưng chính điều này cũng chưa được chứng minh.
- Khi ngài Mahinda sang truyền giáo ở Sri Lanka, ngài dùng ngôn ngữ nào cũng đang trong vòng tranh luận. Chúng ta biết rằng trưởng lão Mahinda là đệ tử ruột của ngài Moggalaputtra, người chủ tọa của kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ ba (tại Ấn độ vào Thế kỷ thứ ba BC), thuộc bộ phái Vibhajja vada (không hẳn là Theravada -trưởng lão bộ). Vì nay Phật giáo Theravada trên toàn thế giới bắt nguồn từ Sri Lanka, đặc biệt là phái Maha Vihara ở cố đô Anuradhapura vốn rất mạnh vào nhiều thế kỷ sau công nguyên. Kinh điển của bộ phái này được kiết tập và ghi lại theo trí nhớ của các vị chuyên tụng vào nửa đầu thế kỷ thứ nhât BC (1st BC), nhưng cũng không phải bằng ngôn ngữ Pali, mà bằng ngôn ngữ của người Sinhale (người Sri Lanka bây giờ), vốn là một bộ tộc di cư đến đảo Lanka từ miền Bắc India, họ nói họ vốn cùng dòng dõi Sakya của ĐPhật. (Hãy tham khảo Mahavamsa & Dipa vamsa, hình như sư Indacanda đã dịch và in rồi).
- Mãi đến thế kỷ thứ năm sau Tây lịch, kinh điển (Suttanta & Vinaya) và sớ giải (atthakatha) mới được dich qua tiếng Pali bởi luận sư Buddhaghosa mà cho đến nay cũng chưa xác định được là ngài Buddhaghasa vốn sinh trưởng và xuất gia ở đâu trước khi ngài đến đảo Lanka học với các vị Trưởng lão ở Maha Vihara tại Anuradhapura. Và sau đó vị luận sư này đi về đâu cũng không rõ hành tích, có nhiều giả thuyết nói rằng ngài đến Suvannabhumi (xứ sở của người Mon), nay là phần hạ của Thai Lan và Myanmar.
Karmalaw Net ” Chúng ta không thực sự biết ĐPhật đã thuyết giảng bằng ngôn ngữ nào, vì ở India có rất nhiều ngôn ngữ h…ay phương ngữ. Nhiều giả thuyết cho rằng ĐP nói chủ yếu là bằng ngôn ngữ Magandhi, nhưng chính điều này cũng chưa được chứng minh.
- Khi ngài Mahinda sang truyền giáo ở Sri Lanka, ngài dùng ngôn ngữ nào cũng đang trong vòng tranh luận. Chúng ta biết rằng trưởng lão Mahinda là đệ tử ruột của ngài Moggalaputtra, người chủ tọa của kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ ba (tại Ấn độ vào Thế kỷ thứ ba BC), thuộc bộ phái Vibhajja vada (không hẳn là Theravada -trưởng lão bộ). Vì nay Phật giáo Theravada trên toàn thế giới bắt nguồn từ Sri Lanka, đặc biệt là phái Maha Vihara ở cố đô Anuradhapura vốn rất mạnh vào nhiều thế kỷ sau công nguyên. Kinh điển của bộ phái này được kiết tập và ghi lại theo trí nhớ của các vị chuyên tụng vào nửa đầu thế kỷ thứ nhât BC (1st BC), nhưng cũng không phải bằng ngôn ngữ Pali, mà bằng ngôn ngữ của người Sinhale (người Sri Lanka bây giờ), vốn là một bộ tộc di cư đến đảo Lanka từ miền Bắc India, họ nói họ vốn cùng dòng dõi Sakya của ĐPhật. (Hãy tham khảo Mahavamsa & Dipa vamsa, hình như sư Indacanda đã dịch và in rồi).
- Mãi đến thế kỷ thứ năm sau Tây lịch, kinh điển (Suttanta & Vinaya) và sớ giải (atthakatha) mới được dich qua tiếng Pali bởi luận sư Buddhaghosa mà cho đến nay cũng chưa xác định được là ngài Buddhaghasa vốn sinh trưởng và xuất gia ở đâu trước khi ngài đến đảo Lanka học với các vị Trưởng lão ở Maha Vihara tại Anuradhapura. Và sau đó vị luận sư này đi về đâu cũng không rõ hành tích, có nhiều giả thuyết nói rằng ngài đến Suvannabhumi (xứ sở của người Mon), nay là phần hạ của Thai Lan và Myanmar.” —> những điều rối rắm này càng làm sáng tỏ một vài điều khác nữa! Cảm ơn sư cô Nguyen Huong, cảm ơn chú Phạm Doãn và Pali Chuyên Đề! Vậy là những suy luận của KN có căn cứ.
Hạnh Trương:
Ở đây có một trao đổi khá hay về đề tài này, mọi người có thể tham khảo thêm :
http://pali.nibbanam.com/kosalan.htm
Pāli by the Dowling Method
pali.nibbanam.com
4 Wilhelm Geiger. Pāli Literature & Language. Oriental Books Reprint
Hạnh Trương ”With these caveats, I have come to the opinion that, if today the Buddha heard Sri Lankan monks (who have the best pronunciation) reciting Pāli, he would recognise at least some of his own words in a slightly different accent. That the Buddha’s actual words can resound to us after 2,400 years is perhaps a romantic notion, but that does not prevent it being the truth.”:D
Hai Bui Xuan:
Pali là gì? Là tên một ngôn ngữ, nó bắt nguồn từ chừ Palibhasa có nghĩa là ngôn ngữ (bhasa) văn bản (pali). Nếu dịch đầy đủ hơn có thể là “văn bản cho việc đọc tụng”. Văn bản là một thể loại đầu tiên của kinh điển Phật giáo được duy trì bởi một truyền thống Phật giáo đặc biệt, điển hình như Phật giáo Theravada. Các văn bản này được các nhà học giả Phật giáo thời kỳ sau này sưu tập lại và phân chia thành Tipitaka (Tam Tạng Kinh Điển). Chúng là cũng được gọi là “Buddhavacana” (những lời dạy của đức Phật). Bởi vì đa số những lời dạy ở trong Tipitaka điều do chính đức Phật thuyết ra. Ngoài ra, chúng còn có một tên gọi khác nữa là “Kinh điển Pali”.
Vậy Pali là loại ngôn ngữ gì? Và nguồn gốc của thuật ngữ Pali xuất phát từ đầu?
Theo truyền thống chú giải các kinh điển Pali được biết như là ngôn ngữ Magadhi thuộc xứ sở Magadha. Magadha là một tên cổ của một vùng đông – bắc. Đức Phật đã dành thời gian tuổi già của mình ở đây sống trong và gần xứ Magadha và Pali là tên ngôn ngữ Magadhi bởi vì mọi người tin rằng Pali là ngôn ngữ mà Đức Phật đã sử dụng để thuyết giảng giáo Pháp của ngài, do đó nó phải được nói xunh quanh ngài. Nhà chú giải kinh điển Budhaghosa (sống vào khoảng thế kỷ thứ 5 Tây lịch) đã viết rằng nếu một đứa trẻ không được nghe một ngôn ngữ nào, khi lớn lên nó sẽ tự động nói tiếng Magadhi (Pali) và tiếng Màgadhi là một loại ngôn ngữ gốc (như vậy, có thể suy ra rằng tất cả các loại ngôn ngữ điều xuất phát từ đó). Nhưng các văn bản trước thời kỳ của nhà chú giải kinh điển Budhaghosa không hề đề cập việc đó. Đặc biệt trong kinh điển Pali, thuật ngữ “Pali” cũng chưa hề xuất hiện lần nào. Các bản này chỉ đề cập đến việc đức Phật sử dụng ngôn ngữ bình dân khi ngài giảng giải giáo pháp, ngoài ra không hề nhắc đến ngôn ngữ Pali. Ngoài ra, các biên niên sử cổ đại của Sri Lanka (Tích Lan) cũng chỉ đề cập lại rằng kinh điển Theravada được viết thành văn bản tại một tự viện thuộc trung tâm của Sri Lanka vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước dương lịch trong suốt triều đại của vua Vattagamani Abhaya. Ngôn ngữ kinh điển này tiếp tục bị tác động bởi các nhà chú giải, nhà ngữ pháp và một số ngôn ngữ đia phương nơi mà Phật giáo Theravada có mặt hơn vài thề kỷ. Lối truyền kinh điển Pali bằng khẩu ngôn vẩn còn tiếp tục kéo dài một vài thế kỷ sau khi đức Phật Niết – bàn, thì sau đó kinh điển được duy trình lần đầu bằng chữ viết.
Còn theo các học giả Pali hiên đại thì cho rằng Pali thuộc nhóm ngôn ngữ Ấn – Hằng thuộc thời kỳ trung đại. Nhóm ngôn ngữ này cũng được gọi là Prakrit. Cả hai thuật ngữ “Pali” và “Prakrit” điều có nguồn từ Sanskrit – các nhà ngữ văn học xếp loại ngôn ngữ Sanskrit vào nhóm ngôn ngữ Ấn – Hằng thời kỳ cổ đại. Sanskrit thời kỳ cổ đại này được chia thành Sankrit Cổ Điển (Classical Sanskrit)- loại ngôn ngữ này được hệ thống lại bởi nhà ngữ pháp Panini (vào khoảng thế thứ 4, trước công Tây lịch) và Sanskrit Vệ Đà (Vedic Sanskrit) – ngôn ngữ này có trước Sanskrit Cổ Điển. Sanskrit là một nhánh của hệ ngôn ngữ Ấn – Âu, xuất hiên sớm nhất các đây hơn ba ngàn năm trước và được phát triển về phía đông, trải dài từ vùng đất Anatolia (Thổ Nhỉ Kỳ ngày này) đến bình nguyên sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges). Mặt khác, hệ ngôn ngữ Ân – Âu cũng là tổ tiên của nhiều loại ngôn ngữ hiện đại ngày này. Từ tiếng Sihala và tiếng Bengali ở vùng Đông Nam cho đến tiếng Anh và tiếng Celtic (Xen –tơ) ở vùng Tây –Bắc và thậm chí kể cả nhiều loại ngôn ngữ đã chết khác nữa. Như vậy có thể nói rằng Sanskrit là một trong những loại ngôn ngữ thuộc hệ Ấn Âu phát triển sớm nhất so với các ngôn ngữ khác. Nhưng điều này không có nghĩa rằng Sanskrit là ngôn ngữ phát triển sớm nhất. Ở đây chúng ta cũng cần phân biệt giữa thể loại nói và viết trong ngôn ngữ. Ví các bản văn cổ Sanskrit, như Rgveda có lẽ đã tồn hàng ngàn năm trước công nguyên; nhưng hơn môt ngàn năm không được viết xuống thành các văn bản. Mẫu chữ viết của người Ấn Độ xuất hiện sớm có lẽ là các ký tự được khắc trên những trụ đá của Vua A- dục (Asoka). Mẫu chữ này có lẽ được dùng được ở vùng Tây – Bắc của Ấn Độ (ngày này là Pakistan/ Afghanistan). Nhưng chẳng bảo mẫu chữ này đã biến mất, không có hậu duệ của nó.. Các văn băn trên của vua Asoka là Parkit, chứ không phải là Sanskit. Như vây có thể nói rằng các văn bản Sanskrit lẫn Prakrit bắt đầu được viết xuống vào thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, mặc dù không có bằng chứng nào cho thấy các bản văn được viết của thời kỳ này tồn tại. (còn tiếp)
(Bài viết này mang tính chất comment, nên không có footnote. Mong các sư, các chú, các bác …thông cảm. Và có điều gì sai sót, thiếu tính logic cũng mong các sư, các bác, các chú…chỉ dạy. )
Sách thảm khảo cho đề tài này:
- A Pali Grammar – Wilhelm Geiger
- Pali Literature and Language – Wilhelm Geiger
- A new Course in Reading Pali – James W. Gair, W. S. Karunatillake
- Ngữ Pháp Tiếng Phạn – G.S. Lê Mạnh Thát.
Karmalaw Net Like thì có like nhưng bài viết trên còn nhiều chủ quan.
Phan Minh Nguyet Cảm ơn bạn Phúc Kiến đã đưa ra 1 câu hỏi rất hay. Những vấn đề thuộc về lịch sử thường khó tìm được dữ liệu và chứng cứ chính xác. Đối với những vấn đề này tôi thường tham khảo wikipedia, hy vọng có được 1 cái nhìn tương đối khách quan nhất. Tôi mới tìm hiểu qua và thấy wikipedia cũng nói những điểm tương đồng như sư cô Nguyên Hương. Cảm ơn bác Phạm Doãn đã chia sẻ.
Đức Phật nói tiếng gì?
Tài liệu trích từ trang http://budsas.blogspot.com.au
Source: http://www.dhammawheel.com/viewtopic.php?f=29&t=4630
Question:
– What language did the Buddha speak? Some sources say Sanskrit and some Magadhi. Now I wonder is there any evidence?
Answer by Kare Albert Lie (Norway, 11 June 2010):
– He did not speak Sanskrit. At the Buddhas time different dialects were spoken in Northern India. They were probably not very different from each other, and not very different from Sanskrit. Pali is a standardization from these dialects (we find traces of different dialects in Pali), a couple of hundred years after Buddha, and the Pali texts therefore probably are as close to the Buddha’s own language as we can reasonably expect to get.
The term Magadhi is ambiguous. It means “from Magadha”, and so we have to ask what area was called Magadha, and at what time.
At the Buddha’s time Magadha was one of several states in Northern India. We do not know if, or how much, the dialect in Magadha at that time differed from the neighboring dialects. As far as I know, we have no documentation for the use of Magadhi as a linguistic term at that time.
Magadha was a rather aggressive kingdom, and after the Buddha’s time it conquered other states and expanded until it covered most of India at the time of Asoka. Asoka was king of Magadha, that is, he was king of “greater Magadha” – most of India. At his time Buddhism was exported to Sri Lanka, and so were the Pali texts. But Sri Lankan commentators did not call the language “Pali”. They called it Magadhi, which is quite logical, since the texts had been brought to them from Magadha, from “greater Magadha”, that is – from the Indian mainland. Therefore the term Magadhi for the Pali language as used in the commentaries, probably mean nothing more than “Indian”.
Later, the Asokan dynasty fell from power, and the name Magadha was again restricted to the area, the province that had been the original state of Magadha at the Buddha’s time. During the centuries the dialects in different parts of India had diverged (as is normal for languages), and the dialect of Magadha had acquired its own distinctive features. Now came the time of the great Sanskrit dramas, and the Sanskrit authors consciously used different dialects and cultivated these as written sociolects, which were called Prakrit. Thus there arose a Prakrit language/dialect called Magadhi.
There seems to have been quite a lot of confusion due to these different usages of the term “Magadhi”.
To sum up:
“Magadhi 1″ – whatever dialect was spoken in Magadha at the Buddha’s time. We do not know to what degree, if at all, this was any different from the language spoken over most of Northern India.
“Magadhi 2″ – the language of the texts from “greater Magadha” that arrived in Sri Lanka at the time of Asoka. This “Magadhi 2″ is the same as we today call Pali.
“Magadhi 3″ – the later dialect of the province of Magadha that became a Prakrit language in the Middle Ages. No special connection to Buddhism or the Pali texts.
Pali có ý nghĩa thế nào?
Nguồn: Tỳ-khưu Indacanda, http://www.paliviet.info
oooOooo
Từ Pali không tìm thấy ở Tam Tạng.
Ở Chú Giải, khi đề cập đến việc học tập của vị tỳ khưu thì Ngài Buddhaghosa có ghi là vị ấy cần học tập “pāliñca atthakathañca,” nghĩa là học “pali và atthakathā.” Từ atthakathā có nghĩa là Chú Giải, nhờ đó có thể biết được rằng từ Pali có nghĩa là Chánh Tạng, là những gì được chứa đựng trong Tam Tạng.
Và ngôn ngữ ghi lại Tam Tạng thì Ngài Buddhaghosa ghi rằng Māgadhabhāsā, nghĩa là ngôn ngữ của xứ Magadha (Ma Kiệt Đà). Việc gọi Pali là tên của ngôn ngữ ghi lại lời dạy của đức Phật có thể đã được học giả người Pháp Simon de la Loubère sử dụng đầu tiên trong tác phẩm Du Royaume de Siam ấn hành năm 1691; tài liệu này đã được dịch sang tiếng Anh năm 1693 (Juo-Hsüeh Shih Bhikkhunī, Controversies over Buddhist Nuns, Oxford: The Pali Text Society, 2000, trang 3). Do sự ngộ nhận ban đầu đó, ngày nay nói đến từ Pali người ta liên tưởng đến ngôn ngữ Pali, mà hầu như không biết đến ý nghĩa ban đầu của nó.
Như vậy tùy theo ngữ cảnh, Pali có thể hiểu là:
- Các lời dạy nguyên thủy, chánh truyền, của đức Phật.
- Ngôn ngữ đã được sử dụng để ghi lại các lời dạy ấy.
Kinh giảng về Niệm hơi thở vào hơi thở ra
Đăng trong: 20/04/2012 Filed under: Phật giáo nguyên thủy Leave a comment »Lời Dẫn Nhập:
Đây là bản dịch mới của bài Kinh Ānāpānasatisuttam thuộc Tạng Kinh, Trung Bộ, tập III, bài 118. Căn cứ theo văn tự, bản dịch này trình bày một số điểm xét ra có phần khác biệt so với các bản dịch trước đây. Những điểm này chủ yếu được trình bày ở phần cước chú. Hy vọng sẽ đóng góp được phần nào lợi ích về tri kiến cho người đọc cũng như sự tu tập của các hành giả. Văn bản song ngữ Pali – Việt được ghi lại ở dạng Pdf và có thể hạ tải ở đường dẫn sau: http://www.paliviet.info/VHoc/VHoc_PhDich.htm
Colombo, ngày 19 tháng 09 năm 2010
Tỳ khưu Indacanda.
*****
KINH GIẢNG VỀ
NIỆM HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA
(Phần Giới Thiệu)[1]
Tôi đã được nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngụ tại Sāvatthi, ở khu vườn phía Đông, nơi lâu đài của Migāramātu, cùng với nhiều vị Thinh Văn trưởng lão rất được biết tiếng như là đại đức Sāriputta, đại đức Mahāmoggallāna, đại đức Mahākassapa, đại đức Mahākaccāyana, đại đức Mahākotthita, đại đức Mahākappina, đại đức Mahācunda, đại đức Anuruddha, đại đức Revata, đại đức Ānanda, cùng với nhiều vị Thinh Văn trưởng lão rất được biết tiếng khác nữa.
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy các vị tân tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy mười tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy hai mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy ba mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy bốn mươi tỳ khưu. Và trong khi được giáo huấn, được chỉ dạy bởi các vị tỳ khưu trưởng lão, các vị tân tỳ khưu ấy nhận biết pháp đặc biệt cao quý khác so với trước đây.
Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày Uposatha, là ngày rằm, ngày lễ Pavāranā, vào đêm trăng tròn đầy, đức Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, được hội chúng tỳ khưu vây quanh. Khi ấy, đức Thế Tôn, sau khi quan sát hội chúng tỳ khưu đang im lặng, đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, Ta được hài lòng với lối thực hành này. Này các tỳ khưu, Ta có tâm hài lòng đối với lối thực hành này. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, các ngươi hãy ra sức tinh tấn hơn nữa nhằm đạt được pháp chưa đạt được, nhằm chứng đắc pháp chưa được chứng đắc, nhằm chứng ngộ pháp chưa được chứng ngộ. Ta sẽ chờ đợi ở chính nơi đây, tại Sāvatthi, cho đến ngày rằm Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa).”
Các tỳ khưu trong xứ sở đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn sẽ chờ đợi ở chính nơi đó, tại Sāvatthi, cho đến ngày rằm Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa).” Và các tỳ khưu trong xứ sở ấy quy tụ về Sāvatthi để chiêm ngưỡng đức Thế Tôn. Và các vị tỳ khưu trưởng lão còn giáo huấn, chỉ dạy các tân tỳ khưu nhiều hơn nữa. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy mười tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy hai mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy ba mươi tỳ khưu. Một số tỳ khưu trưởng lão giáo huấn, chỉ dạy bốn mươi tỳ khưu. Và trong khi được giáo huấn, được chỉ dạy bởi các vị tỳ khưu trưởng lão, các vị tân tỳ khưu ấy nhận biết pháp đặc biệt cao quý khác so với trước đây.
Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày Uposatha, là ngày rằm, ngày lễ Komudī, thuộc tháng thứ tư (của mùa mưa), vào đêm trăng tròn đầy, đức Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, được hội chúng tỳ khưu vây quanh. Khi ấy, đức Thế Tôn, sau khi quan sát hội chúng tỳ khưu đang hoàn toàn im lặng, đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, tập thể này không có việc nói chuyện nhảm. Này các tỳ khưu, tập thể này không còn việc nói chuyện nhảm, được thanh tịnh, đã vững vàng ở cốt lõi. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này đáng được tiến cúng, đáng được hiến dâng, đáng được cúng dường, đáng được lễ bái, là nơi để gieo trồng phước báu của thế gian không gì hơn được. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Ở tập thể như thế này, vật được bố thí ít trở thành nhiều, được bố thí nhiều thì trở thành nhiều hơn nữa. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này là khó gặp ở thế gian. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu này là như thế. Này các tỳ khưu, tập thể này là như thế. Tập thể như thế này là xứng đáng đi nhiều do-tuần để yết kiến dầu với vật thực đi đường ở vai.
Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu là bậc A-la-hán, có các lậu hoặc đã cạn kiệt, đã được hoàn mãn, có các việc cần làm đã làm, có các gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của bản thân đã được đạt đến, có các sự trói buộc ở hữu đã được tiêu diệt, có trí hiểu biết chân chánh, đã được giải thoát. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận năm hạ phần kiết sử, là hạng hóa sanh, có sự viên tịch Niết Bàn tại nơi ấy, từ thế giới ấy không có việc quay trở lui. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận ba loại kiết sử, có sự giảm thiểu của luyến ái-sân hận-si mê, là bậc Nhất Lai, sẽ đi đến thế gian này chỉ một lần rồi sẽ chấm dứt khổ đau. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu có sự diệt tận ba loại kiết sử, là bậc Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa, có sự tiến đến giác ngộ đã được chắc chắn. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.
Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn sự thiết lập niệm. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn chánh tinh tấn. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bốn nền tảng của thần thông. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về năm quyền. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về năm lực. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bảy chi phần đưa đến giác ngộ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về Thánh Đạo tám chi phần. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.
Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về từ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về bi. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về hỷ. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về xả. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về tử thi. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này. Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về tưởng vô thường. Này các tỳ khưu, những tỳ khưu như thế có mặt ở hội chúng tỳ khưu này.
Này các tỳ khưu, ở hội chúng tỳ khưu này, có mặt những tỳ khưu sống gắn bó với việc rèn luyện và tu tập về niệm hơi thở vào hơi thở ra.[2] Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập, được thực hành thường xuyên là có quả báu lớn, có lợi ích lớn. Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho bốn sự thiết lập niệm[3] được hoàn bị. Bốn sự thiết lập niệm được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ[4] được hoàn bị. Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập, được thực hành thường xuyên khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị.
(Tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra)
Và này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào là có quả báu lớn, có lợi ích lớn? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào.
Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết:[5] ‘Tôi thở ra dài.’[6]
Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’
Hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’
Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn.’
Vị ấy tập luyện:[7] ‘Có cảm giác toàn thân,[8] tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’[9]
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào.’[10]
Vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vào;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở vào;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vào;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được thoát ra, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được thoát ra, tôi sẽ thở vào.’
Vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát[11] về vô thường, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở vào;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về ly ái dục, tôi sẽ thở vào;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về tịch diệt, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về tịch diệt, tôi sẽ thở vào;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở ra;’
vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở vào.’
Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như vầy, được thực hành thường xuyên như vầy là có quả báu lớn, có lợi ích lớn.
(Bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị)
Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị? Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO[12] vị tỳ khưu trong khi thở ra dài nhận biết: ‘Tôi thở ra dài;’ hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài;’ hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn;’ hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.[13] Này các tỳ khưu, ta nói như vậy về một thân khác nữa trong số các thân, tức là sự thở ra sự thở vào. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.
Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, ta nói như vậy về một thọ khác nữa trong số các thọ, tức là sự chú tâm tốt đẹp đối với sự thở ra sự thở vào. Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.
Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác tâm, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm hân hoan, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát tâm ở trên tâm, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, đối với kẻ có niệm bị quên lãng, không có sự nhận biết rõ rệt, ta không nói về sự tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra.[14] Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát tâm ở trên tâm, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian.
Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về vô thường, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về lìa ái dục, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về lìa ái dục, tôi sẽ thở vào,’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về diệt tận, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về diệt tận, tôi sẽ thở vào,’ vị ấy tập. ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có sự quan sát về từ bỏ, tôi sẽ thở vào;’ này các tỳ khưu, VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Vị ấy sau khi nhìn thấy sự dứt bỏ tham và ưu phiền bằng tuệ là người có trạng thái xả tốt đẹp.[15] Này các tỳ khưu, vì thế, ở đây, VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu sống có sự quan sát pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian. Này các tỳ khưu, niệm hơi thở vào hơi thở ra được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho bốn sự thiết lập niệm được hoàn bị.
(Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị)
Này các tỳ khưu, bốn sự thiết lập niệm được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị? Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian, VÀO LÚC ẤY niệm của vị ấy được thiết lập, không bị quên lãng. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO niệm của vị tỳ khưu được thiết lập, không bị quên lãng, VÀO LÚC ẤY niệm giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi. VÀO LÚC ẤY, niệm giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Trong khi an trú với niệm như thế, vị ấy suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu, trong khi an trú với niệm như thế, suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, VÀO LÚC ẤY trạch pháp giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập trạch pháp giác chi. VÀO LÚC ẤY, trạch pháp giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Đối với vị ấy, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, thì sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, mà sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ, VÀO LÚC ẤY tinh tấn giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tinh tấn giác chi. VÀO LÚC ẤY, tinh tấn giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Đối với vị có sự tinh tấn đã được khởi sự, hỷ không liên hệ vật chất khởi lên. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO hỷ không liên hệ vật chất khởi lên đối với vị tỳ khưu có sự tinh tấn đã được khởi sự, VÀO LÚC ẤY hỷ giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập hỷ giác chi. VÀO LÚC ẤY, hỷ giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Đối với vị có tâm hỷ, thì thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có tâm hỷ, thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh, VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tịnh giác chi. VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Đối với vị có thân được an tịnh, có sự an lạc, thì tâm được định. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có thân được an tịnh, có sự an lạc, tâm được định, VÀO LÚC ẤY, định giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập định giác chi. VÀO LÚC ẤY, định giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Vị ấy, đối với tâm đã được định tĩnh như thế, là người có trạng thái xả tốt đẹp.[16] Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu là người có trạng thái xả tốt đẹp đối với tâm đã được định tĩnh như thế, VÀO LÚC ẤY, xả giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập xả giác chi. VÀO LÚC ẤY, xả giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu sống có sự quan sát thọ ở trên các thọ —(như trên)— tâm ở trên tâm —(như trên)— pháp ở trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian, VÀO LÚC ẤY niệm của vị này là đã được thiết lập, không bị quên lãng. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO niệm của vị tỳ khưu là đã được thiết lập, không bị quên lãng, VÀO LÚC ẤY niệm giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi. VÀO LÚC ẤY, niệm giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Trong khi an trú với niệm như thế, vị ấy suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu, trong khi an trú với niệm như thế, suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, VÀO LÚC ẤY trạch pháp giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập trạch pháp giác chi. VÀO LÚC ẤY, trạch pháp giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Đối với vị ấy, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, thì sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu, trong khi suy xét, khảo sát, đạt đến sự nghiên cứu toàn diện về pháp ấy bằng tuệ, mà sự tinh tấn được khởi sự, không bị trì trệ, VÀO LÚC ẤY tinh tấn giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tinh tấn giác chi. VÀO LÚC ẤY, tinh tấn giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Đối với vị có sự tinh tấn đã được khởi sự, hỷ không liên hệ vật chất khởi lên. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO hỷ không liên hệ vật chất khởi lên đối với vị tỳ khưu có sự tinh tấn đã được khởi sự, VÀO LÚC ẤY hỷ giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập hỷ giác chi. VÀO LÚC ẤY, hỷ giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Đối với vị có tâm hỷ, thì thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có tâm hỷ, thân cũng an tịnh, tâm cũng an tịnh, VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập tịnh giác chi. VÀO LÚC ẤY, tịnh giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Đối với vị có thân được an tịnh, có sự an lạc, thì tâm được định. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO đối với vị tỳ khưu có thân được an tịnh, có sự an lạc, tâm được định, VÀO LÚC ẤY, định giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập định giác chi. VÀO LÚC ẤY, định giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Vị ấy, đối với tâm đã được định tĩnh như thế, là người có trạng thái xả tốt đẹp. Này các tỳ khưu, VÀO LÚC NÀO vị tỳ khưu là người có trạng thái xả tốt đẹp đối với tâm đã được định tĩnh như thế, VÀO LÚC ẤY, xả giác chi được khởi sự đối với vị tỳ khưu. VÀO LÚC ẤY, vị tỳ khưu tu tập xả giác chi. VÀO LÚC ẤY, xả giác chi của vị tỳ khưu đi đến sự hoàn bị của việc tu tập.
Này các tỳ khưu, bốn sự thiết lập niệm được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho bảy chi phần đưa đến giác ngộ được hoàn bị.
(Minh và giải thoát được hoàn bị)
Này các tỳ khưu, bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ;[17] tu tập trạch pháp giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập tinh tấn giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập hỷ giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập tịnh giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập định giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ; tu tập xả giác chi nương tựa ở sự tách ly, nương tựa ở sự lìa ái dục, nương tựa ở sự tịch diệt, có đích đến là sự buông bỏ.
Bảy chi phần đưa đến giác ngộ được tu tập như thế, được thực hành thường xuyên như thế khiến cho minh và giải thoát được hoàn bị.
Đức Thế Tôn đã nói điều này. Được hoan hỷ, các vị tỳ khưu ấy thỏa thích lời dạy của đức Thế Tôn.
–ooOoo–
[1] Phần trong ngoặc đơn () không có ở Chánh Kinh, được thêm vào để tiện việc theo dõi (ND).
[2] ānāpānasati = āna+apāna+sati, āna là hơi thở vào, apāna là hơi thở ra, sati là niệm, sự ghi nhớ.
[3] Từ thông dụng là ‘tứ niệm xứ.’
[4] Từ thông dụng là ‘bảy giác chi.’
[5] Chú ý đến từ “hoặc” (từ Pali là ‘vā’) ở đầu câu và động từ “nhận biết” (pajānāti) trong nhóm 4 câu này. Có thể hiều là ở pháp thiền này, hành giả không điều khiển hơi thở theo ý mình mà để hơi thở tự nhiên rồi chú tâm nhận biết sự diễn biến của hơi thở khi dài khi ngắn khác nhau.
[6] assasanto và assasāmi là các biến thể của động từ assasati. Đa số các từ điển và các bản dịch tiếng Anh đều ghi nghĩa cho động từ này là “thở vào,” nên ở từng đôi như vậy trình bày “thở vào” trước rồi “thở ra” sau. Còn ở bản dịch này, chúng tôi ghi nhận nghĩa của động từ assasati là “thở ra” nên trình bày “thở ra” trước rồi “thở vào” sau. Sự chọn lựa này được căn cứ vào 2 chứng cớ:
- Ở Chú Giải Tạng Luật, ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Assāso ti bahi nikkhamanavāto. Passāso ti anto pavisanavāto = Hơi thở ra là gió đi ra bên ngoài. Hơi thở vào là gió đi vào bên trong” (Vinaya-atthakathā tập 2, trang 408, theo bản in của Pali Text Society – PTS).
- Tự Điển Pali – English Dictionary của PTS cũng ghi assasati là thở ra (trang 90), passasati là thở vào (trang 447).
Nếu là như vậy, phải chăng phương pháp Ānāpānassati hay “Niệm hơi thở” nên được trình bày và tu tập theo thứ tự hơi thở ra trước rồi mới đến hơi thở vào? Việc thử nghiệm xin dành cho các hành giả, ở đây chúng tôi chỉ trình bày theo sự nghiên cứu về văn tự.
[7] – Trong bốn mệnh đề đầu, động từ được sử dụng là pajānāti (nhận biết) và có liên từ “vā” (hay là, hoặc là) xen vào giữa. Từ mệnh đề thứ năm trở đi, động từ là sikkhati (thực tập, thực hành, học tập). Theo thiển ý của cá nhân thì đến giai đoạn này, hành giả đã có sự tiến triển trong sự tu tập hơi thở và các chi thiền bắt đầu sanh khởi.
[8] – Ngài Buddhaghosa giải thích là sabbakāya (toàn thân) nên được hiểu là phần đầu, phần giữa, và phần cuối của toàn bộ hơi thở ra mỗi khi thở ra, hoặc của toàn bộ hơi thở vào mỗi khi thở vào (Vinaya-atthakathā tập 2, trang 411, theo bản in của PTS).
- Ngài Mahābhidhāna, ở tập Chú Giải Saddhammappakāsinī, ghi rằng: ‘Trong khi làm cho được biết rõ, trong khi làm cho rõ rệt phần đầu-giữa-cuối của toàn bộ hơi thở vào, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập (Patisambhidāmagga-atthakathā tập 2, trang 491, theo bản in của PTS).
[9] Ở nhóm 2 câu này, cụm từ sabbakāyapatisamvedī (có cảm giác toàn thân) nên được hiểu là ‘danh tính từ’ bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu, còn động từ chính (finite verb) vẫn là thở ra và thở vào.
[10] Tương tợ như trên, ở nhóm 2 câu này, từ passambhayam (trong khi làm an tịnh) nên được hiểu là ‘phân từ hiện tại, thể liên tiến (progressive)’ bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu, còn động từ chính (finite verb) vẫn là thở ra và thở vào. Cách giải thích này được áp dụng tương tợ cho các nhóm 2 câu ở bên dưới.
[11] anupassati (anu + passati): passati có nghĩa là ‘nhìn, xem, coi,’ còn anu là ‘dõi theo, lần theo’ nên từ anupassati được ghi nghĩa là ‘quan sát’ thay vì ‘quán’ hay ‘tùy quán,’ để dễ hiểu.
[12] Các mệnh đề điều kiện về thời gian “VÀO LÚC NÀO” và “VÀO LÚC ẤY” được viết dưới dạng in hoa để tiện phân biệt.
[13] Trong câu: “vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân ở trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, thì có thể chế ngự tham và ưu phiền ở thế gian” thì hai động từ “sống” (viharati) và “có thể chế ngự” (vineyya) động từ chính (finite verb), còn các cụm từ còn lại bổ nghĩa cho chủ từ là vị tỳ khưu.
[14] Các hành giả tu tập về hơi thở nên chú ý điều kiện này.
[15] ajjhupekkhitā (người có trạng thái xả) là trường hợp tương tợ như các từ gantu, sotu, netu, vattu, jetu, v.v…
[16] Trong trường hợp này “tâm đã được định tĩnh” là túc từ, là đối tượng của danh động từ ajjhupekkhitā (người có trạng thái xả), nghĩa là hành giả có trạng thái xả đối với cái “tâm đã được định tĩnh.” Cấu trúc Pali ở câu này tương đối phức tạp về mặt văn phạm.
[17] bhāveti có nghĩa là “làm cho hiện hữu, tu tập, phát triển” là động từ chính (finite verb), túc từ là “niệm giác chi” và niệm giác chi này được đặt nền tảng ở sự tách ly, ở sự lìa ái dục, ở sự tịch diệt, và có đích đến là sự buông bỏ.
—————————————————————————————————————————————————————————————-
————————————————————————————————————————————————————————————-
Anàpànasati sutta
(Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm)
Trung Bộ Kinh, Bài kinh số 118, Thích Minh Châu dịch từ Pali sang tiếng Việt
——-ooOoo——-
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Ðông Viên (Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatupasade), cùng với rất nhiều Thượng tọa có thời danh, có danh xưng như Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên), Tôn giả Mahakaccayana (Ðại Ca-chiên-diên), Tôn giả Mahakotthita (Ðại Câu-hy-la), Tôn giả Mahakappina (Ðại Kiếp-tân-na), Tôn giả Mahacunda (Ðại Thuần-đà), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa) và Tôn giả Ananda (A-nan), cùng với nhiều bậc Thượng tọa đệ tử khác có thời danh, có danh xưng.
Lúc bấy giờ, các Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy các tân Tỷ-kheo. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy mười tân Tỷ-kheo. Một số Thượng Tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy hai mươi tân Tỷ-kheo. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ba mươi tân Tỷ-kheo. Một số Thượng Tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy bốn mươi tân Tỷ-kheo. Và các tân Tỷ-kheo được các Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ý thức rõ ràng những quả vị cao diệu, tiệm thứ, thù thắng đã chứng đạt.
Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào ngày Bố-tát, ngày rằm, vào đêm trăng tròn sau ngày Tự tứ, đang ngồi giữa trời với chúng Tỷ-kheo đoanh vây.Thế Tôn nhìn quanh chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng, rồi bảo các Tỷ-kheo:
– Ta được thỏa mãn, này các Tỷ-kheo, với đạo lộ này. Tâm ta được thỏa mãn, này các Tỷ-kheo, với đạo lộ này. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tinh tấn hơn nữa, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Ta sẽ ở đây, tại Savatthi cho đến tháng tư, lễ Komudi.
Những Tỷ-kheo địa phương được nghe: “Thế Tôn sẽ ở đây, tại Savatthi, cho đến tháng tư, lễ Komudi”. Các Tỷ-kheo địa phương tụ họp tại Savatthi để yết kiến Thế Tôn.
Và các Thượng tọa Tỷ-kheo lại càng khuyến giáo, giảng dạy các tân Tỷ-kheo nhiều hơn nữa. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy mười tân Tỷ-kheo. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy hai mươi tân Tỷ-kheo, Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ba mươi tân Tỷ-kheo. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy bốn mươi tân Tỷ-kheo. Và những tân Tỷ-kheo được các Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ý thức rõ ràng những quả vị cao diệu, tiệm thứ, thù thắng đã chứng đạt.
Lúc bấy giờ Thế Tôn vào ngày Bố-tát, ngày rằm, vào đêm trăng tròn, ngày lễ Komudi vào tháng tư, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, chung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn sau khi nhìn xung quanh chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng liền bảo các Tỷ-kheo:
– Hội chúng này, này các Tỷ-kheo, không có lời thừa thải. Hội chúng này, này các Tỷ-kheo, không có lời dư thừa, đã được an trú trong lõi cây thanh tịnh. Chúng Tỷ-kheo như thế này, này các Tỷ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỷ-kheo là một hội chúng đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Chúng Tỷ-kheo như thế này, này các Tỷ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỷ-kheo, là một hội chúng bố thí ít, được (phước báo) nhiều, bố thí nhiều, càng được (phước báo) nhiều; hơn nữa. Chúng Tỷ-kheo như thế này, này các Tỷ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỷ-kheo, là một hội chúng khó thấy ở đời. Chúng Tỷ-kheo như thế này, này các Tỷ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỷ-kheo, là một hội chúng xứng đáng đi nhiều do tuần (yojana) với một bao lương thực trên vai để đến yết kiến. Chúng Tỷ-kheo này là như vậy, này các Tỷ-kheo; hội chúng này là như vậy, này các Tỷ-kheo.
Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là những A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn trừ, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích đã thành đạt, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí. Này các Tỷ-kheo, có những bậc Tỷ-kheo như vậy trong chúng Tỷ-kheo này.
Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ ở đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này.
Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, này có những Tỷ-kheo đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất lai, sau khi sanh vào đời này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này.
Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo, có những Tỷ-kheo đã đoạn trừ ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này.
Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn niệm xứ. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn chánh cần. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong hội chúng này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bốn như ý túc. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm căn. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm lực. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bảy giác chi. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này có những Tỷ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập Thánh đạo tám ngành. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này.
Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập từ (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bi (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập hỷ (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập xả (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bất tịnh. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này có những Tỷ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập vô thường tưởng. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập nhập tức xuất tức niệm.
(Quán niệm hơi thở)
Nhập tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, công đức lớn. Nhập tức xuất tức niệm, được tu tập, làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn. Bốn niệm xứ được tu tập, làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn. Bảy giác chi được tu tập, làm cho sung mãn, khiến cho minh giải thoát (vijjavimutti) được viên mãn.
Và này các Tỷ-kheo, như thế tu tập nhập tức xuất tức niệm? Như thế nào làm cho sung mãn? Như thế nào là quả lớn, công đức lớn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết-già, lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm, vị ấy thở ra.
Thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
“Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
“Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
“Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Nhập tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, được quả lớn, được công đức lớn.
(Làm viên mãn bốn niệm xứ)
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là nhập tức xuất tức niệm được tu tập? Như thế nào, làm cho sung mãn, khiến bốn niệm xứ được viên mãn?
Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay khi thở ra dài, vị ấy biết “Tôi thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay khi thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi tùy quán thân trên thân, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đối với các thân, Ta nói đây là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán thân trên thân, vị Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nghĩ: “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi tùy quán thọ trên các thọ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đối với các cảm thọ, Ta nói đây là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán thọ trên các cảm thọ, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nghĩ: “Cảm giác tâm, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tu tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm Thiền định, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm Thiền định, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi tùy quán tâm trên tâm, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, sự tu tập nhập tức xuất tức niệm không thể đến với kẻ thất niệm, không có tỉnh giác. Do vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán tâm trên tâm, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Khi nào này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nghĩ: “Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán ly tham…. quán đoạn diệt… quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi tùy quán trên các pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Vị ấy, do đoạn trừ tham ưu, sau khi thấy với trí tuệ, khéo nhìn (sự vật) với niệm xả ly. Do vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán pháp trên các pháp, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Nhập tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, được tu tập như vậy được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.
(Làm viên mãn bảy giác chi)
Và bốn niệm xứ, này các Tỷ-kheo, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bảy giác chi được viên mãn?
Này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán thân trên thân, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời, trong khi ấy, niệm không hôn mê của vị ấy được an trú. Trong khi niệm không hôn mê của vi ấy cũng được an trú, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy niệm giác chi được bắt đầu khởi lên với Tỷ-kheo, trong khi ấy, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi. Trong khi ấy niệm giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.
Vị ấy an trú với chánh niệm như vậy, suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy trạch pháp giác chi được bắt đầu khởi lên, với Tỷ-kheo. Trong khi ấy, Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi. Trong khi ấy trạch pháp giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.
Trong khi Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, sự tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên với vị Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy sự tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên với Tỷ-kheo ấy. Trong khi ấy tinh tấn giác chi được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy Tỷ-kheo tu tập tinh tấn giác chi. Trong khi ấy, tinh tấn giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.
Hỷ không liên hệ đến vật chất được khởi lên nơi vị tinh tấn tinh cần. Này các Tỷ-kheo, trong khi hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên nơi Tỷ-kheo tinh tấn tinh cần, trong khi ấy hỷ giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy hỷ giác chi được vị Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy hỷ giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.
Thân của vị ấy được tâm hoan hỷ trở thành khinh an, tâm cũng được khinh an. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy, khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn.
Một vị có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy định giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy định giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn.
Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo . Trong khi ấy xả giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy xả giác chi được Tỷ-kheo làm cho đến sung mãn.
Này các Tỷ-kheo, trong khi quán thọ trên các cảm thọ…
Này các Tỷ-kheo, trong khi quán tâm trên tâm…
Này các Tỷ-kheo, trong khi quán pháp trên các pháp, Tỷ-kheo an trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời, trong khi ấy niệm của vị ấy được an trú, không có hôn mê. Này các Tỷ-kheo, trong khi niệm của Tỷ-kheo được an trú, không có hôn mê, niệm giác chi trong khi ấy được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Niệm giác chi trong khi ấy được Tỷ-kheo tu tập. Niệm giác chi trong khi ấy, được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Vị ấy an trú với chánh niệm như vậy, suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, trong khi an trú với chánh niệm như vậy, vị ấy suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ. Trạch pháp giác chi trong khi ấy được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trạch pháp giác chi trong khi ấy được Tỷ-kheo tu tập. Trạch pháp giác chi trong khi ấy đi đến sung mãn, tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên nơi vị ấy. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ, và tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên nơi vị ấy, tinh tấn giác chi trong khi ấy bắt đầu khởi lên nơi vị Tỷ-kheo. Tinh tấn giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Tinh tấn giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Ðối với vị ấy tinh cần tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo tinh cần tinh tấn và hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên, hỷ giác chi trong khi ấy bắt đầu được khởi lên nơi Tỷ-kheo. Hỷ giác chi trong khi ấy được Tỷ-kheo tu tập. Hỷ giác chi trong khi ấy được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Thân của vị ấy được tâm hoan hỷ trở thành khinh an, tâm cũng được khinh an. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy khinh an giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy khinh an giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Một vị có tâm khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh. Này các Tỷ-kheo, trong khi vị ấy có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy định giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy định giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy xả giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy xả giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn.
Này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy khiến cho bảy giác chi được sung mãn.
(Minh giải thoát được viên mãn)
Và này các Tỷ-kheo, bảy giác chi tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho minh giải thoát được viên mãn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến diệt, hướng đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi… tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi… tu tập xả giác chi, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến diệt, hướng đến xả ly. Này các Tỷ-kheo, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho minh giải thoát được viên mãn.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
(Hết)
————————————————————————————————————————————————————————————–
—————————————————————————————————————————————————————————————–
Majjhimanikāye
Uparipaṇṇāsapāḷi
2. Anupadavaggo
1. Anupadasuttaṃ
8. Ānāpānassatisuttaṃ
144. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati pubbārāme migāramātupāsāde sambahulehi abhiññātehi abhiññātehi therehi sāvakehi saddhiṃ – āyasmatā ca sāriputtena āyasmatā ca mahāmoggallānena [mahāmoggalānena (ka.)] āyasmatā ca mahākassapena āyasmatā ca mahākaccāyanena āyasmatā ca mahākoṭṭhikena āyasmatā ca mahākappinena āyasmatā ca mahācundena āyasmatā ca anuruddhena āyasmatā ca revatena āyasmatā ca ānandena, aññehi ca abhiññātehi abhiññātehi therehi sāvakehi saddhiṃ.
Tena kho pana samayena therā bhikkhū nave bhikkhū ovadanti anusāsanti. Appekacce therā bhikkhū dasapi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū vīsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū tiṃsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū cattārīsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti. Te ca navā bhikkhū therehi bhikkhūhi ovadiyamānā anusāsiyamānā uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesaṃ jānanti [pajānanti (syā. kaṃ.), sañjānanti (ka.)].
145. Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase pavāraṇāya puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti. Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṃ tuṇhībhūtaṃ bhikkhusaṅghaṃ anuviloketvā bhikkhū āmantesi – ‘‘āraddhosmi, bhikkhave, imāya paṭipadāya; āraddhacittosmi, bhikkhave, imāya paṭipadāya. Tasmātiha, bhikkhave, bhiyyosomattāya vīriyaṃ ārabhatha appattassa pattiyā, anadhigatassa adhigamāya, asacchikatassa sacchikiriyāya. Idhevāhaṃ sāvatthiyaṃ komudiṃ cātumāsiniṃ āgamessāmī’’ti. Assosuṃ kho jānapadā bhikkhū – ‘‘bhagavā kira tattheva sāvatthiyaṃ komudiṃ cātumāsiniṃ āgamessatī’’ti. Te jānapadā bhikkhū sāvatthiṃ [sāvatthiyaṃ (syā. kaṃ. pī. ka.)] osaranti bhagavantaṃ dassanāya. Te ca kho therā bhikkhū bhiyyosomattāya nave bhikkhū ovadanti anusāsanti. Appekacce therā bhikkhū dasapi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū vīsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū tiṃsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti, appekacce therā bhikkhū cattārīsampi bhikkhū ovadanti anusāsanti. Te ca navā bhikkhū therehi bhikkhūhi ovadiyamānā anusāsiyamānā uḷāraṃ pubbenāparaṃ visesaṃ jānanti.
146. Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase komudiyā cātumāsiniyā puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti. Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṃ tuṇhībhūtaṃ bhikkhusaṅghaṃ anuviloketvā bhikkhū āmantesi – ‘‘apalāpāyaṃ, bhikkhave, parisā; nippalāpāyaṃ, bhikkhave, parisā; suddhā sāre [suddhasāre patiṭṭhitā (syā. kaṃ. pī.)] patiṭṭhitā. Tathārūpo ayaṃ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho; tathārūpā ayaṃ, bhikkhave, parisā yathārūpā parisā āhuneyyā pāhuneyyā dakkhiṇeyyā añjalikaraṇīyā anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa. Tathārūpo ayaṃ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho; tathārūpā ayaṃ, bhikkhave, parisā yathārūpāya parisāya appaṃ dinnaṃ bahu hoti, bahu dinnaṃ bahutaraṃ. Tathārūpo ayaṃ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho; tathārūpā ayaṃ, bhikkhave, parisā yathārūpā parisā dullabhā dassanāya lokassa. Tathārūpo ayaṃ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho; tathārūpā ayaṃ, bhikkhave, parisā yathārūpaṃ parisaṃ alaṃ yojanagaṇanāni dassanāya gantuṃ puṭosenāpi’’ [puṭosenāpi, tathārūpo ayaṃ bhikkhave bhikkhusaṃgho, tathārūpā ayaṃ parisā (sī. pī. ka.)].
147. ‘‘Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṃyojanā sammadaññāvimuttā – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā rāgadosamohānaṃ tanuttā sakadāgāmino sakideva [sakiṃ deva (ka.)] imaṃ lokaṃ āgantvā dukkhassantaṃ karissanti – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyanā – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe.
‘‘Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvanānuyogamanuyuttā viharanti – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe catunnaṃ sammappadhānānaṃ bhāvanānuyogamanuyuttā viharanti…pe… catunnaṃ iddhipādānaṃ… pañcannaṃ indriyānaṃ… pañcannaṃ balānaṃ… sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ… ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa bhāvanānuyogamanuyuttā viharanti – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe mettābhāvanānuyogamanuyuttā viharanti… karuṇābhāvanānuyogamanuyuttā viharanti… muditābhāvanānuyogamanuyuttā viharanti… upekkhābhāvanānuyogamanuyuttā viharanti… asubhabhāvanānuyogamanuyuttā viharanti… aniccasaññābhāvanānuyogamanuyuttā viharanti – evarūpāpi, bhikkhave, santi bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe. Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṃ bhikkhusaṅghe ānāpānassatibhāvanānuyogamanuyuttā viharanti. Ānāpānassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā. Ānāpānassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā cattāro satipaṭṭhāne paripūreti. Cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrenti. Satta bojjhaṅgā bhāvitā bahulīkatā vijjāvimuttiṃ paripūrenti.
148. ‘‘Kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, ānāpānassati kathaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā? Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. So satova assasati satova [sato (sī. syā. kaṃ. pī.)] passasati.
‘‘Dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti; rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti; ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati.
‘‘‘Pītipaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘pītipaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘sukhapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sukhapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati.
‘‘‘Cittapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘cittapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘abhippamodayaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘abhippamodayaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati; ‘samādahaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘samādahaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati; ‘vimocayaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘vimocayaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati.
‘‘‘Aniccānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘aniccānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘virāgānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘virāgānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘nirodhānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘nirodhānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati. Evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, ānāpānassati evaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā.
149. ‘‘Kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, ānāpānassati kathaṃ bahulīkatā cattāro satipaṭṭhāne paripūreti? Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti; rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti; ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati; kāye kāyānupassī, bhikkhave, tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Kāyesu kāyaññatarāhaṃ, bhikkhave, evaṃ vadāmi yadidaṃ – assāsapassāsā. Tasmātiha, bhikkhave, kāye kāyānupassī tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
‘‘Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu ‘pītipaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘pītipaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘sukhapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sukhapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati; vedanāsu vedanānupassī, bhikkhave, tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Vedanāsu vedanāññatarāhaṃ, bhikkhave, evaṃ vadāmi yadidaṃ – assāsapassāsānaṃ sādhukaṃ manasikāraṃ. Tasmātiha, bhikkhave, vedanāsu vedanānupassī tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
‘‘Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu ‘cittapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘cittapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘abhippamodayaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘abhippamodayaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati; ‘samādahaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘samādahaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati; ‘vimocayaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘vimocayaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati; citte cittānupassī, bhikkhave, tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Nāhaṃ, bhikkhave, muṭṭhassatissa asampajānassa ānāpānassatiṃ vadāmi. Tasmātiha, bhikkhave, citte cittānupassī tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
‘‘Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu ‘aniccānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘aniccānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘virāgānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘virāgānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘nirodhānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘nirodhānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati; dhammesu dhammānupassī, bhikkhave, tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. So yaṃ taṃ abhijjhādomanassānaṃ pahānaṃ taṃ paññāya disvā sādhukaṃ ajjhupekkhitā hoti. Tasmātiha, bhikkhave, dhammesu dhammānupassī tasmiṃ samaye bhikkhu viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
‘‘Evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, ānāpānassati evaṃ bahulīkatā cattāro satipaṭṭhāne paripūreti.
150. ‘‘Kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, cattāro satipaṭṭhānā kathaṃ bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrenti? Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, upaṭṭhitāssa tasmiṃ samaye sati hoti asammuṭṭhā [appammuṭṭhā (syā. kaṃ.)]. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno upaṭṭhitā sati hoti asammuṭṭhā, satisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti. Satisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, satisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘So tathāsato viharanto taṃ dhammaṃ paññāya pavicinati pavicayati [pavicarati (sī. syā. kaṃ. pī.)] parivīmaṃsaṃ āpajjati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu tathāsato viharanto taṃ dhammaṃ paññāya pavicinati pavicayati parivīmaṃsaṃ āpajjati, dhammavicayasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, dhammavicayasambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, dhammavicayasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘Tassa taṃ dhammaṃ paññāya pavicinato pavicayato parivīmaṃsaṃ āpajjato āraddhaṃ hoti vīriyaṃ asallīnaṃ. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno taṃ dhammaṃ paññāya pavicinato pavicayato parivīmaṃsaṃ āpajjato āraddhaṃ hoti vīriyaṃ asallīnaṃ, vīriyasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, vīriyasambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, vīriyasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘Āraddhavīriyassa uppajjati pīti nirāmisā. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno āraddhavīriyassa uppajjati pīti nirāmisā, pītisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, pītisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, pītisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘Pītimanassa kāyopi passambhati, cittampi passambhati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno pītimanassa kāyopi passambhati, cittampi passambhati, passaddhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, passaddhisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, passaddhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘Passaddhakāyassa sukhino cittaṃ samādhiyati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno passaddhakāyassa sukhino cittaṃ samādhiyati, samādhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, samādhisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, samādhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘So tathāsamāhitaṃ cittaṃ sādhukaṃ ajjhupekkhitā hoti. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu tathāsamāhitaṃ cittaṃ sādhukaṃ ajjhupekkhitā hoti, upekkhāsambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, upekkhāsambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, upekkhāsambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
151. ‘‘Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu vedanāsu…pe… citte… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, upaṭṭhitāssa tasmiṃ samaye sati hoti asammuṭṭhā. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno upaṭṭhitā sati hoti asammuṭṭhā, satisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, satisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, satisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘So tathāsato viharanto taṃ dhammaṃ paññāya pavicinati pavicayati parivīmaṃsaṃ āpajjati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu tathāsato viharanto taṃ dhammaṃ paññāya pavicinati pavicayati parivīmaṃsaṃ āpajjati, dhammavicayasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, dhammavicayasambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, dhammavicayasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘Tassa taṃ dhammaṃ paññāya pavicinato pavicayato parivīmaṃsaṃ āpajjato āraddhaṃ hoti vīriyaṃ asallīnaṃ. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno taṃ dhammaṃ paññāya pavicinato pavicayato parivīmaṃsaṃ āpajjato āraddhaṃ hoti vīriyaṃ asallīnaṃ, vīriyasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, vīriyasambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, vīriyasambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘Āraddhavīriyassa uppajjati pīti nirāmisā. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno āraddhavīriyassa uppajjati pīti nirāmisā, pītisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, pītisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, pītisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘Pītimanassa kāyopi passambhati, cittampi passambhati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno pītimanassa kāyopi passambhati, cittampi passambhati, passaddhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, passaddhisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, passaddhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘Passaddhakāyassa sukhino cittaṃ samādhiyati. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhuno passaddhakāyassa sukhino cittaṃ samādhiyati, samādhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, samādhisambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, samādhisambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati.
‘‘So tathāsamāhitaṃ cittaṃ sādhukaṃ ajjhupekkhitā hoti. Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu tathāsamāhitaṃ cittaṃ sādhukaṃ ajjhupekkhitā hoti, upekkhāsambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno āraddho hoti, upekkhāsambojjhaṅgaṃ tasmiṃ samaye bhikkhu bhāveti, upekkhāsambojjhaṅgo tasmiṃ samaye bhikkhuno bhāvanāpāripūriṃ gacchati. Evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, cattāro satipaṭṭhānā evaṃ bahulīkatā satta sambojjhaṅge paripūrenti.
152. ‘‘Kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, satta bojjhaṅgā kathaṃ bahulīkatā vijjāvimuttiṃ paripūrenti? Idha, bhikkhave, bhikkhu satisambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Dhammavicayasambojjhaṅgaṃ bhāveti…pe… vīriyasambojjhaṅgaṃ bhāveti… pītisambojjhaṅgaṃ bhāveti… passaddhisambojjhaṅgaṃ bhāveti… samādhisambojjhaṅgaṃ bhāveti… upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, satta bojjhaṅgā evaṃ bahulīkatā vijjāvimuttiṃ paripūrentī’’ti.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
Ānāpānassatisuttaṃ niṭṭhitaṃ aṭṭhamaṃ.
Kinh Thân Hành Niệm
Đăng trong: 19/04/2012 Filed under: kinh, Phật giáo nguyên thủy, Trung Bộ Kinh 9 Comments »Trích từ:
Tạng Kinh Trung Bộ tập III
Năm mươi kinh cuối
oooOooo
KINH GIẢNG VỀ NIỆM-ĐẶT-Ở-THÂN
Người dịch: Tỳ Khưu Indacanda
Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn trú ở thành Sāvatthi, tại Jetavana, nơi tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, nhiều vị tỳ khưu sau bữa ăn, trong khi đi khất thực trở về, đã cùng ngồi xuống tụ hội lại ở hội trường. Có câu chuyện trao đổi này đã được khởi lên nơi các vị: “Này chư đại đức, thật là kỳ diệu! Này chư đại đức, thật là phi thường! Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy, trong khi biết, trong khi thấy, đã nói về niệm-đặt-ở-thân này, (khi) được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì có quả báu lớn, có lợi ích lớn.’ Và câu chuyện trao đổi này của các vị tỳ khưu ấy còn chưa được chấm dứt bởi vì điều này.
Khi ấy vào buổi chiều, đức Thế Tôn, xuất khỏi thiền tịnh, đã đi đến hội trường, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, ở đây bây giờ các ngươi đã ngồi chung lại vì câu chuyện gì vậy? Và câu chuyện trao đổi gì của các ngươi còn chưa được chấm dứt?”
“Bạch ngài, ở đây chúng con sau bữa ăn, trong khi đi khất thực trở về, đã cùng ngồi xuống tụ hội lại ở hội trường. Có câu chuyện trao đổi này đã được khởi lên nơi chúng con: ‘Này chư đại đức, thật là kỳ diệu! Này chư đại đức, thật là phi thường! Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy, trong khi biết, trong khi thấy, đã nói về niệm-đặt-ở-thân này, (khi) được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì có quả báu lớn, có lợi ích lớn.’ Bạch ngài, câu chuyện trao đổi này của chúng con còn chưa được chấm dứt. Khi ấy đức Thế Tôn đi đến.”
“Này các tỳ khưu, và niệm-đặt-ở-thân được tu tập như thế nào, được thực hành thường xuyên như thế nào thì có quả báu lớn, có lợi ích lớn? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng, và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào. Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra dài.’ Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’ Hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’ Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn.’ Vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Trong khi làm an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, trong khi đi, vị tỳ khưu nhận biết: ‘Tôi đi;’ hoặc đứng, vị ấy nhận biết: ‘Tôi đứng; hoặc ngồi xuống, vị ấy nhận biết: ‘Tôi ngồi xuống;’ hoặc có tư thế nằm, vị ấy nhận biết: ‘Tôi có tư thế nằm;’ hoặc thân của vị ấy được sử dụng như thế nào thì nhận biết nó như thế ấy. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu có sự thực hành việc nhận biết rõ trong khi đi tới đi lui, có sự thực hành việc nhận biết rõ khi nhìn qua nhìn lại, có sự thực hành việc nhận biết rõ khi co tay duỗi tay, có sự thực hành việc nhận biết rõ trong việc mang y hai lớp, bình bát, y phục, có sự thực hành việc nhận biết rõ khi ăn uống nhai nếm, có sự thực hành việc nhận biết rõ ở hành động đại tiện tiểu tiện, có sự thực hành việc nhận biết rõ khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi ngủ, khi thức, khi nói, khi im lặng. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu quán xét cái thân này đây từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu sợi tóc trở xuống, được bao bọc bởi da, chứa đầy các vật bất tịnh đủ các loại rằng: ‘Ở thân này có tóc, lông, da ngoài, da trong, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thực phẩm chưa tiêu, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu.’
Này các tỳ khưu, cũng giống như cái bao có miệng ở hai đầu chứa đầy các loại hạt khác nhau như là: lúa sālī, lúa, đậu mugga, đậu māsa, mè, gạo. Có người nam, có thị lực, mở ra rồi xem xét từng loại hạt ấy rằng: ‘Các hạt này là lúa sālī, các hạt này là lúa, các hạt này là đậu mugga, các hạt này là đậu māsa, các hạt này là mè, các hạt này là gạo.’ Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế, vị tỳ khưu quán xét cái thân này đây từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu sợi tóc trở xuống, được bao bọc bởi da, chứa đầy các vật bất tịnh đủ các loại rằng: ‘Ở thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thực phẩm chưa tiêu, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu quán xét cái thân này đây về phương diện bản chất theo như đã được tồn tại, theo như đã được xếp đặt rằng: ‘Ở thân này có chất đất, chất nước, chất lửa, chất gió.’
Này các tỳ khưu, cũng giống như người đồ tể thiện nghệ, hay học trò của người đồ tể, sau khi giết chết con bò rồi ngồi xuống ở ngã tư đường xẻ ra thành từng phần, này các tỳ khưu, tương tợ như thế ấy vị tỳ khưu quán xét cái thân này đây về phương diện bản chất theo như đã được tồn tại, theo như đã được xếp đặt rằng: ‘Ở thân này có chất đất, chất nước, chất lửa, chất gió.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy tử thi bị quăng bỏ ở bãi tha ma đã chết một ngày, hoặc đã chết hai ngày, hoặc đã chết ba ngày, bị trương sình, có màu xanh xám, bắt đầu thối rửa, vị ấy so sánh với cái thân này đây (rằng): ‘Thân này cũng có tánh chất như vậy, có bản thể như vậy, không tránh khỏi điều này.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy tử thi bị quăng bỏ ở bãi tha ma đang bị ngấu nghiếni bởi các con quạ, đang bị ngấu nghiếni bởi các con diều hâu, đang bị ngấu nghiếni bởi các con kên kên, đang bị ngấu nghiếni bởi các con chó, đang bị ngấu nghiếni bởi các con giả can, hoặc đang bị ngấu nghiếni bởi giòi bọ vô số loại, vị ấy so sánh với cái thân này đây (rằng): ‘Thân này cũng có tánh chất như vậy, có bản thể như vậy, không tránh khỏi điều này.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy tử thi bị quăng bỏ ở bãi tha ma là bộ xương còn thịt và máu, có sự gắn liền nhau bởi các sợi gân, —(như trên)— bộ xương không còn thịt bị lấm lem bởi máu , có sự gắn liền nhau bởi các sợi gân, —(như trên)— bộ xương thịt và máu đã bị tách rời, có sự gắn liền nhau bởi các sợi gân, —(như trên)— có các khúc xương có các sự gắn liền nhau đã bị tách rời, bị vung vãi ở các hướng chính hướng phụ, xương bàn tay một nơi, xương bàn chân nơi khác, xương ống chân nơi khác, xương sườn nơi khác, xương hông nơi khác, xương sống nơi khác, cái sọ nơi khác, vị ấy so sánh với cái thân này đây (rằng): ‘Thân này cũng có tánh chất như vậy, có bản thể như vậy, không tránh khỏi điều này.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, cũng giống như vị tỳ khưu nhìn thấy tử thi bị quăng bỏ ở bãi tha ma là các khúc xương màu trắng tợ như màu vỏ ốc —(như trên)— là các khúc xương được chất thành đống, đã hơn một năm —(như trên)— là các khúc xương hôi thối, bị rã thành bột, vị ấy so sánh với cái thân này đây (rằng): ‘Thân này cũng có tánh chất như vậy, có bản thể như vậy, không tránh khỏi điều này.’ Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu sau khi tách ly hẳn các dục, tách ly các bất thiện pháp, đạt đến và an trú sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Vị ấy làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Này các tỳ khưu, cũng giống như người hầu tắm thiện nghệ, hoặc học trò của người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm vào cái chậu bằng kim loại, rồi nhồi chung cục bột được rưới đều với nước. Cục bột tắm của người ấy được tẩm hơi nước, được tẩm đều hơi nước, được thấm từ trong ra ngoài với hơi nước, và không có rỉ giọt. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế vị tỳ khưu làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu do sự vắng lặng của tầm và tứ, đạt đến và an trú nhị thiền với nội phần tĩnh lặng, có trạng thái nhất tâm, không tầm, không tứ, có hỷ lạc sanh lên do định. Vị ấy làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với hỷ lạc sanh lên do định. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi hỷ lạc sanh lên do định. Này các tỳ khưu, cũng giống như hồ nước sâu thẳm, có nước trào lên, nó lại không có nguồn nước chảy vào từ hướng đông, không có nguồn nước chảy vào từ hướng tây, không có nguồn nước chảy vào từ hướng bắc, không có nguồn nước chảy vào từ hướng nam, và trời không đem lại cơn mưa đúng mùa vào lúc này lúc khác. Khi ấy, nguồn nước mát trào lên từ chính hồ nước ấy làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần chính cái hồ nước ấy với nước mát. Không chỗ nào của toàn bộ hồ nước ấy là không được thấm nhuần bởi nước mát. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế vị tỳ khưu làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với hỷ lạc sanh lên do định. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi hỷ lạc sanh lên do định. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu, không còn tham muốn ở hỷ, an trú xả, có niệm và có sự nhận biết rõ, và cảm nhận lạc bằng thân mà các bậc Thánh gọi điều ấy là: ‘Có xả, có niệm, trú vào lạc,’ đạt đến và an trú tam thiền ấy. Vị ấy làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với lạc không có hỷ. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi lạc không có hỷ. Này các tỳ khưu, cũng giống như ở hồ sen xanh hoặc ở hồ sen hồng hoặc ở hồ sen trắng, có một số sen xanh, hoặc sen hồng, hoặc sen trắng được sanh ra ở trong nước, được phát triển ở trong nước, không vươn ra khỏi nước, và được nuôi dưỡng chìm ở bên trong (nước). Chúng được chảy tràn, được chảy khắp, được ngập tràn, được thấm nhuần bởi nước lạnh đến tận các ngọn và đến tận các gốc rễ. Không chỗ nào của toàn thể các sen xanh, hoặc các sen hồng, hoặc các sen trắng là không được thấm nhuần bởi nước lạnh. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế vị tỳ khưu làm chảy tràn, làm chảy khắp, làm ngập tràn, làm thấm nhuần cái thân này đây với lạc không có hỷ. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi lạc không có hỷ. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu, do sự dứt bỏ lạc và do sự dứt bỏ khổ, do sự biến mất của hỷ và ưu trước đây, đạt đến và an trú tứ thiền không khổ không lạc, có sự thanh tịnh của xả và niệm. Vị ấy ngồi, sau khi đã thấm nhuần cái thân này đây với tâm ý thanh tịnh, trong sáng. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi tâm ý thanh tịnh, trong sáng. Này các tỳ khưu, cũng giống như người nam ngồi, sau khi đã trùm luôn cả đầu bằng tấm vải trắng. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được phủ kín bởi tấm vải trắng. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế vị tỳ khưu ngồi, sau khi đã thấm nhuần cái thân này đây với tâm ý thanh tịnh, trong sáng. Không chỗ nào ở toàn thân của vị ấy là không được thấm nhuần bởi tâm ý thanh tịnh, trong sáng. Đối với vị ấy, trong khi sống không bị xao lãng, có nhiệt tâm, có sự ra sức như thế, thì những dòng tư duy liên hệ đến tại gia được dứt bỏ. Do việc dứt bỏ đối với chúng, tâm gom lại, trụ lại chỉ ở nội phần, có chung một điểm, được định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập niệm-đặt-ở-thân như thế ấy.
Này các tỳ khưu, đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì các thiện pháp dự phần vào Minh đều được gắn bó ở nội tâm của vị ấy. Này các tỳ khưu, cũng giống như đối với bất cứ vị nào mà đại dương được thể nhập bằng tâm, thì các dòng nước dẫn đến biển cả đều được gắn bó ở nội tâm của vị ấy. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì các thiện pháp dự phần vào Minh đều được gắn bó ở nội tâm của vị ấy.
Này các tỳ khưu, đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, cũng giống như người nam ném hòn đá nặng vào đống đất sét ẩm ướt. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng hòn đá nặng ấy đạt được sự xâm nhập vào đống đất sét ẩm ướt?”
“Bạch ngài, đúng vậy.”
“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, cũng giống như thanh củi khô, ráo nhựa, rồi có người nam đi đến mang lại phần trên của đồ tạo lửa (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tạo ra ngọn lửa. Ta sẽ làm hiện ra sức nóng.’ Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng người nam ấy sau khi mang lại phần trên của đồ tạo lửa, trong khi quay tròn thanh củi khô, ráo nhựa ấy, có thể tạo ra ngọn lửa, có thể làm hiện ra sức nóng?”
“Bạch ngài, đúng vậy.”
“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, cũng giống như hũ đựng nước rỗng không, trống không, được đặt ở giá đựng, rồi có người nam đi đến mang lại gánh nước. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng người nam ấy có thể làm được việc đổ nước vào?”
“Bạch ngài, đúng vậy.”
“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương không đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương không đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, cũng giống như người nam ném nắm chỉ nhẹ vào cánh cửa làm toàn bằng lõi cây. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng người nam ấy có thể làm cho nắm chỉ nhẹ ấy xâm nhập vào cánh cửa làm toàn bằng lõi cây?”
“Bạch ngài, không có điều ấy.”
“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, cũng giống như thanh củi ướt, có nhựa, rồi có người nam đi đến mang lại phần trên của đồ tạo lửa (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tạo ra ngọn lửa. Ta sẽ làm hiện ra sức nóng.’ Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng người nam ấy sau khi mang lại phần trên của đồ tạo lửa, trong khi quay tròn thanh củi ướt, có nhựa ấy, có thể tạo ra ngọn lửa, có thể làm hiện ra sức nóng?”
“Bạch ngài, không có điều ấy.”
“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân không được tu tập, không được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, cũng giống như hũ đựng nước đầy nước ngang miệng, có thể uống bởi con quạ, được đặt ở giá đựng, rồi có người nam đi đến mang lại gánh nước. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng người nam ấy có thể làm được việc đổ nước vào?”
“Bạch ngài, không có điều ấy.”
“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì Ma Vương không đạt được sự xâm nhập đối với vị ấy, Ma Vương không đạt được sự ám ảnh đối với vị ấy.
Này các tỳ khưu, đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì vị ấy hướng tâm đến sự chứng ngộ bằng thắng trí đối với mỗi một pháp cần được chứng ngộ bằng thắng trí. Trong từng trường hợp một, vị ấy đạt được bản thể của sự chứng thực mỗi một khi thắng trí hiện hữu.
Này các tỳ khưu, cũng giống như hũ đựng nước đầy nước ngang miệng, có thể uống bởi con quạ, được đặt ở giá đựng. Có người nam có sức mạnh chạm vào cái hũ ấy từng lúc từng lúc, phải chăng nước có thể trào ra?”
“Bạch ngài, đúng vậy.”
“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì vị ấy hướng tâm đến sự chứng ngộ bằng thắng trí đối với mỗi một pháp cần được chứng ngộ bằng thắng trí. Trong từng trường hợp một, vị ấy đạt được bản thể của sự chứng thực mỗi một khi thắng trí hiện hữu.
Này các tỳ khưu, cũng giống như cái hồ nước vuông ở phần đất bằng phẳng, được củng cố bằng cái đập, đầy nước ngang miệng, có thể uống bởi con quạ. Có người nam có sức mạnh tháo gỡ cái đập ấy từng nơi từng nơi, phải chăng nước có thể trào ra?”
“Bạch ngài, đúng vậy.”
“Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì vị ấy hướng tâm đến sự chứng ngộ bằng thắng trí đối với mỗi một pháp cần được chứng ngộ bằng thắng trí. Trong từng trường hợp một, vị ấy đạt được bản thể của sự chứng thực mỗi một khi thắng trí hiện hữu.
Này các tỳ khưu, cũng giống như chiếc xe ngựa đã được thắng ngựa thuần chủng, có gậy thúc để sẵn sàng, đứng ở mặt đất bằng tại ngã tư đường. Có người thầy huấn luyện ngựa thiện nghệ, là người điều phục các con ngựa đáng được huấn luyện, trèo lên chiếc xe ấy rồi cầm dây cương bằng tay trái, cầm gậy thúc bằng tay phải, rồi làm cho tiến tới, lùi lại bằng lối nào theo như ý thích, vào lúc nào theo như ý thích.
Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đối với bất cứ vị nào mà niệm-đặt-ở-thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì vị ấy hướng tâm đến sự chứng ngộ bằng thắng trí đối với mỗi một pháp cần được chứng ngộ bằng thắng trí. Trong từng trường hợp một, vị ấy đạt được bản thể của sự chứng thực mỗi một khi thắng trí hiện hữu.
Này các tỳ khưu, niệm-đặt-ở-thân được rèn luyện, được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp, mười lợi ích này là điều mong đợi. Mười điều nào?
Có sự chế ngự điều bất mãn và ưa thích, điều bất mãn không chế ngự vị ấy, sau khi khuất phục điều bất mãn đã được sanh khởi, vị ấy an trú.
Có sự chế ngự sợ hãi và khiếp đảm, sợ hãi và khiếp đảm không chế ngự vị ấy, sau khi khuất phục sợ hãi và khiếp đảm đã được sanh khởi, vị ấy an trú.
Có khả năng chịu đựng đối với sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích, có khuynh hướng cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc về cơ thể đã sanh khởi.
Là vị đạt được theo ước muốn, đạt được không khó khăn, đạt được không khổ nhọc các sự trú vào lạc trong hiện tại có liên hệ đến các thắng tâm của bốn thiền.
Vị ấy kinh nghiệm thần thông nhiều thể loại: là một hóa thành nhiều, là nhiều hóa thành một, hiện ra, biến mất, đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở như là ở khoảng không, trồi lên và chìm xuống vào trong đất như là ở trong nước, đi ở trên nước mà không làm chao động như là ở trên đất, di chuyển với thế kiết già ở trên hư không cũng như loài chim có cánh, bằng bàn tay sờ đến chạm vào ngay cả mặt trăng và mặt Trời (là những vật) có đại thần lực như thế có đại oai lực như thế, bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên.
Vị ấy với Thiên nhĩ thuần tịnh vượt trội loài người, nghe được cả hai loại âm thanh của cõi Trời và loài người, ở xa và ở gần.
Sau khi xem xét, vị ấy nhận biết tâm của các chúng sanh khác của các cá nhân khác bằng tâm. (Vị ấy) nhận biết tâm có tham ái là: ‘Tâm có tham ái,’ hoặc nhận biết tâm lìa khỏi tham ái là: ‘Tâm lìa khỏi tham ái,’ hoặc nhận biết tâm có sân là: ‘Tâm có sân,’ hoặc nhận biết tâm lìa khỏi sân là: ‘Tâm lìa khỏi sân,’ hoặc nhận biết tâm có si là: ‘Tâm có si,’ hoặc nhận biết tâm lìa khỏi si là: ‘Tâm lìa khỏi si,’ hoặc nhận biết tâm bị thâu hẹp là: ‘Tâm bị thâu hẹp,’ hoặc nhận biết tâm bị tán loạn là: ‘Tâm bị tán loạn,’ hoặc nhận biết tâm được rộng mở là: ‘Tâm được rộng mở,’ hoặc nhận biết tâm không được rộng mở là: ‘Tâm không được rộng mở,’ hoặc nhận biết tâm vô thượng là: ‘Tâm vô thượng,’ hoặc nhận biết tâm không vô thượng là: ‘Tâm không vô thượng,’ hoặc nhận biết tâm định tĩnh là: ‘Tâm định tĩnh,’ hoặc nhận biết tâm không định tĩnh là: ‘Tâm không định tĩnh,’ hoặc nhận biết tâm giải thoát là: ‘Tâm giải thoát,’ hoặc nhận biết tâm không giải thoát là: ‘Tâm không giải thoát.’
Vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, —(như trên)— Như thế, vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét đại cương và cá biệt.
Vị ấy, với Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, nhìn thấy các chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sung sướng, (hay) đau khổ, biết được rằng các chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng.
Vị ấy, do sự diệt tận các lậu hoặc, nhờ vào thắng trí của bản thân, ngay trong thời hiện tại chứng ngộ sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của tuệ, sự không còn lậu hoặc, rồi thể nhập và an trú.
Này các tỳ khưu, niệm-đặt-ở-thân được rèn luyện, được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp, thì mười lợi ích này là điều mong đợi.”
Đức Thế Tôn đã nói điều này. Được hoan hỷ, các vị tỳ khưu ấy thỏa thích lời dạy của đức Thế Tôn.
Kinh giảng về Niệm-đặt-ở-thân là thứ chín.
–ooOoo–
Download bản PDF Kinh Thân hành Niệm của Tỳ Khưu Indacanda tại đây:
http://www.paliviet.info/VHoc/15/15_119.pdf
Chân Thành cám ơn Sư Indacanda đã cung cấp bản dịch Kinh Thân Hành Niệm rất mới này của sư
————————————————————————————————————————————————————————————
—————————————————————————————————————————————————————————————-
KINH THÂN HÀNH NIỆM
(trích: Trung Bộ Kinh, Tập III, HT. Thích Minh Châu dịch, tr.230-244)
KINH THÂN HÀNH NIỆM
(Kàyagatàsatisuttam)[21],[22]
Như vầy tôi nghe,
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá Vệ) Jetavana (Kỳ Đà Lâm), tại tinh xá ông Anàthapindika (Cấp Cô Độc). Rồi một số đông Tỳ Kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong hội trường, câu chuyện này được khởi lên giữa chúng tăng: “Thật vi diệu thay, chư hiền giả! Thật hy hữu thay, chư hiền giả, thân hành niệm,[23] khi được tu tập và làm cho sung mãn, có được quả lớn, có được công đức lớn, như đã được Thế Tôn tuyên bố, bậc tri giả, kiến giả, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.” Và câu chuyện này giữa các vị Tỳ Kheo ấy đã bị gián đoạn. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến ngồi lên chỗ soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các vị Tỳ Kheo: “Ở đây này các Tỳ Kheo, các ngươi hiện nay đang ngồi bàn vấn đề gì? Câu chuyện gì của các ngươi bị gián đoạn?”
“Ở đây bạch Thế Tôn, sau khi ăn xong, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi tụ họp tại hội trường, và câu chuyện sau này được khởi lên: “Thật vi diệu thay, chư Hiền Giả! Thật hy hữu thay, chư Hiền Giả, thân hành niệm này, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có công đức lớn, đã được Thế Tôn tuyên bố, bậc tri giả, kiến giả, bậc A La Hán. Chánh Đẳng Giác.” Bạch Thế Tôn, câu chuyện này của chúng con chưa bàn xong, thời Thế Tôn đến.”
(Quán niệm hơi thở)
“Và này các Tỳ Kheo, thân hành niệm tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, có quả lớn, có công đức lớn? Ở đây này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo[24] đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Chánh niệm vị ấy thở vô. Chánh niệm vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”, hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”, hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn” hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô” vị ấy tập, “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra.” vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô” vị ấy tập, “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra” vị ấy tập. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy[25] thuộc về thế tục[26] được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm”.
(Chánh niệm trên bốn tư thế)
“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo đi[27] biết rằng: “Tôi đi” hay đứng, biết rằng: “Tôi đứng”; hay ngồi, biết rằng: “Tôi ngồi”; hay nằm, biết rằng: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân thể như thế ấy. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm”.
(Chánh niệm trên từng động tác cơ thể)
“Lại nữa này các TỳKheo, vị TỳKheo khi bước tới, bước lui biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo tăng già lê (Sanghàti), mang bát, mang y biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng biết rõ việc mình đang làm.”
Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.
(Quán thân bất tịnh)
“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da thịt, gân xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu. Này các Tỳ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quan sát: “Đây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, một vị Tỳ Kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.
Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.
(Quán tứ đại)
“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới. “Trong thân này có địa đại , thủy đại, hoả đại và phong đại” Này các Tỳ Kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hoả đại và phong đại.”
Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.
(Quán tử thi)
“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo, như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Vị Tỳ Kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.
Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.
“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn; hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn; hay bị các loài chó ăn; hay bị các loài giả can ăn; hay bị các loài côn trùng ăn. Vị Tỳ Kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.
Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an toạ, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.
“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại … với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại…. chỉ còn có xương không dính lại với nhau rãi rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Vị Tỳ Kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy.” Trong khi vị ấy sống không phóng dật….như trên….vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.”
“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc…. chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm…. chỉ còn là xương thối trở thành bột. Vị Tỳ Kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy.” Trong khi vị ấy sống không phóng dật…… như trên…. vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm”.
(Chứng các bậc Thiền)
“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ly dục,[28] ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm với tứ. Vị Tỳ Kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không do hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.”
“Này các Tỳ Kheo, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử của người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy [29] với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo thắm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân hình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Trong khi vị ấy sống không phóng dật…. như trên… vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.”
“Lại nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị Tỳ Kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.”
“Này các Tỳ Kheo, ví như một hồ nước, nước tự trong dâng lên, phương Đông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo thấm nhuần tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình, với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân, không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. Trong khi vị ấy sống không phóng đật….như trên….vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm”.
“Lại nữa này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và an trú thiền thứ ba. Vị Tỳ Kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân, không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Như vậy, vị Tỳ Kheo an trú không phóng dật… như trên….vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.”
“Này các Tỳ Kheo, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng, không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo thấm nhuần, tẩm ướt làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Như vậy vị Tỳ Kheo an trú không phóng dật…. như trên….vị Tỳ Kheo, tu tập thân hành niệm”.
“Lại nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị Tỳ Kheo ấy ngồi, thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.”
“Này các Tỳ Kheo, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Trong khi vị ấy sống an trú không phóng dật…. như trên…. vị Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm[30].”
“Này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập, làm cho sung mãn thân hành niệm, các thiện pháp của vị ấy đi vào nội tâm (Antogadhà?) đều thuộc về minh phần (Vijjàbhàgiyà)[31]. Ví như này các TỳKheo, biển lớn của ai được thấm nhuần bởi tâm[32] thời các con sông của vị ấy đi vào trong biển, đều thuộc về biển lớn (?). Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập làm cho sung mãn thân hành niệm, các thiện pháp của vị ấy đi vào nội tâm, đều thuộc về minh phần. Này các Tỳ Kheo, đối với vị Tỳ Kheo nào không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, thời Ma (Vương) có cơ hội với vị ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với vị ấy. Ví như này ác Tỳ Kheo, có người quăng một hòn đá nặng vào một đống đất sét ướt nhuyễn, này các Tỳ Kheo, các người nghĩ thế nào? Có phải hòn đá nặng ấy có cơ hội (lún sâu) vào đống đất sét ướt nhuyễn ấy?”.
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với ai không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, Ma (Vương) có cơ hội với vị ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với vị ấy. Ví như này các Tỳ Kheo, một cây khô không có nhựa[33] có người đến cầm phần phía trên của đồ quay lửa và nói: “Tôi sẽ làm cho ngọn lửa sanh ra, tôi sẽ làm cho sức nóng hiện lên”. Này các Tỳ Kheo, các ngươi nghĩ thế nào? Người ấy mang đến phần phía trên của đồ quay lửa, quay với cành cây khô không có nhựa ấy, người ấy có làm cho ngọn lửa sanh ra, có làm cho sức nóng hiện lên không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”
“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với ai không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, Ma (Vương) có cơ hội với người ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với người ấy. Ví như này các Tỳ Kheo, một bình nước, trống rỗng, trống không, được đặt trên cái giá, có một người đi đến, mang theo đầy nước. Này các Tỳ Kheo, các người nghĩ thế nào? Người ấy có thể đổ nước vào (bình) không ?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”
“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, vị nào không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn Ma (Vương ) có cơ hội với vị ấy, Ma (Vương) có cơ duyên với vị ấy.”
“Này các Tỳ Kheo, vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma (vương) không có cơ hội với vị ấy, Ma (Vương) không có cơ duyên với vị ấy. Ví như này các Tỳ Kheo, có người quăng một trái banh giây nhẹ vào một cánh cửa (14) làm hoàn toàn bằng lõi cây. Này các Tỳ Kheo, các ngươi nghĩ thế nào? Trái banh giây nhẹ ấy có cơ hội đối với cánh cửa làm hoàn toàn bằng lõi cây không?”
“Thưa không, bạch Thế Tôn”.
“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma (Vương) không có cơ hội đối với vị ấy, Ma (Vương) không có cơ duyên đối với vị ấy. Ví như này các Tỳ Kheo, một cây ướt có nhựa, (15) rồi một người đi đến mang theo phần trên đồ quay lửa và nói: “Tôi sẽ làm cho lửa sinh ra, tôi sẽ làm cho hơi nóng hiện lên.” Này các Tỳ kheo, các ngươi nghĩ thế nào? Người ấy mang theo phần trên đồ quay lửa, quay với các cây ướt và có nhựa, có thể làm cho lửa sanh ra, làm cho hơi nóng hiện lên được không?
“Thưa không, bạch Thế Tôn.”
“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn. Ma (Vương) không có cơ hội đối với vị ấy, Ma (Vương) không có cơ duyên đối với vị ấy. Ví như này các Tỳ Kheo một bình nước (16) đầy tràn nước đến nỗi con quạ có thể uống được, được đặt trên cái giá, rồi có người đi đến, mang theo đầy nước. Này các Tỳ Kheo, nhà ngươi nghĩ thế nào? Người ấy có thể đổ được nước vào (bình ấy) không?”
“Thưa không,bạch Thế Tôn.”
“Cũng vậy này các Tỳ kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma (Vương) không có cơ hội đối với người ấy, Ma (Vương) không có cơ duyên đối với người ấy.”
“Này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt đạt được sự tinh xảo, (của pháp ấy?) dầu thuộc giới xứ nào (Sati sati àyatane) (17) (?) Ví như này các Tỳ Kheo, một bình đầy tràn nước đến nỗi con quạ có thể uống được, được đặt trên cái giá và có người lực sĩ đến và lắc qua lắc lại cái bình ấy, như vậy nước có thể trào ra ngoài không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo (của pháp ấy) dầu thuộc giới xứ nào. Ví như có một hồ nước (18) trên một miếng đất bằng, bốn phía có đê đắp làm cho vững chắc, và tràn đầy nước đến nỗi con quạ có thể uống được. Rồi có người lực sĩ đến và phá một khúc đê, nước có thể tràn ra ngoài không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“Cũng vậy này các Tỳ Kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo (của pháp ấy) dầu với giới xứ nào. Ví như này các Tỳ Kheo (19) trên đất bằng tại chỗ ngã tư có một chiếc xe đậu, thắng với những con ngựa thuần thục, có roi ngựa đặt ngang sẳn sàng, có người mã thuật sư thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm dây cương, tay mặt cầm lấy roi ngựa, có thể đánh xe ngựa ấy đi tới đi lui, tại chỗ nào và như thế nào, theo ý mình muốn. Cũng vậy này các vị Tỳ kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo (của pháp ấy), dầu với giới xứ nào.
“Này các Tỳ Kheo, thân hành niệm được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như thành cỗ xe, được làm như thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành (20), thời mười công đức này có thể được mong đợi. Thế nào là mười?”
Lạc bất lạc (21) được nhiếp phục, và bất lạc không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy sống luôn luôn nhiếp phục bất lạc được khởi lên; khiếp đảm sợ hải (22) được nhiếp phục, và khiếp đảm sợ hải không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy sống luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm sợ hải được khởi lên. Vị ấy kham nhẫn được lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, mặt trời, các loài rắn rết, các cách nói khó chịu, khó chấp nhận. Vị ấy có khả năng chịu đựng được những cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, thô bạo, chói đau, bất khả ý, bất khả ái, đưa đến chết điếng. Tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phiền toái, vị ấy chứng được bốn thiền, thuần túy tâm tư, hiện tại lạc trú. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền. Ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể, thân có thần thông bay cho đến Phạm Thiên. Với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài người, ở xa hay gần. Với tâm của vị ấy, vị ấy biết tâm của các chúng sanh, các loài người: Tâm có tham, biết tâm có tham; tâm không tham biết tâm không tham. Tâm có sân, biết tâm có sân; tâm không sân biết tâm không sân. Tâm có si biết tâm có si, tâm không si biết tâm không si. Tâm chuyên chú, biết tâm chuyên chú; tâm tán loạn, biết tâm tán loạn. Tâm đại hành, biết tâm đại hành. Tâm không đại hành, biết tâm không đại hành. Tâm chưa vô thượng, biết tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng, biết tâm vô thượng. Tâm thiền định, biết tâm thiền định. Tâm không thiền định, biết tâm không thiền định. Tâm giải thoát, biết tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát. Vị ấy nhớ đến các đời sốâng quá khứ như một đời, hai đời…, như trên…. vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết. Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của chúng. Với sự diệt trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri với thượng trí, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát không có lậu hoặc”.
“Này các Tỳ Kheo, thân hành niệm được thực hành, được tu tập làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành, thời mười công đức này có thể mong đợi”.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỳ Kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
KINH THÂN HÀNH NIỆM[34]
THỨ MỘT TRĂM MƯỜI CHÍN
Chú ý: Phần trong ngoặc đơn () không có ở Chánh Kinh, được thêm vào để tiện việc theo dõi.
——————————————————————————–
[1] Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 324a 27- b1 trích một đoạn thế này: “Khương Tăng Hội chú thích kinh An Ban Thủ yù, đề tựa nói: “Kinh này do Thế Cao dịch, lâu bị chìm che, nhờ gặp Hàn Lâm từ Nam Dương, Bỉ Nghiệp từ Dĩnh Xuyên, Trần Huệ từ Cối Kê, ba vị hiền này tin đạo dốc lòng, Hội cũng xin hỏi. Nên Trần Huệ giải nghĩa. Tôi giúp châm chước”
[2] Kinh này xét bài tựa đầu kinh và xem văn kinh thì hình như là người chép lãnh kinh chứ không phân tích ra mà chép liền vào. Đáng lẽ phải cắt ra mà chú, nhưng thường có nhiều chỗ không thể thêm nên không dám tự tiện cắt ra, xin để lại cho các bậc hậu hiền
[3] Về Mâu Tử, xem thêm Lê Mạnh Thát, nghiên cứu về Mâu Tư,û Sài Gòn,Vạn Hạnh ,1974.
[4] Lê Mạnh Thát, Sơ khảo lịch sử Phật giáo Việt Nam II, tu thư Vạn Hạnh, 1974
[5] Kinh Hán tạng tương đương là Trị ý kinh (Đại 1,919).
[6] Trong khi tu thiền với các nghiệp xứ Kammatthana. Xem M.A. iv. 137. D.1.233.
[7] Lễ Tự tứ tổ chức sau mùa an cư.
[8] Araddha, giải thích là Tuttha. M.A. 137.
[9] Komudim Càtumasinim xem B.D.ii. 157. Số 3.iv.137 nói, gọi là Komudi vì có sen trắng và gọi Càtumasini vì là cuối tháng tư mùa an cư.
[10] Sau ngày rằm Kattika.
[11] Putosenàpi M.A. iv . 139 chép Putamsena. Xem G.S.ii .192.số 1.
[12] Xem M.i.424 v.v…
[13] Vijjàvimutti,như S.v. 28.335.
[14] Xem M.Kinh số 10; M.425 A.v. III. Và Anapana Samyutta (S.v.311).
[15] Kàyesu.M.A. iv: 140 – đây chỉ cho một trong bốn đại và đây chỉ cho phong đại ( Vàyokàya). Hay thân này thuộc về sắc pháp. Ở đây hơi thở được xem thuộc về thân vì gồm vào trong các xúc. Vị này hoặc xem phong đại là 1 trong bốn thân hay xem hơi thở là 1 trong 25 sắc pháp.
[16] Sự triền cái của dục vọng là tham,sự triền cái của sân là ưu.
[17] Sau khi biết được đã đoạn trừ, mới đến quán những gì là vô thường, viễn ly đoạn diệt và đọan trừ.
[18] Ajjhupekkhita vị ấy nhìn đối tượng tu hành hay sự vật, không bị chúng ảnh hưởng, với niệm xả ly M.A.iv.142.
[19] Xem M.iii.275.
[20] M.A.iv.144 nói trong kinh này, nhập tức xuất tức niệm, thuộc về thế gian, đưa đến sự viên mãn bốn niệm xứ cũng thuộc thế gian. Và bốn niệm xứ đưa đến sự viên mãn bảy giác chi cũng thuộc thế gian. Và bảy giác chi đưa đến chứng đạt cứu cánh niết bàn và quả giải thoát nhờ chánh tri.
[21] Kinh hán tạng tương đương là kinh niệm thân kinh (Đại 1.554 c)
[22] Như kinh số 118, kinh số 119 là một phần của kinh satipatthana số 10 cũng xem A. I 43.Vbh 226.
[23] Đây gồm cả Sâmtha (chỉ) và Vipassana (quán) M.A.iv.144.
[24] Xem kinh M.i 56 v.v…
[25] Sarasankappa, như M.i .453.iii 132 S. iv.76.190.
[26] Gehasita, thuộc vào cư sĩ, như tư tưởng thuộc về 5 loại dục lạc.
[27] Xem M.i. 56.
[28] Như M.i.276.278.
[29] Paripphosakam Paripphosakam. Như M.i.276.ii.15.iii,140 D.i.74 xemP.E.D.
[30] Các đoạn văn tương đương ở M. i276-278 chấm dưt ở đây.
[31] Về đoạn này, xem A.i .43, các thiện pháp thuộc minh phần Dhamma Vijabhgi và được kể là sáu. Ở A. iii, 334vô thường tưởng, khổ tưởng trong vô thường, vô ngã tưởng trong khổ, đọan trù tưởng, viễn ly tưởng, diệt tưởng. Nhưng M.A..iv.145 nói ở đây, quán trí, thần thông do thắng trí, sáu thắng trí đều câu hữu với trí.
[32] Với thiên nhãn. M.A. iv. 145.
[33] Xem M.1. 242
[34] Bài kinh này còn thiếu 9 chú thích!
—————————————————————————————————————————————————————————————
————————————————————————————————————————————————————————————–
Majjhimanikāye
Uparipaṇṇāsapāḷi
2. Anupadavaggo
1. Anupadasuttaṃ
9. Kāyagatāsatisuttaṃ
153. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho sambahulānaṃ bhikkhūnaṃ pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantānaṃ upaṭṭhānasālāyaṃ sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ ayamantarākathā udapādi – ‘‘acchariyaṃ, āvuso, abbhutaṃ, āvuso! Yāvañcidaṃ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena kāyagatāsati [kāyagatā sati (syā. kaṃ. pī.)] bhāvitā bahulīkatā mahapphalā vuttā mahānisaṃsā’’ti. Ayañca hidaṃ tesaṃ bhikkhūnaṃ antarākathā vippakatā hoti, atha kho bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā’’ti? ‘‘Idha, bhante, amhākaṃ pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantānaṃ upaṭṭhānasālāyaṃ sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ ayamantarākathā udapādi – ‘acchariyaṃ, āvuso, abbhutaṃ, āvuso! Yāvañcidaṃ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā mahapphalā vuttā mahānisaṃsā’ti. Ayaṃ kho no, bhante, antarākathā vippakatā, atha bhagavā anuppatto’’ti.
154. ‘‘Kathaṃ bhāvitā ca, bhikkhave, kāyagatāsati kathaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā? Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. So satova assasati satova passasati; dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti; rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti; ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā [gehassitā (ṭīkā)] sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti [ekodī hoti (sī.), ekodibhoti (syā. kaṃ.)] samādhiyati. Evaṃ, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ [kāyagataṃ satiṃ (syā. kaṃ. pī.)] bhāveti.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu gacchanto vā ‘gacchāmī’ti pajānāti, ṭhito vā ‘ṭhitomhī’ti pajānāti, nisinno vā ‘nisinnomhī’ti pajānāti, sayāno vā ‘sayānomhī’ti pajānāti. Yathā yathā vā panassa kāyo paṇihito hoti, tathā tathā naṃ pajānāti. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ uddhaṃ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṃ pūraṃ nānappakārassa asucino paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye kesā lomā nakhā dantā taco maṃsaṃ nhāru [nahāru (sī. syā. kaṃ. pī.)] aṭṭhi aṭṭhimiñjaṃ vakkaṃ hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ pihakaṃ papphāsaṃ antaṃ antaguṇaṃ udariyaṃ karīsaṃ pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā mutta’nti.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, ubhatomukhā putoḷi [mūtoḷī (sī. syā. kaṃ. pī.)] pūrā nānāvihitassa dhaññassa, seyyathidaṃ – sālīnaṃ vīhīnaṃ muggānaṃ māsānaṃ tilānaṃ taṇḍulānaṃ, tamenaṃ cakkhumā puriso muñcitvā paccavekkheyya – ‘ime sālī ime vīhī ime muggā ime māsā ime tilā ime taṇḍulā’ti; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ uddhaṃ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṃ pūraṃ nānappakārassa asucino paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye kesā lomā nakhā dantā taco maṃsaṃ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṃ vakkaṃ hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ pihakaṃ papphāsaṃ antaṃ antaguṇaṃ udariyaṃ karīsaṃ pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā mutta’nti. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ yathāṭhitaṃ yathāpaṇihitaṃ dhātuso paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṃ vadhitvā catumahāpathe [cātummahāpathe (sī. syā. kaṃ. pī.)] bilaso vibhajitvā [paṭivibhajitvā (sī. syā. kaṃ. pī.)] nisinno assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ yathāṭhitaṃ yathāpaṇihitaṃ dhātuso paccavekkhati – ‘atthi imasmiṃ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya [sīvathikāya (sī. syā. kaṃ. pī.)] chaḍḍitaṃ ekāhamataṃ vā dvīhamataṃ vā tīhamataṃ vā uddhumātakaṃ vinīlakaṃ vipubbakajātaṃ. So imameva kāyaṃ upasaṃharati – ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti [etaṃ anatītoti (sī.)]. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ kākehi vā khajjamānaṃ kulalehi vā khajjamānaṃ gijjhehi vā khajjamānaṃ kaṅkehi vā khajjamānaṃ sunakhehi vā khajjamānaṃ byagghehi vā khajjamānaṃ dīpīhi vā khajjamānaṃ siṅgālehi vā [gijjhehi vā khajjamānaṃ suvānehi vā khajjamānaṃ sigālehi vā (sī. syā. kaṃ. pī.)] khajjamānaṃ vividhehi vā pāṇakajātehi khajjamānaṃ. So imameva kāyaṃ upasaṃharati – ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ aṭṭhikasaṅkhalikaṃ samaṃsalohitaṃ nhārusambandhaṃ…pe… aṭṭhikasaṅkhalikaṃ nimmaṃsalohitamakkhitaṃ nhārusambandhaṃ…pe… aṭṭhikasaṅkhalikaṃ apagatamaṃsalohitaṃ nhārusambandhaṃ…pe… aṭṭhikāni apagatasambandhāni [apagatanahārūsambandhāni (syā. kaṃ.)] disāvidisāvikkhittāni [disāvidisāsu vikkhitāni (sī. pī.)] aññena hatthaṭṭhikaṃ aññena pādaṭṭhikaṃ aññena gopphakaṭṭhikaṃ [aññena gopphakaṭṭhikanti idaṃ sī. syā. kaṃ. pī. potthakesu natthi] aññena jaṅghaṭṭhikaṃ aññena ūruṭṭhikaṃ aññena kaṭiṭṭhikaṃ [aññena kaṭaṭṭhikaṃ aññena piṭṭhikaṇḍakaṃ aññena sīsakaṭāhaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)] aññena phāsukaṭṭhikaṃ aññena piṭṭhiṭṭhikaṃ aññena khandhaṭṭhikaṃ aññena gīvaṭṭhikaṃ aññena hanukaṭṭhikaṃ aññena dantaṭṭhikaṃ aññena sīsakaṭāhaṃ [aññena kaṭaṭṭhikaṃ aññena piṭṭhikaṇḍakaṃ aññena sīsakaṭāhaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)]. So imameva kāyaṃ upasaṃharati – ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ – aṭṭhikāni setāni saṅkhavaṇṇapaṭibhāgāni [saṅkhavaṇṇūpanibhāni (sī. syā. kaṃ. pī.)] …pe… aṭṭhikāni puñjakitāni terovassikāni…pe… aṭṭhikāni pūtīni cuṇṇakajātāni. So imameva kāyaṃ upasaṃharati – ‘ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
155. ‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi…pe… paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. So imameva kāyaṃ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṃ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho nhāpako [nahāpako (sī. syā. kaṃ. pī.)] vā nhāpakantevāsī vā kaṃsathāle nhānīyacuṇṇāni [nahānīyacuṇṇāni (sī. syā. kaṃ. pī.)] ākiritvā udakena paripphosakaṃ paripphosakaṃ sanneyya, sāyaṃ nhānīyapiṇḍi [sāssa nahānīyapiṇḍī (sī. syā. kaṃ. pī.)] snehānugatā snehaparetā santarabāhirā phuṭā snehena na ca pagghariṇī; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṃ hoti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā…pe… dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. So imameva kāyaṃ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṃ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, udakarahado gambhīro ubbhidodako [ubbhitodako (syā. kaṃ. ka.)]. Tassa nevassa puratthimāya disāya udakassa āyamukhaṃ na pacchimāya disāya udakassa āyamukhaṃ na uttarāya disāya udakassa āyamukhaṃ na dakkhiṇāya disāya udakassa āyamukhaṃ; devo ca na kālena kālaṃ sammā dhāraṃ anuppaveccheyya; atha kho tamhāva udakarahadā sītā vāridhārā ubbhijjitvā tameva udakarahadaṃ sītena vārinā abhisandeyya parisandeyya paripūreyya paripphareyya, nāssa kiñci sabbāvato udakarahadassa sītena vārinā apphuṭaṃ assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṃ hoti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā…pe… tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. So imameva kāyaṃ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṃ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, uppaliniyaṃ vā paduminiyaṃ vā puṇḍarīkiniyaṃ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni udakānuggatāni antonimuggaposīni, tāni yāva caggā yāva ca mūlā sītena vārinā abhisannāni parisannāni [abhisandāni parisandāni (ka.)] paripūrāni paripphuṭāni, nāssa [na nesaṃ (?)] kiñci sabbāvataṃ uppalānaṃ vā padumānaṃ vā puṇḍarīkānaṃ vā sītena vārinā apphuṭaṃ assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṃ hoti. Tassa evaṃ appamattassa…pe… evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā…pe… catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. So imameva kāyaṃ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṃ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso odātena vatthena sasīsaṃ pārupitvā nisinno assa, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa odātena vatthena apphuṭaṃ assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṃ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṃ hoti. Tassa evaṃ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato ye gehasitā sarasaṅkappā te pahīyanti. Tesaṃ pahānā ajjhattameva cittaṃ santiṭṭhati, sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Evampi, bhikkhave, bhikkhu kāyagatāsatiṃ bhāveti.
156. ‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, antogadhāvāssa [antogadhā tassa (sī. pī.)] kusalā dhammā ye keci vijjābhāgiyā. Seyyathāpi, bhikkhave, yassa kassaci mahāsamuddo cetasā phuṭo, antogadhāvāssa kunnadiyo yā kāci samuddaṅgamā; evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, antogadhāvāssa kusalā dhammā ye keci vijjābhāgiyā.
‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṃ, labhati tassa māro ārammaṇaṃ [āramaṇaṃ (?)]. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso garukaṃ silāguḷaṃ allamattikāpuñje pakkhipeyya. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu taṃ garukaṃ silāguḷaṃ allamattikāpuñje labhetha otāra’’nti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṃ, labhati tassa māro ārammaṇaṃ. Seyyathāpi, bhikkhave, sukkhaṃ kaṭṭhaṃ koḷāpaṃ [koḷāpaṃ ārakā udakā thale nikkhittaṃ (ka.)]; atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṃ ādāya – ‘aggiṃ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso amuṃ sukkhaṃ kaṭṭhaṃ koḷāpaṃ uttarāraṇiṃ ādāya abhimanthento [abhimanthento (syā. kaṃ. pī. ka.)] aggiṃ abhinibbatteyya, tejo pātukareyyā’’ti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṃ, labhati tassa māro ārammaṇaṃ. Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko ritto tuccho ādhāre ṭhapito; atha puriso āgaccheyya udakabhāraṃ ādāya. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso labhetha udakassa nikkhepana’’nti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, labhati tassa māro otāraṃ, labhati tassa māro ārammaṇaṃ’’.
157. ‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṃ, na tassa labhati māro ārammaṇaṃ. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso lahukaṃ suttaguḷaṃ sabbasāramaye aggaḷaphalake pakkhipeyya. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso taṃ lahukaṃ suttaguḷaṃ sabbasāramaye aggaḷaphalake labhetha otāra’’nti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṃ, na tassa labhati māro ārammaṇaṃ. Seyyathāpi, bhikkhave, allaṃ kaṭṭhaṃ sasnehaṃ [sasnehaṃ ārakā udakā thale nikkhittaṃ (ka.)]; atha puriso āgaccheyya uttarāraṇiṃ ādāya – ‘aggiṃ abhinibbattessāmi, tejo pātukarissāmī’ti. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso amuṃ allaṃ kaṭṭhaṃ sasnehaṃ uttarāraṇiṃ ādāya abhimanthento aggiṃ abhinibbatteyya, tejo pātukareyyā’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṃ, na tassa labhati māro ārammaṇaṃ. Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko pūro udakassa samatittiko kākapeyyo ādhāre ṭhapito; atha puriso āgaccheyya udakabhāraṃ ādāya. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso labhetha udakassa nikkhepana’’nti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, na tassa labhati māro otāraṃ, na tassa labhati māro ārammaṇaṃ’’.
158. ‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, so yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṃ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, ta tatre sakkhibhabbataṃ pāpuṇāti sati satiāyatane. Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko pūro udakassa samatittiko kākapeyyo ādhāre ṭhapito. Tamenaṃ balavā puriso yato yato āviñcheyya, āgaccheyya udaka’’nti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā so, yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṃ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṃ pāpuṇāti sati satiāyatane. Seyyathāpi, bhikkhave, same bhūmibhāge caturassā pokkharaṇī [pokkhariṇī (sī.)] assa āḷibandhā pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā. Tamenaṃ balavā puriso yato yato āḷiṃ muñceyya āgaccheyya udaka’’nti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, so yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṃ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṃ pāpuṇāti sati satiāyatane. Seyyathāpi, bhikkhave, subhūmiyaṃ catumahāpathe ājaññaratho yutto assa ṭhito odhastapatodo [obhastapatodo (ka.), ubhantarapaṭodo (syā. kaṃ.) ava + dhaṃsu + ta = odhasta-itipadavibhāgo]; tamenaṃ dakkho yoggācariyo assadammasārathi abhiruhitvā vāmena hatthena rasmiyo gahetvā dakkhiṇena hatthena patodaṃ gahetvā yenicchakaṃ yadicchakaṃ sāreyyāpi paccāsāreyyāpi; evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, so yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṃ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṃ pāpuṇāti sati satiāyatane’’.
159. ‘‘Kāyagatāya, bhikkhave, satiyā āsevitāya bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya dasānisaṃsā pāṭikaṅkhā. Aratiratisaho hoti, na ca taṃ arati sahati, uppannaṃ aratiṃ abhibhuyya viharati.
‘‘Bhayabheravasaho hoti, na ca taṃ bhayabheravaṃ sahati, uppannaṃ bhayabheravaṃ abhibhuyya viharati.
‘‘Khamo hoti sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṃ duruttānaṃ durāgatānaṃ vacanapathānaṃ, uppannānaṃ sārīrikānaṃ vedanānaṃ dukkhānaṃ tibbānaṃ kharānaṃ kaṭukānaṃ asātānaṃ amanāpānaṃ pāṇaharānaṃ adhivāsakajātiko hoti.
‘‘Catunnaṃ jhānānaṃ ābhicetasikānaṃ diṭṭhadhammasukhavihārānaṃ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
‘‘So anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccānubhoti. Ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti, āvibhāvaṃ…pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti.
‘‘Dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike ca…pe….
‘‘Parasattānaṃ parapuggalānaṃ cetasā ceto paricca pajānāti. Sarāgaṃ vā cittaṃ ‘sarāgaṃ citta’nti pajānāti, vītarāgaṃ vā cittaṃ…pe… sadosaṃ vā cittaṃ… vītadosaṃ vā cittaṃ… samohaṃ vā cittaṃ… vītamohaṃ vā cittaṃ… saṃkhittaṃ vā cittaṃ… vikkhittaṃ vā cittaṃ… mahaggataṃ vā cittaṃ… amahaggataṃ vā cittaṃ… sauttaraṃ vā cittaṃ… anuttaraṃ vā cittaṃ… samāhitaṃ vā cittaṃ… asamāhitaṃ vā cittaṃ… vimuttaṃ vā cittaṃ… avimuttaṃ vā cittaṃ ‘avimuttaṃ citta’nti pajānāti.
‘‘So anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati, seyyathidaṃ – ekampi jātiṃ dvepi jātiyo…pe… iti sākāraṃ sauddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati.
‘‘Dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti.
‘‘Āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
‘‘Kāyagatāya, bhikkhave, satiyā āsevitāya bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya ime dasānisaṃsā pāṭikaṅkhā’’ti.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
Kāyagatāsatisuttaṃ niṭṭhitaṃ navamaṃ.
Về ý nghĩa của NIỆM (sati) và CHÁNH NIỆM (sammasati)
Đăng trong: 07/04/2012 Filed under: Chánh Niệm, Thảo Luận 1 Comment »“Pali Chuyên Đề” là một open group của Facebook.
Quí vị có thể tham gia vào group nếu muốn tu tập & nghiên cứu về Phật giáo nguyên thủy ở mọi lãnh vực và khía cạnh
Đây là một trong những đề tài thảo luận của group Facebook “Pali Chuyên Đề”
oooOooo
Về ý nghĩa của NIỆM (sati) và CHÁNH NIỆM (sammasati)
Bhikkhu Indacanda:
THẮC MẮC: NIỆM VÀ CHÁNH NIỆM KHÁC NHAU CHỖ NÀO ?
Có một hành giả học giả (vì biết vị này có ngồi thiền và cũng có nghiên cứu Kinh điển) làm research cho biết rằng: Ở bản dịch Trung Bộ Kinh có tới 232 chữ chánh niệm, còn chữ sammāsati (23) sammāsatiyā (3) sammāsatiṃ (2) sammāsatissa (2), chỉ gặp có 30 lần. Cũng như đã gặp ở 1 đề tài gần đây về chữ satimā (được dịch là “chánh niệm”, thay vì CÓ NIỆM. khiến số lượng các chữ “chánh niệm” nhiều hơn đến 202 lần. Trong ngôn ngữ thường ngày hình như chữ “chánh niệm” được sử dụng cũng nhiều, ví dụ như vị Trụ Trì của Sư ngày xưa thường hay nhắc nhở rằng: “Mấy Sư phải có chánh niệm một chút.”
Vậy nên hiểu NIỆM VÀ CHÁNH NIỆM như thế nào đây ?
THẢO LUẬN
Áo Trắng Nguời: Thưa Sư: Con nghĩ giữa 2 từ NIỆM va CHÁNH NIỆM chắc sư đã thông hiểu rõ, nhưng sư đặt ra câu hỏi như vậy để củng cố tri kiến và đào sâu thêm vấn đề hơn nữa. Thật ra câu trả lời tức là câu hỏi
Áo Trắng Nguời: Con xin tiếp vì lỡ tại Enter. Theo con hiểu thì NIỆM (có mặt trong NGŨ CĂN, NGŨ LỰC, THẤT GIÁC CHI và CHÁNH ĐẠO) tức là ghi nhận, ghi nhớ, soi sáng đối tượng qua 6 căn (theo thiền minh sát) còn thiền chỉ thi`chỉ riêng một đối tượng là tục đế, một cách chặt chẽ liên tục. Còn CHÁNH NIEM thi` vừa có NIỆM +TRÍ TUỆ , nằm trong chi của 8 CHÁNH ĐẠO. Cho nên NIỆM phải đi trước CHÁNH NIỆM.
Bhikkhu Indacanda To <vị hành giả học giả làm research>: Có nhiều trường hợp từ “sammāsati” được viết rời ra thành “sammā sati” thì computer sẽ không nhận ra.
CÂU HỎI: Làm thế nào để biết được “bản dịch Trung Bộ Kinh có tới 232 chữ chánh niệm”???
Nguyen Huong : Thưa sư, trong một số kinh điển, “chánh niệm” được định nghĩa như sau: “Này chư Hiền, thế nào là chánh niệm? Này chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời… quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên các tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này chư Hiền, như vậy gọi là “chánh niệm”. link: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung141.htm. Trong Kinh Đại Niệm xứ của Trương bộ kinh cũng có định nghĩa tương tự. Do đó, khi có chánh niệm là khi tâm đang an trú trên một trong những đối tượng thuộc Tứ Niệm Xứ vốn bao gồm toàn bộ trường (field) có thể quán niệm hay kinh nghiệm trực tiếp. Có thể vì lý do này nên trong những nơi có chữ satimā mà ngữ cảnh trước hay sau đó có gắn với các niệm xứ thì được dịch chung là “chánh niệm”.
141. Kinh Phan biet ve su that www.budsas.org
“Một thời, Thế Tôn ở Baranasi (Ba la nại), Isipatana (chỗ chư Tiên đọa), tại Migadaya (Lộc Uyển). ….”
Vô Vô Không Niệm Phật, Pháp, Tăng, Thân Thọ Tâm Pháp… niệm thần chú, niệm tà ma ngoại đạo: nhớ, giữ tâm ý vào cái gì, có khi chuyện tốt chuyện xấu. Chúng ta có thói quen niệm Phật tức là tụng đọc danh hiệu phật nhưng nó là tùy căn cơ chúng sinh, mặt hạn chế là thói quen suy nghĩ dựa vào ngôn ngữ, Phật thì luôn dạy sự thật cho các tỳ kheo sống một mình: ban đêm phải biết là ban đêm không nên nghĩ nó là ban ngày cho bớt sợ. Chánh niệm: ban đầu là nhớ giữ tâm ý trên thân thọ tâm pháp,nhớ những lời dạy giúp giải thoát mình và người, sau là cái biết biết cái biết( sự đơn thuần ghi nhận và thấy rõ không ngôn từ, hình ảnh) cảm nhận, biết, thấy cái gì sắp khởi lên.(con chỉ trình bày kinh nghiệm, sở học kinh điển còn ngu dốt: không dám search, enter, copy, paste nên không trích dẫn)
phần mềm Instant Document Search; Cwlcount; Text Filter.. mà con đã giới thiệu sư rồi, tiện ích hơn nhiều search google con nghĩ vị đó dùng những phần mềm này hay cũng có thể vị ấy có trí nhớ như ngài Anan. :))cái này phải hỏi vị ấy. Con cảm nhận sư quá vất vả rồi hay sư buông cái giỏ đi cho khỏe, tu giải thoát trước cho mình rồi làm gì làm có tốt hơn không.
Bhikkhu Indacanda To Vô Vô Không: “Niệm Phật, Pháp, Tăng,” NIỆM Thân Thọ Tâm Pháp,” và Niệm thần chú là 3 trường hợp NIỆM khác nhau. Chắc phải chờ VIỆN HÀN LÂM soạn thảo xong từ điển Phật học rồi mới luận được.
Vô Vô Không
Dạ thưa sư! Con chỉ trình bày cách hiểu phổ thông của một người phật tử bình thường đối với mê hồn trận từ niệm để sư xem xét những chỗ đúng sai từ phạn tự:
Niệm 1: nhớ, giữ tâm ý (từ chữ hán);
Niêm 2: tụng, đọc (tịnh độ);
Niệm 3: vọng tưởng( không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm-thiền tông);
niệm 4:có ý tứ (dân gian);
niệm5: biểu đạt sự vận hành thân thọ tâm pháp bằng ngôn từ: đi niệm đi, thở vô niệm vô (nguyên thủy), nhớ nghĩ bàn pháp liên quan giải thoát;
niệm 6: tưởng, quán niệm hình ảnh chư phật bồ tát(tịnh độ-mật tông).
Niệm 7: trực giác, cảm nhận, thấy, biết cái gì diễn ra đúng chánh pháp không; cái biết biết cái biết, đơn thuần ghi nhận kèm theo tỉnh thức. Con kính mong sư và các vị dạy bảo hiểu từ niệm theo kinh điển thế nào cho đúng chánh niệm, chánh kiến ạ!
Vô Vô Không: Còn theo kinh nghiệm con hiểu trước là tự biết cảnh tỉnh những gì xãy ra với căn trần thức sau là biết mình đang suy xét ghi nhận cái gì. Kính mong các vị chỉ bảo. Con xin chân thành cảm ơn sư và con sẽ cố gắng lắng nghe và tu tập nhiều hơn không thì cái nghiệp liên quan rất nặng của con không gánh hết. :)). _()_ _()_ _()_
Bhikkhu Indacanda
Vô Vô Không ơi, vào tới cái Group này rồi mà còn kính mong sư và các vị dạy bảo, việc đó phải qua bên paltalk mà giơ tay lên hỏi. Còn 7 niệm mà Vô Vô Không trình bảy ở trên thì làm ơn nói rõ giùm là viết theo tư kiến, hay là viết theo trí nhớ, hoặc ghi lại từ sách vờ, thì cho trích dẫn, nếu quên trích dẫn thì nói là quên. Gần đây, tình trạng phô bày kiến thức mà không nêu rõ nguồn gốc thấy khỏ xử lắm. Delete thì sợ mất lòng, đọc dài lòng thòng thì không có thời gian, còn tiếp thu kiến thức mà chưa xác định thì không dám vì hard disk gần full rồi.
Bhikkhu Indacanda
THỰC HIỆN THEO YÊU CẦU CỦA 1 THÀNH VIÊN CỦA GROUP PALI – CHUYÊN ĐỀ:
So micchādiṭṭhiyā pahānāya vāyamati, sammādiṭṭhiyā, upasampadāya, svāssa hoti sammāvāyāmo.
So sato micchādiṭṭhiṃ pajahati, sato sammādiṭṭhiṃ upasampajja viharati, sāssa hoti sammāsati.
Itiyime tayo dhammā sammādiṭṭhiṃ anuparidhāvanti anuparivattanti,
seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi, sammāvāyāmo, sammāsati. (Mahācattārīsakasuttaṃ, Majjhimanikaya iii, 72, PTS)
“Ai tinh tấn đoạn trừ tà kiến, thành tựu chánh kiến; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy.
Ai chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm đạt được và an trú chánh kiến; như vậy là chánh niệm của vị ấy.
Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh kiến,
tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.” (Trung Bộ 3, Ðại kinh Bốn mươi, bài 117).
One makes an effort to abandon wrong view and to enter upon right view: this is one’s right effort.
Mindfully one abandons wrong view, mindfully one enters upon and abides in right view: this is one’s right mindfulness.
Thus these three states run and circle around right view,
that is, right view, right effort, and right mindfulness. (Bhikkhu Bodhi, The Middle Length Discourses of the Buddha, trang 935)
CHÚ THÍCH:
- Có lẽ phần tiếng Anh đã giải quyết xong mọi thắc mắc về câu tiếng Việt.
- Sato, cũng được dịch là chánh niệm, liên quan đến câu hỏi về số lượng của từ Chánh Niệm trong văn bản tiếng Việt.
Hạnh Trương : sato, cũng được dịch là “chánh niệm”, liên quan đến câu hỏi về số lượng của từ Chánh Niệm trong văn bản tiếng Việt.
Ý Sư là sao ? “được dịch là chánh niệm” là đúng hay sai ? Sư kết luận đi, rồi con làm tiếp việc của con, hihi
Bhikkhu Indacanda: sato, sati, satimā đều có liên quan đến chữ niệm. Trong đoạn văn này có sự hiện diện của cả 2 từ là sato và sammāsati.
Hạnh Trương: Giời ạ, Sư né gớm, hihi, để con vậy :)
Bhikkhu Indacanda: Bị trúng tên 2 lần rồi, nên bây giờ thấy cái gì cong cong cũng tưởng là cây cung.
Hạnh Trương: Mà Sư không nói thì cứ để mọi người hiểu sai, tập sai mãi vậy sao Sư? Sư không thấy có một cái post ra rả “chánh niệm”, trong khi họ chưa hiểu chánh niệm là gì, mà Sư lại làm ngơ, huhu. Ngoài BS Phạm Doãn giờ HT cũng phải khóc sao :)
Khai Tong: Niệm mà đoạn trừ được tà kiến thì có thể gọi niệm đó là chánh niệm?
Con nghĩ chúng ta cần làm rõ nghĩa chữ “niệm” trước. Theo tiếng Việt “niệm” có nghĩa là gì?
Bhikkhu Indacanda
Theo tài liệu Vi Diệu Pháp Nhập Môn:
109- Sở Hữu Niệm (Sati).
V- Thế nào là Sở Hữu Niệm?
Ð- Sở Hữu Niệm là sự biết ngay, biết đến, biết đặng, biết rõ. Trạng thái nhận thức sự vật hiện hữu tức là tư cách theo dõi, quan sát, chăm chú theo hành động của Thân và Tâm. Niệm có bốn đối tượng: Thân, Thọ, Tâm, Pháp.
Bhikkhu Indacanda Theo tài liệu Siêu Lý Học:
63- SỞ HỮU NIỆM (Sati)
I. Ðịnh nghĩa: Sở hữu Niệm là trạng thái tâm ghi nhớ biết mình, biết những hành vi và cử động của thân và tâm.
- Bốn ý nghĩa của sở hữu Niệm
1- Chơn tướng: Là cách không sơ ý
2- Phận sự: Là làm cho không quên, hay là ghi nhớ.
3- Sự thành tựu: Là cách trao đổi tâm hằng khắn khít với cảnh.
4- Nhân cần thiết: Là nhớ vững chắc.
Thí dụ: Như người lính gác cổng biết rõ kẻ ra người vào.
II. Phân tích chi pháp: Sở hữu Niệm có hai:
1- Tà Niệm
2- Chánh Niệm phân ra có 4: Niệm Thân, Niệm Thọ, Niệm Tâm, Niệm Pháp
Hạnh Trương: Theo cái vi diệu pháp nhập môn không phải Sư ha, có thể nói là sai hoàn toàn , hihi
Theo Siêu Lý Học thì rõ ràng, nhưng chỗ Phân tích chi pháp, thì Chánh Niệm phân ra 4, là 4 chi pháp, không phải đó là định nghĩa (chánh niệm cũng như tà niệm )
Hạnh Trương :
13- Hỏi: Sati (niệm) có những ý nghĩa gì?
Đáp: Xuất phát từ ngữ căn sar, nghĩa là nhớ đến [68] , từ ngữ căn sar có động từ sarati (căn sar + a) là “ghi nhớ, mang theo” [69] .
Sati là một danh từ mang nhiều ý nghĩa, trước tiên là “sự chú ý ghi nhớ”, ngoài ra còn một số ý nghĩa khác như “thận trọng ghi nhận, sự tỉnh táo…”.
Ngài Buddhaghosa có định nghĩa sati (niệm) như sau [70] :
“Sarantitāya, sayaṃ vā sarati saraṇamattameva vā esāti sati: Gọi là niệm vì đã nhớ lại do gìn giữ, hoặc chính nó nhớ lại, hoặc theo dõi (esāti) “.
Hay: “Saraṇakavasena sati: Niệm là trú nơi cần phải nhớ.” [71] . Như Tứ niệm xứ là: “Bốn nơi cần phải nhớ”, Buddhanussati: “Hồng ân Phật là nơi cần phải nhớ thường xuyên” (tùy niệm Phật)…
[ Như Tứ niệm xứ là: "Bốn nơi cần phải nhớ" ( chứ không phải là Chánh Niệm) - HT]
[68]- HT. Thích Minh Châu (d), Thắng pháp tập yếu luận (1971), Viện Đại Học Vạn Hạnh, tr.38.
[69]- Đại Trưởng lão Bửu Chơn (dịch); Từ điển Pāli – Viện Nam (1997), tr. 317.
[70]- Vsm. Mô tả các uẩn.
[71]-Atts. Giải thích mô tả xoay quanh thiện Dục giới (kāmāvacarakusalaṃ niddesavārakathā).
– Tâm Sở Vấn Đáp – Tỳ Kheo Chánh Minh
Định Phúc
[251] – Thế nào là niệm trong khi ấy?
Trong khi ấy, có pháp là sự nhớ, sự tùy niệm, sự tưởng niệm, trạng thái ký ức, cách ghi nhận không lơ đãng, không quên; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm, niệm giác chi, chi đạo liên quan đạo. Ðây là niệm trong khi ấy. (Pháp Tụ – HT Tịnh Sự dịch Việt)
Bhikkhu Indacanda: Bhikkhu Bodhi cũng đã dịch bản gốc Pali của Thắng pháp tập yếu luận, nếu có thể tham khảo luôn bản dịch đó thì càng tốt.
Hạnh Trương
30. Sati – Derived from Ö sar, to remember.
Sati does not exactly correspond to the Western conception of memory. Mindfulness is a better equivalent for sati. It has to be developed. In the Satipatthāna Sutta are described in detail various methods to develop this sati. When it is highly developed one acquires the power of remembering past births. It is this sati that is regarded as one of the factors of the Noble Eightfold Path.
Sati tends to present before oneself good things without allowing them to be forgotten. Its chief characteristic is ‘not floating away’ (apilāpana). Unlike pumpkins and pots that float on water, sati plunges into the object of thought.
It should be noted that this particular sati is not found in immoral types of consciousness.
What is found in immoral consciousness is micchā sati (wrong mindfulness).
Dhammasangani explains sati as follows:-
“The mindfulness which on that occasion is recollecting, calling back to mind; the mindfulness which is remembering, bearing in mind, the opposite of superficiality and of obliviousness; mindfulness as faculty; mindfulness as power, right mindfulness”.
(Buddhist Psychology, p. 16).
Commenting on sati, Mrs. Rhys Davids says:-
“Buddhaghosa’s comment on sati, in which he closely follows and enlarges on the account in Mil. 37, 38, shows that the traditional conception of that aspect of consciousness had much in common with the Western modern theory of conscience or moral sense. Sati appears under the metaphor of an inward mentor, discriminating between good and bad and prompting choice. Hardy went so far as to render it by ‘conscience’, but this slurs over the interesting divergence’s between Eastern and Western thought. The former is quite unmystical of the subject of sati. It takes the psychological process or representative functioning (without bringing out the distinction between bare memory and judgment), and presents the same under an ethical aspect”. (Buddhist Psychology, p. 16).
Hạnh Trương: Có lẽ tới đây là chúng ta cũng đã thấy NIỆM là gì rồi, và đặc biệt cho đa số, điều này chắc sẽ là một điểm khiến họ phải thay đổi cách nhìn cũ, coi rằng Niệm là cứ nhắc đi nhắc lại hoài một câu, một chữ.
Nếu ai đó muốn nhắc đi, nhắc lại 6 chữ nào đó, và coi đó là cứu cánh thì cũng là việc cá nhân, nhưng chỉ xin lưu ý, xem lại để từ đó không làm sai lạc định nghĩa về “niệm” mà chúng ta gặp nhiều trong kinh Pali. Việc đánh tráo khái niệm như vậy …
“10. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự hỗn loạn (mê mờ) và biến mất của diệu pháp. Thế nào là hai? Văn cú bị đảo ngược và ý nghĩa bị hiểu lầm. Nếu văn cú bị đảo ngược thời ý nghĩa bị hiểu lầm. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp đưa đến hỗn loạn và biến mất của diệu pháp.
11. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến an trú, không biến loạn, không biến mất của diệu pháp. Thế nào là hai? Văn cú phối trí chơn chánh và ý nghĩa được hiểu chơn chánh. Nếu văn cú được phối trí chơn chánh thời ý nghĩa được hiểu chơn chánh. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp đưa đến an trú, không hỗn loạn, không biến mất của diệu pháp.” – Kinh Tăng Chi – Chương hai pháp – Phẩm Tranh luận.
Còn về CHÁNH NIỆM, hiện tại chúng ta có hai định nghĩa về chánh niệm như sau :
1. Rải rác trong tam tạng :
“katamā ca, bhikkhave, sammāsati? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsati.”
2. Trong Đại Kinh Bốn Mươi.
“so sato micchādiṭṭhiṃ pajahati, sato sammādiṭṭhiṃ upasampajja viharati, sāssa hoti sammāsati.”
Các bản dịch
1. Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh niệm?
Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống
quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;
quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;
quán tâm trên các tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;
quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh niệm.
( Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch )
- Có 2 động từ (finite verbs) là viharati (sống) và vineyya (để chế ngự, CÓ THỂ LOẠI TRỪ, CÓ THỂ DỜI ĐI, CÓ THỂ DẸP ĐI, thuộc thể potential, không phải thể affirmative)
- Các từ này được xem tương đương tính từ, bổ nghĩa cho vị tỳ khưu: kāye kāyānupassī (quán thân trên thân, Ý NGHĨA CỦA QUÁN, NÊN HIỂU CHỮ QUÁN NHƯ THẾ NÀO, THẾ NÀO GỌI LÀ QUÁN?) ātāpī (nhiệt tâm) sampajāno (tỉnh giác, Ở ĐÂY CÓ TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG VỚI TỪ TUỆ TRI, TỰ MÌNH TUỆ TRI) satimā (chánh niệm, CÓ NIỆM)
- vineyya loke abhijjhādomanassaṃ: vineyya (để chế ngự, CÓ THỂ LOẠI TRỪ, CÓ THỂ DỜI ĐI, CÓ THỂ DẸP ĐI) abhijjhādomanassaṃ (tham ưu) loke (ở đời).
(Lưu ý của Sư Indacanda)
———
kāyānupassī = kāya + anupassii là nhìn theo hay nhìn sâu vào đối tượng thân, hay quan sát các đối tượng sinh-vật lý (kāya) mà con người chấp thủ vào xem như ‘thân thể của ta’.Con thích ý nghĩa theo thể potential của vineyya = CÓ THỂ LOẠI TRỪ, vì không phải hành giả bao giờ cũng thành công trong việc loại trừ tham-ưu khi liên hệ với thân. Với sự có mặt của ba yếu tố ātāpī (nhiệt tâm) sampajāno (tỉnh giác), và satimā (có niệm), hành giả có thể loại trừ được tham-ưu ở thế giới (tiểu thế giới của một cá thể bao gồm mối liên hệ thân-tâm).
( ý kiến của Sư cô Nguyen Huong)
2. “Ai chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm đạt được và an trú chánh kiến; như vậy là chánh niệm của vị ấy “
(và tương tự cho các chi khác như tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng)
( Hòa Thượng Thích Minh Châu )
One makes an effort to abandon wrong view and to enter upon right view: this is one’s right effort.
Mindfully one abandons wrong view, mindfully one enters upon and abides in right view: this is one’s right mindfulness.
Thus these three states run and circle around right view,
that is, right view, right effort, and right mindfulness. (Bhikkhu Bodhi, The Middle Length Discourses of the Buddha, trang 935)
CHÚ THÍCH:
- Có lẽ phần tiếng Anh đã giải quyết xong mọi thắc mắc về câu tiếng Việt.
- sato, cũng được dịch là chánh niệm, liên quan đến câu hỏi về số lượng của từ Chánh Niệm trong văn bản tiếng Việt.
( Ý của Sư Indacanda )
—
Vậy CHÁNH NIỆM là gì? Sau khi chúng ta đã hiểu NIỆM, HT chỉ có thể chắc chắn một điều là chánh niệm đó không phải là từ “chánh niệm” đang phổ biến khắp nơi trong các tài liệu, bài viết về Phật Giáo như hiện tại. Cái này cần sự thảo luận của cả nhóm, mong các Sư ra tay thêm một lần nữa.
Bhikkhu Indacanda
(1) Iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati,
(2) bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati,
(3) ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati.
(4) Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati,
(5) vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati,
(6) samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati.
(7) ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati. (Dīghanikāya, Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ, tập 2, trang 298, PTS.)
(1) Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân;
(2) hay sống quán thân trên ngoại thân;
(3) hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân.
(4) Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân;
(5) hay sống quán tánh diệt tận trên thân;
(6) hay sống quán tánh sanh diệt trên thân.
(7) “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.
Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân. (Trường Bộ, Kinh Đại Niệm Xứ, bài số 22)
- Các đoạn từ (1) đến (7) được phân ra bởi từ <vā> = <hay, hay là, hoặc là>.
- Ở đoạn (7) phần dịch tiếng Việt không dịch từ <vā> này.
- Lời dịch tiếng Việt của đoạn (7) có vấn đề. Mong quý Bà Con Cô Bác tìm hiểu giúp cho ý nghĩa của đoạn văn số (7) này; tham khảo bản dịch tiếng Anh cũng tốt vậy.
Hạnh Trương: Sư giải quyết chỗ này đi Sư… vụ này rất rất là quan trọng
Định Phúc Với suy nghĩ của cá nhân con, đoạn (7) sẽ dịch như vầy: hay là vị ấy sống an trú niệm rằng “có thân đây” chỉ với mục đích hướng đến chánh trí, chánh niệm, và sống không phụ thuộc, không bám chấp bất cứ vật gì trên đời. Như vậy, này các Tỳ kheo, là vị tỳ kheo sống quán thân trên thân. Xin được chỉ dẫn thêm ạ
Hạnh Trương Sư Định Phúc xem chánh trí và chánh niệm ở trên có chữ sammā không , nếu không có ..
Định Phúc: ah đúng vậy, lọng cọng ở chỗ này. mình cứ nghĩ “sati là chánh” không thì chết thiệt. mà nếu dịch là “hướng đến trí và niệm” thì hơi bị kỳ kỳ
Hạnh Trương
Or his mindfulness that ‘There is a body’ is maintained to the extent of knowledge and remembrance. And he remains independent, unsustained by (not clinging to) anything in the world. This is how a monk remains focused on the body in and of itself.
Bhikkhu Thanissaro
Bhikkhu Indacanda Đoạn này đã nghiên cứu rồi mà không chịu nhớ gì hết trơn. Như vậy là đã đọc rồi mà không để ý, hoặc là chưa thông mà cho qua luôn. Để cho tự đi tìm lấy ở đề tài cũ, không rảnh để giúp. Hahaha.
Hạnh Trương Sư làm khó nhau quá đó, hehe
Định Phúc để con tự xem lại những đề tài cũ, những lần trứơc con chưa vào G
Hạnh Trương
http://www.facebook.com/groups/paliviet/?view=permalink&id=146880535399066
“Như thế, vị ấy HOẶC LÀ sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần, HOẶC LÀ sống có sự quan sát thân ở thân thuộc ngoại phần, HOẶC LÀ sống có sự quan sát thân ở thân thuộc nội phần và ngoại phần, HOẶC LÀ sống có sự quan sát hiện tượng sanh lên ở thân, HOẶC LÀ sống có sự quan sát hiện tượng diệt tắt ở thân, HOẶC LÀ sống có sự quan sát hiện tượng sanh lên và diệt tắt ở thân, HOẶC HƠN NỮA sự ghi nhận của vị ấy về ‘Có cái thân’ là được hiện hữu chỉ với một lượng nhỏ về trí, với một lượng nhỏ về niệm, và (vị ấy) sống không lệ thuộc (vào tham ái, v.v…), và (vị ấy) không bám víu vào bất cứ điều gì ở thế gian. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống có sự quan sát về thân là như vậy. (Tk. Indacanda)
anupassati (anu + passati): passati có nghĩa là ‘nhìn, xem, coi,’ còn anu là ‘dõi theo, lần theo’ nên ghi nghĩa của anupassati là ‘quan sát’ thay vì ‘quán’ hay ‘tùy quán.’
————–
Chú ý: CÁCH CHẤM CÂU ở Pali:
- Văn bản của Thái Lan thì cả đoạn văn trên từ iti ajjhattaṃ … viharati không dấu chấm câu ở bên trong, cho dù là dấu phẩy.
- ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti. Yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. (VRI CD, Myanmar)
- Atthi kāyo ti vā pan’ assa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvad – eva ñāṇamattāya paṭissatimattāya, anissito ca viharati na ca kiñci loke upādiyati. (PTS, Anh)”
Bhikkhu Indacanda Bhikkhu Rama cũng có tham gia dịch lại đoạn <với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm>, xem ở những comments ở bên dưới.
Hạnh Trương Câu của Sư Indacanda dịch có “vấn đề”, cần hết sức lưu tâm, hihi. Cái chỗ “một lượng nhỏ về trí” và “một lượng nhỏ về niệm”. Và từ quan sát thay cho tùy quán.
Còn tại sao Sư lại thêm mấy chữ trong ngoặc vào ạ?
*‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya
paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. Atthi kāyo’
*Trong văn phạm Pali, hành giả quán sát thân như ngôi thứ ba, nghĩa là tương đối khách quan, thấy thân như một đối tương nghiên cứu, thẩm sát chứ không thấy thân như là một sở hữu của ta.
* Quan niệm như vậy là nhân gần đưa đến sự hiểu biết vừa đủ, giác niệm vừa đủ cho đời sống không bám níu, không phụ thuộc vào thế gian.
Cảm ơn BS Phạm Doãn đã tổng hợp lại.
HT nhớ ra đoạn kinh này liên quan tới Niệm, có 1 ví dụ khá rõ ràng, và có thể giúp chúng ta lần ra manh mối của Chánh Niệm chăng.
“upamā kho me ayaṃ, sunakkhatta, katā atthassa viññāpanāya. ayaṃyevettha attho — vaṇoti kho, sunakkhatta, channetaṃ ajjhattikānaṃ āyatanānaṃ adhivacanaṃ; visadosoti kho, sunakkhatta, avijjāyetaṃ adhivacanaṃ; sallanti kho, sunakkhatta, taṇhāyetaṃ adhivacanaṃ; esanīti kho, sunakkhatta, satiyāyetaṃ adhivacanaṃ; satthanti kho, sunakkhatta, ariyāyetaṃ paññāya adhivacanaṃ; bhisakko sallakattoti kho, sunakkhatta, tathāgatassetaṃ adhivacanaṃ arahato sammāsambuddhassa.
“I have given this simile to convey a meaning. The meaning is this: the wound stands for the six internal sense media; the poison, for ignorance; the arrow, for craving; the probe, for mindfulness; the knife, for noble discernment; the surgeon, for the Tathagata, worthy and rightly self-awakened.
- Translated by Bhikkhu Thanissaro
Này Sunakkhatta, Ta nói ví dụ này với mục đích làm sáng tỏ ý nghĩa. Nghĩa ở đây như sau: Vết thương, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với sáu xúc xứ (phassayatana); thuốc độc, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với vô minh; mũi tên, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với ái; vật dụng dò tìm, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với niệm; con dao, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Vị y sĩ giải phẫu, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
-Kinh Thiện Tinh. Trung Bộ 105. (Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt)
—
Definition of PROBE from Merriam-Webster.
1.
: a surgical instrument that consists typically of a light slender fairly flexible pointed metal instrument like a small rod that is used typically for locating a foreign body (as a bullet embedded in a part of the body), for exploring a wound or suppurative tract by prodding or piercing, or for penetrating and exploring bodily passages and cavities
2.
: a device (as an ultrasound generator) or a substance (as radioactively labeled DNA) used to obtain specific information (as detection of a virus or location of specific segments of a nucleic acid) for diagnostic or experimental purposes <the radioactive probe revealed the distribution of molecules in the membrane>
Hình ảnh và tài liệu về probe thời cổ :
http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2498212/pdf/annrcse01530-0059.pdf
Có gì BS. Phạm Doãn giải thích thêm chỗ này ạ.
Hạnh Trương Theo con, concept “cho ĐỜI SỐNG không bám víu, lệ thuộc vào thế gian” có lẽ không phù hợp trong hoàn cảnh này.
Bài Kinh đang nói tới việc TU TẬP TUỆ TRI thông qua việc quan sát (mà không bám vào, không chấp vào các khái niệm đã có, hay như Sư Indacanda hay nói, là không label) các sự sanh, diệt, trụ của các HIỆN TƯỢNG trên BỐN NIỆM XỨ thân, thọ, tâm, pháp.
Tiếp tục về đề tài Chánh Niệm…
1. Rải rác trong tam tạng :
“katamā ca, bhikkhave, sammāsati? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsati.”
2. Trong Đại Kinh Bốn Mươi.
“so sato micchādiṭṭhiṃ pajahati, sato sammādiṭṭhiṃ upasampajja viharati, sāssa hoti sammāsati.”
Vì hai định nghĩa đều từ trong Tạng Kinh, từ hai bài kinh do chính Đức Phật thuyết, rất khó để chúng ta bỏ được định nghĩa này, theo định nghĩa kia. Vậy có thể là gì ?
- Tìm nghĩa chung của hai định nghĩa để có thể hiểu được đích thực đâu là chánh niệm ? ( trường hợp ý tại, ngôn ngoại )
- Một định nghĩa nằm trong định nghĩa kia ? ( trường hợp cả hai đều tuyệt đối chính xác)
- Phối hợp cả hai cách.
Mong các Sư và các đạo hữu giúp một tay khai phá nốt đề tài lý thú này, vì từ Chánh Niệm là từ mà hầu như ai cũng nghe hàng ngày, nếu không có một định nghĩa thống nhất về nó thì quả thật là khó cho chúng ta quá.
Niệm (sati) là một trong 19 thiện tâm sở, và theoBhikkhu Bodhi, đó là sự hiện diện của tâm hay sự chú tâm trên đối tượng, chứ không phải sự nhớ nghĩ về những gì thuộc quá khứ. Đặc tính của nó là không chao đảo (apilāpana-lakkhaṇa) trên đối tượng, chức năng của nó là ‘không quên’ (asammosa-rasa), sự biểu hiện của nó là bảo vệ (ārakkha-paccuppaṭṭhāna) các thiện tâm sở đi chung với nó, và nguyên nhân gần để nó phát sinh là tứ niệm xứ – thân, thọ, tâm, pháp (kāyādi-satipaṭṭhāna-padaṭṭhāna) (DhsA.165; Vism.ii.94). Gốc từ ‘sar’ (nhớ) của ‘sati’ là nói đến chức năng ‘không quên’ ở trên.
Niệm (sati) và chánh niệm (sammāsati) có nghĩa như nhau. Khi sử dụng chánh niệm là để phân biệt tà niệm (micchāsati) và ngược lại. Còn khi dùng ‘niệm’ (sati) một mình thì nó đồng nghĩa với chánh niệm. Trong phần mở đầu của kinh Tứ Niệm Xứ, ‘satimā’ (có niệm) được dùng riêng rẽ, tương tự như vậy trong Thất Giác Chi, Ngũ Căn, Ngũ Lực… Riêng trong Bát Chánh Đạo, chánh niệm (sammāsati) được dùng để phân biệt với tà niệm. Tà niệm ở đây không liên quan gì với thân thọ tâm pháp và các đề mục thiền, mà theo Chú giải MA.i.192 thì tà niệm là sự nhớ nghĩ đến các bất thiện pháp trong quá khứ.
Chữ ‘niệm’ trong Ngũ Căn (tín, tấn, niệm, định và tuệ) là yếu tố quan trọng nhất để dung hòa 4 căn còn lại, và nó càng nhiều chừng nào càng tốt chừng đó. Riêng từng cá nhân của 4 căn còn lại thì không được vượt mức cho phép. Cặp ‘tín và tuệ’, cặp ‘tấn và định’ phải tương hợp với nhau. Nếu tín nhiều quá sẽ làm tâm mù quánq và tuệ nhiều quá sẽ làm tâm nghi kỵ. Tương tự như vậy, nếu tấn nhiều quá sẽ làm tâm trạo cử và định nhiều quá sẽ làm tâm hôn trầm.
Trong các đề mục thiền ta thường thấy một từ khác liên quan đến ‘niệm’ đó là ‘tùy niệm’ (anussati), ví dụ, tùy niệm ân đức Phật (Buddhānussati), tùy niệm ân đức Pháp (Dhammānussati) vân vân, và ta cũng thấy từ ‘sati’ trong một số đề mục thiền khác, ví dụ, niệm hơi thở vào ra (ānāpānassati), niệm thân bất tịnh (kāyagatāsati) vân vân. Trong trường hợp này thì chữ ‘tùy niệm’ (anussati) khác với ‘niệm’ (sati) ở bản chất của đề mục thiền. Tiền tố ‘anu’ của anussati ở đây có nghĩa ‘lập đi lập lại’ (punappunaṁ). Khi niệm một ân đức Phật, ví dụ, Arahaṁ, ta niệm lập đi lập lại ân đức ‘Arahaṁ, Arahaṁ..’ nhiều lần, và danh từ Arahaṁ không thay đổi. Còn khi niệm hơi thở, ta vẫn chú tâm trên hơi thở, nhưng mỗi hơi thở không giống nhau, có hơi thở dài, có hơi thở ngắn, có hơi thở thô, có hơi thở vi tế. Vì hơi thở mỗi lúc mỗi khác, nên từ ‘niệm’ (sati) được dùng, thay vì từ ‘tùy niệm’ (anussati).
Vô Vô Không ”theoBhikkhu Bodhi, đó là sự hiện diện của tâm hay sự chú tâm trên đối tượng, chứ không phải sự nhớ nghĩ về những gì thuộc quá khứ.” Sư cho con xin liên kết liên quan đến kết luận này.
Hoa Nguyen Như vậy, theo phân tích và lý giải của Sư Kusagulana cùng nhiều vị khác, thường chỉ nên sử dụng từ “Niệm”,với nghĩa chú tâm như ở trên ( hay tôi nghĩ còn ý nghĩa là có ý thức, biết rõ), và dùng Chánh niệm trong trường hợp của Bát Chánh đạo, khi muốn nhấn nhận tính chất thiện pháp.
Không đơn giản như anh Hoa Nguyen nghĩ đâu ạ. Niệm là một vấn đề lớn, ý Sư Kusalaguṇa Bhikkhu đưa ra có nhiều điểm cần phải xem lại. Ví dụ khi Sư nói tới tùy niệm là lặp đi lặp lại.
Nếu như tùy niệm Phật là lặp đi lặp lại ân đức Araham chẳng hạn, thế nhưng khi đó sẽ nói thế nào về tùy niệm Pháp, tùy niệm Tăng. Ta cũng nói là Pháp, Pháp, Pháp, hay Tăng, Tăng, Tăng. Chưa kể tùy niệm Phật thì niệm danh hiệu nào, khi Phật có tới 10 danh hiệu, rồi thứ tự ra sao? Pháp có 37 phẩm trợ đạo, niệm thế nào, Tăng thì niệm những ai… Do đó HT nghĩ chỗ tùy niệm ân đức như Sư Kusalagan trình bày chưa rõ ràng. Chúng ta nên đọc thêm đoạn này trong Thanh Tịnh Đạo, bản dịch của Nanamoli, trang 245 sẽ thấy rõ hơn.
Niệm không đơn giản chỉ là sự chú tâm, HT không dám định nghĩa lại, chúng ta đã có những định nghĩa từ các tài liệu có uy tin do các Sư và các đạo hữu post bên trên, và nếu xem thêm các ví dụ sẽ dễ hiểu hơn về khái niệm đặc biệt quan trọng này.
Điểm thứ nhì, việc đánh đồng niệm và chánh niệm thật khó giải thích. Nếu nó là như nhau, trong kinh đã không dùng hai từ khác nhau.
Có lẽ vì sự đánh đồng này mà bao nhiêu người bỏ qua giới, vì tu giới làm gì, khi chánh niệm là câu cửa miệng của người mới tu. Ai cũng nghĩ rằng chánh niệm là chuyện nhỏ, làm gì chẳng chánh niệm sẵn rồi, Thầy lúc nào chẳng nhắc là “con hãy giữ chánh niệm”. Thế nên bỏ qua giới (các chi thánh đạo trước chánh niệm) mà nhảy ngay vào ngồi thiền cho có “chánh định”. Kết quả là gì, chúng ta đều đã biết.
Chánh Niệm thật là phức tạp, hihi.
Kusalaguṇa Bhikkhu @ Vô Vô Không : Bhikkhu Bodhi, ed., A Comprehensive Manual of Abhidhamma, p. 86.
Đức Phật có 9 ân đức (có nơi chia làm 10), như Arahaṁ (Ứng Cúng), Sammāsambuddho (Chánh Biến Tri)… Đức Pháp có 6 ân đức đó là Svākkhāto (khéo thuyết), Ehipassiko (mời đến để thấy)… Pháp ở đây là 9 Pháp Siêu Thế – 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả, Niết-bàn – và Tam Tạng. Ân đức Svākkhāto là ân đức của 10 Pháp kể trên, riêng 5 ân đức sau là ân đức của 9 Pháp Siêu Thế (Path of Purification, VII,69, p. 230). Pháp ở đây không phải 37 phẩm trợ đạo như Hạnh Trương nói. Tăng ở đây là Thánh Tăng, có 9 ân đức, đó là Suppaṭipanno (khéo thực hành thiện hạnh), Ujupaṭipanno (thực hành chánh trực) vân vân. Theo thiền sư Pa Auk Sayadaw thì thiền sinh có thể chọn 1 ân đức Phật tâm đắc nhất khi thực hành đề mục thiền niệm ân đức Phật. Khi thực hành thành công ân đức đó rồi, thiền sinh thực hành tiếp những ân đức còn lại. Đề mục thiền niệm ân đức Pháp và ân đức Tăng cũng tương tự như vậy.
Niệm hay chánh niệm vốn không phức tạp nếu ta trở lại chính mình, lắng nghe những gì rõ ràng nhất đang xảy ra trong cái thân 1 sải này. Nó bắt đầu phức tạp khi ta bắt suy nghĩ.
Vậy theo Hạnh Trương thì giới là gì trong Bát Chánh Đạo? Có lẽ Hạnh Trương định nghĩa theo kinh là:
“Này các Tỷ kheo thế nào là Chánh ngữ? Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh ngữ.
Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cướp, tự chế không tà dâm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh nghiệp.
Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh mạng? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng chánh mạng. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh mạng.” (Trường Bộ Kinh, bài số 22, Kinh Đại Niệm Xứ).
Đây là giới thô đã biểu hiện qua thân và khẩu. Còn giới vi tế tức là tác ý (cetanā) tránh xa sát sanh, trộm cướp vân vân (Path of Purification, I,18, p. 7). Vì vậy khi ta ngồi thiền hay thực hành chánh niệm là ta đã đầy đủ giới rồi, và giới đạt đến mức độ hoàn hảo nhất chính là 3 chi (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng) trong Thánh Đạo Tâm.
@Hanh Truong. Niệm với nghĩa ban đầu là ghi nhớ có thể hiểu rộng ra là ghi nhớ, nhận biết (rõ) đối tượng, nội dung, đề mục, trạng thái Thiền. Tôi không hiểu được các ý nghĩa sâu xa trong Pali, và chỉ hiểu Niệm trong ý nghĩa của Thiền là nh…See More
Tôi nghĩ (theo người không chuyên) trong “Tứ Niệm xứ”, niệm có nghĩa chú tâm, hay đặt tâm ý lên trên đối tượng Thiền (là thân, thọ, tâm, pháp). Vô Vô Không (ở chỗ khác) còn đưa nghĩa Niệm từ Hán ngữ vào làm vấn đề thêm nhiêu khê. Niệm ngoài nghĩa là nhớ (như họ dùng Niệm để dịch Sati), niệm trong tiếng Hán còn có nghĩa là nghĩ (ý nghĩ), như ý niệm, vô niệm, hay đọc tụng (nhỏ), như niệm chú, niệm Phật. Tôi thấy không nên lẫn lộn nghĩa riêng ở hai ngôn ngữ (khi bàn về Sati).
Ở đây là link tới trang có khái niệm Sati, được Kusalaguṇa Bhikkhu dịch thoáng ở comment trên
http://books.google.com.au/books?id=hxopJgv85y4C&lpg=PP1&dq=a+comprehensive+manual+of+abhidhamma&lr&as_brr=1&pg=PA86#v=onepage&q&f=false
Lưu ý thêm về tác giả của cuốn sách.
HT đồng ý với anh Hoa Nguyen về việc nên sử dụng từ Sati thay cho niệm để không bị lẫn với các nghĩa khác của tiếng Hán (ở trong post này) khi chúng ta đang cần một định nghĩa chính xác.
Về anussati, việc liệt kê và nhắc đi nhắc lại một cái danh từ ở đây theo HT không phải là ý nghĩa của nó. Nó liên quan tới sati, việc lặp đi lặp lại sati với cảm hứng từ ân đức là anussati, có vậy thôi. Sati vẫn còn đó, nếu chưa hiểu được sati thì sẽ hiểu sai anussti.
Trong thanh tịnh đạo có giải thích khá rõ chỗ này. Các đạo hữu có thể xem kỹ hơn.
Về giới, HT không nghĩ như Sư Kusalaguna đã tưởng. Giới là một đề tài khác, chúng ta sẽ đề cập tới chỗ khác để không làm loãng vấn đề.
Sư dẫn các định nghĩa về các chi thánh đạo như vậy là tóm tắt quá, nó được mô tả kỹ hơn và đầy đủ hơn trong đại kinh bốn mươi ở trung bộ.
HT không đồng ý với Sư là sati và sammasati là đơn giản, và với việc không suy nghĩ thì sẽ biết nó. HT không muốn sa đà vào các lý luận kiểu thiền tông. Thiết nghĩ chúng ta cần hết sức cẩn trọng và nghiêm túc, chứ không thể cứ ngồi xuống thiền là giới đã có đủ (để rồi xả thiền ra rồi giới lại chẳng còn).
Những trao đổi này và việc lật ngược lại, đọc kỹ hơn các định nghĩa về sati từ các nguồn đáng tin cậy ban đầu, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sati.
@anh Hoa Nguyen : sati và sammasati không giống như quần áo và y phục được. Chỉ cần nhìn mặt chữ là chúng ta đã thấy không thể đánh đồng. Về việc Thiền Sư Nhất Hạnh gọi nó là gì, có lẽ chúng ta cũng không nên quan tâm, vì Thiền Sư có lãnh vực riêng của mình và khác rất xa với những gì mà chúng ta đang thảo luận trong pali chuyên đề này.
Quay lại một chút, có lẽ anussati sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về một thuộc tính của sati là nhớ. Nó không phải là nhớ suông. Trong anussati, nhớ này là nhớ tới một đặc tính cao thượng, khiến chúng ta luôn hướng mình tới đó, trong khi nhớ như vậy, hướng tới như vậy, có cảm hứng như vậy, sati đạt được một công năng của nó là phòng vệ (khỏi các ác pháp, bất thiện pháp)
thưa anh Hoa Nguyen, có một ý nữa, ý nghĩa ghi nhớ ở đây, một trong những thuộc tính của sati, không phải là ghi nhớ và nhận biết đối tượng.
anh viết “Niệm với nghĩa ban đầu là ghi nhớ có thể hiểu rộng ra là ghi nhớ, nhận biết (rõ) đối tượng, nội dung, đề mục, trạng thái Thiền”
Nhận biết là công năng của các tri, ví dụ khi nhận biết trạng thái của các đối tượng ở thân thọ tâm pháp, thì đó là công năng của pajanati (tuệ tri). Còn vai trò của sati ở đây chỉ là ” ông nhớ đó mới là đối tượng để ông nhận biết”, còn việc nhận biết là việc khác. Vì khái niệm “nhớ đó mới là cái cần nhận biết” hơi hơi giống việc “chú tâm” nên dịch ra nó khó là vậy.
Hoa Nguyen @Anh Hạnh Trương. Có hai tính chất cũng gần mà nhẹ, mạnh khác nhau là chánh niệm và tỉnh giác. Chánh niệm (mindfulness) tôi hiểu là có ý thức, biết (rõ), và tỉnh giác (clear comprehension) là hiểu biết rõ ràng với mức chú tâm cao hơn chánh niệm. Tuệ tri phải cao hơn tỉnh giác về hiểu biết.
Anh Hoa Nguyen >>Chánh niệm (mindfulness) tôi hiểu là có ý thức, biết (rõ), và tỉnh giác (clear comprehension) là hiểu biết rõ ràng với mức chú tâm cao hơn chánh niệm. Tuệ tri phải cao hơn tỉnh giác về hiểu biết.
Chỗ này theo em không phải như vậy anh ạ. Em sẽ lấy ví dụ về người gác cổng để trình bày kỹ hơn, vì anh đã nói tới các khái niệm quan trọng khác mất rồi :)
Ví dụ về người gác cổng.
Người gác cổng là người có nhiệm vụ đảm bảo để những gì được ra vào qua cái cổng là không bị trái với quy định.
1. Việc NHỚ (trách nhiệm; đối tượng cần quan sát) là SATI . Nói cách khác, người gác cổng thông qua việc “nhớ trách nhiệm” của mình, THIẾT LẬP chế độ, cách thức mà mình sẽ làm việc, do việc nhớ rõ này mà anh ta sẽ không xao lãng khỏi công việc của mình (nghe radio, nhìn trời, nhìn mây..). Có nhớ như vậy thì anh ta mới CÓ THỂ làm được việc đúng chức năng (lưu ý là CÓ THỂ thôi)
2. Khi một đối tượng xuất hiện ở cổng, do có sati, nên anh ta liền thấy và biết (theo hướng đã được thiết lập nhờ sati, chứ không phải biết là đẹp hay xấu) . Ở đây nếu anh ta biết một cách hời hợt, nhìn thoáng qua rồi CHO ĐÓ là người mà anh ta ĐÃ BIẾT, thì cái biết đó gọi là TƯỞNG TRI (sañjānati). (và như vậy từ tưởng tri sẽ có thể dẫn tới quyết định sai lầm, người không đáng qua thì cho qua)
3. Nếu anh ta chỉ nhìn là nhìn, quan sát đối tượng luôn như LẦN ĐẦU MỚI GẶP, có cái biết luôn tươi mới, không bị ấn tượng cũ, thông tin cũ xen vào, thì cái biết không qua tưởng đó, được gọi là TUỆ TRI (pajānāti).
4. sampajāno – Tỉnh giác. Với các hiện tượng thô, thì không cần phải có tỉnh giác mới thấy và biết. Nhưng với các hiện tượng vi tế hơn, như hơi thở, sự thở sau khi thân tâm đã an tịnh, sự sanh diệt của các pháp nương theo thân thọ tâm pháp thì tâm không dễ gì mà nhớ rõ được, thấy và biết rõ, tuệ tri được, nên ở đây cần phải có sự trợ giúp của sampajāno. Tất nhiên, với những người có xu hướng hôn trầm, thụy miên thì sampajāno có lẽ lúc nào cũng cần thiết. Sampajāno giúp các tâm sở đồng sanh thực hiện được tốt hơn chức năng của chúng, như khiến sati nhớ được các pháp vi tế hơn, khiến pajanati biết được các quá trình sanh trụ diệt vi tế hơn ở các hiện tượng…
…( có thể thấy là sampajāno sẽ giữ vai trò quan trọng ở những giai đoạn tu tập cao hơn, khi đối tượng của Tuệ Tri là các quá trình sanh, trụ diệt của các bất thiện pháp vi tế như tư tưởng về quốc độ, về nòi giống …)
Qua ví dụ về người gác cổng này, chúng ta có thể thấy, trong mấy công việc thông thường hàng ngày thì tuệ tri ít hữu dụng, cần dùng tưởng tri hơn.
Ngược lại trong Tứ Niệm Xứ và Bát Chánh Đạo, thì TUỆ TRI mới là pháp chính.
“Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”.
Về Tứ Niệm Xứ, như trong post trên HT đã dẫn, là bốn chỗ cần phải nhớ (để tuệ tri), chứ tập Tứ Niệm Xứ không phải là tập CHÁNH NIỆM. Mặc dù trong kinh Đại Niệm Xứ có định nghĩa chánh niệm nhưng các pháp quán trong kinh không phải để tu tập chánh niệm.
Cũng như việc NHỚ (trách nhiệm) của người gác cổng khác với việc anh ta thực hiện trách nhiệm đó như thế nào (qua việc quan sát, rà soát, kiểm tra luồng người, tài sản ra vào qua cái cổng) là sự khác biệt giữa niệm và quán.
Em thấy thường mấy từ này Hán Việt, thậm chí còn không trong sáng và gần gũi bằng tiếng Anh (không hiểu sao đọc sách về Đạo Phật mà đọc tiếng Anh lại dễ hiểu hơn mới kỳ cục).
Niệm (hoặc chánh niệm) dịch là mindfulness: sự có mặt của “mind” là khá hay, có mặt nhưng không xử lý, chỉ “hiện diện” thôi.
Không biết anh Hạnh Trương hoặc chú Hoa Nguyen có biết “tỉnh giác” dịch sang tiếng Anh là gì không?
Khi đọc sách về thiền, thường họ nói: meditation có 2 yếu tố: mindfulness và alertness.
–
“There are several qualities of themind that are essential in devel-
oping good concentration. One of these is mindfulness, or recol-
lection, which enables us to remember a familiar object (like our
breath) without forgetting it or wandering to other objects.
Mindfulness also enables us to keep inmindwhatwe’re supposed
to be doing while we are sitting there, and not to get completely
spaced out!
Another essential quality is discriminating alertness,which, like
a sentry,watches out for distractions.Alertness knowswhat’s hap-
pening moment by moment—whether our mind is paying atten-
tion to the object ofmeditation, or has wandered off to something
else. It is also able to recognize negative thoughts and emotions
such as anger and desire, which disturb our mind and can lead to
problems for ourselves and others. Developing the ability to rec-
ognize thesewhen they arise in ourmind and do something about
them before they escalate helps us to avoid a lot of suffering.
Mindfulness and alertness are thus essential for successfulmed-
itation; and in our day-to-day lives they keep us centered, alert and
conscientious, helping us to know what is happening in our mind
as it happens and thus to deal skillfullywith problems as they arise.”
–
McDonald K. (2005) How to Meditate, Massachusetts, US.
Hoa Nguyen @Hiếu Nguyễn. Tôi thấy Chánh niệm Anh dịch bằng hai từ là Mindfulness (thông dụng) và Awereness (cũ). Tỉnh giác dịch là Alertness (cũ) và Clear Comprehension (mới).
Hạnh Trương Sati thường được dịch là Mindfulness = niệm ; Còn Sammāsati thì được dịch là Right Mindfulness = Chánh niệm
Sửa lại lỗi gõ chữ ở trên là Awareness (thay vì awereness). Tỉnh giác thì sách Âu Mỹ có khi cũng viết là Clarity of Awareness, hay Clear Awareness. Thầy Nhất Hạnh dùng Tỉnh thức thay vì Tỉnh giác, và trong sách tiếng Anh cũng viết Wakefulness. Vậy từ dịch của sách Âu Mỹ cũng thay đổi tuỳ tác giả và theo thời gian. Chánh niệm (dịch cho Sati) đã được HT Minh Châu dùng từ lâu trong các kinh dịch Pali, nên nay chắc khó thay đổi. Giữ từ chánh niệm (cho sati) cũng có lợi khi cần phân biệt nghĩa, vì ở trường hợp này sati mang nghĩa khác với “nhớ”. Nhưng lại gây hiểu lầm về “chánh niệm”, như có người viết (đại ý) “vì thiền Minh sát phát triển chánh niệm nên nhất định đưa đến chánh định” (chánh niệm dẫn tới chánh định).
Hạnh Trương @Hieu Nguyen>>Chánh niệm là đặt niệm lên một trong 4 nơi: thân, thọ, tâm, pháp.
Không phải vậy HN ạ.
1. Em đọc kỹ lại định nghĩa về niệm để tự mình hiểu được niệm là gì và không là gì.
2. Em đọc kỹ định nghĩa chánh niệm, không bỏ qua từ nào.
3. Áp cái định nghĩa về niệm mà em hiểu được đó vào trong định nghĩa về Chánh Niệm. Sau đó em sẽ hình dung ra Chánh Niệm nó là gì và không là cái gì :)
Rất khó đó chứ không phải là dễ đâu.
Chúng ta gần như cùng đồng ý là Niệm (Sati) trong Tứ Niệm xứ đã được dùng (lẫn lộn) là chánh niệm nhưng không phải Chánh niệm (Right sati) trong Bát Chánh đạo. Chánh niệm của Tứ Niệm xứ dù cho có nghĩa là chú tâm, ý thức, biết, tuệ tri… thì cũng không phải là nghĩa nhớ nghĩ chân chính của Chánh niệm trong Bát Chánh đạo. Vậy cần có một từ ngữ khác để dùng cho (chánh) niệm của Tứ Niệm xứ. Tôi nghĩ tới từ “trú niệm” (hay trụ niệm) với nghĩa đặt tâm vào một đối tượng Thiền. Thí dụ “ Với cảm thọ hân hoan tôi trú niệm vào hơi thở ra,…hơi thở vào”, hay “tôi ăn, đi… trong trú niệm”. Tôi không nghĩ tới chuyện dịch Pali mà tôi không biết gì, chỉ đề nghị làm sáng tỏ hơn trong sử dụng từ Việt (nếu không làm lạc nghĩa tiếng Pali ).
Chánh niệm trong bài kinh Đại Niệm Xứ cũng dùng từ là sammasati như trong định nghĩa của Bát Chánh Đạo anh Hoa Nguyen ạ.
Em xin thử tóm tắt lại thế này anh và các đạo hữu xem có được chưa nhé :
sati có căn là nhớ, nhưng không phải nhớ chuyện này, chuyện nọ, mà là nhớ tới trách nhiệm, nhớ tới mục tiêu, mục đích.
Anh gác cổng thì nhớ tới trách nhiệm là không cho người, vật không được phép ra vào cổng. Vậy khi anh ta gác cổng, thì sati có nhiệm vụ hướng dẫn, định hướng công việc của anh ta như quan sát, dò xét…đối tượng vào ra cổng.
Vậy sati không phải là chú tâm, cũng không phải là quán.
Và khi nói có sati, hiểu là việc mình đang làm là có mục tiêu rõ ràng, không phải làm đại, làm theo hứng. Ví dụ anh gác cổng không phải quan sát cô gái qua cổng vì cô ấy đẹp, mà quan sát có mục đích là xem cô ấy có là đối tượng được qua hay không.
Nếu anh ta quan sát mà không để ý mình quan sát để làm gì, thì là thất niệm (dù rằng vẫn quan sát)
Tương tự như vậy, ở bài tập quán thân trên thân, thì vai trò của niệm là nhớ rõ mục tiêu của việc quán là các trạng thái sanh diệt trụ của các hiện tượng xảy ra nơi thân. Nếu việc quán nó ra chỗ khác thì gọi là thất niệm.
Còn nếu có Chánh Niệm thì khi đó mục tiêu sẽ là NHIẾP PHỤC THAM ƯU. Khi đó việc quán không chỉ là quán nữa, mà nó sẽ quán ĐỂ làm sao THAM ƯU được NHIẾP PHỤC.
Sati là nhớ tới nhiệm vụ phải làm. Nhiệm vụ thì có tà, có chánh.
Tà sati, ví dụ như quán thân trên thân mà thấy thân mình có chỗ nào xấu còn chỉnh, thì là quán dưới định hướng của sati về vẻ đẹp của thân thể, thì sati này là tà sati.
Còn sati nhiếp phục tham ưu thì đó là chánh sati.
Còn cái kiểu không có sati là quán là quán, thì cái đó chẳng thành gì, ví dụ như anh cầm cây bút, mà anh nhìn nó, ngắm nó cho dù có liên tục thì anh cũng chẳng được việc gì. Cái biết mà không có “để làm gì” thì vô nghĩa. Cái biết phải luôn đi kèm với “để làm gì”. Mà nhớ được “để làm gì” thì đó là có niệm. (sati)
Nếu mình kết hợp hai định nghĩa về chánh niệm (đã dẫn trên Post) thì sẽ thấy rõ hơn vai trò này của Chánh Niệm, và vì sao Chánh Niệm là đi cùng Chánh Kiến và Chánh Tinh Tấn.
Kết hợp cả hai định nghĩa, ta sẽ thấy có bốn pháp chạy vòng quanh các chi thánh đạo là
1. Chánh Kiến
2. Chánh Tinh Tấn
3. Chánh Niệm
4. Tuệ Quán.
Qua mấy comment vừa rồi, nếu anh và các đạo hữu đọc THẬT KỸ, thì sẽ thấy được rõ ràng niệm và chánh niệm. Và khi đó sẽ rõ ra ngay thực chất của bài tập tứ niệm xứ là gì, cũng như vai trò của nó.
HT cũng hy vọng nếu Tam Bach đọc kỹ Post này nhiều lần, sẽ hiểu được tại sao HT có suy nghĩ là Tứ Niệm Xứ không phải là bài tập thiền chi cả, nó là bài tập tuệ quán và nó có vai trò dù cực lớn, nhưng nó phải được bắt đầu trước khi vào Bát Thánh Đạo.
HT cũng xin được dừng comment post này ở đây, vì thấy những gì đã viết ra là đã đủ để những đạo hữu thực tâm muốn tìm hiểu về khái niệm cực kỳ quan trọng trong tu tập là Sati có thể hiểu được, và qua đó việc thực hành được hiệu quả.
Xin cám ơn các Sư đã cho phép HT và không la rầy gì.
@Hạnh Trương. Tôi thật không biết “Chánh niệm trong bài kinh Đại Niệm Xứ cũng dùng từ là sammasati” (và như vậy có lẽ nên giữ lại từ “chánh niệm” như Pali). Vậy chánh niệm đang bàn tới đây coi như gặp ở chỗ khác, chỉ để dịch từ Sati trong tiếng Pali. Xin trích một đoạn ở chương 13 , quyển CHÁNH NIỆM CƠ BẢN
của Đại Đức Henepola Gunaratana, người dịch Lương Thanh Bình. Đoạn này hơi dài dù đã được cắt ngắn bớt.
“Chánh niệm là sự theo dõi vô tư, không đứng vào một bên nào, không bị ngăn ngại vào những gì được hiểu ra. Nó chỉ nhận thức. Chánh niệm không bị mê đắm bởi những trạng thái tâm tốt và không cố gắng lẫn tránh những trạng thái tâm không tốt; cũng không đeo bám theo sự dễ chịu hay trốn chạy cảm giác khó chịu. Chánh niệm nhìn tất cả kinh nghiệm một cách bình đẳng, mọi tư tưởng, cảm giác như nhau. Chánh niệm không chơi trò ưa thích, không bưng bít, không ức chế.
Chánh niệm không phải là sự tỉnh giác dựa trên khái niệm. Một thuật ngữ khác cho Sati là “sự chú tâm đơn thuần”. Không phải là suy tư, không hợp tác với tư tưởng hay khái niệm, không trói buộc vào ý niệm hay hồi ức, chánh niệm chỉ ngắm nhìn, để ý đến kinh nghiệm, nhưng không so sánh với bất kỳ gì. Nó không đặt tên hay xếp loại đối tượng, chỉ quan sát mọi thứ giống như nó mới gặp lần đầu, không phân tích dựa trên sự phản ảnh và ký ức. Nó chỉ là kinh nghiệm trực giác về những gì đang xảy ra mà không có sự hiện diện phương tiện truyền đạt của tư duy. Nó đến trước hơn tư tưởng trong quá trình hình thành cảm giác.
Chánh niệm là sự tỉnh giác ở phút giây hiện tại, xảy ra ở đây và bây giờ. Nó là sự quan sát những gì đang xảy ra ở phút giây này. Vĩnh viễn ở trong hiện tại, thay đổi một cách dai dẵng như con sóng bạc không ngừng nhấp nhô theo thời gian. Nếu bạn đang nhớ về vị giáo viên lớp hai của mình, thì đó là ký ức. Khi bạn có chú tâm là mình đang nhớ về thầy cũ, thì đó là chánh niệm. Nếu kế tiếp, bạn khái niệm hóa cả tiến trình và tự nhủ thầm, “Ô, mình đang nhớ,” đó là suy nghĩ.
Chánh niệm có ba hoạt động căn bản. Chúng ta có thể dùng những hoạt động này như là những định nghĩa thực dụng cho từng mệnh đề: (a) Chánh niệm nhắc cho chúng ta về những gì chúng ta nên chú tâm lúc đang làm; (b) Chánh niệm nhìn sự việc như-nó-là; và (c) Chánh niệm nhìn sâu vào bản chất của tất cả mọi hiện tượng. Hãy đi sâu vào chi tiết của những định nghĩa này hơn.”
(Thư viện Hoa Sen)
Hoa Nguyen @ Hạnh Trương: “Tứ Niệm Xứ không phải là bài tập thiền chi cả, nó là bài tập tuệ quán…”.Tôi cũng thấy Tứ Niệm xứ là pháp Quán, và thường nghe nói là “quán Tứ Niệm xứ”.
Từ ‘sati’ xuất phát từ một ngữ căn mang nghĩa là nhớ-để làm gì, ngoài ra nó còn là một nhân tố trí tuệ biểu hiện tâm tức thời (sự nhanh trí), nghĩa là (biểu hiện) sự để tâm vào giây phút hiện tại, hơn làm cái khả năng của trí nhớ để ý (liên…See More
A comprehensive manual of Abhidhamma
books.google.com.au
Tính Nguyễn Huhu… rõ ràng, rõ ràng lắm!!!! Cảm ơn anh Hai thật nhiều!!!!
Ruộng phước, ruộng phước vô thượng ở đời!!!!
Một từ ngữ khi được nhiều người sử dụng sẽ mở rộng và có khi thay đổi ý nghĩa. Đó là trường hợp của “chánh niệm”, không phải chỉ có nghĩa chú tâm (như anh Hạnh Trương nói). Tôi thấy còn có các nghĩa (mở rộng) như : để tâm lên đối tượng, theo dõi để nhận biết, đồng thời biết tâm mình đang trên đối tượng, và cũng sẽ biết khi tâm không còn trên đối tượng (để kéo tâm trở lại).
Chú tâm là từ hay vì cho thấy phần hoạt động của chánh niệm là như thế nào, trong khi các nghĩa như tuệ tri, ý thức, nhận biết,… chỉ ghi nhận phần chức năng của chánh niệm. Nhưng thử so sánh chú tâm với trú niệm (là từ đề nghị vẫn thấy chưa ổn). “Chú tâm” không giữ được từ ” Niệm” của nghĩa Sati trong tiếng Pali. Chú tâm nghĩa hơi mơ hồ vì trải rộng, không nói được ý đặt tâm lên đối tượng vào lúc này, ngay bây giờ. Niệm là phần rất nhỏ của tâm, hay chỉ là sát-na tâm, nên trú trên từng niệm nói được ý nghĩa về hiện tại hơn (về hiện trú). Chúng ta biết cái gọi là hiện tại chỉ xảy ra ở từng niệm, khi niệm trước đã là quá khứ, và niệm tiếp theo thuộc tương lai. Theo tôi, trú niệm trên hơi thở có độ chính xác hay phân giải cao hơn chú tâm đến hơi thở, giống như dùng đơn vị nhỏ hơn khi đo lường.
Hoa Nguyen Có người dịch Mindfulness là Giác niệm.
”HT cũng hy vọng nếu Tam Bach đọc kỹ Post này nhiều lần, sẽ hiểu được tại sao HT có suy nghĩ là Tứ Niệm Xứ không phải là bài tập thiền chi cả, nó là bài tập tuệ quán và nó có vai trò dù cực lớn, nhưng nó phải được bắt đầu trước khi vào Bát Thánh Đạo.”
Cảm ơn anh HT,
Thực tình MT cũng ko nhận thức TNX là một bài tập thiền (hehe, lại đặt ra câu hỏi thiền là gì?). Nói đúng hơn, TB hiểu TNX, về mặt tột cùng, là một tâm sở chi phần của BCD, và cũng như tất cả các pháp, là vô ngã, nên “mình” không thể thực tập TNX, TNX sẽ sinh khởi khi các nhân duyên của nó đầy đủ. Chẳng hạn như đang ngồi, đi thiền để quan sát thân, tâm, nhưng lại hoàn toàn chạy theo vọng tưởng. Vì vậy, “mình” chỉ có thể nghiên cứu các điều kiện để làm nó sinh khởi và vun bồi những điều kiện ấy. Những điều kiện ấy là:
Bốn Yếu Tố Ðể Phát Triển Chánh Niệm :
1.Chánh Niệm và Giác Tỉnh
2.Tránh Người Không Chánh Niệm
3.Thân Cận Người Chánh Niệm
4.Hướng Tâm Vào Sự Chánh Niệm
Ngoài ra, đây là các đặc tính của chánh niệm theo kinh điển:
Không Hời Hợt Bề Mặt
Giữ Ðối Tượng Trong Tầm Quán Sát
Ðối Diện với Ðề Mục
Thấy Tứ Diệu Ðế
Chánh Niệm Là Nguyên Nhân của Chánh Niệm
( http://www.trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/NgayTrongKiep/NTKSN6.htm)
3 nghĩa của Tứ niệm xứ (satipathana):
- Đối tượng của chánh niệm ( danh, sắc của thực tại chân đế hay thân, thọ tâm, pháp)
- Tâm sở chánh niệm sinh khởi với tâm dục giới đi kèm tâm sở trí tuệ, và hay biết bốn đối tượng thân, thọ, tâm, pháp
- Đạo lộ do Đức Phật chánh đẳng giác cùng các thánh đệ tử đã phát triển.
(theo Survey of Pamatha Dhamma- by SuJin Boriharnwanaket)
Trên đây chỉ là vài kiến thức đóng góp vào doc khảo cứu về chánh niệm này, không mong tranh cãi đúng sai ạ.
Life is Practice is Life
http://www.thienvacuocsong.info/
http://www.trungtamhotong.org/
http://www.accesstoinsight.org/
http://www.buddhanet.net/
http://www.dhammastudygroup.org/
http://sayadawutejaniya.org/teachings/
Trong đoạn kinh trích sau đây (trích từ bài của Tỳ Khưu Hộ Pháp trên trang trung tâm Hộ tông), chánh niệm có nghĩa là “trực nhận”, và tỉnh giác là “trực giác thấy rõ biết rõ”. Trực nhận, trực giác là thấy biết thẳng, không qua suy nghĩ, suy luận.
Trong bài kinh Đại niệm xứ (Mahāsatipaṭṭhānasutta) Đức Phật dạy về chánh niệm như sau__
“Katamā ca bhikkhave sammāsati?…”.
“Này chư Tỳ khưu, thế nào gọi là chánh niệm?
- Này chư Tỳ khưu, Tỳ khưu hay hành giả trong Phật giáo này:
1- Là người có tâm tinh tấn không ngừng, có chánh niệm trực nhận, có trí tuệ tỉnh giác trực giác thấy rõ biết rõ “thân trong thân” để diệt tham tâm, hài lòng, và sân tâm, không hài lòng trong ngũ uẩn chấp thủ này.
2- Là người có tâm tinh tấn không ngừng, có chánh niệm trực nhận, có trí tuệ tỉnh giác trực giác thấy rõ biết rõ “thọ trong thọ” để diệt tham tâm, hài lòng, và sân tâm, không hài lòng trong ngũ uẩn chấp thủ này.
Tam Bạch viết :”HT có suy nghĩ là Tứ Niệm Xứ không phải là bài tập thiền chi cả, nó là bài tập tuệ quán… Thực tình MT cũng ko nhận thức TNX là một bài tập thiền (hehe, lại đặt ra câu hỏi thiền là gì?) “.
Tôi nghĩ Tứ Niệm xứ có thể cho là bài tập thiền quán. Đúng là Thiền dịch từ Dhyana (Phạn) hay Jhana (Pali) chỉ có nghĩa là pháp Định Chỉ của Tứ Thiền thuộc Bà la môn giáo, còn quán là của riêng Phật giáo sau đó. Đạo Phật ở Trung Quốc mở rộng nghĩa của Thiền để bao gồm luôn pháp quán hơi thở An ban (anapanasati), theo từ điển Shambhala về Phật giáo và Zen cho biết. Vậy Thiền Phật giáo (từ đó) gồm hai bộ phận bổ sung cho nhau là Định (An chỉ) và Quán là quán chiếu hay quán sát nay thường gọi là Minh sát (Vipassana) (“Minh” không biết dịch từ tiếng nào trong Pali hay chỉ thêm ý ? ). Định để giúp tâm an định, thanh tịnh, và Quán để phát sinh trí tuệ (Phật giáo). Thông thường tu Định trước để có định lực, sau mới tu Quán. Tứ niệm xứ được thiền Minh Sát chuyên dùng, nhưng người tu theo Định cũng tập quán Tứ Niệm xứ, nhất là sau khi tu tập thành công Tứ thiền. Ở Bắc tông trước đây khi hành thiền vẫn tập các pháp quán lấy từ Tứ Niệm xứ (được giản lược) là quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, và cũng thành tựu tam tướng.
Ý nghĩa của NIỆM (Sati)
Đăng trong: 03/04/2012 Filed under: Chánh Niệm, Thảo Luận Leave a comment »Trích từ Facebook group “Pali Chuyên Đề”
Bhikkhu Indacanda:
Bài viết này được thấy ở FB của Trinh Duc Vinh, nhưng vì các comments đi qua hướng khác nên không share mà post lại ở đây. Điều thú vị ở đây là những điều vị GS. này viết không khác với những điều mà chúng ta đã bàn luận trước đây, về Niệm, về Tác Ý. Quý vị cũng nên đọc bài này, sẽ củng cố thêm được tri kiến của mình. Tuy nhiên, có một vài chỗ Sư thấy chướng chướng, nhưng nghĩ là do việc chuyển ng…See More
ĐÂU LÀ Ý NGHĨA CHÂN THẬT CỦA NIỆM ĐƯỢC ĐỨC PHẬT DẠY – Alan Wallace – Thanh Hòa biên dịch
http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-80_4-13863_5-50_6-1_17-76_14-1_15-1/
THẢO LUẬN
Hạnh Trương: Người Tàu kể cũng khôn thật, chắc họ biết trước “đại náo loạn” chữ nghĩa nên dạy cho con cháu họ “bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh”. Chưa thành Phật thì cũng tốt hơn là lạc vào rừng khái niệm u u mê mê do các “đại học giả” quăng đầy Net thế này.
Trinh Duc Vinh: Con post bài này lên facebook vì thấy nhiều người có quan điểm nói niệm là điều duy nhất cần và đủ cho sự giác ngộ, thậm chí Bát Chánh Đạo cũng là thừa thãi và do đức Phật tùy tiện thêm vào. Hi hi. Thực ra chánh niệm là then chốt của thiền học Phật giáo nhưng nếu không có các giáo lý khác đi kèm thì sẽ dễ dẫn đến hiểu sai và hành trì sai. Chánh niệm hay thiền Minh sát do đức Phật đưa ra đầu tiên nhưng hiện nay rất nhiều trường phái khác cũng sử dụng và lắp ghép vớii nhều quan điểm sai lầm (tà kiến) của mình.
Trinh Duc Vinh Thiền sư U Tejaniya có viết 1 cuốn sách nổi tiếng là “Chỉ có chánh niệm thôi thì không đủ” nhưng con thấy bài viết này nói cụ thể và mang màu sắc học thuật nghiêm túc hơn, mặc dù trong đây có cả quan điểm của Đại thừa và Mật tông.
Hoa Nguyen Bài viết của Alan Wallace thật sâu sắc, bao quát, hiểu biết rất rộng về nhiều loại Thiền Phật giáo. Và tác giả có thái độ rất khách quan, vô tư khi đánh giá các loại Thiền Phật giáo (khác nhau không phải vì “sai lầm” mà tôi nghĩ chỉ vì chú tâm phát triển phần cho là quan trọng nhất).
Hạnh Trương Chúng ta hay bị cái mẽ học thuật làm mê mờ, đọc kỹ một chút bài viết sẽ thấy nó là lạ (chướng – theo từ của Sư):
<<Mặt khác, ý nghĩa nguyên thủy của sati là nhớ lại, không quên. Điều này bao gồm sự hồi tưởng về những việc trong quá khứ, nhớ việc cần làm trong tương lai, và ghi nhớ ngay trong hiện tại theo ý nghĩa duy trì sự chú tâm liên tục đến thực tại hiện tiền. Ngược lại với niệm là thất niệm (hay quên), cho nên niệm, chẳng hạn được áp dụng cho hơi thở, bao hàm sự chú tâm liên tục, không dao động đến hơi thở ra vào. Niệm có thể được dùng để giữ sự chú tâm thuần túy (manasikāra – tác ý) nhưng trong văn liệu Phật giáo truyền thống không có chỗ nào đồng nhất niệm với sự chú tâm như thế.>>
Ở đoạn trên, niệm được định nghĩa 2 lần và khác hẳn nhau, mọi người đọc kỹ 1 chút sẽ thấy .
<<Trong tác phẩm Thanh tịnh đạo (The Path of Purification) vào thế kỷ V, ngài Giác Âm (Buddhaghosa) – vị luận sư uy tín nhất trong truyền thống Nguyên Thủy – giải thích rằng: “niệm là tâm sở nhờ nó ta nhớ lại, hoặc chính nó nhớ lại” (The Path of Purification, C. XIV, 141.). Đặc tính của nó, ngài Buddhaghosa nói, là “không dao động”, nhờ đó tâm gắn chặt với đối tượng quán sát. Nhiệm vụ của nó là “không tuột mất”, ngụ ý rằng niệm giúp ta duy trì được sự chú tâm mà không quên mất. Biểu hiện của nó là “canh giữ” hay trạng thái “xúc tiếp với đối tượng”, ngụ ý rằng “rợi dây ghi nhớ” duy trì sự chú mục một cách vững chắc trên đối tượng được hướng đến, cho dù đó là một đối tượng đơn lẻ, tương đối độc lập hay là một chuỗi các sự kiện liên đới nhau>>
Trích dẫn từ Thanh Tịnh Đạo thật tuyệt, nhưng …
<<Có sự khác nhau nào giữa niệm và chánh niệm? Có cái gọi là tà niệm hay không?
Một tay súng nấp mình trong bụi cây, chờ đợi kẻ thù, có thể nhận biết một cách tinh tường những gì đang khởi lên trong mỗi khoảnh khắc trôi qua. Nhưng bởi vì anh ta đang âm mưu sát hại, cho nên anh ta đang thực hành tà niệm. Thực vậy, cái anh ta đang trải qua là sự chú tâm thuần túy nhưng thiếu vắng yếu tố giới.>>
Ví dụ về niệm ở đây lại khác xa những gì được viết và trích dẫn từ Thanh Tịnh Đạo.??? ( lưu ý: thực vậy, cái …. là sự chú tâm thuần túy…)
Ví dụ là cái dùng để vấn đề được định nghĩa được hiểu rõ, nhưng ở đây, ví dụ lại tự mâu thuẫn với định nghĩa và trích dẫn. ???
Tóm lại phần đầu tác giả trình bày là niệm không phải là chú tâm, thế nhưng từ đó trở đi, trong các ví dụ và các vấn đề được đề cập tới, đều thấy tác giả nói niệm là chú tâm?
Vậy người đọc thấy được gì ở đây? Khoan nói việc tác giả nói đúng hay sai, nội việc tự mâu thuẫn trong một đoạn ngắn như vậy đã thấy không đáng tin cậy rồi.
Ghi chú: HT chỉ nhận xét bản dịch, mặc dù qua ví dụ về tay súng, thì có thể thấy đúng là tinh thần của tác giả không sai khác với nội dung được dịch ra tiếng Việt.
Các đạo hữu, trong khi có kinh Phật trong tay, trong kinh Phật đã định nghĩa rõ mà chúng ta không đọc, lại đi tìm hiểu qua mấy tài liệu này thì đúng thật là bỏ lõi cây đi tìm … lá rụng.
Hoa Nguyen: Định nghĩa về niệm, chánh niệm không phải thật sự như nhau giữa các tác giả sách thiền Nam tông, như Bhante Gunaratana (Tích Lan), Ajahn Brahmavamso (Anh hay Úc), Ayya Khemal (Đức). Ít ra cách diển tả không như nhau. Tác giả, dịch giả VN có thể làm cho sự khác biệt thêm khởi sắc. Tôi thấy dường như “chánh niệm” có thể hiểu không như nhau ở thiền An chỉ và thiền Minh sát. Thiền của Mật tông cũng nhấn mạnh về Chánh niệm, Tỉnh giác, nhưng e hiểu cũng không giống hẳn.
Hoa Nguyen: ”Chánh niệm là sự quan sát không có phán đoán, nó phản chiếu những gì đang xảy ra trong hiện tại và chính xác như-nó-là, không có một chút gì thiên vị. ” (Bhante Gunaratana). Điều này đúng ở thiền Minh Sát, và cũng ở thiền Minh Sát chánh niệm thường phản ánh sự việc theo trình tự thời gian, mỗi lần một niệm, kế tiếp nhau.Thí dụ các hành động giơ tay ra, gấp thức ăn, đưa lên miệng, nhai, nuốt…được ghi nhận với chánh niệm, mà không đánh giá động tác của thân (tuy có thể đánh giá, nhận dạng tâm sở dấy lên bên trong).
Nhưng mặt khác, theo Alan Wallace, trong chánh niệm có “yếu tố giớí ” hay “mang tính phản kỷ theo tinh thần của giới” (ông thí dụ trường hợp một người mưu sát). Nghĩa là có sự nhận biết sự tốt xấu, thiện ác đi theo sự việc mà chánh niệm biết rõ, để tiếp nhận hay loại trừ. Thử nêu thí dụ trong thiền An Chỉ, khi vào Sơ Thiền chánh niệm giúp nhận ra sự vắng mặt của 5 triền cái và sự xuất hiện của 5 thiền chi. Nhưng mới vào Sơ thiền, các thiền chi có thể còn yếu, chập chờn và bị mất, một vài triền cái tái hiện, khiến định có thể mất. Chánh niệm cũng nhận ra tình trạng này, và giúp làm vững định bằng làm mạnh lên thiền chi liên hệ. Ở đây chánh niệm nhận biết gần như cùng lúc sự có mặt hay vắng mặt của các triền cái hay thiền chi.
Hạnh Trương:”Chánh niệm là sự quan sát không có phán đoán, nó phản chiếu những gì đang xảy ra trong hiện tại và chính xác như-nó-là, không có một chút gì thiên vị. ” (Bhante Gunaratana).
Định nghĩa này hoàn toàn sai với các định nghĩa trong Kinh Điển, trong Thanh Tịnh Đạo, Vi Diệu Pháp… thiết nghĩ chúng ta không nên đưa những định nghĩa kiểu thế này lên nhóm. Nó có thể làm nhiều đạo hữu chưa quen khái niệm, chưa nghiên cứu kỹ kinh điển hiểu sai ngay từ đầu.
<<Trong tác phẩm Thanh tịnh đạo (The Path of Purification) vào thế kỷ V, ngài Giác Âm (Buddhaghosa) – vị luận sư uy tín nhất trong truyền thống Nguyên Thủy – giải thích rằng: “niệm là tâm sở nhờ nó ta nhớ lại, hoặc chính nó nhớ lại” (The Path of Purification, C. XIV, 141.). Đặc tính của nó, ngài Buddhaghosa nói, là “không dao động”, nhờ đó tâm gắn chặt với đối tượng quán sát. Nhiệm vụ của nó là “không tuột mất”, ngụ ý rằng niệm giúp ta duy trì được sự chú tâm mà không quên mất. Biểu hiện của nó là “canh giữ” hay trạng thái “xúc tiếp với đối tượng”, ngụ ý rằng “rợi dây ghi nhớ” duy trì sự chú mục một cách vững chắc trên đối tượng được hướng đến, cho dù đó là một đối tượng đơn lẻ, tương đối độc lập hay là một chuỗi các sự kiện liên đới nhau>>
Tìm đâu ra trong định nghĩa này rằng “niệm là sự quan sát”
Niệm chỉ giúp duy trì sự chú tâm, nhờ khả năng ghi nhớ của nó, chứ niệm cũng không phải là sự chú tâm.
Trong Nikaya , HT thấy có 2 ví dụ về niệm:
1. Kinh Trung Bộ 105- Kinh Thiện Tinh, đức Phật lấy ví dụ về việc chữa vết thương, ở đó, niệm được ví dụ như vật dụng dò tìm
2. Kinh Tương Ưng, tập 5- Trong bài kệ về cỗ xe, Đức Phật ví dụ Niệm như người đánh xe, biết hộ trì , phòng hộ. Đánh xe tới mục tiêu là “an ổn khỏi các khổ ách”.
Các định nghĩa về niệm trong Thanh Tịnh Đạo, trong Vi Diệu Pháp cũng rất rõ ràng, HT không hiểu sao người ta cứ vẽ rắn thêm chân :)
Bhikkhu Indacanda : Hoa Nguyen và các members mới: Những vấn đề về Niệm, Chánh Niệm, Tà Niệm, Tác Ý, Như Lý Tác Ý, v.v… đã được bàn luận và đã được lưu lại ở trong số 85 docs ở phía trên, có lý luận, có trích dẫn. Ngoài ra còn có một vài vấn đề khác nữa như: tuệ tri, tưởng tri, liễu tri, v.v… Có nhiều điểm đáng để học hỏi ở các docs này. Nếu người nào có theo dõi kỹ lưỡng các comments trước đây sẽ thấy được những điểm yếu của GS. Allen Wallace trong bài viết về Niệm được post gần đây.
Chuyện tiếu lâm, đọc qua rồi quên đi: Một thời đức Phật ngự tại Trung Quốc và thuyết giảng Giáo Pháp bằng tiếng Tàu, sau đó Ngài ngự sang Anh Quốc và thuyết giảng bằng tiếng Anh!!!
Hoa Nguyen: Đại Đức Bhante Henepola Gunaratana là người Tích Lan học đạo Phật ở Tích Lan, dạy đạo Phật ở Mã Lai trong 10 năm, sau tốt nghiệp tiến sĩ Triết học ở Mỹ, và dạy đạo Phật tại ba trường đại học ở Mỹ (American University, Georgetown University và University of Maryland). Ông có trung tâm dạy thiền riêng ở Mỹ. Sách và bài viết của ông được xuất bản ở Mã Lai, Ấn Độ, Tích Lan, và Mỹ. Cuốn “Mindfulness in Plain English” được dịch ra nhiều thứ tiếng, riêng tiếng Việt có hai bản dịch thấy trên Thư Viện Hoa sen. Đoạn tôi trích của dịch giả Lương Thanh Bình, chương 13. Bản tiếng Việt có lẽ không rõ, khó hiểu, nhưng tiện cho vài độc giả Việt ở đây. Tôi có bản tiếng Anh, khi cần sẽ gõ lại đoạn trên. Xin trích thêm ở chương 13, sách giới thiệu mà Việt dịch là CHÁNH NIỆM CƠ BẢN:
“Chánh niệm nhìn sự việc như-nó-là. Chánh niệm không thêm vô hay bớt ra một điều gì tới sự hiểu biết, không bóp méo gì cả. Sự chú tâm đơn thuần chỉ nhìn vào những gì trổi dậy. …” (Mindfulness sees things as they really are. Mindfulness adds nothing to perception, and it subtracts nothing. It distorts nothing. It is bare attention and just looks as whatever comes up…”.
Bhikkhu Indacanda primary sources và secondary sources.
Hạnh Trương :
1. Hehe, cái đ/c Đại Đức này, sees things as they really are là việc của pajanati (tuệ tri), là động từ thường xuyên xuất hiện trong kinh Niệm Xứ, có lẽ vì lẽ đó mà Đại Đức của chúng ta kết luận nhầm lẫn.
“Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy TUỆ TRI thân thể như thế ấy”
2. Việc dịch Mindfulness thành CHÁNH niệm là sai lầm, vì Chánh Niệm đã có từ của nó trong tiếng Anh là Right Mindfulness.
3. Tại sao Hoa Nguyen dường như cố tình lờ đi các định nghĩa về sati trong kinh điển đã được trích dẫn? các định nghĩa mới này về niệm giúp gì cho chúng ta? hay là đạo hữu muốn chúng ta thấy rằng “đúng là không nên đọc gì ở mấy luận sư đương thời”. HT nghiêng về ý này và nếu như vậy thì đã đủ rồi, hihi, cảm ơn anh.
Hoa Nguyen : Ngài Bhante Henepola Gunaratana là đại đức đáng kính trọng, đã viết nhiều viết sách bàn về thực hành thiền quán Phật giáo cho người mới bắt đầu đến những người muốn hiểu biết sâu hơn. Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm khác của ngài là “Con đường Thiền Chỉ và Thiền Quán” của Mahthera Henepola Gunaratana do Tỳ Khưu Pháp Thông dịch. Đây là bản dịch rất nghiêm túc, giá trị của một bậc tôi nghĩ vừa rất thông hiểu Phật học, vừa chắc chắn hiểu biết thực tiễn thiền quán:
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-cdtctq/tcq-00.htm
Trang đầu có lời giới thiệu về tác giả: “Tác giả của cuốn sách, Hòa thượng Thiền sư Henepola Guṇaratana, sinh năm 1927 tại Tích Lan, xuất gia năm 13 tuổi, hiện đang hướng dẫn những khóa thiền lớn tại Hoa Kỳ và Canada. Cuốn sách đã đem lại ánh sáng hiểu biết cho rất nhiều người, nhất là những hành giả đang lúng túng giữa thiền chỉ và thiền quán, hay những người thường xem nhẹ giá trị của định trong thiền minh sát”.
Nên đọc tác phẩm trên trước khi đáng giá về ngài Gunaratana, và người đọc cẩn thận có thể gặt hái nhiều lợi lạc cho mình.
Thien Chi & Thien Quan
Lời giới thiệu (1) Lời giới thiệu (2) Lời người dịch
Hạnh Trương : Thưa anh Hoa Nguyen, em vẫn không hiểu tại sao chúng ta, trong khi có tam tạng kinh điển, vốn là lời Phật thuyết, không thì cũng là lời của các đại đệ tử của Phật giảng, mà lại đi tìm đọc những tác phẩm về sau này.
Có phải vì đọc kinh quá khó, nên ta tìm thứ dễ đọc, dễ theo ý mình hay không?
Có phải chúng ta đọc cái gì nó trơn tru, thuận tai thì thích đọc hơn hay không?
Em đọc cũng khá nhiều luận, sách .. trong nhiều năm vừa qua. Càng về sau em càng thấm thía. Thời đại này người tu thì ít, học giả thì nhiều. Vì sao, tu khó lắm anh ạ, ăn ngày một bữa, không ăn phi thời khó, ngủ giường thấp khó, không nói dối khó, không nói phù phiếm khó…. Ly dục khó vô cùng.
Vì tránh khó, chọn dễ nên rảnh quá, mới đi viết sách chỉ bảo cho chúng sanh. Hôm nay em nói thẳng, ai giận em cũng chịu.
Còn nếu anh chọn con đường thực hành, thì anh sẽ thấy phải hết sức cẩn thận với từng câu chữ, từng khái niệm trong kinh. Phật dậy pháp để thực hành diệt khổ, chẳng phải để hý luận. Mà thực hành sai 1 ly thì đi 1 dặm, nhiều khi đi luôn đó anh.
Em chọn con đường diệt khổ đó nên em rất sợ những tác giả này. Anh thông cảm cho em. Cho dù họ là người đáng kính tới đâu, nhưng càng đáng kính thì họ càng nguy hiểm. Vì sự đáng kính của họ làm cho lỗi của họ càng được phổ biến hơn, càng có nhiều người vì tin tưởng, vì kính trọng họ mà làm sai theo họ.
Em xin phép, cho dù họ đáng kính tới đâu, em cũng vẫn sẽ phê bình tác phẩm của họ nếu nó lọt vào mắt em. Vì sự trong sáng của Phật Pháp, cho mình và cho mọi người. Ai nói sao em cũng chịu.
Hoa Nguyen: ”Thời đại này người tu thì ít, học giả thì nhiều. Vì sao, tu khó lắm anh ạ, ăn ngày một bữa, không ăn phi thời khó, ngủ giường thấp khó, không nói dối khó, không nói phù phiếm khó…. Ly dục khó vô cùng.”.
Câu trên nghe rất quen, dường như từ trưởng giả Thông Lạc, là người trách cứ tất cả tu sĩ Phật giáo ngày nay là không biết giữ giới nên không ai tu chứng ra sao cả, như không ai làm chủ được chuyện sinh tử ! “Kinh điển Bắc tông là giả mạo, Nam tông hành thiền không ly dục, ăn phi thời, Minh sát quán sát “điên khùng”, không ai sống đúng Phạm hạnh, ba y một bát” vẫn nghe âm vang (xin đọc lại các tác phẩm mới in lại của TL). Tôi không đồng ý điều trên, nhưng không phải chỗ để bàn lúc này, dù sao cũng thấy ngay là thầy TL không đi khất thực, không ngồi thiền ở gốc cây hay vào rừng tu một mình, lại bắt chước Bắc tông không ăn thịt.
Những ai có đọc ít sách đều biết câu “dịch là phản”, vì mỗi người hiểu nghĩa chữ không giống nhau, và dùng chữ dịch cũng khác nhau, có khi không theo đúng ý tác giả. Có bản dịch tương phản, và người đọc đôi khi phải tra cứu nhiều sách để chọn bản dich đúng. Cho nên cái gọi là “primary source” có giá trị hay không là tuỳ bản dịch.
Tôi lấy một thí dụ. Trong bản dịch của HT Thích Minh Châu ,Phật dạy khi ngồi thiền quán đặt niệm ở trước mặt. Thầy Thích Thiện Chơn cũng dạy đặt niệm ở trước mặt, và nói thêm “Phật Thích Ca đặt niệm ở một vùng nhỏ trước mặt”. Trong bản dịch Tăng Nhất A-hàm từ Hán tạng, thầy Thích Thanh Từ cũng dịch “đặt niệm trước mặt” , điều lạ là bản dịch này đã từ chữ Sanscrit dịch qua Hán tự, và căn cứ vào kinh điển của Nhất thiết hữu bộ, không phải của Theravada với chữ pali. Tất cả đều giống nhau. Nhưng ở đây mới thấy giải thích là theo cách hiểu mới từ tiếng Pali, thì không phải có nghĩa niệm ở trước mặt, mà có nghĩa là “có hiện diện của (chánh) niệm”. Không biết tôi nhớ để ghi lại như vậy có đúng không ?. Tôi vẫn theo cách đã biết trước đây, nhưng vì có sẳn mấy bản dịch kinh Pali qua tiếng Anh, hôm nào tôi sẽ đọc để đối chiếu. Dù sao đặt niệm trước mặt hay ở chỗ khác là quan trọng cho mỗi cách thiền, với mục đích khác nhau. Phật có dạy không nên hoàn toàn tin ai (hiểu ở đây dịch giả nào) chỉ vì uy tín của người đó. Tất nhiên có thể tin nhiều hơn ở người mình biết giá trị, tài năng từ trước.
Hạnh Trương: Em hoàn toàn đồng ý với anh Hoa Nguyen là không nên hoàn toàn tin ai, kể cả chính mình ( nhưng phải tin vào sự giác ngộ của Như Lai). Quay về điểm chính của anh về ví dụ ” đặt niệm trước mặt” hay là ” giữ niệm luôn hiện diện”.
Trước kia em cũng chịu chỗ này luôn, không cách nào hiểu nổi cụm từ “đặt niệm trước mặt”. Tra các cách không ra, thế nào là đặt niệm trước mặt.
Đặt niệm trước mặt thì niệm là danh từ, giả sử niệm là danh từ, là cái có thể đặt trước mặt, thì xuất hiện vấn đề : trước mặt nó là chỗ nào? nó có phải là ở thân, ở thọ, ở tâm, hay ở pháp. Nếu đối tượng là thân thọ tâm pháp thì việc đặt cái niệm đó ở trước mặt là vô lý.
Tiếp theo sẽ xuất hiện câu hỏi, vậy niệm là cái gì để mà có thể đặt nó trước mặt? nếu nó là sự ghi nhớ, tại sao lại đặt sự ghi nhớ trước mặt, nó phải có đối tượng của nó chứ ( sự ghi nhớ), nếu nó là chú tâm, thì sao phải đặt sự chú tâm trước mặt, mà không nói đơn giản là “niệm trước mặt”. Nếu nó là quán sát thì cũng thế, sao không nói cho đơn giản là “quán sát trước mặt”. Rồi quán sát cái gì trước mặt chứ?
Nếu niệm không phải là danh từ, mà là động từ thì không thể đem đặt nó ở đâu được. Nó đơn giản là niệm.
anh HN hiểu thế nào về câu đó ạ “đặt niệm trước mặt”. Khi anh ngồi thiền thì anh ứng dụng cái câu ” đặt niệm trước mặt” đó như thế nào?
Hoa Nguyen: Anh Hạnh Trương hỏi thì tôi xin nói hiểu biết ít oi của mình.Theo các sách dạy Thiền (tôi không được học thiền từ thầy ), khi hành Thiền đặt niệm hay để tâm ở đầu mũi, nhân trung, môi trên. Đó là ở trước mặt. Thầy Chơn Thiện nói rõ Phật Thích Ca đặt niệm ở “vùng nhỏ trước mặt”, và tôi tập theo như vậy (lý do riêng là mũi tôi thấp, không cao như người Ấn ). Nimitta cũng hiện ra trước mặt. Đặt niệm ở trước mặt, theo kinh nghiệm của tôi, dễ tránh được hôn trầm. Zen thì (có khi) đặt niệm ở huyệt đan điền (dưới bụng) là để bớt vọng tưởng, tâm dễ an tịnh cho thiền An Chỉ, nhưng chuyển niệm lên huyệt mi tâm khi thấy hôn trầm. Mật tông (có khi) quán tượng ở đỉnh đầu, Minh sát thì nhiều người biết.
Hạnh Trương: Ví dụ khi anh nói là đặt niệm ở huyệt đan điền, thì cụ thể là gì ạ. Anh chú ý tới đan điền, hay là anh chú tâm tới đan điền hay là sao ạ. Anh có thể mô tả cụ thể hơn ví dụ này để em và anh có thể hiểu được niệm là gì và đặt nó như thế nào không ạ.
Hoa Nguyen: Thật ra, Zen cũng dạy đặt niệm ở trước mặt, có khi là một điểm trước mặt trên thảm (chiếu). Nhưng có trường phái hay trường hợp , đặt niệm ở huyệt đan điền, là nơi cách rốn chừng hơn 2-3 cm, mà nếu chú ý kỹ sẽ thấy mạch đập. Mi tâm là điểm giữa hai chân mày, chú ý cũng nghe mạch đập.
Hạnh Trương : Vậy anh hiểu niệm = chú ý phải không ạ?
Hoa Nguyen Tôi đã phân tích Niệm có rất nhiều nghĩa. Như có ý thức, nhận biết rõ, không hẳn là chú tâm (càng không phải nhất tâm). Một từ ngữ càng về sau càng có thể mở rộng nghĩa, bao hàm nhiều ý khác nhau. Chính vì thế nên thấy cần đọc nhiều tác giả để thấy họ hiểu hay giải thích thế nào.
Hạnh Trương : Ái chà, giờ em mới hiểu tại sao, hihi. Cái gọi là Văn Học Phật Giáo. Tại em thì vẫn nghĩ Kinh Phật như CHỈ DẪN cho người tìm đường thoát khổ nên từ ngữ của nó bao giờ cũng chính xác, rõ ràng. Những cái được gọi là THUẬT NGỮ, để người khác có thể hiểu đúng và làm theo mà không băn khoăn về nhiều nghĩa của nó. Chỗ nào có thể hiểu theo nhiều nghĩa, thì sẽ có VÍ DỤ để không thể hiểu theo nghĩa khác.
Cảm ơn anh Hoa Nguyen, lần nào trao đổi với anh cũng giúp em nhìn ra cái gì đó mới mẻ.
Riêng về đề tài “đặt niệm trước mặt” hay “giữ niệm luôn hiện diện”, thì nó phụ thuộc rất nhiều vào việc hiểu niệm là gì. Và hiểu bài kinh như một tác phẩm văn học hay chỉ dẫn thực hành.
Theo ý kiến cá nhân của em, thì cụm từ “đặt niệm trước mặt” cũng như cách hiểu thiền là chú ý, nhận biết rõ, ý thức… tới phía trước mặt, đã dẫn tới 1 tiến hóa vô cùng lý thú của cách diễn giải bài kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm và kèm theo đó phát sinh rất nhiều cách thiền khác nhau, mà HẬU QUẢ của nó thật khôn lường. Khi nào có đủ điều kiện em sẽ phân tích về đề tài này (điều kiện ở đây là về phía em thôi).
Tiện đây, HT thấy nếu Sư Indacanda giúp ai đó trong nhóm làm một nghiên cứu nhỏ về đề tài “sự tiến hóa trong diễn giải kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm qua các THỜI KỲ” thì thật là tuyệt. Có thể dựa trên bản kinh chính, bản chú giải, phân tích đạo, thanh tịnh đạo và ở thời hiện đại là của trường phái thiền Pa-Auk.
Bhikkhu Indacanda: Ý kiến vừa nêu ra của Hạnh Trương được người ta gọi là <sa đà trên văn tự>, thôi để cho các học giả lo, còn Sư thuộc loại <học thiệt> nên không phải lo. Sư có 1 trò chơi là chiêm nghiệm về <quy luật vận hành> của mọi thứ chuyện trên đời. Và có được 1 kết luận như vầy: Nếu thấy vật gì, bị rơi vào quy luật rồi, thì giống như bị rơi vào dòng nước xoáy, mình chỉ ngồi ngó thôi, chớ có nhảy vào theo mà bị cuốn trôi theo dòng nước. Nếu muốn vớt lên thì vớt lên lúc chưa đến vực xoáy hoặc chạy xuống phía dưới chờ cái đó được nước xoáy đẩy ra ngoài rồi hãy vớt lên. Hi hi.
Hoa Nguyen: Hạnh Trương viết :”"sự tiến hóa trong diễn giải kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm qua các THỜI KỲ” và Sư Indacanda viết :”<sa đà trên văn tự>, dường như muốn đặt một cái label cho câu chuyện.
Nên nhìn lại để thấy vấn đề bắt đầu từ chánh niệm mà định nghĩa đơn giản nhất là đặt tâm hay niệm lên trên một đối tượng thiền để nhận biết rõ nó. Nếu dùng từ Hán “liễu tri” thì dịch sát nghĩa vẫn là “biết rõ”. Nhưng đặt niệm thế nào để biết rõ, phải là sự “quan sát” với sự để ý, để tâm, chú ý, chú tâm. Trước đây một người đã dựa vào bản dịch từ tiếng Đức chọn từ “chú tâm”, và hồi đó tôi thấy cũng được nhưng dường như có hơi nặng (trong khi từ “để ý” thì hơi nhẹ). Sách dịch Anh ngữ không ngại dùng “observation” cho quan sát, và “attention” cho chú ý, chú tâm khi giữ chánh niệm, nhưng cũng nêu không phải là chú tâm theo nghĩa thường hiểu. Trích:
“Mindfulness is a form of attention that has the capacity to observe what is happening to us and within us during each moment of experience. It is referred to as “bare attention”since it observes whatever is occurring bare of judgement, decision, and commentary. In other words, mindfulness is the direct observation of the medition object without any of the distortions that normally arise from our cognitive processes (Matthew Flickstein, tác giả vài sách thiền Nguyên thuỷ).
Tạm dịch: Chánh niệm (hay Niệm) là một dạng chú ý (chú tâm) có khả năng quan sát những gì đang xảy ra cho chúng ta và ở bên trong chúng ta trong mỗi lúc trải nghiệm. Nó được gọi là sự “chú ý đơn thuần” (trần trụi) vì nó quan sát những gì đang xảy ra mà không phán xét, quyết định, và bình phẩm. Nói cách khác, chánh niệm là sự quan sát trực tiếp đề mục thiền quán mà không có biến dạng nào thường dấy lên từ quá trình nhận thức của chúng ta .
Nói là “một dạng chú ý” thì không phải như là sự chú ý, chú tâm bình thường. Tính cách vô tư, khách quan, không thêm bớt khi quan sát của chánh niệm nói ở trên rất giống với ý tưởng của Bhante Gunaratana đã giới thiệu.
Tôi cũng đồng ý có thứ chánh niệm khác mà Alan Wallace trình bày trong bài viết bàn tới ở đây, dùng cho loại thiền khác. Chuyện đặt niệm ở đâu sẽ bàn sau.
Hoa Nguyen . Hành tướng của Niệm
- Còn Niệm là thế nào, thưa đại đức?
- Niệm cũng có hai chức năng. Thứ nhất là nhắc nhở tâm, thứ hai là giúp tâm cầm nắm.
- Nhắc nhở tâm như thế nào?
- Thưa, bất cứ một pháp nào phát sanh lên, Niệm có bổn phận nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy. Ghi nhận một cách thuần túy khách quan. Chức năng thứ nhất của Niệm là như vậy đó, tâu đại vương!
- Xin đại đức cho thí dụ.
- Vâng! Ví như người canh cửa của đức vua, y phải tự nhắc nhở mình thường xuyên là đừng có lơ đễnh nhiệm vụ, người nào đi vô đi ra phải biết. Như vị quan giữ kho của đức vua, y phải biết rõ đây là kho lương thực, đây là kho vàng bạc, vải vóc, quân nhu, khí giới v.v… Như vậy, Niệm như là người canh cửa, như vị quan giữ kho – đấy là chức năng thứ nhất, tâu đại vương!
- Vậy là trẫm đã hiểu. Còn “cầm nắm” là thế nào hở đại đức?
- Tâu đại vương! Một pháp phát sanh lên, niệm không những nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy mà còn “cầm nắm” trọn vẹn cái thiện, cái ác ấy nữa. Các pháp như tứ niệm xứ, tứ chánh cần, ngũ căn, ngũ lực… nghĩa là ba bảy trợ đạo phẩm, tứ vô lượng tâm cũng phải được hiểu như vậy.
- Trẫm muốn nghe ví dụ để hiểu rõ vấn đề hơn.
- Được thôi, tâu đại vương! Ví như người canh cửa của đức vua, sau khi không lơ đễnh nhiệm vụ thấy rõ người nào đi vô đi ra, mà còn biết đây là quan, đây là dân, đây là người được phép vào, đây là người không được phép vào. Ví như quan giữ kho của đức vua sau khi biết đây là kho vàng, kho bạc, kho lương thực mà còn nắm vững tình trạng của kho ấy, biết kho vàng, kho bạc nhiều hay ít, biết kho lương thực đầy hay vơi, v.v… Để khi vua cần hỏi, vị quan giữ kho có thể cho đức vua nắm rõ tài sản, kim ngân trong cung khố của mình. Chức năng thứ hai của Niệm là có thể trình cho biết các pháp lui tới tâm như thế nào, nó thiện hay ác, tốt hay xấu như vị quan giữ kho trình lên đức vua vậy tâu đại vương
- Cảm ơn đại đức. Ví dụ vậy là tuyệt hảo, trẫm “nắm giữ” được pháp và nghĩa của Niệm rồi.
* * *
Hoa Nguyen: Trên tôi vô ý đưa lên một đoạn trong kinh Mi-Tiên Vấn Đáp do HT Giới Nghiêm dịch (lấy trên trang nhà Buddha Sasana) nói về Niệm, mà chưa có lời nào giới thiệu. Theo ngài Mi-Tiên Niệm có hai chức năng: Thứ nhất là nhắc nhở tâm, thứ hai là giúp tâm cầm nắm. Về chức năng thứ nhất (ghi nhận một cách thuần tuý) tôi đã dẫn ý trong sách Anh ngữ của hai tác giả. Về chức năng thứ hai (“cầm nắm” trọn vẹn cái thiện cái ác) thì gần với ý của Alan Wallace. Tôi biết ngài Mi-Tiên nói về Niệm ở chỗ này nhân đọc một cuốn sách Anh ngữ, nhưng khi định tìm bản dịch tiếng Việt của Sư Indacanda đã thấy hôm nào thì lạc mất link. Ghi vắn tắt hai điều về Niệm đáng chú ý:
1/ bất cứ một pháp nào phát sanh lên, Niệm có bổn phận nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy. Ghi nhận một cách thuần túy khách quan.
2/ Một pháp phát sanh lên, niệm không những nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy mà còn “cầm nắm” trọn vẹn cái thiện, cái ác ấy nữa.
Hoa Nguyen @Anh Hạnh Trương. Vấn đề dịch một câu trong kinh Nhập tức xuất tức đã có người nêu lên rồi, và chúng ta coi như đã được giải thích thoả đáng. Góp ý trên của tôi chỉ lấy đó làm một thí dụ về có nhiều bản dịch khác nhau, và tôi không nói bản dịch nào đúng hơn khi không có và không đọc được hai nguyên bản để so sánh. Cũng không thể so sánh bản dịch nếu hai nguyên bản khác nhau. Nhưng nhân đây chúng ta bàn vấn đề đặt (chánh) Niệm ở đâu khi hành thiền. Thử so sánh hai đoạn dịch sau đây, một của thầy Nhất Hạnh từ Hán tạng, và một của Sư Bhikkhu Indacanda từ tạng Pali. Tôi trích ở mỗi bên hai niệm có số thứ tự như nhau.
Kinh Quán Niệm hơi thở- Thiền sư Nhất Hạnh dịch
“Này đây, quý vị khất sĩ! Người hành giả đi vào rừng hoặc tới một gốc cây, nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thế hoa sen, giữ thân cho thẳng và đặt vững chánh niệm trước mặt mình. Thở vào, người ấy biết rằng mình thở vào; thở ra, người ấy biết rằng mình thở ra.
1. Thở vào một hơi dài, người ấy biết: Ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, người ấy biết: Ta đang thở ra một hơi dài.
……
6. Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc. Ta đang thở ra và cảm thấy an lạc. Người ấy thực tập như thế
Kinh Niệm Hơi Thở Vào – Hơi Thở Ra” – Bhikkhu Indacanda dịch
“Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở ra, có niệm vị ấy thở vào.
Kinh Niệm Hơi Thở Vào – Hơi Thở Ra” – Bhikkhu Indacanda dịch
1/ Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra dài.’ Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài.’
….
6/ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra;’ vị ấy tập luyện: ‘Có cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào;’
Nhận xét chỗ đáng chú ý : Thiền sư Nhất Hạnh dịch “đặt vững chánh niệm trước mặt mình”, giống với nhiều bản dịch tôi dẫn chứng trước, phần nhiều từ Hán tạng.
Bhikkhu Indacanda dịch “thiết lập niệm luôn hiện diện” (giống một bản dịch tiếng Anh tôi có (tác giả Nyanaponoka Thera, người Tích Lan) chỉ viết “keeps his mindfulness alert” , không nói rõ đặt chánh niệm ở đâu.
Sẽ tiếp.
Hiếu Nguyễn: Cách chú Hoa Nguyen tiếp cận vấn đề rất rộng rãi và phóng khoáng, kiến thức của chú cũng rộng rãi như cách chú tiếp cận vấn đề :-)
Anh Hạnh Trương nếu được thì triển khai thêm về việc kinh Nhập Tức Xuất Tức (trong một chủ đề khác) như anh nói ở trên nha. Cám ơn anh. Mấy tuần nay em cũng đọc đi đọc lại về phần tổng kết về niệm anh nói ở chủ đề bên kia, và em cũng có một số quan điểm của riêng em. Để tới khi quan điểm của em chín chắn hơn, em sẽ xin được thảo luận thêm với anh về niệm.
Xin 2 người tiếp tục tranh luận để mọi người được học hỏi.
Hạnh Trương anh Hoa Nguyen, có lẽ anh xem kỹ hơn câu anh viết :
<<1/ bất cứ một pháp nào phát sanh lên, Niệm có bổn phận nhắc nhở tâm ghi nhận pháp ấy. Ghi nhận một cách thuần túy khách quan.>>
Bổn phận của Niệm là nhắc nhở tâm. (Dịch đúng phải là nhớ tới trách nhiệm), nhưng mà ý như vậy em thấy là ổn. Đồng ý là nhắc nhở tâm. Nhưng còn ghi nhận là vai trò của tâm, không phải là của Niệm. Anh đọc kỹ hơn chỗ này.
Niệm chỉ nhắc nhở “cần phải ghi nhận” . Còn ghi nhận là việc của tâm khác. Chỗ này không nên nhầm lẫn. Chúng ta đang nhầm lẫn cái gì? nhầm lẫn rằng Niệm ghi nhận . Không, Niệm không ghi nhận đối tượng. Niệm chỉ nhắc nhở là đó là cái cần ghi nhận, Niệm chỉ nhớ tới việc cần phải làm, Niệm nhớ tới đối tượng cần được theo dõi, Niệm nhắc nhở, nhớ tới trách nhiệm của tâm là phải hộ trì, phòng hộ. Niệm nhớ tới việc cần nắm giữ trạng thái thiện đã có để không bị bất thiện tái phát.
Em xin nhấn mạnh lần nữa, Niệm như là người đánh xe, chứ Niệm không trực tiếp làm các việc Ghi nhận, Chú Tâm, Chú Ý,…
Nếu chỗ này ta chưa thông, thì ta chưa thể bàn được về việc dịch là đặt niệm trước mặt là hợp lý, hay giữ niệm luôn hiện diện là hợp lý.
Khi nào chúng ta thông qua được chỗ này , em sẽ nói tại sao việc hiểu niệm sai dẫn tới tu niệm sai , dẫn tới các trường thiền tu Niệm có người bị điên, loạn thần kinh. Cái này là sai 1 ly là đi luôn.
Hiếu Nguyễn ”dẫn tới các trường thiền tu Niệm có người bị điên, loạn thần kinh” – anh Hạnh Trương có thể nói rõ thêm về phần này không?
Trường thiền anh nói là trường thiền nào, tu theo pháp nào? Tỷ lệ người bị điên, loạn thần kinh là bao nhiêu? Lý do họ bị điên và loạn thần kinh có phải trực tiếp do tu thiền theo “cách cũ” hay không? Họ có thường xuyên trình pháp và làm theo lời chỉ dạy của Thiền sư hay không?
Trong nghiên cứu khoa học, hẳn anh cũng biết khi có 2 sự việc vô tình cùng xảy ra thì chưa chắc đó là mối quan hệ nhân-quả: sự việc là nguyên nhân xảy ra sự việc kia. Có thể đó là do các nguyên nhân khác mà mình chưa chú ý tới, hoặc sự tổng hợp của nhiều nguyên nhân.
Vấn đề trọng yếu, mong anh trả lời!
Hạnh Trương Vì nó rất ảnh hưởng nên mình đã cố gắng diễn đạt từ nhiều góc độ để chúng ta có thể hiểu Niệm là gì và không là gì. Một trường hợp rất kỳ lạ. Xem lại Kinh Điển, Vi Diệu Pháp, Thanh Tịnh Đạo, rồi ngay cả Mi Tiên vấn đáp đều có định nghĩa rồi giải thích rồi ví dụ rõ ràng về Niệm, mà không hiểu sao thời hiện đại này người ta lại hiểu Niệm là chú tâm, là quán sát…
… Ngài đã ngự sang Anh Quốc và cùng với SATI = CHÁNH NIỆM, ngài đã về Việt Nam… chắc là phải viết thêm câu chuyện vui mà Sư Indacanda đã nhắc tới ( vui mà mặt vẫn thế này :( )
Hiếu Nguyễn Anh Hạnh ơi, anh phải triển khai tiếp khái niệm về Niệm mà anh nhận thấy được từ kinh điển -> sự sai sót trong cách thực hành hiện nay mà anh thấy -> sự điều chỉnh pháp hành: thì mọi người mới thuyết phục.
Nếu anh chỉ chỉ ra định nghĩa về niệm, không thôi thì mọi người sẽ cho là không có liên quan tới pháp hành hoặc chỉ là lý thuyết vì đó chỉ là “cách hiểu kinh” thông qua chữ nghĩa đơn thuần. Em cũng cảm thấy có manh mối chút nào qua cách giải thích của anh rồi, nhưng vẫn còn lấn cấn một số điểm.
Em rất mong anh tiếp tục triển khai mạnh dạn và hoành tráng hơn theo cách hiểu của anh và sư Indacanda. Như vậy lợi lạc hơn cho thành viên trong Pali Việt.
Nhưng khái niệm như: “có niệm tôi thở vào” rất trừu tượng. Nếu niệm chỉ là sự nhớ vậy nó phải có đối tượng: nhớ cái gì. Như anh nói ở trên ghi nhận là việc của tâm. Vậy khi đó mình ghi nhớ là phải thở vào. Như vậy khác gì với pháp hành thông thường là hay biết và “theo dõi” sự thở vào. Khi hành theo pháp hành thông thường, thì tâm mình cũng thường xuyên phải tự nhắc tâm là “không bỏ rơi” hay phải nhớ việc đang làm (thở vào). Như vậy pháp hành thông thường, hiển nhiên là có niệm rồi, nó sai ở đâu?
Một ý kiến nữa anh đề cập là chánh niệm, nghĩa là sự ghi nhớ có mục đích nhưng mục đích này phải phù hợp với chánh kiến (chứ không ghi nhớ như thợ săn ngắm bắn) – và anh ví dụ để nhiếp phục tham dục. Theo kinh nghiệm pháp hành của em thì khi đã có sự “chú tâm” (như pháp hành phổ biến hiện nay) nếu có được sự nhận thấy sự xuất hiện của các tâm bất thiện như tham dục hay sân hận, thì tự các tâm này sẽ tan biến. Như vậy vẫn đạt được mục đích ban đầu. Anh nghĩ sao về vấn đề này?
Hoa Nguyen Anh Hạnh Trương . Tôi copy y chang đoạn kinh đó từ trang Web. Tôi vẫn có ý tiếc không tìm lại được bản dịch khác của Sư Indacanda (tôi nhớ đã đọc đoạn ngài Nagasena nói về mộng trong bản đó). Nhân đây, lại cúi đầu khâm phục trí tuệ siêu phàm của ngài Nagasena. Đọc kinh nhiều khi phải hiểu “ý tại ngôn ngoại”, nhất là ở bản dịch.
Hạnh Trương Anh Hoa Nguyen, anh nghĩ là có ngài Nagasena thật hay sao ?
Bhikkhu Indacanda: Nói chơi mà thiệt, nói thiệt mà chơi:
“Yêu là gì vậy, anh hai?” “Yêu là thế này, yêu là thế nọ.”
“Yêu là vậy sao!” “Vậy em hiểu rồi.”
Em hiểu rồi, vì em đã yêu.
Niệm cũng vậy. “Niệm là thế này, niệm là thế nọ.”
Thật sự “có niệm” thì biết ngay. “Niệm là vậy sao!” “À ha, mình cũng có niệm.”
Hoa Nguyen : Anh Hạnh Trương. Tôi chưa đào sâu chỗ này (cứ để tồn nghi). Nhưng vua Milinda cũng thông minh trí tuệ một cách đáng ngờ. Chưa chắc các cuộc đối thoại thật sự là như vậy (nghi ngờ kinh là tội lớn, xin sám hối). Điều lạ là Bắc tông và Nam tông đều có kinh/luận này (phiên âm là Na-Tiên và Mi-Tiên).
Bhikkhu Indacanda : NIỆM – (Trích từ Milindapanha)
13. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, niệm có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng, có sự nắm lấy là tướng trạng?”
“Thưa ngài, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, niệm trong khi được sanh lên thì không lơ đễnh các pháp có sự xen lẫn là thiện, bất thiện, có tội, không có tội, hạ liệt, cao quý, đen, trắng rằng: ‘Đây là bốn sự thiết lập niệm, đây là bốn chánh cần, đây là bốn nền tảng của thần thông, đây là năm quyền, đây là năm lực, đây là bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đây là Thánh đạo tám chi phần, đây là chỉ tịnh, đây là minh sát, đây là minh, đây là giải thoát.’ Nhờ đó, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như viên quan giữ kho của đức chuyển luân vương sáng chiều nhắc nhở cho đức chuyển luân vương về sự vinh quang rằng: ‘Tâu bệ hạ, bệ hạ có chừng này voi, chừng này ngựa, chừng này cỗ xe, chừng này bộ binh, chừng này vàng khối, chừng này vàng ròng, chừng này tài sản, xin bệ hạ hãy ghi nhớ điều ấy,’ và không lơ đễnh về tài sản của đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm trong khi được sanh lên thì không lơ đễnh các pháp có sự xen lẫn là thiện, bất thiện, có tội, không có tội, hạ liệt, cao quý, đen, trắng rằng: ‘Đây là bốn sự thiết lập niệm, đây là bốn chánh cần, đây là bốn nền tảng của thần thông, đây là năm quyền, đây là năm lực, đây là bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đây là Thánh đạo tám chi phần, đây là chỉ tịnh, đây là minh sát, đây là minh, đây là giải thoát.’ Nhờ đó, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Thưa ngài, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, niệm trong khi được sanh lên thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng. Nhờ đó, hành giả bỏ đi các pháp không có lợi ích, nắm lấy các pháp có lợi ích, bỏ đi các pháp không hữu dụng, nắm lấy các pháp hữu dụng. Tâu đại vương, nắm lấy quả là như vậy. Tâu đại vương, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như vị tướng quân báu của đức chuyển luân vương biết được điều lợi ích và không lợi ích cho đức vua rằng: ‘Đối với đức vua, các điều này có lợi ích, các điều này không có lợi ích, các điều này hữu dụng, các điều này không hữu dụng,’ nhờ đó bỏ đi các điều không có lợi ích, nắm lấy các điều có lợi ích, bỏ đi các điều không hữu dụng, nắm lấy các điều hữu dụng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm trong khi được sanh lên thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng. Nhờ đó, hành giả bỏ đi các pháp không có lợi ích, nắm lấy các pháp có lợi ích, bỏ đi các pháp không hữu dụng, nắm lấy các pháp hữu dụng. Tâu đại vương, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là như vậy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, ta nói rằng niệm quả là có lợi ích về mọi mặt.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Hạnh Trương Tuyệt vời!
Bhikkhu Indacanda Trước đây, Sư có tâm sự với Hạnh Trương là <Tu là chính> rồi sau đó mới kiểm tra với kinh điển để khẳng định sự tiến triển và củng cố niềm tin trong việc tu tập. Thì NIỆM cũng vậy, phải tu tập về Tứ Niệm Xứ rồi từ từ nghiệm ra NIỆM là thế nào. Nói thật tình, ai cũng tự hào là bản thân mình là CÓ NIỆM, nhưng coi chừng cái CÓ NIỆM ảo tưởng đó khi đối chiếu với Kinh Điển lại là cái khác. Hoặc có thể CÓ NIỆM nhưng cái CÓ NIỆM đó chỉ là ngọn lửa của cây đèn dầu ở trong cơn gió mạnh.
Hạnh Trương Sư Trung Thiện : có sự ghi nhớ chân chánh về pháp nào đang diễn tiến nơi thân, thọ, tâm hay Pháp….gọi là hướng tới thực hành Tứ Niệm Xứ.
“VỀ PHÁP NÀO ĐANG DIỄN TIẾN …..”, thưa Sư, Sati không phải là sự ghi nhớ về pháp nào đang diễn tiến ạ :) .
<<NHỜ ĐÓ, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”>>
<<“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như viên quan giữ kho của đức chuyển luân vương sáng chiều NHẮC NHỞ cho đức chuyển luân vương >>
<<Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm TRONG KHI ĐƯỢC SANH LÊN thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng>>
Hạnh Trương ôi chao Sư ơi, mong Sư hoan hỉ, hihi, vì cái thuật ngữ sati này nó … nên con đành phải canh me từng chữ, không lại không biết Phật sẽ qua nước nào nữa, hihi.
Bhikkhu Indacanda Hạnh Trương thấy văn tự nguy hiểm dễ sợ chưa! Nói thật Sư dịch vậy chứ Sư không hiểu tận tường ý nghĩa, cứ việc lắp từ lại với nhau mà thôi. Giờ đọc lại mấy chỗ Hạnh Trương làm thành chữ HOA mới giật mình, “may phước mà mình đã không bỏ đi mấy chữ đó.” Một trong những lý do Sư cứ nằng nặc không chịu bỏ đi phần Pali bên cạnh phần tiếng Việt, là để chạy tội: Lạy Phật, con hiểu sao con ghi vậy, chứ con không có nói đây là ý của Phật ạ.
Sư Trung Thiện: sư Bhikkhu Indacanda “khôn đúng Pháp” ! cần học tập
Bhikkhu Indacanda Pháp chân thật mà Sư.
Sư Trung Thiện Thưa Đ.Đ kính mến, nói đến chân thật mới thấy đây không phải là Pháp dễ thực hiện. hôm rồi, trong khi nói Pháp, đã nói sai 1 câu. ngay lập tức Trung Thiện đã dừng lại và nói rằng, câu vứa rồi sư đã nói sai. Và thấy an vui…khi dám thú nhận ngay tại đó, ngay tức thì….
Vo Trong Phi Người dịch kinh Phật có cái khổ ở chỗ này. Dịch hay, bóng bẫy, trau chuốc thì dễ đi xa nghĩa gốc, dễ mắc phải giới… nói dối. Bám sát nghĩa gốc thì người ta chê dở. Sư Indacanda dịch sát nguyên văn coi bộ an toàn!
Sư Trung Thiện Tỳ khưu nào hoán chuyển thể dạng của Dhamma là phạm giới đó, là câu văn để nguyên là câu văn, là kệ thơ, để nguyên kệ thơ…
Hạnh Trương Thưa Sư Indacanda, rất là phục Sư vì đã Sư đã kiên định dịch kinh đúng từng chữ như thế và còn song ngữ nữa. Với những người tìm pháp hành thì đây là điều quý vô cùng. Mong Sư có sức khỏe để tiếp tục công trình của mình.
Hoa Nguyen Tôi xin chép lại đoạn kinh Na Tiên về Niệm trong bản dịch tiếng Anh để tiện đối chiếu. Tôi thấy không cần dịch đoạn này ra tiếng Việt, vì chỉ một chữ đáng so sánh với bản của Sư Indacanda là “keeping check” với “lơ đễnh” .
Trích từ cuốn “The Heart of Buddhist Medition” của Nyanaponika Thera, trang 188-189:
“The Characteristic Quality of Mindfulness
King Milinda asked: ‘What is the characteristic quality of mindfulness, Venerable Sir?’
The Venerable Nagasena replied: ‘It is the quality of keeping check and of retaining.’
_’In how far, Venerable Sir, is “keeping checking” characteristic of mindfulness?’
_’If mindfulness has arisen, one keeps check of things salutary or unsalutary, blameless or blameworthy, excellent or inferior, and (other) contrasts of dark and bright; and one knows: “These are the four Foundations of Mindfulness, these are the four Right Efforts, the four Roads of Spiritual Success, the five mental Faculties and Powers, the seven Factors of Enlightenment, this is the Noble Eightfold Path”. Knowing this, one practises what ought to be practised, and does not practise what ought not to be practised; one adopts what ought to be adopted, and does not adopt what ought not to be adopted. In that way, great king, has mindfulness the quality of keeping check.’
Như vậy lời giải thích trên là “rất giống” với quan điểm của Alan Wallace trích từ link cho ở đầu đề tài này.
Alan Wallace nói:
“Một khi niệm được đánh đồng với sự chú tâm thuần túy, nó dễ dàng dẫn đến sự nhận thức lệch lạc rằng việc tu tập niệm không liên quan với giới hay với sự tu dưỡng các tâm thiện và sự gạn trừ các tâm bất thiện.”
“Nói chung, chánh niệm phải được kết hợp với sampajañña (sự biết rõ mang tính phản kỷ theo tinh thần của giới) – mặt khác, nội quán phải bao gồm sự nhận thức rõ – và chỉ khi nào 2 yếu tố này hoạt động cùng nhau thì chánh niệm mới có thể hoàn thiện mục đính nó hướng đến. Đặc biệt, trong sự tu tập Tứ Niệm Xứ, chánh niệm phải hoạt động trên nền tảng Bát Chánh Đạo: chẳng hạn, nó phải được hướng đạo bởi chánh kiến, khích lệ bởi chánh tư duy, đặt cơ sở trên chánh giới (ngữ, nghiệp, mạng), và được tu tập cùng với chánh tinh tấn.”
Alan Wallace giải thích ông nhìn vấn đề từ quan điểm của thiền Minh Sát:
“Cho nên, chú tâm thuần túy hoàn toàn không mô tả được ý nghĩa hoàn thiện của Thiền Minh Sát, nó chỉ tương ứng với giai đoạn đầu trong quá trình thực tập thiền chánh niệm”.
Hạnh Trương Em cứ tưởng là có thể đóng cái trao đổi này ở đây được rồi chứ, hihi. Chắc nhờ BS Phạm Doãn đóng giùm một phần đi ạ.
Để có thể làm rõ hơn vấn đề, theo anh Hoa Nguyen, thì Alan Wallace sẽ phân biệt thế nào là Niệm, Chánh Niệm, Tà Niệm và Thất Niệm ạ. Và theo anh hiểu thì thế nào ạ. Và anh cho ví dụ cụ thể để mình cùng nhau hiểu vấn đề.
Hoa Nguyen Xin lỗi, Sư Indacnada dịch là “không lơ đễnh”, tôi khi viết lại thiếu chữ “không”.
Hoa Nguyen Anh Hạnh Trương. Muốn biết AW nghĩ gì tạm thời đọc bài viết trên Thư Viện Hoa Sen có link ở trên. Còn tôi nghĩ gì về AW thì cũng đã nói nhiều (ở đây tôi là người nhắc tới tên AW nhiều nhất). Tôi bày tỏ khâm phục AW , nhưng đồng thời cũng viết trong các comment đầu là AW nêu hay nhấn mạnh một trong hai quan điểm khác nhau về Chánh niệm (nếu chưa có quan điểm thứ 3 thứ 4). AW cho Niêm phải hướng về thiện và xa rời bất thiện, còn quan điểm kia cho Niệm là “chú ý trần trụi”, vô tư, khách quan. Phần tôi nghĩ tuỳ giai đoạn Thiền mà chánh niệm sẽ là thế này hay thế kia, và cũng tuỳ loại Thiền, hay mục đích của hành thiền.
Hoa Nguyen Quan điểm chánh niệm “đơn thuần” hay thuần tuý (trái với quan điểm của AW) có thể hiểu qua đoạn kinh sau đây:
“Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ, tưởng sẽ chỉ là thọ tưởng; trong cái thức tri sẽ chỉ là thức tri. Như vậy là đoạn tận khổ đau” (Tiểu bộ kinh I, trang 398, bản dịch của HT Minh Châu, 1982, theo chú thích của Thích Chơn Thiện).
Thầy Chơn Thiện giải thích thêm: Cho đến khi nào chánh niệm tỉnh giác không còn việc gì để làm nữa, nghĩa là cho đến khi nào mà các phản ứng tâm lý tham ái và chấp thủ bị loại ra hết ngoài cái nhìn, ngoài sự quan sát hay theo dõi các pháp của hành giả, thì cho đến khi ấy khổ đau được hoàn toàn đoạn tận, đấy là điểm cuối cùng của lộ trình tu tập giải thoát.
Hà Anh Nguyễn con luôn hoan hỷ với các bài post của bác Phạm Doãn Sadhu Sadhu
Phạm Doãn @ Nguyen Dieu Ha Anh: Chỉ là giúp gom các comments vào một chủ đề thôi. Sau này dễ tìm lại để đọc!
Hiếu Nguyễn @Anh Hạnh: Hôm nay, sau khi hành thiền, em bắt đầu hiểu được: niệm (sự ghi nhớ nhắc nhở), và sự chú tâm là 2 thứ khác nhau. Em cũng bắt đầu hiểu ý nghĩa của từ “thiết lập” và tác dụng “phòng hộ”. Cách dịch và dùng từ rất tuyệt vời. Xin cảm ơn Sư Bhikkhu Indacanda.
Phạm Doãn Hơn tháng nay tôi bệnh nặng. Không kịp đọc đủ các comments. Hôm nay mới khỏe lại. Lưu ý các vị admins, nên cùng chung sức, ví dụ khi thấy các đề tài quan trọng được thảo luận, thì nên bỏ chút thì giờ gom chúng lại thành một document để làm tài sản cho group. Như vậy cả người mới và người cũ đều có thể truy cập lại khi cần thiết. Kính.
Tình cờ mình đọc được đoạn này của ngài Thiền Sư Ajahn Chah, có liên quan tới niệm, rất sát sao với những gì mọi người đã thảo luân:
[...] The trick is to have sati taking control and supervising the mind. Once the mind is unified with sati a new kind of awareness will emerge. The mind that has developed calm is held in check by that calm, just like a chicken held in a coop…the chicken is unable to wander outside, but it can still move around within the coop. Its walking to and fro doesn’t get it into trouble because it is restrained by the coop. Likewise the awareness that takes place when the mind has sati and is calm does not cause trouble. None of the thinking or sensations that take place within the calm mind cause harm or disturbance. [...]
Trong bài gốc tiếng Anh, sati để nguyên, không được dịch. Awareness, mindfulness là những từ khác. Ngài thiền sư cũng nêu rõ tác dụng của thiết lập niệm, tạo một “hàng rào bảo vệ”.
Đây là link của bài viết đầy đủ: http://www.what-buddha-taught.net/Books/Ajahn_Chah_Meditation.htm
Hiếu Nguyễn Bài này tương ứng với Chương 17: Thiền định, của cuốn sách “Suối nguồn tâm linh”. Nhưng người dịch trong sách dịch Sati là Rama Bhik
Không có sự khác biệt giữa Niệm( Sati) và Chánh Niệm( Sammāsati). Trong Pali từ niệm (Sati) không có trường hợp nào là xấu cả.
Theo Abhidhamma thì Niệm ( Sati) là Tâm sở Tịnh Hảo( Sobhanacetasika) liên kết với 59 tâm Tịnh hảo. Nêu những tâm Thiện như khi làm phước bố thí, giữ giới, hành Thiền đều có bóng dáng của Niệm. Còn sự chú tâm đơn thuần có trường hợp là Niệm, có trường hợp không có Niệm. Sự chú tâm này đôi lúc là Tầm( Vitakka) và Tứ ( Viāra).< Các vị học VDP xin kiểm lại>.
Trường hợp ví dụ như trên mà Hanh Truong đã đề cập, hoặc một ví dụ khác là con hổ chú tâm để săn mồi. Nó luôn hướng đến đối tượng< Tầm-Vitakka> và giữ tâm liên tục trên đối tượng là con mồi< Tứ-Vicāra>.
Sự chú tâm này có khi là nguy hiểm, khi một số vị hành Thiền họ nhớ lại những tư tưởng về Dục, hoặc những tư tưởng bất thiện khởi lên liên tục làm cho vị này có vẻ ” Định” trong vài tiếng đồng hồ.Nhưng mà định tâm này là Tà Định ( Micchāsamadhi).
Một điều rất khó cho ta biết là khi nào sự chú tâm đó là có Niệm hay không, có lẽ là phải căn cứ vào mục đích của hành động đó là Thiện hay Bất Thiện.
Với nhiều vị hành Thiền Minh sát , họ có thể thấy rõ những hoạt động tưởng như vô thức như duỗi chân co tay hay thở vào thở ra đều có sự tác động của tâm, và họ có thể thấy ra cái tác ý đó Thiện hay là Bất Thiện.
Pháp môn Tịnh-Độ trong kinh điển Pali
Đăng trong: 14/03/2012 Filed under: Thảo Luận Leave a comment »Pháp môn Tịnh Độ trong kinh điển Pàli
Toại Khanh
Người Phật tử Việt Nam xưa nay thường biết đến khái niệm Tịnh Độ qua các kinh nói về Phật Di Đà (Amitàbhasutra và Sukhavativyùhasutra ) từ Hán Tạng, vốn được phiên dịch từ kinh điển Sanskrit. Ở đó, cõi Tịnh Độ hay Cực Lạc (từ Phạn ngữ là Sukhavatì) được mô tả là một cảnh giới tuyệt vời với tất cả những thứ du dương, mát mẻ, thơm ngát và không có chuyện đói lạnh. Con đường dẫn đến cõi này có thể chỉ gói gọn trong công phu trì niệm hồng danh Phật Di Đà. Ngoài sự thanh tịnh có được từ việc nhất tâm trong lúc niệm Phật Di Đà, oai lực của Ngài cũng thừa sức tiếp dẫn vong linh đương sự (tức người niệm Phật) vãng sinh về thế giới Tịnh Độ của Ngài để họ tiếp tục tu hành trong điều kiện thuận lợi hơn xưa gấp triệu lần. Trên ấy giữa người với người không hề biết tương tranh, thù hận vì ở đó không có chuyện chiếm hữu lợi danh như ở cõi Sa Bà nhiều kiếp nạn này.
Nhưng đó là theo Hán tạng, nguồn giáo lý chủ đạo của hệ Phật giáo Bắc truyền. Trong bài viết này ta thử tìm hiểu vấn đề qua kinh điển Pàli, nguồn giáo lý căn bản của Phật Giáo Nam phương, xem sao. Dĩ nhiên, trong Tam Tạng Pàli cũng có khái niệm Tịnh Độ (nếu ta muốn gọi thế) với những những trình bày thật rõ ràng về cảnh giới này, những cư dân ở đó và con đường dẫn đến cảnh giới Tịnh Độ, tức phép cầu vãng sanh theo kinh điển Nam Truyền.
I- CÕI TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI
Trước hết, cõi Tịnh Độ được biết đến trong kinh điển Pàli qua danh từ Suddhàvàsa, còn được dịch là Tịnh Cư, theo lối chiết tự Suddha (thanh tịnh) và Àvàsa (chổ ở ). Vậy Suddhàvàsa cũng có thể được dịch là Tịnh Độ, Tịnh Thổ. Thậm chí chữ Pàli này còn gần gũi với chữ Tịnh Độ, Tịnh Thổ hơn là Sukhavati (Chốn An Lạc), một chữ chỉ có thể xem là tương đương với từ Sugati (Lạc Cảnh, Thiện Thú) trong kinh điển Pàli, chỉ chung cho các cõi nhân thiên.
Theo các Chú Sớ A Tỳ Đàm, có tất cả 5 cõi Tịnh Độ, nằm trong 16 cõi Phạm thiên Hữu Sắc, và là chổ tái sanh của các bậc Thinh Văn Bất Lai hay còn gọi là A-Na-Hàm (Anàgàmi, Người-Không-Còn-Trở-Lại-Các-Cõi-Dục-Giới). Tuy cảnh giới này chỉ gồm toàn các vị Bất Lai và La Hán (chứng La Hán sau khi sanh về đây), nhưng trên căn bản vì vẫn là cõi Hữu Sắc nên ở 5 cõi Tịnh Độ này vẫn có những lâu đài, hoa viên rất trang nghiêm, dĩ nhiên không phải là nơi chốn hưởng thụ, mà đó chỉ là những dấu vết tối thiểu của một cõi Ngũ Uẩn [*]. Về tuổi thọ, chư thánh Bất Lai ở cõi thấp nhất trong 5 cõi Tịnh Độ là cõi Vô Phiền (Avihà) có thọ mạng 1000 đại kiếp, cõi kế đến là Vô Nhiệt (Àtappà) có thọ mạng 2000 đại kiếp, cõi thứ ba là Thiện Hiện (Sudassà) có thọ mạng 4000 đại kiếp, cõi thứ tư là Thiện Kiến (Sudassì) có thọ mạng 8000 đại kiếp và cõi Sắc Cứu Cánh (Akanittha) có thọ mạng 16000 đại kiếp.
Do có những lúc trãi qua một thời gian quá dài không có chư Phật ra đời độ sinh, nhân số trên 5 cõi Tịnh Độ chỉ có giảm mà không được bổ sung nên cũng có những thời điểm 5 cõi này không tiếp tục tồn tại.
II -CƯ DÂN TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI
Trước tiên là vài hàng trình bày đại lược về 4 tầng Thánh Trí làm nên 4 bậc thánh nhân và chính đức Phật cũng được kể vào đó. Sơ Quả hay Tu Đà Huờn (Sotàpatti, Dự Lưu ), còn được gọi là Thất Lai, người không thể tái sanh quá 7 lần, là vị đã chấm dứt hoàn toàn 3 thứ phiền não Thân Kiến (nôm na là chấp kiến trong 5 Uẩn), Hoài Nghi (nghi ngờ về Phật Pháp nói chung) và Giới Cấm Thủ (chấp trước các tín điều mù quáng). Ở một số vị, thánh trí Sơ Quả chỉ là một giai đoạn thoáng qua trước khi hoàn tất các tầng thánh trí cao hơn. Như trường hợp đức Phật hoặc các vị Thinh Văn tốc chứng. Nhưng cũng có lúc giai đoạn này kéo dài trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều năm hoặc vài kiếp sống (dĩ nhiên không quá 7 kiếp). Sớ Giải Trường Bộ ghi rằng thiên vương Đế Thích hiện nay là một vi thánh Sơ Quả. Khi hết tuổi thọ, ngài sẽ sinh xuống nhân gian làm Chuyển Luân Vương và chứng đắc Nhị Quả Tư Đà Hàm. Sau đó sanh lên Đao Lợi Thiên chứng Tam Quả A Na Hàm và lần lượt tái sanh ở đủ 5 cõi Tịnh Độ, bắt đầu là cõi Vô Phiền. Cuối cùng ngài sẽ chứng quả La Hán và nhập diệt ở cõi Sắc Cứu Cánh.
Tầng thánh trí thứ hai là Nhị Quả Tư Đà Hàm. Ngoài 3 phiền não đã chấm dứt ở tầng thánh trước, quả vị này còn làm giảm nhẹ Dục Ái và Sân Hận. Do chỉ còn có thể tái sanh cõi Dục Giới một lần nữa thôi, nên quả vị này còn được gọi là Nhất Lai (Sakadàgàmì).
Tầng thánh thứ ba là Tam Quả A na Hàm, chữ phiên âm từ tiếng Pàli là Anàgàmi, nghĩa là bậc Bất Lai, người không còn trở lui các cõi Dục Giới nữa ( có tất cả 11 cõi Dục Giới). Theo A Tỳ Đàm Tạng Pàli thì do đã chấm dứt Dục Ái (niềm tham luyến trong ngũ trần) và Sân Hận nên vị thánh Tam Quả trong trường hợp không thể chứng La Hán rồi nhập diệt ngay đời này thì chỉ có hai con đường để đi:
A- Nếu đã chứng đắc Ngũ Thiền thì sẽ tùy theo khả năng mạnh yếu của Ngũ Quyền (Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ) mà sanh về cõi nào đó trong 5 cõi Tịnh Độ. Tín Quyền nổi trội thì sanh về cõi Vô Phiền, Tấn Quyền hùng hậu thì về cõi Vô Nhiệt, Niệm Quyền hùng hậu về cõi Thiện Hiện, Định Quyền hùng hậu thì về cõi Thiện Kiến, Tuệ Quyền thâm hậu thì sanh về cõi Sắc Cứu Cánh (Pàli gọi là Akanittha, Không-Thứ-Gì-Yếu-Kém). Ở cõi Tịnh Độ thứ năm này toàn bộ Ngũ Quyền đều được sung mãn, vì đây là nơi chốn sau cùng để một vị Bất Lai chứng quả La Hán và nhập diệt.
B- Trong trường hợp vị thánh Bất Lai chưa chứng qua một tầng thiền định nào, tức chỉ có trí tuệ Thiền Quán (Vipassanà) mà không từng tu tập thiền Chỉ (Samatha) thì lúc mạng chung, vị này do khả năng ly dục vô sân tuyệt đối nên tối thiểu cũng thành tựu Sơ Thiền trước khi mạng chung ở cõi Dục giới và như vậy cũng đủ để sanh về cõi Phạm Thiên thấp nhất là Phạm Thiên Sơ Thiền.
Do túc duyên và trình độ tu chứng có khác nhau nên giữa các bậc thánh Tam Quả cũng có vài sai biệt, theo Manorathapurani, Chú Sớ Tăng Chi Bộ (Phần Tika):
- Antaràparinibbàyì (Tiền Bán Niết Bàn): vị Bất Lai chứng La Hán khi chưa sống hết phân nửa thọ mạng cõi Tịnh Độ nào đó trong 5 cõi.
- Upahaccaparinibbàyì (Hậu Bán Niết Bàn): Chứng La Hán sau khi sống hơn nửa thọ mạng ở cõi Tịnh Độ nào đó.
- Uddhamsoto Akanitthagàmì (Luân Lưu Niết Bàn): Do căn tánh không xuất sắc, có vị Bất Lai phải lần lượt sanh đủ 5 cõi Tịnh Độ mới chứng quả La Hán rồi nhập diệt ở cõi Tịnh Độ cao nhất.
- Asankhàraparinibbàyì (Bất Lao Niết Bàn): Vị Bất Lai có thể chứng La Hán mà không cần nhiều cố gắng.
- Sasankhàraparinibbàyì (Cần Lao Niết Bàn): Vị Bất Lai phải nhiều nổ lực mới có thể chứng La Hán.
Tầng thánh trí thứ tư chính là quả vị La Hán, người chấm dứt toàn bộ phiền não. Theo A Tỳ Đàm Pàli thì có 3 quả vị La Hán: Chư Phật Chánh Đẳng Giác (sammàsambuddha hay Sabbannubuddha – Toàn Giác) cũng là những vị La Hán nhưng do tự mình chứng đắc và là đạo sư hướng dẫn cho những người hữu duyên chứng đắc La Hán. Những vị La Hán đệ tử này được gọi là Thinh Văn Giác (Sàvakabuddha). Quả vị La Hán thứ ba là Độc Giác Phật (Paccekabuddha), những vị tự mình chứng ngộ La Hán nhưng không thể hướng dẫn người khác chứng ngộ La Hán. Kinh điển Hán Tạng còn gọi Độc Giác Phật là Duyên Giác Phật vì cho rằng các ngài nhờ liễu ngộ nguyên lý Duyên Khởi mà giác ngộ (cách nghĩ này bắt nguồn từ những giai thoại về chư Phật Độc Giác trong Chú Sớ Tiểu Bộ Kinh, một trong những bộ phận kinh điển từng làm nền tảng cho nhiểu kinh luận hậu tác, ai từng đọc kỹ các bộ A Hàm sẽ thấy rõ điều này). Kỳ thực, nếu đọc kinh Đại Duyên trong Trường Bộ Kinh, ta sẽ thấy lý Duyên Khởi và lý Tứ Đế (vẫn bị hiểu lầm là dành riêng cho Thinh Văn) vốn dĩ chỉ là một. Trong Trung Bộ Kinh, đức Phật đã xác định ai thấy lý Duyên Khởi chính là thấy Pháp và ngược lại. Đồng thời, không hề có chuyện một người giác ngộ lý Tứ Đế mà lại mơ hồ về lý Duyên Khởi hay ngược lại. Tất cả quả vị La Hán vừa nêu trên đây luôn giống nhau về khiá cạnh giác ngộ các pháp cần yếu (như Tứ Đế, Duyên Khởi,..), chỉ khác ở hai điểm chính: Tự mình hiểu ra hay phải nhờ thầy hướng dẫn, và điểm thứ hai là ngoài trí tuệ giác ngộ có còn khả năng hiểu biết sâu rộng những gì nằm ngoài lý tưởng giác ngộ hay không. Xét về khía cạnh này, chỉ có chư Phật Chánh Đẳng Giác là viên mãn. Trong bài viết này chúng ta chỉ đặc biệt nhấn mạnh quả vị Bất Lai, vì đề tài ở đây là các cõi Tịnh Độ.
III- PHÉP VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THEO KINH ĐIỂN PÀLI
Vãng sanh vẫn được dùng song song với chữ siêu sanh, nhưng theo tinh thần A Tỳ Đàm Pàli mà nói thì Siêu Sanh còn có thể được hiểu là vượt thoát tái sanh, một điều chỉ thực hiện được bởi một vị La Hán. Như vậy trong trường hợp vị Bất Lai sanh về các cõi Tịnh Độ chỉ có thể gọi là Vãng Sanh. Và nếu phải trả lời câu hỏi về con đường vãng sanh Tịnh Độ, thì như tất cả những gì vừa nêu phần trên, ta hoàn toàn có thể nói rằng Vãng Sanh Tịnh Độ chỉ là một phần đường trên hành trình giải thoát của một vị Thinh Văn, và như thế cái gọi pháp môn Tịnh Độ hay con đường vãng sanh trong trường hợp này cũng đồng nghĩa với hành trình Tam Học, hành trình Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, nói chung là hành trình 37 Bồ Đề Phần. Các pháp trong 37 Bồ Đề Phần đối với nhau chỉ là mối quan hệ Tương Tức: Cái này chính là cái kia, trong cái kia có cái này.
Đã nói rõ ràng như vậy thì lời đáp cho câu hỏi về con đường vãng sanh lúc này đã là toàn bộ những gì mà ta vẫn gọi là Phật Pháp và theo cách hiểu này, pháp môn Tịnh Độ cần thiết cho tất cả mọi người, chỉ trừ những vị nuôi hạnh Bồ Tát, muốn trở thành một đức Phật Chánh Đẳng Giác trong tương lai. Một khi đã chấp nhận ghé bến Tịnh Độ thì không thể đi xa hơn nữa. Bởi theo kinh điển Pàli chỉ có hàng Thinh Văn mới có thể rơi vào trường hợp kéo dài thời gian sau khi chứng ngộ một quả vị Hữu Học nào đó, chỉ vì khiếm khuyết túc duyên. Bởi rõ ràng 5 cõi Tịnh Độ chỉ là trạm trung chuyển cho những người chậm bước và điều này dĩ nhiên không thể xảy ra đối với chư Phật.
Đồng thời, chiếu theo tinh thần căn bản của Phật Giáo mà nói thì khi nhắc đến pháp môn Tịnh Độ, ta còn phải định nghĩa lại chữ CẦU trong CẦU VÃNG SANH vì Cầu Vãng Sanh không hề có nghĩa là chờ đợi sự tiếp dẫn của bất cứ ai, mà phải là sự lên đường bằng chính đôi chân của mình. Vì sao lại thế? Xin thưa: Khi ta nói ai đó đã sáng thế có nghĩa là ta đang gián tiếp nguyền rủa kẻ đã tạo nên một thế giới khổ nhiều hơn vui, và khi ta cường điệu cái gọi là oai lực gia trì của chư Phật có nghĩa là ta đang thầm trách các Ngài khi Phật lực thì trùng trùng nhưng người khổ vẫn cứ điệp điệp.
Mong thay!
TOẠI KHANH
FLORIDA, MÙA TỰ TỨ 2005
[*] Theo A Tỳ Đàm Pàli, trong cái gọi là thế giới này gồm có 31 cõi với 11 cõi Dục giới (có đủ 5 uẩn), 16 cõi Sắc giới (trong đó có cõi Vô Tưởng, chỉ có Sắc uẩn mà thôi), và 4 cõi Vô Sắc (chỉ có 4 uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xin xem thêm trong các sách Abhidhammatthasangaha (Thắng Pháp Tập Yếu Luận, bản dịch của ngài Minh Châu), The Essence Of Buddha Abhidhamma của giáo sư Mehm Ti Mon (sách miễn phí trên Internet), Chúng Sanh và Sinh Thú của ngài Jotikàcariya (bản tiếng Việt của Toại Khanh)…
-ooOoo-
Về việc hồi hướng phước báu
Đăng trong: 14/03/2012 Filed under: Thảo Luận Leave a comment »Về việc hồi hướng phước báu
Bhikkhu Indacanda
HỒI HƯỚNG PHƯỚC BÁU ĐẾN THÂN BẰNG QUYẾN THUỘC ĐÂ QUÁ VÃNG:
(Trích Petavatthu – Chuyện Ngạ Quỷ, xem ở www.paliviet.info)
Nhân lúc đọc kiểm tra lại tập Kinh Petavatthu – Chuyện Ngạ Quỷ, thấy câu chuyện này hay và súc tích nên post trọn vẹn để thuận tiện cho Bà Con Cô Bác đọc và suy nghĩ. Ở Sri Lanka, sau khi cúng dường cơm nước, thí chủ được hướng dẫn đọc câu Pali này 3 lần, đọc rõ thành tiếng: ‘Idaṃ me ñātīnaṃ hotu sukhitā hontu ñātayo = ‘‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’
3. 2.
413. Vị trưởng lão của thành phố Kuṇḍi có sự cư ngụ ở núi Sānuvāsī, có tên là Poṭṭhapāda, là vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập.
414. Mẹ, cha, em trai của vị ấy bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
415. Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ hãi, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.
416. Người em trai của vị ấy, lõa lồ, một mình trên lối đi bộ, quỳ chống hai tay, đã vội vã tiến đến và hiện hình ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.
417. Và vị trưởng lão không để ý đến, có trạng thái im lặng, đã bước đi. Và người ấy đã cho vị trưởng lão biết rằng: ‘Tôi là em trai, đã trở thành ngạ quỷ.
418. Thưa ngài, mẹ và cha của ngài bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
419. Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ hãi, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.
420. Là người có lòng bi mẫn, xin ngài hãy thương xót. Xin ngài hãy bố thí rồi chỉ định (việc ấy là) dành cho chúng tôi. Nhờ vào vật thí đã được ngài bố thí, những kẻ có nghiệp ghê rợn sẽ được nuôi sống.
421. Sau khi đi khất thực, vị trưởng lão và mười hai vị tỳ khưu khác nữa đã tụ tập tại một chỗ vì nguyên nhân phân phối vật thực.
422. Vị trưởng lão đã nói với toàn bộ tất cả các vị ấy rằng: ‘Xin các vị hãy cho tôi phần đã nhận được, tôi sẽ thực hiện bữa ăn dâng đến Hội Chúng, vì lòng thương xót các thân quyến.’
423. Các vị đã trao cho vị trưởng lão. Vị trưởng lão đã thỉnh mời hội chúng. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
424. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì vật thực đã được sanh lên ngay lập tức.
425. (Vật thực) là sạch sẽ, hảo hạng, được đầy đủ, có nước xúp với nhiều gia vị. Kế đó, người em trai đã hiện ra, có sắc vóc, có sức mạnh, có sự an lạc.
426. ‘Thưa ngài, có nhiều thức ăn rồi. Xin ngài hãy nhìn xem chúng tôi bị lõa lồ. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được vải vóc.’
427. Sau khi góp nhặt những mảnh vải rách từ nơi đống rác, vị trưởng lão đã chế biến vải vụn thành y phục rồi dâng đến Hội Chúng bốn phương.
428. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’
429. Khi được chỉ định thì các vải mặc đã được sanh lên ngay lập tức. Kế đó, được mặc vải đẹp, (người em trai) đã hiện thân ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.
430. ‘Thưa ngài, các vải vóc ở lãnh thổ của đức vua Nanda nhiều chừng nào, thì các vải vóc và các y phục của chúng tôi còn nhiều hơn thế ấy.
431. Chúng bằng tơ lụa, sợi len, sợi lanh, và bông vải. Chúng dư thừa và có trị giá cao, hơn nữa chúng treo lòng thòng ở không trung.
432. Chúng tôi đây chỉ khoác vào cái nào thích ý. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nhà ở.’
433. Sau khi làm cái cốc bằng lá, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
434. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì các ngôi nhà đã được sanh lên ngay lập tức.
435. Những ngôi nhà mái nhọn và các chỗ ngụ là được phân chia thành từng phần cân xứng. Các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây như thế nào thì ở loài người không có như thế này.
436. Ở các cõi trời như thế nào thì các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây như thế ấy. Trong lúc tỏa sáng rực rỡ, chúng chiếu sáng bốn phương ở xung quanh.
437. ‘Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nước uống.’ Sau khi làm đầy bình đựng nước, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương.
438. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’
439. Khi được chỉ định thì nước uống đã được sanh lên ngay lập tức. Có các hồ sen sâu thẳm, hình chữ nhật, đã khéo được hóa hiện ra.
440. Có nước trong, có những bến bãi xinh đẹp, mát mẻ, có mùi thơm, được che phủ bởi nhiều loại sen đỏ và sen xanh, tràn ngập nước và phấn hoa.
441. Sau khi tắm và uống nước ở nơi ấy, họ đã xuất hiện cho vị trưởng lão thấy (nói rằng): ‘Thưa ngài, có nhiều nước uống rồi. Các bàn chân của chúng tôi bị nứt nẻ đau đớn.
442. Trong khi lang thang, chúng tôi đi khập khiễng ở nơi sỏi đá, ở gai nhọn của cỏ kusa. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được phương tiện di chuyển.’
443. Sau khi nhận được chiếc giày, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
444. ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì ngay lập tức các ngạ quỷ đã đi đến bằng cỗ xe.
445. ‘Thưa ngài đại đức, chúng tôi đã được thương xót với vật thực, với y phục, với ngôi nhà, với sự bố thí nước uống, với sự bố thí phương tiện di chuyển, và cả hai. Thưa ngài, chúng tôi đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.”
Chuyện Ngạ Quỷ ở Núi Sānuvāsī là thứ nhì.
THẢO LUẬN
Anh Phan:
Giữa việc dân gian đốt vàng mã là áo quần, mũ nón, giày dép, mô hình ngôi nhà và xe hơi,…với việc làm phước bố thí các vật dụng thiết yếu cho Hội chúng có liên hệ gì không? Theo câu chuyện trên thì sự hồi hướng sau khi bố thí là có hiệu quả tức thì và có lợi lạc. Còn việc đốt vàng mã nghe nói chỉ làm thỏa mãn tâm tính của người thân đã quá vãng thôi, tức chỉ cho họ cái Tưởng là người thân còn sống có quan tâm đến họ.
Con xưa nay trong tư gia không bao giờ đốt vàng mã, mặc dù trong xóm họ đốt như cháy rừng, thà làm một việc phước nhỏ mà hồi hướng xung quanh ngôi nhà còn hơn :)
Hiếu Nguyễn:
Xin thành kính tri ân Sư đã dịch bộ Petavatthu.
Từ khi đọc bộ Petavatthu này, con đã làm được nhiều điều phước thiện để hồi hướng phước cho các thân bằng quyến thuộc 2 bên nội ngoại.
Thực không có bộ Kinh nào khuyến khích/cưỡng ép/thúc đẩy (:D) mọi người làm các việc phước thiện bằng bộ Petavatthu này.
Ngoài ra sau khi đọc trọn bộ xong, con đã có thêm kiến thức về các cảnh, cõi và về loại chúng sinh Peta này, theo kinh điển Pali.
Hoa Nguyen:
Hồi hướng công đức, phước đức đã có từ thời Phật giáo Nguyên Thuỷ (hay từ Theravda), như thấy ở đây, qua các chuyện kể về ngạ quỷ. Ở Bắc tông, hồi hướng đi xa hơn, vì chịu thêm ảnh hưởng của nhiều tín ngưỡng, tôn giáo có trước Phật giáo ở các điạ phương. Từ niềm tin về hồi hường đi tới niềm tin ở tha lực (hồi hưóng là tác động của tha lực), cho nên dễ thấy có sự phát triển về các hình thức niệm Phật để được Phật , Bồ tát hộ trì, hay niệm chú để tâm tương ưng với chư Phật.
Phạm Doãn:
Tôi tin là có sự câu thông giữa các cá thể, nhất là khi cùng huyết thống. Các đạo sư Ấn Độ hay nói “Tất cả là một, một là tất cả”. Nhưng để hình dung sự cúng dường, hồi hướng với sự hiện lên các vật thực, nhà cửa v.v.. thì quả là lúc này tôi chưa hiểu thấu được! Tôi chỉ hình dung được là: khi ta làm được nhiều công đức, thành tâm thương tưởng, có ý giúp đỡ thân nhân quá vãng thì các vong hốn trong cõi Peta đó sẽ được an ủi, bớt khổ đau, sớm được giải thoát lên các cảnh giới tốt hơn…và chỉ hình dung được như thế thôi!
Phạm Doãn:
Đoạn kinh này:
“413. Vị trưởng lão của thành phố Kuṇḍi có sự cư ngụ ở núi Sānuvāsī, có tên là Poṭṭhapāda, là vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập. …”
mô tả trải nghiệm trong cõi Peta của một người tu tập thiền định thành tựu!
Có lẽ vì thế, mà khi cúng dường, hồi hướng cho thân nhân, thì thần thông của ngài có thể thực hiện được như vậy!
Phạm Doãn:
Vài ngày nữa là đến giỗ cha tôi.
- Cả nhà vẫn giữ truyền thống thờ phụng, cúng bái ông bà. Con cháu vẫn mong làm gì đó để hồi hướng cho người đã chết.
- Nếu người đã mất, có được những con cháu đức hạnh, hay làm được nhiều điều thiện trong đời, thì chắc họ cũng được an ủi phần nào (qua tương ưng của tâm), có thể là được sớm thoát khỏi cảnh giới khổ!
- Còn về những nghi lễ được đẩy lên đến mức tin tưởng tha lực, dị đoan, tệ nạn: Thày tụng, thày cúng, cầu siêu, đốt vàng mã v.v…(mong thực hiện giải thoát cho người đã chết) thì Đức Phật đã có giải thích rõ về những tà kiến này trong: Kinh: Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết (S.iv,311). Đại ý kinh: Chẳng ai có thể xóa nghiệp hay thực hiện giải thoát cho người khác được!
- Kinh Tương Ưng, Tập 4, thiên 6 xứ, [42] chương 8, Tươngưng thôn trưởng
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-42.htm
Tuong Ung – Tap 4 – Chuong 42
Hoa Nguyen
”Thày tụng, thày cúng, cầu siêu” có thể giúp thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỷ hay địa ngục. Vì hương linh khi nghe kinh Phật có thể sinh tâm sám hối (có tụng kinh sám hối trong các lễ đó), quy ngưỡng Phật pháp, tội sẽ nhẹ đi vàđược siêu thoát. Chắc chắn siêu thoát không phải nghĩa “giải thoát” , mà chỉ là thoát ra khỏi cảnh khổ đang sống trong đó. Tâm từ của người theo Bồ tát đạo rải rộng khắp mọi chúng sinh, không phân biệt (đó là nói theo nguyên tắc, đạo lý chung). Ngay trong đời sống, một người bình thường có thể giúp được một người bình thường khác gặp khổ nạn nếu dùng đúng phương tiện, nên suy ra con người có thể giúp vong linh với phương tiện thích hợp. Kinh Nam tông không thể ghi chép hết lời Phật dạy về hơn 84 ngàn trường hợp klhác nhau ở 6 cõi luân hồi. Cho nên không thể dựa vào điều kinh Nam tông không ghi chép mà cho là không nên làm, chỉ không làm khi nào trái với lời ghi là Phật dạy.
Phạm Doãn
- Nghiệp chướng vừa là cái riêng, vừa là cái sở hữu tập thể của mọi sinh linh. Do đó, nghiệp của người này có thể tương tác với nghiệp người kia. Ở mức độ nào thì chỉ có bậc toàn giác mới thấu hiểu triệt để.
- Việc nhấn mạnh khái niệm “cứu rỗi” (Catholique) hay “cầu siêu” (PG phát triển) thành phương pháp tiêu trừ nghiệp chướng chắc chắn sẽ làm lệch con đường Chánh. Một người tự mình đã “siêu” rồi thì may ra mới có thể giúp cho người khác “siêu” được. Tâm phàm phu làm sao có thể cầu siêu cho ai được!
- Bỗng nhớ đến Thanh Hải Vô Thượng Sư, một vị cổ phật, một tái sinh của phật Quán âm (như đệ tử của ngài xưng tụng!). Sau mỗi buổi lễ “truyền tâm ấn”, ngài tuyên bố đã rửa sạch nghiệp quá khứ cho tất cả các đệ tử thọ pháp. Sau thời điểm tâm ấn, thì ai tạo nghiệp người ấy tự gánh chịu. Chính vì khả năng rửa sạch nghiệp cho người khác, mà đệ tử của ngài rất đông!
Hoa Nguyen
Tôi vừa tìm vào trang nhà Buddhanet ở bài KINH TỤNG của THERAVĀDA của PHẬT GIÁO
Dịch giả: TỊNH TÂM
(Hòa thượng HỘ TÔNG)
Ấn bản 2005
Thấy có phần (41) sau đây nhưng toàn tiếng Pali. Không dám nói là như vậy không dành cho vong VN, nhưng thật đáng tiếc vì không hiểu được nghĩa.
VI DIỆU TẠNG (PHÁP TỤ) KINH TỤNG TRONG ĐÁM CÚNG VONG NHÂN
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-nhat-tung/ktung04.htm
Kinh Tung – HT Ho Tong
Hoa Nguyen
Tôi đồng ý với ông Phạm Doãn là không có ai, hay đấng nào có thể giúp con người rửa sạch hết tội, trừ hết những sai phạm của chúng ta trong quá khứ (nhiều kiếp). Nhưng theo Phật giáo (mà tôi hiểu) khi chân thành sám hối và hứa nguyện không tái phạm thì tội sẽ được giảm rất nhiều, tâm sẽ an hơn (không còn ray rứt, buồn phiền), và như thế mới có thể làm được việc thiện trong tương lai để bù đắp, chuộc lại lỗi lầm với những người mình đã có hành động không tốt. Tất nhiên có những cái quả xấu trước kia vẫn phải trả, nhưng cũng được thêm nhiều quả thiện sau lần sám hối thực tâm đó. Thật ra, luật nhân quả không phải dễ hiểu vì do nhiều nhân duyên chằng chịt tác động (kinh Hoa Nghiêm gọi là trùng trùng duyên khởi), chỉ những bậc chứng đạo mới thấy hết các đầu mối và hậu quả. Dù sao cũng không nên hiểu một cách đơn giản, máy móc. Còn về từ “siêu thoát” chỉ có nghĩa là thoát cảnh khổ ở dưới để vượt lên cõi trên sung sướng, và cái trên này có thể là cõi trời, thậm chí là cõi người cho các loài chúng sanh ở các cõi thấp hơn. Trong các chuyện ngạ quỷ ở đây, tôi nhớ có chuyện một vong được lên cõi trời. Như thế là siêu thoát. Trong kinh ông Doãn dẫn chứng, Phật cũng dạy kẻ ăn ngay ở lành sẽ được sinh Thiên. Tôi chỉ biết ở Bắc tông có pháp tu Thập Thiện , giữ và làm 10 điều lành (khiến liên tưởng đến 10 điều răn của đạo Do Thái và Thiên Chúa), khi chết có thể lên cõi Thiên, nhưng thuộc Dục giới, thấp hơn người tu Định thành tựu được lên từ cõi Trời Sắc giới trở lên. Còn “Giải thoát” theo đạo Phật là nhập Niết Bàn, thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, ra khỏi lục đạo. Có thể người theo Bắc tông dùng chữ “siêu thoát” cũng để chỉ về cõi Cực Lạc của tông Tịnh Độ. Nhưng Cực Lạc chỉ như cõi Trời (lên được đó còn phải tu nhiều), chưa phải Niết Bàn, nhưng vong khi còn sống không niệm Phật khi chêt rồi làm sao vãng sinh về nơi đó được (theo giáo thuyết Tịnh Độ tông).
Anh Phan:
Nói về chuyện “Hộ niệm vãng sanh cực lạc quốc”, Sư phụ PA có giải thích như sau: Theo như pháp môn này, chỉ cần hộ niệm cho người sắp chết hay người đã chết thì người đó – là kẻ ác, kẻ bất nhân, kẻ cướp, kẻ giết người, kẻ suốt đời không tu tập thiện pháp,…(Không ai biết chắc tất cả xác chết kia đều là người hoàn toàn thiện) sẽ đến Nước Cực Lạc, thì chắc chắn nước ấy không còn là nơi cực lạc nữa. Vì những người này sẽ mang các tập khí, bản tính tham lam, hung hăng, trộm cắp, ngu muội lên trên đó, và như vậy trên đó cũng có những đội quân bảo an như cảnh sát, quân đội,…để canh chừng những người này. Vì vậy đừng nghĩ rằng sống làm tất cả điều ác mà chỉ cần tụng niệm một tiếng gì đó khi sắp chết là rửa sạch tất cả tội lỗi. Điều này không đúng với sự vận hành tự nhiên của Pháp.
Tứ Diệu Đế Dạ, Tứ Diệu Đế khi nghe kinh hoặc đọc kinh còn chưa siêu được, tâm sân si mạn nghi còn đầy, huống chi là lúc mình chết được nghe kinh.
Hoa Nguyen:
Pháp Hộ niệm là của tông Tịnh Độ cũng rất có ý nghĩa.
Người lúc sắp chết thường sợ hãi, luyến tiếc cuộc sống, gia đình, tài sản nên rất đau khổ khi “biết” sẽ phải lìa khỏi cõi đời, sẽ mất tất cả. Ai có thể giúp họ lúc đó vượt khỏi những đau đớn thân xác và đau khổ tinh thần như vậy là người có lòng nhân ái (còn bỏ mặc họ thế nào có phải thiếu lòng nhân không ?). Hộ niệm, tụng đọc kinh Phật trước người sắp lâm chung sẽ có giá trị lớn nếu ngày thường người đó có lòng tin ít nhiều ở kinh Phật họ đã quen nghe, quen đọc, vì câu niệm lời kinh có thể tác động lên tâm trí không còn tỉnh táo, gần mê mang của họ. Đối với người (hay có gia đình) theo Bắc tông mà đọc kinh Pali hay làm phép rửa tội thì chắc không được nhiều hiệu quả (trong việc làm giảm đau khổ) vì người sắp chết không hiểu được gì. Nhưng đa số người VN (xin dè dặt với chữ đa số” này) quen thuộc với kinh kệ Bắc tông ngay từ nhỏ, ít ra nghe và thuộc được câu niệm hồng danh Phật A Di Đà, thì nếu có nhiều người bên cạnh đồng thanh niệm danh hiệu đó, gọi là hộ niệm, chắc chắn sẽ có kết quả lên tâm trí, tâm tình, và tâm linh người sẽ ra đi. Người sắp mất sẽ nghe, có thể niệm thầm theo, và với niềm tin trong cơn tuyệt vọng, không biết bấu víu vào đâu, họ ít ra thấy đỡ sợ hãi, đau khổ hơn. Bắc tông còn tin, giai đoạn cận tử rất quan trọng đối với người phải đi đầu thai theo nghiệp, nên nếu tâm ý họ được an tịnh hơn do thiện nghiệp vừa phát sinh, họ sẽ được đầu thai vào những nơi an lạc (tin là có thể gặp lại Phật pháp dù không được vãng sinh), còn nếu tâm mang nặng sợ hãi, đau buồn sẽ dẫn họ vào còn đường luân hồi xấu ác. Với Nam tông nếu tin chết là đầu thai liền, thì có lẽ việc hộ niệm, tụng kinh cho người sắp chết nghe là không cần thiết, điều này tôi hiểu và không tranh cãi.
Với vong lời niệm Phật có tác dụng gì không ? Bắc tông giải thích là niệm Phật cho người sắp chết và cả cho vong nghe là để đánh thức chủng tử (hạt giống) Phật pháp đang nằm sâu trong tiềm thức hay thức A-lại-da của họ. Khi còn sống do nhân duyên nào đó, họ đã có dịp vun trồng, nuôi dưỡng các chủng tử thiện đó, và sau này có thể quên mất, bỏ mặc cho chủng tử thiện khô cằn, thui chột. Nhưng nếu được nhắc lại bằng hộ niệm, người sắp mất hay vong sẽ nhớ lại.
Hoa Nguyen
”Điều này không đúng với sự vận hành tự nhiên của Pháp” (Anh Phan). Vận hành tự nhiên của Pháp là thế nào, ai dám chắc mình hiểu được.
“Tứ Diệu Đế khi nghe kinh hoặc đọc kinh còn chưa siêu được, tâm sân si mạn nghi còn đầy, huống chi là lúc mình chết được nghe kinh.” Câu viết vớ vẩn như thế này (lấy mình ra làm nhân chnứg của đệ tử TL) mà có người “Like” thì lạ thật. Làm sao biết chắc mình không “siêu” khi mình còn chưa chết, và có thể vì đọc kinh như két, dẫn chứng kinh tràng giang đại hải, mà không hiểu nghĩa kinh. Còn vong cũng có nhiều loại hạng (giống như loài người) làm sao chắc là không có vong nào siêu thoát lên cõi người hay cõi trời khi nghe kinh. Kinh Nam tông kể chuyện Phật giảng kinh ở cõi Trời, kinh Bắc tông kể chuyện Bồ tát Điạ Tạng giảng kinh ở nơi điạ ngục, tin cả hai hay tin thế nào là tuỳ người.
Karmalaw Net nếu dâng lên Hội chúng ở bốn phương với lòng hồi hướng cho chúng sinh khắp nơi thì sao nhỉ? Vì nếu luân hồi suy rộng ra thì chúng sinh nào cũng từng có quan hệ cha mẹ với chúng ta cả mà?
Hoa Nguyen:
Hồi hướng cần có Tín tâm và Định lực. Nếu không có niềm tin vững về hiệu quả của hồi hướng và thiếu khả năng tập trung tâm ý cao, việc hồi hướng tuy phát khởi từ lòng thành, từ thiện tâm, cùng với công đức tạo được cũng có thể không đạt …See More
Karmalaw Net: của thiên trả địa thôi mà…
Anh Phan
Bác Hoa Nguyen: “Vận hành tự nhiên của Pháp là thế nào?” Lấy dẫn chứng như việc học văn hóa chẳng hạn (Pháp là bao trùm mọi lĩnh vực), một học sinh ban đầu phải đăng ký vào học lớp 1, không học sinh nào đốt cháy giai đoạn như ngay từ đầu đăng ký vào học đại học liền được. Nên khái niệm “siêu thoát” nghe có vẽ đốt cháy giai đoạn quá, người mà không lo tu tập thiện pháp gì cả, buông lung, làm ác thì để cho người ta trả quả khổ sau khi chết cho rồi, siêu thoát cho họ làm chi, cứ để cho họ biết khổ mà học ra bài học xương máu về cái sai trái của mình để rồi nghiệm ra cách thoát cái khổ này, người khác siêu thoát cho họ thì họ sẽ ỉ lại và cứ thế họ khổ hoài, không tự thoát khổ được, rồi lại nhờ siêu thoát giùm hoài. Đạo Phật là đạo tự mình giác ngộ mà, không ai giác ngộ giùm được ngay cả Đức Phật huống hồ là những phàm nhân, Đức Phật chỉ đường cho mà đi thôi. Siêu thoát cũng vậy, tự lo mà siêu đi không ai siêu giùm cho được.
PA hiểu “siêu” là siêu cái tâm sân, si, mạn, nghi của mình đi, chứ người khác hộ niệm cho rồi siêu lên cảnh giới an lạc như cảnh người, cảnh trời thì ai dám chắc mình làm được, kiểm chứng được.
Anh Phan
Hay “siêu” có nghĩa là “hồi hướng phước” như trên? Như vậy thì vẫn có tác dụng nho nhỏ (chỉ có một ít chúng sanh nhận được quả hồi hướng phước). Hôm nay PA có đi dự một lễ hộ niệm, nhìn kỹ thấy quý Thầy oai nghi tế hạnh rất thô tháo trong cuộc lễ, kết quả có thể tác dụng ngược, vì các vong rất nhạy cảm các trạng thái tâm lý của người sống. Tóm lại, mục đích tối thượng của đạo Phật là giải thoát khổ luân hồi, còn luân hồi còn khổ.
Hoa Nguyen
”PA hiểu “siêu” là siêu cái tâm sân, si, mạn, nghi của mình đi, chứ người khác hộ niệm cho rồi siêu lên cảnh giới an lạc như cảnh người, cảnh trời thì ai dám chắc mình làm được, kiểm chứng được.”
Cái tâm sân, si, mạn, nghi ở đây có ai dám chắc là “siêu” được. “Ai” là những ngjười đọc dòng chữ này. Chỉ là mong cầu như thế thôi, dù đang tu luyện Minh sát hay An chỉ. Dù qua được cái sân thì cái si vẫn còn nặng lắm. Còn Niết bàn làm sao kiểm chứng được, khi những điều trong Vi Diệu pháp cũng thấy là khó kiểm chứng, chỉ đón nhận bằng niềm tin. Nên khiêm tốn để nhận đạo Phật là tôn giáo nên đầy dẫy niềm tin không kiểm chứng được hết. Ai tin thì theo, hay tin gì thì làm theo nấy, đừng tưởng mình “duy lý” mà chê bai kẻ khác “mê tín”. Thật ra cái gọi là “duy lý” đó là do tinh thần duy vật được rao giảng, ép buộc phải tin trong thời gian gần đây thôi.
Hoa Nguyen
Trong lần giảng về Thiền ở Đài Loan, có người hỏi thiền sư Pa-Auk Tawya Sayadaw (U Acinna) về trường hợp cận tử và ngài trả lời như sau.
Hỏi : Trường hợp một người sắp chết, nếu có chánh niệm mạnh mẽ, họ có thể ngăn một nghiệp tướng (kamma nimitta) thuộc bất thiện nghiệp hay thiện nghiệp trước đó không cho khởi lên được không?
Đáp: Niệm mạnh và vững chắc có thể ngăn các nimitta (tướng) như vậy không cho khởi lên; nhưng niệm mạnh và vững chắc là như thế nào? Nếu một hành giả nhập thiền (jhāna), và duy trì thiền ấy hoàn toàn vững chắc cho đến thời điểm chết, hành giả có thể nói rằng niệm thuộc thiền ấy là mạnh và vững chắc. Loại niệm đó có thể ngăn một tướng bất thiện hoặc một tướng thuộc thiện dục giới không cho khởi lên. Nó chỉ bắt lấy đối tượng thiền, như tợ tướng hơi thở hoặc tợ tướng kasiṇa trắng chẳng hạn.
Một loại niệm mạnh và vững chắc khác là niệm kết hợp với Minh Sát Tuệ. Nếu Minh Sát Tuệ của hành giả là Hành Xả Tuệ (sankhārupekkhañāṇa), và nếu hành giả hành Minh sát (vipassanā) cho đến sát-na cận tử, thì tốc hành tâm cận tử của hành giả là minh sát tuệ kết hợp với niệm mạnh và vững chắc. Loại niệm đó cũng có thể ngăn các tướng bất thiện không cho xuất hiện, cũng như ngăn các tướng thiện khác xen vào thay thế tướng Minh sát của hành giả. Tướng Minh sát ở đây là tính chất vô thường, khổ và vô ngã của một “hành” (sankhāra) đã chọn. Hành giả có thể chết với một tướng như vậy làm đối tượng cho tốc hành tâm cận tử (maranasanna javana) của mình. Nó có thể tạo ra một kiết sanh thức thuộc chư thiên (deva paṭisandhicitta) nhờ vậy hành giả được tái sanh tức thời như một vị chư thiên.
Đọc đoạn trên có thể hiểu tác dụng của Hộ Niệm đối với người đang lâm chung. Vài người không hiểu hay cố ý hiểu lầm “hộ niệm” để chỉ trích pháp này. Trước 1975, tôi nhớ ở miền Nam có từ (nữ) “hộ sinh” và được chế diễu khi gán cho có nghĩa là “đẻ dùm”. Thật ra có nghĩa là giúp đỡ việc sinh nở. Hộ niệm không phải niệm dùm mà giúp cho người sắp mất niệm Phật khi người đó quá yếu sức không tự niệm thành tiếng được. Người bệnh lắng nghe và có thể niệm thầm theo. Bây giờ cũng có máy niệm Phật, mà người nghe bằng earphone có thể niệm thầm theo (không gây trở ngại cho người khác ở chung quanh). Ai nghi ngờ về “pháp” nghe kinh, niệm Phật bằng máy phát , có thể đọc lời Đức Phật nói trong kinh “Sotānugata” (Người Nghe Kinh) :
“So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjhati. Tassa tattha sukhino dhammapadā plavanti. Dandho bhikkhave satuppāto, atha so sutto khippameva visesagāmīhoti.
(Này các tỳ khưu, một kẻ phàm phu (puthujjana) được nghe Pháp, thường lập lại Pháp, suy tư về Pháp, thể nhập trọn vẹn Pháp với minh sát tuệ, nếu người ấy chết, người ấy có thể tái sanh vào một trong những cảnh giới chư thiên, ở đấy các hành
Anh Phan
Phương tiện gì cũng có cái dụng ít nhiều của nó, vì thế nó mới tồn tại được, vấn đề cần bàn là tính tự lực hay tha lực, tính hiệu quả trong việc hộ niệm hay hồi hướng phước. Hồi hướng phước cũng có hạn chế như tác dụng quá nhỏ bé hay vô tác dụng tùy việc phước lớn nhỏ, sự thành tâm, sự chấp nhận và số lượng đối tác được nhận.
Vấn đề chánh niệm đúng sai hay mạnh chừng nào để ngăn ngừa tâm tán loạn. Cách đây khoảng 1 tháng, PA tự nhiên khởi lên một bệnh đau đôi chân từ mông trở xuống (lần đầu tiên từ nhỏ đến giờ, không biết lý do), 3 đêm liên tiếp không ngủ được, nằm ngồi không được, chỉ đi và đứng thì giảm đau, thử các cách như niệm hơi thở, trú trợ tướng hơi thở, đọc kinh niệm “Araham Đức Phật trọn lành” thì đều rất khó chịu (cũng không muốn đi bác sỹ, vì xưa nay bệnh nặng nhẹ chỉ dành hành thiền 1,2 ngày là tự khỏi), đêm thứ 3 cắn răng nhìn trực diện cái đau của đôi chân, mặc kệ cơn đau (Niệm Thọ Đau như thực) thì tự nhiên khỏi, mai đi làm lại bình thường. Điều này nói lên rằng nếu không dựa vào chính mình và đúng phương pháp thì khổ đau vẫn dài dài, cận tử nghiệp thì cảm thọ vô cùng khổ, tâm rất dễ lao xao, không khéo nghe Kinh người sắp chết lại nổi sân (như tác ý “Đau muốn chết, không đưa người ta đi chữa trị, cứ ở đó mà tụng niệm hoài”)
Anicca Anatta
Hộ niệm xuất phát từ Tịnh Độ bên Bắc Tông, phương cách hộ niệm cũng rất đơn giản ,nhờ mấy thầy cùng với thân nhân của người đang hấp hối cùng nhau niệm phật với mục đích như “trợ sức” cho người hấp hối có bớt sợ hãi và có thêm niềm tin .Nhờ đó có thể “ hên xui” mà vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc của Phật ADIĐÀ.Theo một số kinh nghiệm tôi nghe được là họ có thể thấy Phật ADIĐÀ phóng quang để rước người sắp chết về nước Tây Thiên. Những người hộ niệm thì tụng liên tục cả tiếng thậm chí cả mấy tiếng,cường độ tụng vào giờ phút cuối càng mãnh liệt đến khi nào người đang hấp hối “ lạnh” đi mà thôi …Bác Hoa Nguyen có kiến thức về Phật học rất là “thâm sâu”…bác còn có thể đem kinh pali và cả bài pháp của ngài Pa Auk ra để đối chiếu nữa. Tôi thật bái phục bác. Và hiện tại trong thời “Mạc Phap” có rất nhiều thầy Bắc Tông đã vận dụng hay “ mượn” những giáo lý bên Nguyên Thủy đem ra để hùng hồn giảng dạy nhưng sau cuối thời thì chung quy chỉ có việc niệm danh hiệu ADIĐÀ để “ vãng sanh”. Chúng ta suy nghĩ thế nào về vấn đề này? Tôi xin phép “chuộc lại” “Pháp” từ bác Hoa Nguyên chút về đoạn …………”So muṭṭhassati kālaṁ kurumāno aññataraṁ devanikāyaṁ upapajjhati. Tassa tattha sukhino dhammapadā plavanti. Dandho bhikkhave satuppāto, atha so sutto khippameva visesagāmīhoti.
(Này các tỳ khưu, một kẻ phàm phu (puthujjana) được nghe Pháp, thường lập lại Pháp, suy tư về Pháp, thể nhập trọn vẹn Pháp với minh sát tuệ, nếu người ấy chết, người ấy có thể tái sanh vào một trong những cảnh giới chư thiên, ở đấy các hành xuất hiện rõ ràng trong tâm vị ấy… ) Bên Nguyên Thủy có vài bài kinh hay thường tụng cũng tương tư như phương thức cầu siêu hay bên Bắc Tông là những bài như Samvejaniyagatha(kệ động tâm), Paticcasamuppada( Y tương sinh), Năm điều quán tưởng, và nhất là kệ Vô Thường-Khổ-Vô Ngã. Tôi nghĩ bác Hoa Nguyen nên đọc xem những bài này trước khi bác muốn nói về “ Pháp” mà Đức Phật muốn ngụ ý kẻo bác lại mang nghiệp xuyên tạc Giáo Pháp mà tôi lấy làm đáng tiếc cho bác về sau. Đức Phật có nói: “Hãy lấy mình làm nơi nương tựa cho chính mình , đừng nương tựa vào bất cứ nơi nào khác.” Tất cả những giáo lý của ngài chung quy để chỉ ra Vô Thường, Khổ, Vô Ngã,… Tam tướng này có thể dùng tư duy để lập lại, suy tư, còn việc thể nhập trọn vẹn và chắc chắn chỉ qua Thiền Minh Sát…bởi Đức Phật có dạy: “Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh tri kiến? Này các Tỷ kheo, tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tri kiến”. Khi lập
lại, suy tư và thể nhập vào pháp như vậy , (Pháp ỡ đây chính là Vô Thường , Khổ, Vô Ngã) tâm sẽ khởi sanh Chánh Kiến ,Chánh Kiến là yếu tố quan trọng và được xếp hàng đầu trong Bát Thánh Đạo,bởi sau khi Chánh kiến được sanh thì bảy chi phần còn lại cũng khởi sanh đúng theo trật tự của nó. Thiếu Chánh kiến làm sao sanh được Chánh tư duy,Chánh tinh tấn, …và nhất là Chánh Niệm .Tà kiến không bao giời khởi sanh Chánh Tư Duy hay Chánh Niệm được.Tâm có Chánh Kiến hay các tâm thiện (vô tham, vô sân và vô si), chính những tâm thiện này mới có thể giúp người đó tái sanh làm chư thiên ..chứ không phải cái tâm kinh sợ , trông đợi mình được cứu vớt bởi ai đó hay nôn chờ mình được sống an vui vĩnh hằng ở miền đất hứa nào đó. Hơn nữa trong Giaó Pháp của Đức Phật ngài chưa bao giờ thuyết về ADIĐÀ, thậm chí bên Bắc Tông cũng thừa nhận tụng niệm danh hiệu ADIĐÀ chỉ là “phương tiện” giúp những người có “căn cơ thấp tu tập mà thôi” . Nếu bac Hoa Nguyen đã có lần bệnh nặng như thế nào bác nên quán tưởng tâm một người sắp lâm chung cũng gần như vậy, rất khổ sở và yếu ớt họ cần sự yên tĩnh để Chánh Niệm, hay những tư duy thiện về Pháp chứ không phải ráng tai lên mà nghe tụng Namo ADida Phat….inh ỏi như vậy . Người đang sống khỏe mạnh nghe nữa tiếng còn thấy mệt huống chi người sắp chết. Có thể một số người muốn được như vậy nhưng một số người thì không cần thiết. Nhưng tôi nghĩ , tất cả chúng ta đều là con người như nhau, đều có trí tuệ như nhau, nên phương tiện “ hạ cấp” đó cũng không cần thiết để sử dụng trong khi có vô số các “ chánh phương tiện” mà Đức Phật đã đưa ra mà chúng ta có thể sử dụng ngay bây giờ chứ không phải chờ đến giấy phút lâm chung. …
Anicca Anatta
Tôi muôn trích thêm một số ý của Bác Hoa Nguyen đã nói là “Còn Niết bàn làm sao kiểm chứng được, khi những điều trong Vi Diệu pháp cũng thấy là khó kiểm chứng, chỉ đón nhận bằng niềm tin. Nên khiêm tốn để nhận đạo Phật là tôn giáo nên đầy dẫy niềm tin không kiểm chứng được hết. Ai tin thì theo, hay tin gì thì làm theo nấy, đừng tưởng mình “duy lý” mà chê bai kẻ khác “mê tín”. Thật ra cái gọi là “duy lý” đó là do tinh thần duy vật được rao giảng, ép buộc phải tin trong thời gian gần đây thôi” Bác hãy cẩn thận về những lời nói của mình bằng không sau này bác sẽ phải mọc rễ chịu khổ trong luân hồi dài dài, không những vậy bác còn gieo rắc hoài nghi và những tâm bất thiện khác cho nhiều người như vậy là không tốt… Nếu bác lấy Pa Auk ra để nói thì hãy nói cho đúng, đối với Vi Diệu Pháp, có thể nhiều người xem là nó quá xa vời hay không thực tế hay không đáng tin…thậm chí bên Nguyên Thủy thì đó chỉ là lý thuyết suông nằm trong chương trình giảng dạy Pháp học vì trong cách thực hành của họ chưa thể đạt đến mức độ để đối chiếu Vi Diệu Pháp.. không thấy được sự áp dụng của Abhidhamma …nhưng bên Pa Auk thì khác, họ tu tập đúng trong Tam học Giới Định Tuệ và dùng định làm nền tảng để phát triển tuệ. Do việc Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai đúng với 11 loại ngũ thủ uẫn do Đức Phật đề cập.Do vậy họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp.Và nhiều người đã chứng ngộ được Niết Bàn. Còn việc ai muốn kiểm chứng thì cứ hành theo rồi tự mình kiểm chứng chứ đừng có dùng tư kiến quá hạn hẹp của mình để lý luận về Pháp.
Phạm Doãn
- Phần đông đa số người vì không đủ trí nên đời sống tâm linh chỉ biết dựa vào tín ngưỡng, cúng bái, lễ lạy, cầu xin. Lúc chết chỉ biết dựa vào sự hộ niệm của người khác để đến một nơi gọi là “cõi A Di Đà” mà giáo pháp của Đức Phật không hề đề cập tới. Đây là cách tu tập và là một sự chọn lựa “bất đắc dĩ” của những người không đủ trí.
- Một người có đủ trí, biết phân biệt và nhận ra giáo pháp chân thực của Đức Phật thì sẽ không có ai đi theo con đường “Nam mô A di đà phật”, sẽ không có ai tin vào tính hiệu quả của cách hộ niệm A Di Đà, sẽ không có ai tin là có “Đức Tiếp dẫn đạo sư” hiện ra đưa vong hồn lên cõi cực lạc. Tất cả hình ảnh thấy được không là gì khác hơn sự tự kỉ ám thị (auto-suggestion) do tâm hôn trầm mệt mỏi của người sắp chết.
- Mỗi người có căn nghiệp riêng, trí tuệ riêng và sự lựa chọn riêng.
Không ai phải thuyết phục ai trên con đường tâm linh cả!
Mười Hai Nhân Duyên: tại sao chúng ta không sống một đời sồng đạo đức nhân bản nhân quả đẻ rồi lúc lâm chung làm chuyện tào lao mà chúng ta tự vấn KHÔNG BIẾT VIỆC LÀM ĐÓ ĐÚNG HAY SAI? phí cho kiếp người
Hiếu Nguyễn
Hòa thượng Hộ Pháp, trong cuốn Nghiệp và Quả của Nghiệp, có giải thích về Nghiệp Cận Tử rất chi tiết (theo Vi Diệu Pháp). Về đại ý, có 4 loại nghiệp quyết định sự tái sinh, sắp xếp theo thứ tự từ mạnh tới yếu:
1. Garukakamma: Nghiệp trọng yếu, loại nghiệp nặng là nghiệp nặng nhất có quyền ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau trước tiên, không có nghiệp nào có thể ngăn cản được (VD: 5 ác nghiệp vô gián, hoặc thiện nghiệp đã chứng các bậc thiền) Nếu không có nghiệp trọng yếu này, thì kế tiếp nghiệp cận tử (āsannakamma) cho quả tái sinh kiếp sau.
2. Āsannakamma: Loại nghiệp cận tử là nghiệp phát sinh lúc lâm chung. Nếu không có nghiệp trọng yếu, thì nghiệp cận tử này có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau. Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì kế tiếp nghiệp thường hành (āciṇṇakamma) cho quả tái sinh kiếp sau.
3. Āciṇṇakamma: Loại nghiệp thường hành là nghiệp thường được hành hằng ngày đêm đã trở thành thói quen. Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì nghiệp thường hành này có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau. Nếu không có cả 3 loại nghiệp trên (nghiệp trọng nhẹ, nghiệp cận tử và nghiệp thường hành), thì kế tiếp nghiệp loại thường (kaṭattākamma) cho quả tái sinh kiếp sau.
4. Kaṭattākamma: Loại nghiệp loại thường là nghiệp yếu hơn 3 loại nghiệp trên, nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hoặc nghiệp đã được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau.
4 loại nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau theo tuần tự nhất định. Trong mỗi loại nghiệp, nghiệp nào có nhiều năng lực nhất, thì nghiệp ấy có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau.
http://trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/NghiepVaQuaCuaNghiep/Nghiep3.htm
Như vậy, nếu không tạo nghiệp trọng yếu, thì vẫn có một khả năng là Nghiệp Cận Tử > Nghiệp Thường Hành. Cũng ở những phần sau trong sách này thì Hòa Thượng Hộ Pháp ví dụ thêm đó là những trường hợp tuy được tái sinh ở cõi giới tốt (người) nhưng yểu mạng hoặc sinh ra tàn phế (do các nghiệp khác quá nặng).
Theo thiển ý cá nhân, ý kiến như vậy hợp lý hơn. Trong trường hợp rất hiếm hoi khi mà 1 nghiệp cận tử (xảy ra được) cho tái sinh vào cảnh tốt lành thì vẫn phải gánh nghiệp quá khứ.
—-
Riêng vấn đề thanh lọc nghiệp, kinh 61 của Trung Bộ (Giáo Giới Rahula) có ghi rõ, chỉ có thanh lọc bằng cách phản tỉnh (reflect):
[...] Này Rahula, trong thời quá khứ, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã tịnh hóa thân nghiệp, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, đã tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần đã tịnh hóa thân nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa ý nghiệp. Này Rahula, trong thời vị lai, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sẽ tịnh hóa thân nghiệp, sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sẽ tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy; sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, sẽ tịnh hóa thân nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, sẽ tịnh hóa ý nghiệp. Này Rahula, trong thời hiện tại, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tịnh hóa thân nghiệp, tịnh hóa khẩu nghiệp, tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, tịnh hóa khẩu nghiệp; sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, tịnh hóa ý nghiệp. Do vậy, này Rahula: “Sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa thân nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa ý nghiệp”. Như vậy, này Rahula, Ông cần phải tu học [...]
Cách phản tỉnh thì được ghi rõ ở đoạn trên của kinh.
Hoa Nguyen:
Spymaster TheShadows.”Hơn nữa trong Giaó Pháp của Đức Phật ngài chưa bao giờ thuyết về ADIĐÀ, thậm chí bên Bắc Tông cũng thừa nhận tụng niệm danh hiệu ADIĐÀ chỉ là “phương tiện” giúp những người có “căn cơ thấp tu tập mà thôi” .
Kinh Tiểu A Di Đà là tiền thân của kinh A Di Đà (đầy đủ hơn) đã được viết khoảng thế kỷ 1, hoặc 2 trước Công Nguyên, nghĩa là còn trước hay it ra đồng thời với kinh Pali khi bắt đầu được viết xuống ở Tích Lan. Có thể tìm đọc trên Thư Viện Hoa Sen về công trình nghiên cứu của một học giả Nhật về kinh Tiểu ADĐ. Pháp niệm Phật A Di Đà theo kinh Tịnh Độ được Phật dạy đầu tiên cho người dì (cũng là kế mẫu) của Phật, tức không phải trong hàng xuất gia, cho nên có thể vì thế mà trong các lần kết tập kinh các bậc A-la-hán và chư tăng thời đó không nhắc tới (và biết đâu có nhắc mà 500 năm sau không ghi lại trong kinh Pali ).Kinh Pali chỉ ghi chép lời Phật, chuyện Phật do một bô phái ghi nhớ, so với kinh Sanskrit của Nhất thiết hữu bộ cũng có chố bất đồng, chỉ ưu thế ở còn giữ lại đầy đủ sau 2000 năm. Phần chắc kinh ADĐ là kinh Phật vì pháp niệm Phật bao gồm đủ Giiới, Định và Tuệ, và phù hợp vơi kinh dạy pháp Niệm Phật trong Pali (kinh Một kinh , cũng có thể đi tới giải thoát, ngay cả khi niệm chư Thiên). Giới là thanh tịnh thân, khẩu, ý, Định là niệm danh hiệu Phật với chánh niệm và đến “nhất tâm bất loạn” (là từ Phật dùng trong kinh), còn Tuệ là kết quả của giới và Định. Nam tông cũng tin có hơn 20 vị Phật (ngoài Phật Thích Ca).Trong Thanh Tịnh Đạo và một kinh khác mà tôi đọc, Phật dạy tỳ kheo nào tu tập ở nơi vắng vẻ sinh lòng sợ hãi thì niệm danh hiệu Phật sẽ được an tâm. Tịnh Độ tông căn cứ theo kinh ADĐ mà niệm danh hiệu một vị Phật có danh hiệu khác.
Nhiều người cho nếu những gì không ghi chép trong kinh Pali thì không phải lời Phật dạy. Nên biết rằng theo lịch sử Phật giáo, đạo Phật ở Tích Lan không phài trưc tiêp từ Theravada (Thượng Toạ bộ), mà từ một bộ phái phát sinh từ đó gọi là Đồng Diệp bộ (theo ghi chép của Bắc tông), đồng thời còn có một bộ phái khác là Nhất thiết hữu bộ, cũng phát sinh từ Theravada, nhưng ghi chép kinh điển bằng Sanskrit, và từ đó được dịch ra Hán ngữ rất sớm. Ngoài ra còn có nhiều bộ phái khác sau chia làm hai nhóm gọi là Mahayana và Hinayana, có giáo nghỉa giống và khác nhau. Dựa vào một câu nói của Phật (đừng dựa vào đâu mà chỉ tu một mình) là rởm, hay của người chỉ biết một câu kinh, vì không ai, ngoài Phật có thể tự tu để thành đạo. Ít ra phải dựa vào thầy, mà thời Phật cũng đã có thầy rởm, không chứng đắc được. Tôi không muốn đi xa hơn.
Hoa Nguyen: Karmalaw net. “nghe thì có vẻ là vậy, nhưng ng chết ko có tai làm sao mà nghe? Chưa kể các thày đọc tụng kiểu gì mà cả ng sống nghe còn ko hiểu thì lấy gì ng chết hiểu?”.
Tật nhiên KN chỉ nói theo ý nghĩ của người bên ngoài. Nhưng hôm nào thử đi chùa Nam tông nghe các sư (VN) đọc kinh tiếng Pali thấy có hiểu gì không. Phải cần học biết tiếng Pali mới hiểu được. Với kinh Bắc tông phải cần nghe, học quen, và có khi cũng biết nhiều từ Hán Việt.
Hoa Nguyen Phần trả lời ông Doãn tôi đã nói trong góp ý với comment của Spymaster. Không phải Phật chỉ dạy những điều được ghi chép trong kinh Pali. Đó là chắc chắn phải nhìn nhận sự thật như vậy bằng trí tuệ mở rộng, vì ngay xưa không có phương tiện ghi âm chính xác như ngày nay. Ngay kinh Pali cnũg có nhiều chỗ đáng nghi là thêm vào sau này, hay không chắc đúng như lời Phật dạy (nói trùng lặp một ý nhiều lần). Dễ chê người khác là không đủ trí, mà khó nhận ra chính mình kém trí tuệ vì không giải thích được tại sao Phật Thích Ca nói về cõi Trời, và dạy cách sống thiện, tu Định thế nào để khi chết được sanh Thiên.
Hoa Nguyen:@ Anicca Anatta. “thậm chí bên Nguyên Thủy thì đó chỉ là lý thuyết suông nằm trong chương trình giảng dạy Pháp học vì trong cách thực hành của họ chưa thể đạt đến mức độ để đối chiếu Vi Diệu Pháp.. không thấy được sự áp dụng của Abhidhamma …nhưng bên Pa Auk thì khác, họ tu tập đúng trong Tam học Giới Định Tuệ và dùng định làm nền tảng để phát triển tuệ”.
Lòi nói trên có giá trị gì không, có là đúng thật như vậy không, hãy để mọi người phán đoán, trươc khi tôi có ý kiến riêng. Ai cũng cho mình hiểu Nguyên Thuỷ là thế này, hiểu Pa Auk là thế kia, nhất là Phật giáo phải là theo cách mình hiểu, còn tội nghiệp cho tôi phải luân h2ôi (mà không tội nghiệp cho bản thân) thì kinh dị lắm. Một thái độ giả đạo đức đáng sợ. Theo tôi thấy một điều nhỏ: Pa Auk dùng An chỉ để dạy Minh sát trong bài giảng đó. Nhưng không phải ai cũng cho cách dạy là vậy là (duy nhất) đúng.
Hoa Nguyen: Tôi xin lỗi về một chử dùng nều Anicca Anatta là tăng sĩ. Thật ra, tôi phản ứng như thế vì “tội nghiệp” hay thương hại tôi là lời rất ngạo mạn, trịch thượng.
Hoa Nguyen: @Anicca Anatta. “Do việc Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai đúng với 11 loại ngũ thủ uẫn do Đức Phật đề cập.Do vậy họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp”
Xin dẫn chứng kinh hay luận, như Thanh tịnh đạo, để chứng cho câu viết “Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế”. Tôi nghĩ Danh và Sắc này là do thiền Minh sát nói tới và mới cho có khả năng đem lại, không phải là đối tượng đạt tới của thiền An Chỉ, tức Định . “Ngũ thủ uẩn” theo nghĩa (chính danh) chỉ cho 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) về sau nếu ai thêm vào thành 11 thủ ngũ uẩn thì dẫn chứng kinh từ đâu Phật dạy như vậy, để làm sáng tỏ từ ngữ.
AnittaAnatta : “họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp.” Họ (những nhà tu Định Chỉ) có nói họ thấy đúng như vậy không, hay là, ngay như Pa Auk chĩ dẫn Abhidhamma để làm chứng cho điều ông nói là đúng (mà không nói rõ là ông thấy đúng như Vi Diệu pháp). Lý luận tiếp theo là thuộc về thần thông: “họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai”. Nhưng mà thiền Minh sát có nói tới thần thông không (và thiền An chỉ không nói tới Danh và Sắc). Anitta Anatta:” nhiều người đã chứng ngộ được Niết Bàn. Còn việc ai muốn kiểm chứng thì cứ hành theo rồi tự mình kiểm chứng chứ đừng có dùng tư kiến quá hạn hẹp của mình để lý luận về Pháp”. Tôi chưa hề dám hý luận Pháp Phật, và về Niết Bàn tôi biết Phật không nói tới (tức không nói rõ). Tôi chỉ dùng chuyện Vi Diệu pháp và Niết Bàn để đáp lại một hoặc hai người cho không thể biết “vong nghe kinh mà siêu thoát được hay không”, và chứng minh cho cái ý tưởng là đạo Phât cũũg cần đến nhiêu lòng tin (mà nhiều người tự cao không thấy vây). Tôi thấy thậm chí có một thứ đạo Phật duy vật ra đời: không tin cõi Trời, chư Thiên, không tin vong, địa ngục, và không tin cảnh giới Niết Bàn.
Hiếu Nguyễn:
Lưu ý các bạn đang tham gia thảo luận: cuộc thảo luận đang nảy sinh ra nhiều ý kiến hay, đang thử thách niềm/đức tin của nhiều người vào pháp môn mình đang theo.
Mong rằng mọi người tiếp tục thảo luận với đầu óc rộng mở và hạn chế sân si trong khi viết bài, dễ dẫn đến việc lăng mạ (khẩu nghiệp) và topic sẽ lại bị closed :-) thật đáng tiếc.
Ngoài ra, để tránh biến cuộc thảo luận, thành tranh luận, bất cứ khi nào có thể, xin vui lòng trích dẫn nguồn để bảo vệ ý kiến cá nhân, và hãy chánh niệm tỉnh giác khi còm men, hì hì.
Phạm Doãn:
Comments trong nhiều trường hợp là động não (rất mệt) để trình bày tóm tắt cái hiểu biết của mình (qua học tập gian khó) cho mọi người mà không cần nhận lại cái gì cả. Mọi người thường hay gọi là “chia sẻ”! Trên “Pali chuyên đề” chuyện chia sẻ luôn là vui vẻ, là bình thường! Vì trên tinh thần học hỏi ai cũng được ít nhiều lợi ích! Nếu comments mà căng thẳng quá thì… thôi. Anh đi đường anh, tôi đường tôi! Comment đến thế cũng …vậy thôi! Hì hì… Có nhiều trường hợp vào đọc mà cảm thấy “làm biếng” comment quá!
Hoa Nguyen
@Anicca Anatta:”Hơn nữa trong Giaó Pháp của Đức Phật ngài chưa bao giờ thuyết về ADIĐÀ, thậm chí bên Bắc Tông cũng thừa nhận tụng niệm danh hiệu ADIĐÀ chỉ là “phương tiện” giúp những người có “căn cơ thấp tu tập mà thôi” .
Tôi thấy các tu sĩ Công giáo hay Tin Lành được dạy đàng hoàng về các tôn giáo khác, như về Hồi hay Phật giáo, có thể để thấy đạo của họ không kém đạo nào, nếu không hơn. Chính mắt tôi thấy ở phòng làm việc của một mục sư VN (tại Mỹ) có vài cuốn sách Phật giáo. Thậm chí còn biết vài ông linh mục đi học Thiền. Nhưng một người như Anicca Anatta có thể là biết nhiều về kinh Pali mà không biết gì về kinh điển Phật giáo Bắc tông. Dù sao tôi cũng đã trả lời Spymaster về kinh A Di Đà. Trong đó tôi nhớ nhầm Phật dạy pháp Niệm Phật A Di Đà cho di mẫu, sau nhớ lại là cho bà hoàng hậu Vi-đề-hi ở xứ Magadha, nên đã viết thêm vài hàng đính chính lại, nhưng bị xoá comment đó. Viết thêm nữa chẳng ích cho ai.
Karmalaw Net: ko biết trong tạng Nikaya có bài kinh Phật thuyết A Di Đà ko nhỉ?
Anicca Anatta
@Hoa Nguyen” Xin dẫn chứng kinh hay luận, như Thanh tịnh đạo, để chứng cho câu viết “Phát triển Định đến mức thâm sâu ,họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế”. Tôi nghĩ Danh và Sắc này là do thiền Minh sát nói tới và mới cho có khả năng đem lại, không phải là đối tượng đạt tới của thiền An Chỉ, tức Định . “Ngũ thủ uẩn” theo nghĩa (chính danh) chỉ cho 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) về sau nếu ai thêm vào thành 11 thủ ngũ uẩn thì dẫn chứng kinh từ đâu Phật dạy như vậy, để làm sáng tỏ từ ngữ.”
AnittaAnatta : “họ cần áp dụng Abhidhamma trong pháp hành và đã thấy được các sắc ,các tiến trình tâm cùng tất cả các loại tâm đều chính xác trong Tạng Vi Diệu Pháp.” Họ (những nhà tu Định Chỉ) có nói họ thấy đúng như vậy không, hay là, ngay như Pa Auk chĩ dẫn Abhidhamma để làm chứng cho điều ông nói là đúng (mà không nói rõ là ông thấy đúng như Vi Diệu pháp). Lý luận tiếp theo là thuộc về thần thông: “họ thấy được Danh chơn đế và Sắc chơn đế cùng với việc thấy các kiếp quá khứ hay vị lai”. Nhưng mà thiền Minh sát có nói tới thần thông không (và thiền An chỉ không nói tới Danh và Sắc).
Tôi không nghĩ là bác có thể hiểu được Giaó Pháp với sự chấp thủ ngoan cố của mình , nhưng tôi cũng xin trích dẫn tóm tắt và đơn giản nhất về 11 loại ngũ thủ uẩn hay danh và sắc vì lợi ích của những người khác..
Trong “Khandha Sutta” (Uẩn Kinh) Đức Phật giải thích và phân tích năm thủ uẩn thêm nữa thành ra mười một loại:
“Và, thế nào này các Tỳ khưu, là năm thủ uẩn? Bất cứ sắc nào, hoặc
[1-3] quá khứ, vị lai hay hiện tại (atītā nāgata paccuppannaṁ);
[4-5] bên trong hay bên ngoài (ajjhattaṁ vā bahiddhāvā);
[6-7] thô hay tế (oḷārikaṁ vā sukkumaṁ vā);
[8-9] cao thương hay hạ liệt (lānaṁ vā paṇītaṁ vā);
[10-11] xa hay gần (yam” dūre santike vā);
có lậu hoặc, được chấp thủ, thì được gọi là sắc thủ uẩn. Bất cứ loại thọ nào… tưởng… hành… thức nào dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, xa hay gần, cao thượng hay hạ liệt, có lậu hoặc
sāsava), được chấp thủ (upādāniya), đây gọi là thức thủ uẩn.Này các Tỳ khưu, như vậy được gọi là năm thủ uẩn.
Năm thủ uẩn này là Thánh Đế về Khổ và như Đức Phật giải thích, mỗi uẩn gồm mười một loại. Như thế có nghĩa rằng muốn biết và thấy năm uẩn thì phải biết và thấy được mười một loại của mỗi uẩn này.
Uẩn đầu tiên của năm thủ uẩn cũng còn gọi là Sắc (rūpa), và bốn thủ uẩn còn lại (Thọ, Tưởng, Hành và Thức) gọi chung là Danh (nāma). Như vậy năm thủ uẩn cũng còn gọi là Danh-Sắc (nāma-rūpa) .
Chúng ta có Ba loại định là:
1. Chuẩn bị định – parikamma-samādhi. Đôi khi định này còn được gọi là sát-na định (khaṇika-samādhi)
2. Cận định – upacāra-samādhi
3. An chỉ định – appanā-samādhi Cũng còn gọi là định của bậc thiền như tám thiền chứng
Do vậy an chỉ định chỉ là phương tiện để cũng cố sức mạnh của định mà thôi còn việc dùng định đễ thấy danh và sắc thì phải dùng sát na định hay cận định qua việc tu tập thiền tứ đại.
Còn tại sao thiền minh sát phải quán danh và sắc thì trong 11 Pháp duyên khởi có đề cập:
Vô minh (1) duyên hành (2)
- Hành duyên thức (3)
- Thức duyên danh-sắc (4)
- Danh-sắc duyên lục nhập (5)
- Lục nhập duyên xúc (6)
- Xúc duyên thọ (7)
- Thọ duyên ái (8)
- Ái duyên thủ (9)
- Thủ duyên hữu (10)
- Hữu duyên sanh (11)
- Sanh duyên lão, tử , sầu, bi, khổ thân, khổ tâm và tuyệt vọng
Hơn nữa mục đích và ý nghĩa tu tập minh sát để làm khởi sanh 16 tuệ minh sát từ Phàm đến Thánh, và Tuệ đầu tiên chính là Phân Tích Danh Sắc (Nāma-rūpa pariccheda ñāṇa) do đó không thấy được danh và sắc chơn đế thì không thể nào gọi là tu thiền minh sát(vipassana)… 16 Tuệ Minh sát là:
1. Tuệ Phân Tích Danh Sắc (Nāma-rūpa pariccheda ñāṇa)
2. Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (Paccaya – pariggaha ñāṇa)
3. Tuệ Thẩm Sát (Sammasana ñāṇa)
4. Tuệ (quán) Sự Sanh Diệt (Udayabba ñāṇa)
5. Tuệ (quán) Sự Tan Hoại (Bhanga ñāṇa)
6. Tuệ (quán) Sự Kinh Úy (Bhaya ñāṇa)
7. Tuệ (quán) Sự Nguy Hiểm (dīnava ñāṇa)
8. Tuệ Yểm Ly (Nibbidā ñāṇa)
9. Tuệ Dục Thoát (Muñcitukamyatā ñāṇa)
10. Tuệ Giản Trạch (Paṭisankhā ñāṇa)
11. Tuệ Xả Hành (Sankhārupekkhā ñāṇa)
12. Tuệ Thuận Thứ (Anulama ñāṇa)
13. Tuệ Chuyển Tộc (Gotrabhù ñāṇa)
14. Tuệ Đạo (Magga ñāṇa)
15. Tuệ Quả (Phala ñāṇa)
16. Tuệ Phản Khán (Paccavekkhana ñāṇa)
Những gì tôi muốn nói thì người khác đã nói thay rồi, do đó tôi cũng chẳng có gì để bận tâm về những lời của Bác Hoa Nguyen.Đức Phật cũng đã đưa ra ví dụ về người khách đến nhà mang quà tặng vị chủ nhà,nhưng vị chủ nhà không nhận thì món quà đó thuộc về ai? Tôi nghĩ bác Hoa Nguyen cũng hiểu rõ…Tôi chỉ thấy tội nghiệp thật sự cho Bác vì đang cố vùng vẫy ,đào bới trong “mớ kiến thức hỗn độn” của mình để khẳng định cái đúng thuộc về mình và người khác cần phải học hỏi kiến thức từ mình. Tuy nhiên chẳng có ai quan tâm và hoan nghênh cả.. Bác nên xem lại và tự hỏi tại sao hơn là bực tức để nói những điều hàm hồ như vậy…
@Hoa nguyen,@ Spymaster TheShadows.”Người đệ tử Phật sợ nhất là việc gây ra các nhân bất thiện trong hiện tại vì đúng theo sự vận hành tự nhiên của Pháp mà bác đã đề cập thì khi nghiệp ác chính mùi , chẳng có một ai, chư thiên , PhạmThiên hay ông Phật ADIĐÀ nào hiện ra để cứu Bác cả… Hãy tự có trách nhiệm trong luân hồi của chính mình và đừng gieo rắc tà kiến và hoài nghi cho người khác.
Anicca Anatta @Spymaster TheShadows: Tôi không hiểu anh đắc gì ?nhưng anh từ đâu đến thì hãy trở về đó..nếu anh nghĩ anh “siêu phàm” như vậy thì anh không nên ở lại chốn “phàm trần” này mà hô hào về sự “tự đắc” của mình .Một bậc Thánh không bao giờ có một phẩm chất kém cõi như vậy.. Hãy nói những điều lợi ích cho mình và người khác.
Thảo luận về Peta (Ngạ Quỷ)
Đăng trong: 10/03/2012 Filed under: Thảo Luận Leave a comment »Trích từ Documents của Group Pali-Chuyên Đề
Hiếu Nguyễn
Nhân việc đang đọc bộ chuyện Ngạ Quỷ của Sư Indacanda hay quá. Nay con xin phép hỏi các Sư, Sư Cô và các vị Cư Sĩ: vậy Ngạ Quỷ chính xác là loài gì?
Thắc mắc xuất phát từ “Chuyện vong nhân dâng sợi chỉ” – http://paliviet.info/VHoc/30b/30_Pv_068-069.pdf
Con không thấy đề cập tới ngạ quỷ nào, mà cô gái trong chuyện này hình như là ở cõi trời. Vậy là ngạ quỷ cũng có khả năng ở những cõi sướng hay không? (vì vốn Ngạ Quỷ được coi là một trong các ác đạo)
Đọc trong bộ Ngạ Quỷ cũng gặp tình huống rất phổ biến là khi nhận được phước báu hồi hướng của một hành động phước thiện, người Ngạ Quỷ lập tức có y áo mới, thân sắc tốt đẹp. Vậy khi đó họ có còn là Ngạ Quỷ không? Hay đã thành một người mới ở kiếp khác?
Thảo Luận
Vo Trong Phi Theo tri kiến cá nhân thì khi có quả an lạc (y áo mới, thân sắc tốt đẹp…) là lúc Ngạ Quỷ đã trở thành/tái sanh thành người khác (người lạc), ở cảnh giới khác (cõi lạc, vd: thiên giới), chứ không còn là ngạ quỷ ở cõi khổ.
Bhikkhu Indacanda Thông thường các xứ quốc giáo sử dụng lại các từ loại này, rất nhiều, khỏi phải dịch, và cũng không có vấn đề về khía cạnh ngôn ngữ học ,vì các ngôn ngữ đó được xếp chung vào một hệ thống (vd. từ đa âm, âm dài âm ngắn, v.v…). Riêng tiếng Việt thuộc hệ thống khác (vd. từ đơn âm, âm lên xuống, v.v…), nên việc du nhập từ ghi âm, vd. Chuyện pê-ta, thì không chuyển tải được 1 khái niệm nào vào đầu óc người đọc, và
Hiếu Nguyễn Nhưng mà peta này là giống gì hả Sư? Lúc thì có thần thông, lúc thì thân tướng đẹp đẽ, lúc thì khổ sở, thiếu ăn, thiếu mặc. Vậy rốt cục là làm peta sướng hay khổ? Peta có thần thông thì khác gì chúng sinh cõi Trời?
Bhikkhu Indacanda Đã có 1 tài liệu tiếng Việt về Peta có cả hình vẽ ở VN.
Hiếu Nguyễn À con tìm ra rồi: http://yume.vn/hotructhuy/article/tai-lieu-ve-loai-nga-quy.35D049E2.html
Tài Liệu Về Loài Ngạ Quỷ – YuMe.vn
YuMe.vn – CHUYỆN NGẠ QUỈ QUỶ LÀ GÌ Trong cuộc sống, chắc hơn một lần trong chúng ta có nhắc đến từ Quỷ. Ví dụ: + Một đứa bé phá phách không chịu… – DIỆU ÂM NGUYÊN THANH
Binh Anson Wikipedia có 1 trang tiếng Anh định nghĩa về Peta (Pali) hay Preta (Sanskrit), tương đối khá rõ ràng: http://en.wikipedia.org/wiki/Preta , qua đó, Peta có thể hiểu là “các loài hồn ma” (ghosts) hơn là “các loài quỷ” (demons). Điều lưu ý là theo Wikipedia, chỉ có người Tàu dịch là “ngạ quỷ – 餓鬼” . Theo tôi biết, người Thái Lan phiên âm Peta là “phỉ”.
Nếu hiểu Peta là “hồn ma”, những hiện tượng của các nhà “ngoại cảm” gây xôn xao dư luận trong mấy năm gần đây có thể giải thích là những vị ấy có một khả năng đặc biệt nào đó để có thể tiếp xúc với các loài Peta / Hồn Ma này.
Hà Anh Nguyễn em coi link của anh Hiếu Nguyễn up rồi. Trong 24 loại Petas này thì e thấy Ngạ Quỉ Thứ Mười Hai: MAHIDDHIKA chắc là ngạ quỷ có phước nhất
Binh Anson Đính chính: Người Thái phiên âm Peta/Preta là “Phret” (เปรต). Còn “Phỉ” (ผี) là từ dân gian
Ven Adhiṭṭhāna Ý kiến cá nhân, theo cách dịch của Ngài Bhikkhu Indacanda, chữ Peta vốn nghĩa là người đã chết, người chết, hay vong nhân là chuẩn nhất. Chẳng hạn như chữ Petakicca được hiểu với nghĩa làm đám ma, hay đám tang, việc an táng cho người đã chết; chỉ Peta nhằm mục đích hướng đến người đã chết.
Trong 12 hạng người, Peta được xếp vào người khổ vô nhân(được xếp đồng với những chúng sanh ở địa ngục, súc sanh và A-tu-la). Họ tái tục bằng tâm akusala vipāka upekkhāsahagata santīrana, vì ác nghiệp đã tạo nên phải tái tục bằng tâm này. Tuy nhiên, không biết có phải đa phần chúng sanh ở cõi Peta điều phải chịu khổ đói khát, mà các Ngài trưởng lão như Ngài Bửu Chơn dùng từ Ngạ-Quỷ (quỷ đói) nhầm để dễ gọi và dễ nhớ đến loại chúng sanh này hay không?
Ở Myanmar, người ta cũng dùng từ ပြိတ္တာ (Pyeitta) cho từ Peta, chữ Pyeitta lại được hiểu là ma đói hay quỷ đói.
Hiếu Nguyễn A ý kiến này của Ven Adhiṭṭhāna hay quá. Sư Bhikkhu Indacanda ơi, con thấy để là CHUYỆN VONG NHÂN nghe cũng hay.
Hà Anh Nguyễn dạ nhân câu hỏi của anh Hiếu, con xin được hỏi là khi 1 chúng sanh qua đời, sự tái sanh sang các cõi đời khác xảy ra ngay sau khi chúng sanh đó tắt hơi thở cuối cùng, hay phải 1 thời gian sau rồi mới tới sanh.?
Vo Trong Phi Trong cuốn “The Workings of Kamma” (Sự Vận Hành của Nghiệp” của Ngài Pa Auk, ngạ quỷ và a tu la được gọi chung là “ghost” (ma). Xin trích một câu trong đó: “The ordinary person may be reborn in many destinations (gati): the hells, the ghost and animal world, and the human and deva worlds.” Tạm dịch: Phàm nhân có thể tái sanh ở nhiều cảnh giới: Địa ngục, ma, súc sanh, người và trời”.
Vô Thường Vạn sự do tâm, tâm ma thì ma đến, tâm phật thì phật hiện. Đồng thanh tuơng ứng…đồng khẩu ứng cầu
Hoa Nguyen ”Địa ngục, ma, súc sanh, người và trời”, vậy là 5 đường. Kinh Phật thường nói tới 6 cõi (lục đạo) luân hồi. Atula (Asura) được coi như là “Thần”, dưới Tiên (thiên, nhưng trên người). Trung Hoa có khi dịch là Phi Thiên (còn quỷ là phi nhân) . Thần thoại Hy Lạp cũng nói tới bán thần (ở giữa Trời và người). Sách thấy ghi có ba loại A tu la cao thấp khác nhau: thuộc thiên đạo, quỷ đạo, và súc đạo (nên có khi thấy nói A tu la cao hơn loài ngưiờ, và có khi nói thấp hơn). A tu la thường đánh nhau, đàn ông hình tướng xấu, nhưng đàn bà rất đẹp, nếu lập được phước đức sẽ sanh lên cõi Trời, hay làm người cao sang, hưởng sung sướng ở cõi người, còn nếu ngu muội, phá hại sẽ sanh xuống địa ngục làm ngạ quỷ, hay làm súc sanh. Nhưng có thể A-tu-la không ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống loài người, nên bị bỏ quên. Kinh Bắc tông (như Pháp Hoa) thường kể A tu la dẫn quyến thuộc cùng đến cúng dường Phật, nghe Pháp.
Ven Adhiṭṭhāna Xin phép trả lời câu hỏi của Nguyễn Diệu Hà Anh là khi 1 chúng sanh qua đời, sự tái sanh sang các cõi đời khác xảy ra ngay sau khi chúng sanh đó tắt hơi thở cuối cùng, hay phải 1 thời gian sau rồi mới tới sanh.?
1 người đang vào giờ phút cận tử sẽ có 3 cảnh hiện lên là: 1)kamma – nghiệp, 2)kammanimitta – nghiệp tướng, và 3)gatinimitta – thú tướng (Dvāravimuttānañca patisandhibhavaṅga-cutisankhātānaṃ chabbidhampi yathāsambhavaṃ yebhuyyena bhavantare cha-dvāragahitaṃ paccuppannamatītaṃ pannattibhūtaṃ vā kamma-kammanimitta-gatinimittasammatam ārammanaṃ hoti ).
Thứ nhất về cảnh nghiệp(kamma) một hành động mà mình thường hay làm trong đời này hay đời trước. Thứ hai về cảnh nghiệp tướng(kammanimitta) là hình ảnh hay cảnh của đồ vật liên hệ với hành động mà mình thường hay làm. Thứ ba về thú tướng(gatinimitta) là hình ảnh hay cảnh mà người đang đang trong giây phút cận tử sẽ tái sanh. Do đó, theo khái niệm của bộ môn Abhidhamma, 1 chúng sanh sẽ tái tục ngay khi chúng sanh đó chấm dứt hơi thở và tái tục bằng 1 trong 19 loại tâm quả, và cũng không có khái niệm chờ đợi nào trong việc tái sanh. Dấu phẩy cho kiếp sống này bằng một tâm tử (cuti) để viết tiếp và bắt đầu 1 kiếp sống mới bằng 1 kiết sanh thức (paṭisandhi).
Vô Thường Không phải tái sinh ngay tức thời. Có người tái sinh ngay có người 49 ngày mới tái sinh đó, có người 100 năm rồi vẫn ko tái sinh. Tất cả do nghiệp lực của mỗi người…
Hà Anh Nguyễn dạ cảm ơn sư Ven Adhiṭṭhāna _()_
Anh Phan Vô Thường, xin hỏi thời gian 49 ngày, 100 năm trước khi tái sinh, người đã chết đi đâu, làm gì trong 6 cõi? Nếu không giải thích được thì quan điểm này rơi vào tà kiến (tức đoạn kiến).
Anh Phan Có trường hợp này khá hy hữu, Ven Adhiṭṭhāna! Có người chấm dứt hơi thở rồi nhưng vẫn chưa chết:
http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Doi-song/540094/bat-ngo-tinh-day-sau-6-ngay-trong-quan-tai.htm
Bất ngờ tỉnh dậy sau 6 ngày trong quan tài
Vô Thường Kiến thức nhiều chẳng giải quyết được vấn đề gì. Muốn tìm câu trả lời, bạn nên đọc thêm kinh điển đi sẽ có câu trả lời đó.
Anh Phan Theo kinh tạng Pali, thế gian (tam giới) đề cập đủ 6 cõi gồm 4 cõi khổ (4 đường ác đạo) là Niraya (Địa ngục), Pettivisaya (Ngạ quỷ), Asara (A-tu-la), Súc sanh (Tiracchāna); 2 cõi an vui là cõi Người (Manussa) và cõi Chư Thiên (Deva).
Đối với mắt người thường chỉ thấy cõi người và súc sanh thôi, 4 cõi kia mờ mờ ảo ảo nêu không thể thống nhất các quan điểm khác nhau được. Cõi địa ngục thì tận đâu trong vũ trụ bao la, có thể họ bị hút vào trong các Lỗ đen theo quan điểm Vật lý thiên văn hiện đại; Atula và ngạ quỷ thì cộng trú với con người; chư Thiên thì ở trên không trung, rất hiếm đến cõi người vì họ không cần thiết. Tóm lại những vong linh vất vơ xung quanh chúng ta chỉ có ngạ quỷ và atula thôi, có thể gọi chung là Ma, hình sắc của họ rất mờ nhạt, mỏng manh. Có người thấy được họ trong hình dáng của kiếp trước nhưng xấu đẹp thay đổi dần nếu nhận được phước mà con người hồi hướng cho.
Vô Thường Đó câu trả lơi có trong phần bạn vừa viết đó: nhiều người chết oan ức, chết bất đắc kỳ tử, không siêu thoát được trở thành những vong linh trải qua rất nhiều năm tháng nếu ko có ngươi siêu đọ cho họ thì họ ko đi tái sinh được đâu….
Hiếu Nguyễn Vô Thường vui lòng đọc kỹ: “Tóm lại những vong linh vất vơ xung quanh chúng ta chỉ có ngạ quỷ và atula thôi, có thể gọi chung là Ma, hình sắc của họ rất mờ nhạt, mỏng manh.”
Cái bạn gọi là vong linh đó, có thể là vong nhân/ngạ quỷ (như chúng ta đang bàn) hay không? Đó là mục đích muốn tìm hiểu của topic này.
Anh Phan Vô Thường! Quan điểm của mình giống của Ven Adhiṭṭhāna ở trên rồi. Đó là căn cứ theo Abhidhamma của Đức Phật, chắc nịch. Còn quan điểm người chết mà không tái sanh liền thì không phải của Đức Phật.
Anh Phan Vong nhân theo cách gọi Vong linh đa số là ngạ quỷ (hình tướng rất xấu, kỳ dị) và A-tu-la (hình tướng tốt hơn, nhưng có thể biến hóa) và một ít chư thiên bậc thấp (có thể gọi là Thần). Đây là cái thấy của người khác và họ mô tả lại, không phải của Anh Phan, nhưng đáng tin cậy và phù hợp với thế giới quan của Đạo Phật.
Vô Thường Nên tìm hiểu thêm nhiều kinh điển để biết thêm nhiều điều bổ ích hơn. Nghiêng hẳn về một phía không tốt đâu. Trung đạo mới tốt bạn ah. Tinh tấn tu hành các bạn nhé
Karmalaw Net Cốt lõi của những câu chuyện Ngạ Quỷ là luật nhân quả mà thôi. Vong nhân chỉ là cái duyên để nói lên cái ý, cái tổng thể. 6 cõi và luật nhân quả đã có trong Upanishad từ lâu trước thời Đức Phật.
Hiếu Nguyễn Bạn Karmalaw không phiền trích dẫn và cho thêm 1 ít thông tin chứ? :-)
Karmalaw Net tài liệu tiếng Anh cả nguyên bộ: http://www.sacred-texts.com/hin/sbe01/index.htm
Tài liệu Việt dịch (vài phần trong đó) của NXB DH QG Hà Nội 2001, Doãn Chính chủ biên 808 trang (sách giấy nên ko share dc)
Tóm tắt thì nhiều lắm, bạn có thể tham khảo ở đây: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-94_4-10122_5-50_6-1_17-45_14-1_15-1/
The Upanishads, Part 1 (SBE01) Index
Sacred Books of the East Volume I: The Upanishads, Part 1, by Max Müller, [1879], full text etext at sacred-texts.com
Karmalaw Net theo tài liệu Việt dịch (của NXB DH QG Hà Nội 2001, Doãn Chính chủ biên 808 trang) ở trang 712-714 có nói về sống chết và các con đường sau khi chết.
Hiếu Nguyễn Thank you Karmalaw nghen!!! Appreciate that ;)
có nhiều người nói rằng họ đã từng “thấy” ma. Đặc biệt là trong những ngôi nhà cổ lâu đời. Chả hạn mẹ Nhung Ho con làm trong viện Pasteur vốn là 1 nơi cổ kính đã có tuổi thọ 120 năm. Xa xưa, nơi đây là 1 nghĩa trang. Xa xưa, nơi đây là 1 nghĩa trang. Rất nhiều người làm trong viện này nói rằng đã thấy “ma”. Khi thì là 1 em bé, khi thì là 1 người phụ nữ lớn tuổi, có khi lại là 1 bà Xơ (vì viện PAsteur xưa kia là 1 nhà dòng tu Catholic). Vậy có phải mấy người “ma” này là vong nhân ko ạ.?
Hà Anh Nguyễn nếu sau khi tắt hơi tái sanh ngay lập tức rồi sao họ còn “lang thang” ở đây ạ?
Trong cuốn Lược sử Phật giáo (A Short History of Buddhism), E. Conze viết là vấn đề chết rồi đi luân hồi liền hay vong phải chờ 49 ngày là hai quan điểm rất chia rẻ ngay từ thời bộ phái , ông cho có 5 bộ phái theo “thuyết” này và 5 bộ phài theo thuyết kia. Đó là cuốn sử ngắn, sơ lược, nên Conze không nói chi tiết nhiều, không kể rõ bộ phái nào đã ủng hộ thuyết nào, nhưng sau này Bắc tông (nhất là Mật tông Tây Tạng) theo thuyết “thân trung ấm” (bardo) kéo dài 49 ngày. Dường như đạo Lão của Trung Quốc cũng tin như vậy, thấy như trong cách làm ma chay của họ (xả tang sau 49 ngày vì cho hồn đã đi đầu thai).
Tôi tôn trọng việc Sư Ven Adhiṭṭhāna dẫn chứng từ Abhidhamma (ngoài lòng kính trọng riêng Sư), nhưng bộ đó tôi hiểu là luận hơn là kinh. Điều này thật ra không quan trọng lắm đối với người theo Bắc tông như tôi, thường cho dù luận giải của bậc đạt đạo mà đúng, hay phù hợp với đạo Phật thì giá trị cũng không khác gì lời kinh.Thế nhưng làm sao có thể biết rõ 3 cảnh hiện ra như trên lúc cận tử, nhất là khi sự việc xảy ra nhanh như vậy? Cho đó là cái thấy biết của người đã đạt tới Tam Minh hay thần thông gì thì về sau có ai đủ khả năng kiểm nghiệm lại điều đó không? Tôi nêu câu hỏi (hay thắc mắc) của mình trong trường hợp này khi thấy mình có cơ hội làm thế, vì thật ra tôi đã thắc mắc một điều khác về thiền định được giải thich theo Vi Diệu pháp (Abhidhamma). Các sách luận giải Tứ Thiền từ cuốn Thanh Tịnh đạo trở về sau thường dựa vào Vi Diệu pháp cho lộ trình của tâm khi vào định là trải qua các giai đoạn: hộ kiếp tâm (hay hữu phần, Bhavangacitta), hộ kiếp tâm rung động, Ý môn hướng tâm, Chuẩn bị, Cận thiền tâm (Upacara), Thuận dòng, Chuyển giới, Thiền tâm, trở lại hộ kiếp tâm …, mà mỗi giai đoạn trên chỉ xảy ra trong một hoặc vài sát na cực ngắn thì làm sao hành giả có thể quan sát để nhận biết được. Vi Diệu pháp (hay Duy thức tông ở Bắc tông) được coi là công trình trí tuệ siêu tuyệt của Phật giáo (và của loài người nữa, ít ra vào giai đoạn đó), nhưng muốn thấy có giá trị thực sự cần được người khác kiểm nghiệm lại. Có ai đã chứng nghiệm lại được các trạng thái biến chuyển của tâm nhanh như vậy chưa (để thấy là đúng) ? Xin cám ơn câu trả lời dù thế nào.Anh Phan
Nguyễn Diệu Hà Anh, “nếu sau khi tắt hơi tái sanh ngay lập tức rồi sao họ còn “lang thang” ở đây”: Sự thắc mắc này hiện nay rất phổ biến! Phân tích rogic để thấy vấn đề cho rõ là: những em bé, cụ già, bà Xơ gọi là hồn ma đó chắc chắn không phải là của người đã chết mà là một chúng sanh khác rồi. Người chết đó tái sanh thành những hồn ma này. Có điều lạ là họ vẫn giữ hình dáng cũ thôi. Những hồn ma này như trên có đề cập thuộc vào hàng ngạ quỷ, atula và chư thiên gọi là địa tiên hay thần; nếu họ chết tái sanh thành thân người khác thì chắc chắn họ không xuất hiện ở đây. Những hồn ma này nếu xanh xao, xấu xí là ngạ quỷ; nếu xinh đẹp hơn là atula hoặc chư thiên bậc thấp. Người chết tái sanh thành người và chư thiên vô cùng hiếm, còn đa số tái sanh vào các cảnh thấp hơn. Tuổi thọ của những hồn ma này bất định, có vị vài ngày, có vị vài trăm hoặc vài ngàn năm. Có thể bên Tây Tạng cho rằng những vong linh này là thân trung ấm (Bardo) đây!
Hà Anh Nguyễn Người chết tái sanh thành người và chư thiên vô cùng hiếm, còn đa số tái sanh vào các cảnh thấp hơn.——-> vậy hả anh??? đáng sợ quá :(((((
:) Trong “Kinh người khác, S.V.XII”: Đức Phật lấy 1 ít đất trên đầu móng tay và so sánh với đất trên quả địa cầu. Dùng như 1 ẩn dụ, Ngài giải thích: “Cũng vậy, này các Tỷ kheo, ít hơn là các chúng sanh (chết như những con người) được tái s…See More
Hoa Nguyen Tô nghĩ thông suốt Tứ Diệu đế sẽ không trở lại làm người, mà đã ít ra vào quả vị Bất Lai (không trở lại nữa).
… Sau đó, Đức Thế Tôn bảo các vị tỳ-khưu “Nầy các tỳ-khưuo, bởi vì không thông hiểu, không thấu đạt Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế) mà ta cũng như quý vị từ lâu đã phải trải qua nhiều kiếp luân hồi trong vòng sinh tử. Bốn sự thật ấy là gì?
Vì không thông hiểu Sự Thật về Khổ (Khổ Đế) mà chúng ta luân hồi, không thông hiểu Sự Thật về Nguồn Gốc của Khổ (Tập Đế), không thông hiểu về Sự Thật về Đoạn Diệt Khổ (Diệt Đế), không thông hiểu Sự Thật về Con Đường Diệt Khổ (Đạo Đế), mà chúng ta đã phải luân hồi trong vòng sinh tử. Bằng cách thông hiểu, bằng cách thấu đạt Sự Thật về Khổ, Sự Thật về Nguồn Gốc của Khổ, Sự Thật về Đoạn Diệt Khổ, Sự Thật về Con Đường Diệt Khổ, lòng tham thủ về sinh hữu được đoạn tận, sự hỗ trợ để sinh hữu được phá hủy, và từ đó không còn phải tái sinh nữa.”
– Trích Đại kinh Bát-niết-bàn (Trường bộ, 16)
@Karmalaw Net, Upanishads, tiếp nối truyền thống kinh điển Veda, đã khởi đầu từ thời trước Phật không xa và kéo dài (trong thời Phật) cho tới khoảng gần Công nguyên, mở đường cho Ấn Độ giáo (chuyển từ Bà la môn giáo đã có trước từ thời Veda). Có nhiều chứng cớ Đức Thích ca không biết tới Upanishads, nên không thể cho là chịu ảnh hưởng của nó, hay vay mượn quan điểm về triết học, đạo lý. Trước hết, giáo lý Upanishads (dịch là Áo nghĩa thư) không được Phật nhắc đến trong các kinh (mà chỉ nói về tu sĩ, giáo lý Bà la môn, Phạm thiên), kế là Phật không thuộc giai cấp Bà la môn nên chắc không học biết giáo lý Upanishads mới thành hình mà chỉ một số ít, ở cấp cao giới Bà la môn mới học được khi chưa trở thành phổ thông, truyền bá rộng. Phật thuyết về nghiệp, luật nhân quả, giải thoát là những điều cũng đã có nói trong Veda hay Upanishads, nhưng không giống, và có chỗ hoàn toàn trái hẳn như lý tưởng giải thoát (vào Niết bàn chớ không phải tiểu ngã thể nhập Đại ngã). Ở chỗ sau cùng này thấy Phật giáo như là “phản đề” của Ấn giáo.
Cũng nhằm thể hiện, giảng dạy về luật nhân quả nhưng khi Phật giáo viết thành những chuyện kể về ngạ quỷ như vậy là đã chuyển giáo lý, giáo điều qua một hình thức văn học để thấm sâu vào tâm hồn người nghe hay đọc, mà không thấy có chỗ tương tự trong Upanishads. Anh thử tìm một chuyện kể trong hệ (văn học) Upanishads để so sánh với một chuyện ngạ quỷ của Phật giáo kể ở đây.
Vô Thường Vậy địa ngục có được nhắc đến trong kinh điển pali không?
Đúng vậy, PG là phản biện của Ấn Giáo khi khẳng định Niết Bàn là tịch diệt “củi hết lữa tắt” trong khi AG thì cho rằng con ng ta tái sinh mãi vì có Atman. Đức Phật thì bảo là không có Atman (hình như gọi là anatta). Đây là câu hỏi khó nhất mà KN gặp phải từ khi học PG: “có phải là thiền định sẽ là con đường đưa ng ta tới Niết Bàn, hay là thiền định là cách để ng ta thấy Niết Bàn? Chỉ có Alahán mới biết NB hay NB là công bằng đối với mọi ng, tức là khi bản ngã ko có, ai chết cũng tan rã như nhau?”, “luật Nhân Quả là khách quan hay chủ quan?” câu trả lời sẽ bị tất cả mọi ng ném đá!
KN đọc Nikaya hay các bản Luận sau này với một tinh thần rất khắc khe và đối chiếu thực hành. KN ko phải thuộc hệ tư tưởng của TT Thông Lạc, nhưng càng đi sâu vào PG, càng nghiên cứu và thực hành thì càng thấy rằng chuyện Vong và Luân Hồi chỉ là bị thêm thắt vào sau khi Phật nhập diệt nhằm cho những mục đích khác nhau, hoặc Phật có nói nhưng với những hạng thích nghe, và dù có kể trên trời dưới đất thì đức Phật luôn lấy đó là chuyện để nói về những điều cốt lõi hơn.
KN khá liều lĩnh khi hành thiền tới ranh giới giữa sống và chết. KN đành phải nhìn nhận rằng “sau khi chết ko có gì nữa cả!”.
KN xin lỗi Sư Bhikkhu Indacanda khi khẳng định điều ấy.
Bhikkhu Indacanda KN xin lỗi Sư Bhikkhu Indacanda khi khẳng định điều ấy??? Không hiểu vì sao lại bị lôi vào đây nữa, Karmalaw Net ơiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiii???
Karmalaw Net vì Sư đã dịch xong một quyển sách rất hay, rất công phu. Trong khi KN lại cho rằng những truyện trong đó có sau khi Phật nhập diệt, và là lời kể của các tỳ kheo sau này cho những ng bình dân nghe. KN cho rằng chuyện vong nhân là của “người sống” kể.
Vô Thường Nên đọc thêm câu chuyện con cá và con rùa cạn nói chuyện với nhau. Con cá đâu biết đời sống trên cạn là gì, và con rùa cạn cũng ko biết đời sống dưới nước la gì. Kêt luận hơi sớm vấn đề khi mà chỉ căn cứ vào một số điều. Thế giới còn nhiều điều bạn chưa biết đâu…cứ chuyên hành tu tập đi, chứng đắc các tầng thiền rồi mọi sự sẽ sáng tỏ
Vô Thường Nhưng thứ đang bàn luận không giúp ích gì cho quá trình chứng ngộ các tầng thiền đâu mà chỉ thêm hý luận, biết nhiều loạn tâm, cản trở đường đạo thôi. Mình nói thật long đó. Hi vọng có bạn sẽ hiểu.
Phạm Doãn Dear Sư Bhikkhu Indacanda: Trách nhiệm của Sư là phải dịch hết những bộ kinh còn chưa dịch, để mọi người nghiên cứu. Nghiên cứu rồi …bàn tán phê bình. Về sau, có tìm ra và phân biệt được chỗ nào là chính kinh, đoạn nào là do đời sau thêm vào, thì đó là chuyện của các tu sĩ hoc giả đời sau! (không phái chuyện của dịch giả). Mong mọi người động viên mạnh mẽ để Sư còn ráng đi tiếp con đường gian khó của mình!
Thảo luận vối Karmalaw Net: Những cấu hỏi như Karmalaw vừa hỏi rất chân thật và rất hay nếu được tiếp tục khai triển.
- Những câu chuyện về ma , quỷ, phi nhân này rất có thể có sau lúc Đức Phật nhập diệt. Tuy nhiên không vì thế mà là chuyện hoang tưởng. Nếu thế giới ma quỷ rất gần với ta mà đã là hoang tưởng thì các thế giới khác như cỏi thiên, cõi tịnh thổ mà người tu tập như chúng ta đang nổ lực hướng đến có lẽ càng xa vời và hoang tưởng hơn nhiều lần như thế nữa.
- Sau khi Phật nhập diệt là thời kì kết tập các nguồn tư liệu quý giá của tất cả các vị A La Hán chứ không phải của riêng Đức Phật. Ví dụ “Phân Tích Đạo” (patisambhidamagga)của Ngài Xá Lợi Phật mãi đến hơn 200 năm sau với được xếp vào chánh tạng (Tiểu bộ kinh). Tôi nói thế có nghĩa là nếu biết sử dụng thông tin thì ngay các nguồn có sau thời Đức Phật vẫn có thể sử dụng được!
- Hiện giờ giới học giả cũng nghi ngờ “chuyện tiền thân Đức Phật” (Jātakapāḷi) là do đời sau biên tập!
Trở lại với “Chuyện Ngạ Quỷ”, nếu bị nghi ngờ là không có thật thì cũng là một nghi vấn thường tình thôi. Các tu sĩ học giả sẽ làm sáng tỏ vấn đề này trong tương lai.
- Đối với tôi, thì thế giới rộng lớn này không thể chỉ có một. Có rất nhiều chiếu không gian khác nhau. Có rất nhiều thế giới khác nhau. Có rất nhiều kiểu tồn tại khác nhau. Chỉ là hiện nay (tu tập chưa đủ) nên ta chưa có đủ năng lực tâm linh để tiếp xúc với các thế giới đó.
Karmalaw Net Quả là những điều ấy thật khó nói, KN tôn trọng ý kiến số đông, nên ko bàn chuyện này nữa.
Với Vô Thường: bạn nói lạc đề quá.
- “trong khi AG thì cho rằng con ng ta tái sinh mãi vì có Atman. Đức Phật thì bảo là không có Atman (hình như gọi là anatta). Đây là câu hỏi khó nhất mà KN gặp phải từ khi học PG…..câu trả lời sẽ bị tất cả mọi người ném đá!
Dear Karma Law:
- Câu hỏi này thực sự khó và vì vậy chẳng ai dám ném đá đâu! Vì trên Internet ta thấy rất nhiều người câu hỏi này, nhưng với hình thức khác. Ví dụ: Đạo Phật nói không có Ngã: Không có Ngã thì lấy ai mà chịu nghiệp. Không có Ngã thì lấy gì mà tái sinh? Đối với câu hỏi này thường ít có câu trả lời được rõ ràng.
- Vậy group có thể trả lời cho Karma Law như một cơ hội cho nhiều người học hỏi chung không?
“Đây là câu hỏi khó nhất mà KN gặp phải từ khi học PG: “có phải là thiền định sẽ là con đường đưa ng ta tới Niết Bàn, hay là thiền định là cách để ng ta thấy Niết Bàn? Chỉ có Alahán mới biết NB hay NB là công bằng đối với mọi ng, tức là khi bản ngã ko có, ai chết cũng tan rã như nhau?”, “luật Nhân Quả là khách quan hay chủ quan?”
TRẢ LỜI Karma Law (theo những điều tôi học hỏi được trên chính Group này):
- Thiền Định được coi như phương tiện giải thoát của rất nhiều tôn giáo khu vực Ấn Độ.
- NHƯNG, Thiền Định không có khả năng đưa đến giải thoát tối thượng của Đạo Phật (vì thiền định không sinh ra đủ Tuệ cần thiết cho sự trức nhận Nibbana)
- Để đi đến Giác Ngộ và thấy được Níp bàn cần tới 10 bước còn gọi 10 chi phần. Bát chánh Đạo là 8 bước đầu tiên, trong đó Chánh Định là mức cao nhất. Muốn đạt đến giác ngộ cao nhất phải cần hai bước cuối cùng là Chánh Trí và Chánh Giải thoát. Trong một số kinh có đề cập đến “A La Hán Đạo mười chi”.
- Chánh Định (sammasamadhi) chỉ là “điều kiện” để thực hiện bước Chánh Trí (Tuệ Giác Ngộ), và bước cuối cùng là Chánh Giải Thoát tức gia đoạn thấy được Nibbana.
- Chỉ có A La Hán mới thấy Nibbana (Cả lúc sống và lúc chết)
- Khi chết, tứ đại tan rã, A La Hán không tái sinh ở bất cứ cõi nào vì ngài không có Ngã, không còn Nghiệp.
- Người bình thường thì khi chết thân thể cũng tan rã, nhưng luôn có nghiệp để đi tái sinh. (Sẽ giải thích tại sao “không ngã” và tại sao “có ngã” vào comment khác).
Tứ Diệu Đế Cau hoi that kho tra loi, chi co Duc Phat va bac Thanh A La Han moi nhin ro su tai sinh cua tat ca chung sanh.
Nhieu luc trong hien tai ta con khong ro hanh dong ac thien cua ta lam dan den qua thien ac nao, huong chi la mot su tai sanh cua doi truoc. That kho, that kho.
”Peta hay Ngạ quỷ chính xác là gì?”
Peta = Pa + i + ta.
1. Hàm nghĩa người đã chết, người chết, vong linh….:
“Yathaapi daarako candam gacchandam anurodati. Evam sampadamevetam yo petamanusocati. (petamanusocati = petam + anusocati)
(tạm hiểu: Ví như đứa trẻ khóc vòi vĩnh mặt trăng trên trời như thế nào, thì người khóc than đến ‘người đã quá vãngi’ cũng như thế ấy.) …
2. Ám chỉ một loại chúng sanh có tên chung là Peta. Với hình tướng và bản chất của loại chúng sanh này là “không có hạnh phúc an lạc”, “lìa xa sự hạnh phúc an lạc”
Do đó, tùy trường hợp để hiểu cho đúng.
Khi bắt gặp mỗi một từ Peta nhưng đang bàn ở đây thì nên hiểu theo nghĩa thứ 2.
Tứ Diệu Đế Da, Nghiep di tai sanh, vay nghiep do than khau y, vay noi than khau y di tai sanh nhu vay co duoc khong? (thien nghiep va ac nghiep)
Có 12 loại Peta:
1/ Vantāsa: Loại chuyên ăn những đồ bẩn của người khác như nước miếng, mủ, máu. ( Trong dân gian ông bà mình thường khuyên không nên phơi đồ ban đêm ngoài trời, nhất là đồ lót),
2/Kuṇāpāsa: Loại chuyên ăn những xác chết thố…See More
Bhikkhu Rama Ngạ Quỷ có thể thọ nhận Phước với 3 điều kiện:
1/ Người làm phước hồi hướng phước đó đến ngạ quỷ ( bằng cách gọi tên)
2/Người nhận vật cúng dường phải có giới đức trong sạch.
3/ Chính Ngạ Quỷ đó phải hoan hỉ phước báu đó.
(Theo chú giải Petavatthu)
Hà Anh Nguyễn Người làm phước hồi hướng phước đó đến ngạ quỷ ( bằng cách gọi tên)———>dạ sư Bhikkhu Rama cho con hỏi là mình phải gọi tên gì?
Bhikkhu Rama To Hà Anh Nguyễn: Chị thử dùng câu này thử( Nếu không biết chính xác tên của người thân quyến của mình):
“Con xin hồi hướng phước báu này đến ông bà cha mẹ, thân bằng quyến thuộc, nội ngoại hai bên của con từ nhiều đời nhiều kiếp đã quá vãng.
Do nhờ hoan hỉ phần phước này mà sớm sinh vào nơi nhàn cảnh,…”
“KN ko phải thuộc hệ tư tưởng của TT Thông Lạc, nhưng càng đi sâu vào PG, càng nghiên cứu và thực hành thì càng thấy rằng chuyện Vong và Luân Hồi chỉ là bị thêm thắt vào sau khi Phật nhập diệt nhằm cho những mục đích khác nhau,…”
* * *
Thảo luận với Karmalaw: Có một điều mà Karmalaw muốn nói nhưng chưa nói ra đó là “Chánh Kiến” của Thầy Thông Lạc. “Chánh Kiến” của Thày như sau:
- Con người ta không có linh hồn- không có “Ngã” (đã in thành sách)
- Không có các cõi giới nào cả. Nếu tu tập thành công, chết sẽ nhập vào Níp Bàn. Nếu không tu tập, hoặc tu tập chưa thành công, thì sau chết lại tái sinh ngay trên địa cầu này!
Đối với tôi, thày Thông Lạc đã đem lại một số quan điểm làm lợi lạc cho sự tu tập của tôi. Tôi rất biết ơn Thày. Tuy nhiên có những quan điểm triết lý (như đã nêu) thì tôi không thể nào thông hiểu được.
- Hiện nay Group Pali chuyên đề có rất nhiều vị tu học với thày Thông Lạc và có lẽ nắm vững về quan điểm “không có các cõi giới”. Tha thiết xin mới các vị tham gia thảo luận để làm sáng tỏ quan điểm này. Đây là lời mời chân tình của tôi gởi đến các vị trong tinh thần học hỏi.
Anh Phan ”Không có các cõi giới nào cả”! Chắc Thầy Thông Lạc chưa bao giờ gặp Ma, phải không bác Phạm Doãn hè! :)
Trong kinh, luận Đức Phật có đề cập đến các tầng thiền, nếu hành giả chứng đắc thì sau khi mạng chung sẽ sanh lên cõi trời Sắc Giới, Vô Sắc Giới mà, không phải tái sanh thành người ở trên trái đất này.
TL Thông Lạc dẫn chứng kinh Căn bản pháp môn để cho chư thiên, cõi thiên là không thật có vì là tưởng tri. Ông dựa theo ý câu kinh là: Kẻ phàm phu tưởng tri chư Thiên là chư thiên nên không thật biết chư Thiên. .(trích đại lược ý kinh)
Tưởng tri là nhận thức bằng tri giác (perception) dựa vào trí nhớ về sự vật đã thành hình từ quá khứ, hoặc do nghe người khác kể, đọc mô tả từ sách…, tất cả đều thiếu sót và có thể không đúng với thực trạng (khi đối diện thật sự). Ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi xúc cảm, như mong cầu, lo lắng, sợ hãi…khi nhận thức, để dễ thấy sai lạc sự vật. TL cho tưởng tri ở trên có nghĩa là biết “bằng tưởng tượng”, và gán cho Phật bảo chư Thiên, cõi Thiên là cái biết do tưởng tượng của phàm phu nên không thật có. Thế ở ngay câu mở đầu kinh CBPM Phật nói “kẻ phàm phu tưởng tri đất là đất, nên không biết rõ đất”, thì có phải Phật muốn nói là ” không thật có đất” ? Ý Phật muốn nói vì tưởng tri đất nên phàm phu không thấy được đất đúng như đất thật sự là (“như thị”).
Thật ra, tiếp theo Phật cũng nói ở bậc hữu học có cái biết liễu tri, và ở Như Lai có cái biết thắng tri về đất, cũng như về chư Thiên, cõi Thiên, nên biết rõ đất là đất , chư Thiên là chư Thiên.
Tóm lại, không thể dẫn sai ý kinh Căn bản Pháp môn như ông TL để kết luận cõi thiên, chư thiên cho vì là tưởng tri, nên không thật; mà kinh chỉ nói là không thấy biết đúng được như người liễu tri, thắng tri nên không biết rõ. Không biết rõ chớ không phải không có thật. Tôi cũng thấy nhiều người không thật hiểu nghĩa của “tưởng tri” (khi cho là do tưởng tượng mà có), và cũng chấp nhận cái ý tưởng về “thiền tưởng” của ngài Thông Lạc.
KN ko dựa vào ý kiến của thầy nào cả. KN dựa trên thực hành theo Tứ Niệm Xứ và Bát Chánh Đạo.
Từ bé tới giờ KN chưa thấy Vong. Và cũng xin thành thật hỏi mọi ng “các vị đã nghe, đọc rất nhiều, chứ có bao giờ gặp vong thật sự, tức là có nhi…See More
Karmalaw Net quan điểm của KN là sau khi chết thì bản ngã (cái tôi) sẽ tan hoại cùng với thân xác. Chẳng thể có chuyện tái sinh, dù ở Địa Cầu hay cõi khác. Vũ trụ “khác quan khoa học với các chiều khác nhau” là phản ảnh của tâm thức, khi tâm thức tan thì nhận thức về vũ trụ (vũ trụ quan) cũng mất.
Tứ Diệu Đế KN: Neu khong co tai sinh thi hien tai ta dang hien huu do dau? Tai sao khi sanh ra co nguoi thi benh tat, co nguoi khoe manh, co nguoi thi di tat bam sinh,…
Karmalaw Net tại sao cùng 1 cành mai mà có bông to bông nhỏ?
Tứ Diệu Đế De co cay mai ra bong to bong nho la tren troi roi xuong hay la co nhan la hat hay la canh chiet?
Karmalaw Net tại sao cùng 1 cây mà lá to lá nhỏ, quả chín trước chín sau?
Tứ Diệu Đế Muon co cay co qua to, qua nho, qua chin truoc chin sao thi cay do tu tren troi roi xuong hay no hien huu cung phai co nhan?
Karmalaw Net dù là cây cỏ tiến hóa, cũng ko thể nói cái lá, cái hoa này là kiếp trước của cái lá cái hoa kia. Con người cũng vậy mà thôi. Mưa giọt to giọt nhỏ, giọt rơi lâu giọt tan mau. Hoa tuyết cũng vậy. Có cái Ngã nào trong từng giọt nước hay ko?
Tứ Diệu Đế Tat ca hien tuong su vat deu co nguyen nhan cua no, khong co su dot xuat hay thinh linh.
Tứ Diệu Đế Tat ca hien tuong su vat deu co nguyen nhan cua no, khong co su dot xuat hay thinh linh.
Karmalaw Net và nếu ng ta ko giải thích dc thì ng ta cứ gán cho nó cái
Đức Phật dạy trong kinh Sa Môn Quả:
“Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng: Này các Hiền giả, những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến, những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm các thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh, vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng. Này Ðại vương, đó là quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.”
Việc Karmalaw Net nói không có sự tái sanh đó là quan điểm của KN, còn Tứ Diệu Đế có quan điểm là có sự tái sanh luân hồi, tuy nhiên Tứ Diệu Đế cũng không thể nào kết luận một chiều quan điểm của mình là: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều sai lầm.”
Karmalaw Net Đừng trích dẫn 1 đoạn, vì nó chỉ là 1 phần của con voi, nó ko thể tả con voi. Hãy xem bài kinh này Phật nói cho ai nghe, và cách hành văn biện chứng để dẫn từ từ tới Sa Môn Quả mà đức Phật muốn nói. Haizzzz
Karmalaw Net kính!
“Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai…See More
@Hoa Nguyen:
“TL Thông Lạc dẫn chứng kinh Căn bản pháp môn để cho chư thiên, cõi thiên là không thật có vì là tưởng tri. Ông dựa theo ý câu kinh là: Kẻ phàm phu tưởng tri chư Thiên là chư thiên nên không thật biết chư Thiên. …. “
Việc phải chăng Thầy TL chỉ dẫn chứng bài kinh này còn chưa khẳng định được, huống hồ gì việc chú bảo rằng Thầy dựa vào câu kinh cụ thể nào trong bài kinh CBPM thì đó chính là… Tưởng Tri của chú đó!
“TL cho tưởng tri ở trên có nghĩa là biết “bằng tưởng tượng”, và gán cho Phật bảo chư Thiên, cõi Thiên là cái biết do tưởng tượng của phàm phu nên không thật có. Thế ở ngay câu mở đầu kinh CBPM Phật nói “kẻ phàm phu tưởng tri đất là đất, nên không biết rõ đất”, thì có phải Phật muốn nói là ” không thật có đất” ? Ý Phật muốn nói vì tưởng tri đất nên phàm phu không thấy được đất đúng như đất thật sự là (“như thị”).
Thật ra, tiếp theo Phật cũng nói ở bậc hữu học có cái biết liễu tri, và ở Như Lai có cái biết thắng tri về đất, cũng như về chư Thiên, cõi Thiên, nên biết rõ đất là đất , chư Thiên là chư Thiên.”
Đương nhiên đã là phàm phu thì “thấy” các cõi bằng Tưởng chứ không phải bằng Liễu hay Thắng rồi. Ý ở đây giữa Thầy và Phật không khác. Đã bằng Tưởng thì khó có thể đúng và thật được.
“Tóm lại, không thể dẫn sai ý kinh Căn bản Pháp môn như ông TL để kết luận cõi thiên, chư thiên cho vì là tưởng tri, nên không thật; mà kinh chỉ nói là không thấy biết đúng được như người liễu tri, thắng tri nên không biết rõ. Không biết rõ chớ không phải không có thật. Tôi cũng thấy nhiều người không thật hiểu nghĩa của “tưởng tri” (khi cho là do tưởng tượng mà có), và cũng chấp nhận cái ý tưởng về “thiền tưởng” của ngài Thông Lạc.”
Lời Thầy Thông Lạc ở đây vẫn phù hợp với bài kinh CBPM và phù hợp khi nói về cái thấy của chúng sanh phàm phu.
Chú có cái hiểu tương đối hợp lý về bài kinh CBPM, tuy nhiên, vì chú có thành kiến và phiến diện với lời nói của Thầy TL nên “cái hiểu tương đối” kia của chú và lời của Thầy cứ “chạy song song nhau”. Sao chú không thử hiểu rằng: “à, hoá ra ông Thông Lạc bảo các cõi không có nghĩa là không có qua lăng kính của Tưởng, mà chỉ có thể có khi thấy bằng Thắng Tri”?!
Anyway, hầu hết chúng ta ở đây đều vẫn còn Tưởng sâu dày, cần “chiến đấu” nhiều hơn nữa để bỏ bớt Tưởng. Còn quan điểm về các cõi giới thì nên TIN. Cũng như Tin vào Nhân Quả thiện ác. Chứ ai cũng đòi thấy hết (trong khi chẳng tu hành, thực chứng bao nhiêu) thì e là…. té sông!
TL Thông Lạc thật sự dẫn bài kinh Căn Bản pháp môn để kết luận “Phật nói chư Thiên là tưởng tri của phàm phu nên không có thật”. TL có hơn 30 đầu sách in kể cũng khó tìm lại đoạn TL trích dẫn, thế nhưng bai viết đó ChanhPhatphap NguyenThuy đã đưa lên FB và tôi có ý kiến vào vào trang riêng của anh ấy, nên chính CPP NT tìm lại thì rất dễ. Về bài kinh CBPM này tìm trên trang web BuddhaSasana với tựa “Chú giải kinh Căn Bản pháp môn”, Tỳ Khưu Giác Lộc.
Chuyện khác thì không cần bàn thêm vì khi TL không hiểu rõ nghĩa “tưởng tri” thì các đệ tử làm sao hiểu được, nên tất cà đều quy về “tưởng” là đủ đả kích thiên hạ. Điều quan trọng tôi nêu lên: “tưởng tri” là thấy không đúng thực tại, nhưng thực tại vẫn có thật dù được nhìn bằng tưởng tri, liễu tri, hay thắng tri. TL phủ nhận thực tại dựa vào cái thấy cho là tưởng tri của phàm phu.
Các Định luật Tái sanh luân hồi, Nhân Quả thuộc vào chi phần Chánh Kiến của Bát Chánh Đạo. Ai chưa rõ về nó thì Chánh Kiến còn yếu. Giải thích các định luật này trực tiếp khó thì có thể dùng cách gián tiếp. Ví dụ trong Vật lý giải thích các lực tác dụng qua lại với nhau, Lực A sẽ không tự nhiên mấy đi về giá trị 0 mà nó đã chuyển hoàn toàn sang lực B về độ lớn, chỉ khác phương chiều mà thôi. Giải thích sự chuyển hóa các dạng năng lượng cũng tương tự. Vấn đề tái sinh của chúng sanh có tồn tại hay không cũng khó giải thích tực tiếp trừ khi người đó đắc các Thắng Trí như Túc Mạng Minh. Cách giải thích gián tiếp là đặt câu hỏi đại loại như Vì sao tất cả 7 tỷ người trên thế giới này không kiếm đâu ra 2 người giống hệt nhau hoàn toàn? Cái gì tạo ra sự khác biệt đó? Có phải lực quán tính hay nghiệp cũ đời trước tạo ra sự khác biệt này không? Có 2 người nào mà tất cả hành động, nói năng và suy nghĩ đều giống y hệt nhau không? Còn vô số cách liên hệ khác nữa hành giả tu tập tâm linh tự hỏi sẽ rõ vấn đề.
Có Chánh Kiến, Chánh Tư Duy tức hành giả tạm hiểu về Nhân Quả: Nhân xấu cho quả tái sinh đời sau khổ, nhân tốt cho quả tái sinh đời sau được an vui, không gây nhân (trong 6 nhân) gì nữa thì tái sinh lần cuối là tịch tịnh Niết-bàn. Hiểu được như vậy hành giả mới có Tàm, có Quý (tức hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi), tiếp đến họ mới tu sửa bản tính như giữ giới, làm phước, tu thiền,…tức tu tập các chi phần tiếp theo trong Bát Chánh Đạo. Rốt ráo nhất là hành giả củng cố Chánh Kiến vững chắc, không còn tự hỏi câu hỏi như “Có tái sanh hay không, Có đời sau hay không?” nữa :)
Mời tham khảo thêm về PETA (Ngạ Quỷ):
TAM TẠNG PĀLI – VIỆT
CHUYỆN NGẠ QUỶ
http://www.paliviet.info/VHoc/VHoc_30b.htm
*
Phân tích về các Cõi-Giới
Đăng trong: 10/03/2012 Filed under: Thắng pháp Leave a comment »Trích từ: Đường vào Thắng pháp
Tỳ khưu Chánh Minh
Cõi
(Bhūmi).
198 – Hỏi. Cõi là gì? Có bao nhiêu cõi?
Đáp. Chữ bhūmi xuất nguyên từ ngữ căn bhū nghĩa là “nổi lên”.
Bhūmi là nơi có chúng sinh sinh sống. Như có Pāli giải thích:
“Bhavanti sattā etthāti bhūmi: Chúng sinh hiện khởi nơi nào, nơi đó gọi là cõi”.
Nói gọn có ba cõi là: Cõi Dục giới, cõi Sắc giới và cõi Vô sắc giới.
Nếu phân tích rộng thì có 31 cõi: Dục giới có 11 cõi, Sắc giới có 16 cõi, Vô sắc giới có 4 cõi.
199 – Hỏi. Hãy kể ra 11 cõi Dục?
Đáp. Mười một cõi Dục là: 4 cõi khổ + cõi người + 6 cõi trời Dục.
Có Pāli như sau: Tāsu, nirayo, tiracchānayoni, pettivisayo, asurakāyo apāyabhūmi catubidhā hoti:
“Có bốn cõi “bất hạnh (apāya)” là: Địa ngục, thú (tiracchāna), ma đói (peta) và “thần quỷ (asura)”.
Manussā, cātummahārājikā, tāvatiṃsā, yāmā, tusitā, nimmānarati, paranimmitavasavattī c’āti kāmasugatibūmi sattavidhā hoti:
“Có 7 cõi vui Dục giới (kāmasugatibhūmi) là: Cõi người (manussa), cõi Tứ đại vương(catummahārājā), cõi Ba mươi ba (tāvatiṃsa), cõ iDạma (yāmā), cõi Hóa lạc thiên (nimmānarati), cõi Tha hóa tự tại (paranimmitavasavattī) ” [25].
200 – Hỏi. Vì sao gọi là”cõi bất hạnh”( apāyabhūmi).
Đáp. Apāyabhūmi = apa (lìa bỏ, tách rời) + aya (công đức, công hạnh – kusalakamma) + bhūmi.
Pāli giải thích chữ aya (vacanattha) như sau:
“Tividhasampattiyo ayanti gacchanti pavattanti etenāti = ayo:
“Thành tựu được hạnh phúc nhân, thiên và Nípbàn, gọi là aya (công đức).
Ayati vaḍḍhātīti = ayo: Sự an lạc, gọi là aya (hạnh phúc).
Ayitabbo sāditabboti = ayo: Sự an lạc đáng hài lòng, gọi là aya.
Ayato apagato = apāyo: Lìa bỏ sự đi đến hạnh phúc, gọi là “bất hạnh – apāya”.
Apāyo eva būmi = apāyabhūmi: Nơi chúng sinh sống không có hạnh phúc, gọi là cõi bất hạnh”[26].
Cõi bất hạnh (apāyabhūmi) là chỉ chung cho bốn cõi khổ.
Chúng sinh sống trong bốn cõi này, tuy có tâm thiện khởi lên, nhưng rất khó.
Ngay cả chúng sinh cõi nhân loại tuy tâm thiện khởi lên dễ dàng, nhưng phần nhiều lại có khuynh hướng tạo ác nghiệp, còn nói chi đến chúng sinh đang sống nơi khổ cảnh. Đức Phật có dạy:
“Sududdasaṃ sunipuṇaṃ; yatthakāmanipātinaṃ
Cittaṃ rakkhetha medhavī; cittaṃ guttaṃ sukhāvahaṃ
“Khó nắm giữ, khinh động; theo các dục quay cuồng.
Lành thay, điều phục tâm; tâm điều an lạc đến” (HT. TMC dịch)[27].
Hay:
“Abhittharetha kayāne; pāpā cittaṃ nivāraye.
Dandhaṃ hi karoto puññaṃ; pāpasmiṃ ramati mano.
“Hãy gấp làm điều lành; ngăn tâm làm điều ác.
Ai chậm làm điều lành, ý ưa thích việc ác” (HT. TMC dịch)[28].
Một từ khác chỉ cho 4 cõi bất hạnh này là duggati.
Duggati theo nghĩa đen là “đi đến khổ”.
Có Pāli giải thích từ duggatibhūmi (cõi khổ) như sau:
*-Du (xấu, bất hạnh)+ gati (đi đến, nơi đến) + bhūmi = duggatibhūmi.
Dukkhassa gati paṭisaraṇanti = duggati:
Đi đến nơi khổ đề nương tựa, gọi là “khổ cảnh”.
*- Dukkhena gantabbāti = duggati:
Đã đi đến nơi khổ, gọi là “khổ cảnh”.
Có 3 trường hợp gọi là “đi đến khổ cảnh”:
Āgāriyapaṭipatti = duggati:
“Đời sống ác hạnh của người cư sĩ, gọi là “đi đến khổ”.
Tức là người cư sĩ không giữ gìn 5 giới, hay tạo ác nghiệp do mãnh lực của phiền não.
- Anagāriyapaṭipatti = duggati:
“Đời sống tà vạy của người xuất gia, gọi là “đi đến khổ”.
Tức là bậc xuất gia nuôi mạng không chân chính, nuôi mạng theo 21 cách sống tà mạng được ghi trong tạng Luật, hay là người phá hoại niềm tin của Phật tử.
- Gatiduggati. Chỉ cho 4 cõi bất hạnh[29].
201 – Hỏi. Cõi địa ngục (nirayabhūmi) ra sao?
Đáp. Chữ niraya phân tích thành: Ni (không có) + aya (an lạc).
Niraya (địa ngục) là nơi chúng sinh sống hoàn toàn không có sự an lạc, luôn bị sự khổ thiêu đốt thân tâm.
Chúng sinh sống trong địa ngục là loại chúng sinh hóa sinh, do đó cõi địa ngục cũng là sắc tế.
Theo bộ Sớ giải Người và cõi thì chúng sinh sống trong địa ngục có 3 hạng: Hạng tội nhân, hạng quỷ sứ (nirāyapāla) và Diêm vương (yamarāja).
*- Hạng tội nhân: Là những chúng sinh tạo ác nghiệp, khi mệnh chung phải sinh ra tại chính cảnh giới ấy.
*- Hạng quỷ sứ (nirayapāla). Đây là những chúng sinh không phải sinh ra tại cảnh giới địa ngục, vì tâm tục sinh của họ không phải là tâm Quan sát thọ xả quả bất thiện, mà là quả của tâm đại thiện thấp.
Hạng chúng sinh này là chư thiên tùy chúng của Tứ Đại vương, là những Rakkhasa (Lasát).
Trong địa ngục có những con kên kên, quạ, diều hâu … đó chính là những Dạxoa có thân hình kỳ dị, chứ trong địa ngục không có súc sinh.
*- Diêm vương (yamarāja). Chính là vua của hạng ngạ quỷ vemānika, khi thì sống an lạc như chư thiên cõi Ba mươi ba, khi thì phải chịu khổ trong cảnh giới địa ngục.
Bồtát cũng có lần tái sinh làm Diêm vương [30].
Theo Sớ giải Tăng chi kinh, pháp 3 chi (Tikaṅguttara – atthakathā); Diêm vươnglà người lạc vô nhân cũng có, là người nhị nhân cũng có, là người tam nhân cũng có.
Khi còn là phàm nhân thì thọ hưởng như đã nói; khi chứng được Thánh quả thì không còn xuống địa ngục nữa, chỉ thọ hưởng quả an lạc như chư thiên mà thôi.
Cõi địa ngục bao gồm 8 đại địa ngục, nằm sâu trong lòng địa cầu, mỗi đại địa ngục cách nhau 15 ngàn do tuần (yojana), nằm chồng lên nhau theo thứ tự, mỗi đại địa ngục có 32 tiểu địa ngục hay “đa khổ địa ngục (ussada)”.
Diêm chúa là người cai quản tiểu địa ngục, mỗi đại địa ngục có 8 vị Diêm chúa, như vậy có tất cả là 256 Diêm chúa (xin xem thêm Chú giải người và cõi do Đại Đức Thiện Phúc dịch, hay Chúng sinh và sinh thú do Đại Đức Giác Nguyên dịch).
2o2 – Hỏi. Do nhân nào tái sinh làm quỷ sứ (nirayapāla)?
Đáp. Đây là hạng chúng sinh khi là người, thích hành hạ chúng sinh khác, nhưng cũng biết tạo phước lành.
Nhờ phước lành ấy giúp họ sinh vào cõi Tứ đại vương, nhưng loại phước lành này có khuynh hướng (nikantitaṅhā) thích hành hạ người khác.
Chính bản tính hung dữ ấy khiến các Lasát (rakkhita) này xuống địa ngục hành hạ tội nhân để tiêu khiển, các quỷ sứ hành hạ tội nhân không biết chán, tội nhân càng nhiều đau khổ họ càng thích thú.
203 – Hỏi. Hãy giải thích về cảnh giới thú (tiracchānabhūmi).
Đáp. Có Pāli giải thích từ tiracchāna như sau:
*- Tiro añjantīti = tiracchāna: Đi ngang hàng, gọi là thú”
Câu giải tự trên đây có 2 ý:
- Nhân loại hay các chúng sinh khác, khi đi thường đầu cao hơn thân mình và đầu ngẫng lên cao. Còn những chúng sinh nào, khi đi đầu cúi xuống ngang với thân mình, gọi là thú.
- Khi đã sinh vào sinh chủng này, cho dù là Bồtát Chánh giác cũng không có đủ trí để chứng đắc Đạo – quả. Thánh trí đã bị ngăn lại, chí đến thiền định cũng không chứng đắc, nên gọi là “ngang hàng”.
Loài thú rất đa dạng với nhiều hình thức và tên gọi khác nhau, nhưng tựu trung gom vào 4 loại:
*- Loài không chân (apadatiracchāna). Như cá, rắn, trùn (giun)… Cao nhất trong loài không chân là loài rồng (nāga).
Bồtát cũng có những kiếp làm Long vương, như Long vương Bhūridatta khi Ngài thực hành trì giới Balamật[31].
*- Loài hai chân (dvipadatiracchāna): Như chim, gà, vịt…
Những loài này tuy có 2 chân như người, nhưng khi đi đầu chúi xuống, thân không đứng thẳng gần như ngang hàng với đầu, nên xếp vào loài thú.
Cao nhất trong loài thú 2 chân là chim Kim xí điểu (garuda – Đại bàng).
*- Loài bốn chân (catuppadatiracchāna): Như, nai, cọp… Cao nhất trong loài bốn chân là sư tử và voi.
Bồtát cũng có lúc làm voi như voi Chaddanta có hiếu với mẹ, hay làm sư tử chúa…[32]
*- Loài nhiều chân (bahuppadatiracchāna): Như rết, châu chấu…
Loài thú có hai loại: Loại thấy được bằng mắt và loại quá nhỏ đến nổi mắt thường không thấy được.
Loài thú dưới nước nhiều hơn loài thú sống trên cạn.
Chỗ trú của loài thú ở khắp nơi, nhưng không lên đến cõi Tứ đại vương, tuổi thọ của chúng bất định.
204 – Hỏi. Hãy giải thích về cảnh giới “ma đói” (petabhūmi)?
Đáp. Chữ Peta là hợp từ của pa + ita.
Theo nghĩa của ngữ nguyên thì peta là “những chúng sinh đã chết” hay “những chúng sinh không có hạnh phúc”[33].
Chúng sinh “ma đói – peta” thuộc hạng hóa sinh, nên thân xác họ là sắc tế, mắt thường không thể thấy được.
Chỗ ở của hạng chúnng sinh này thì bất định, chúng ở cùng khắp như rừng, núi, đảo, ven biển, vực thẳm, ở quanh nhà…
Trong dãy Hy mã lạp sơn, có khu rừng tên là Vijjhaṭavī, là thành phố của 12 loại ngạ quỷ[34]; chúa của nhóm ngạ quỷ là loài ngạ quỷ Mahiddha.
Trong bộ Lokapaññatti (Thế gian chế định) có ghi nhận:
Yattha petanagare petamahiddhiko sabbapetānam issoyādhipaccaṃ karoti:
“Bất luận nơi nào là thành phố ngạ quỷ, ngạ quỷ Mahiddhika là chúa của tất cả ngạ quỷ ở nơi ấy”.
Nói gọn thì có bốn hạng ngạ quỷ:
*-Paradattupajīkapeta: Ngạ quỷ sống bằng thực phẩm của người khác.
*- Khuppipāsikapeta: Ngạ quỷ luôn luôn đói khát.
*- Nijjhāmataṅhikapeta: Ngạ quyên thường xuyên bị lửa đốt.
*- Kāḷakañcikapeta: Atula ngạ quỷ .
Bồtát khi được Đức Chánh giác thọ ký, chỉ có thể sinh làm ngạ quỷ Paradattupajīkapeta, không sinh vào 3 hạng ngạ quỷ kia.
Tuổi thọ của ngạ quỷ bất định, tùy thuộc vào ác quả nặng hay nhẹ tuổi thọ lâu dài hay ngắn hạn.
205 – Hỏi. Hãy giải thích về cõi “Atula” (asurabhūmi).
Đáp. Có Pāli định nghĩa về asura (atula) như sau:
“- Na suranti issariyakilaadihi na dibbhantīti = asurā:
“Chúng sinh nào không sáng chói về quyền lực, không hân hoan, gọi là Atula”.
- “Asurānaṃ kāyo = asurakāyo: Tập hợp những Atula, gọi là nhóm Atula”[35].
“Sáng chói”, ở đây không mang ý nghĩa “hào quang sáng chói”, mà chỉ cho cuộc sống cơ cực. Như những người nghèo khổ, do kiếp trước có tâm bỏn xẻn không tạo phước bố thí, kiếp này may mắn sinh làm người nhưng nghèo khổ, cuộc sống vất vả.
“Không hân hoan”, cho dù những người này có được vật thực để nuôi mạng sống, nhưng là loại vật thực kem cõi, đời sống luôn ưu tư về “chen cơm manh áo”, tâm trí không có sự hân hoan vui thích như những người có phước khác. Đức Phật có dạy:
- Người ví như chúng sinh địa ngục. Là hạng người phạm quốc luật, bị giam cầm trong ngục…
- Người ví như loài thú. Là hạng nô lệ.
- Người ví như ngạ quỷ. Là hạng hành khất, cô lão… thường bị đói khát.
- Người ví như Atula. Là hạng người vất vả trong cuộc sống.
- Người ví như người. Là hạng người tâm trí hân hoan, vui thích trong cuộc sống.
- Người như chư thiên. Như vua, quan, Hoàng hậu…
Cảnh giới khổ Atula, ám chỉ cho nhóm Kāḷakañcikapeta (có giải thích ở trên). Chỗ ở của nhóm Atula (asurakāyo) này bất định.
Atula ngạ quỷ (petti asura) có 3 loại là:
- Kāḷakañcikapeta-asura. Là nhóm asura ngạ quỷ được trính bày ở trên.
- Vemānikapeta-asura.
- Āyuvaddhikapeti-asura. Là loại Atula trang bị vũ khí để tìm đánh nhau.
Tuổi thọ nhóm Atula này bất định tùy theo ác nghiệp nặng nhẹ mà tuổi thọ dài ngắn khác nhau. Có Pāli như sau:
“Tesu catummaṃ apāyānaṃ manussāṃ vinipātikāsurānañ ca āyuppamāāgaṇanāya niyamo natthi:
“Không có cố định tuổi thọ đối với những chúng sinh trong khổ cảnh, Atula đọa lạc và người”[36].
206 – Hỏi. Hãy giải thích 7 cõi vui Dục giới?
Đáp. Bảy cõi vui Dục giới là:
1- Cõi người (manussabhūmi).
Cõi người bao gồm những chúng sinh sống ở bốn châu là: Nam thiện bộ châu (Jampūdīpa), Bắc cưu lư châu (Uttarakurudīpa). Đông thắng thần châu (Pubbavidehadīpa) và Tây ngưu hóa châu (Aparagoyānadīpa).
Nhưng chữ Manussa (nhân loại) thường chỉ cho người ở Nam thiện bộ châu.
Có Pāli giải thích manussa như sau:
Mano ussannaṃ etesanti = mamussa:
“Có tâm chói sáng và dũng cảm, gọi là manussa (người)”.
Người Nam thiện bộ châu có tâm dũng cảm với 2 tính cách: Thiện và ác.
- Về thiện. Người Nam thiện bộ châu khi tu tiến, có khả năng thành tựu được Chánh đẳng giác, Bích chi, Thượng thủ thinh văn, Đại thinh văn, bậc Alahán thường, thành tựu Thiền định, Thắng trí hay có bậc Chuyển luân vương xuất hiện.
- Về ác. Có thể phạm vào 5 tội đại nghịch : Giết cha, giết mẹ, giết vị Thánh Alahán, làm chảy máu Phật và chia rẻ Tăng chúng.
Người ba châu kia không có được tâm dũng mãnh cả tốt lẫn xấu như người Nam thiện bộ châu.
Tuổi thọ người Nam thiện bộ châu bất định, có khi sống rất lâu, có khi sống rất ngắn.
Như trong thời Đức Phật Vipassī, chúng sinh có tuổi thọ là 80.000 tuổi; trong thời Đức Phật Sikhī, tuổi thọ loài người là 70.000 tuổi, trong thời Đức Phật của chúng ta, tuổi thọ loài người là 100 tuổi[37].
Người Đông thắng thần châu có tuổi thọ ổn định là 700 năm; người Tây ngưu hóa châu có tuổi thọ ổn định là 500 năm; người Bắc cưu lư châu có tuổi thọ ổn định là 1000 năm.
2- Cõi Tứ đại vương (Catummahārājabhūmi).
Cõi này có bốn vị chúa mỗi vị hộ trì một châu:
*- Thiên vương Dhataraṭṭha (Trì quốc thiên vương), ở hướng Đông, cai quản nhóm Hương thần (gandhabba – Cànthátbà), hộ trì Đông Thắng thần châu.
*- Thiên vương Viruḷhaka (Tăng trưởng thiên vương), ở hướng Nam, cai quản nhóm Kumbhaṇḍa (Thế quỷ – Cưubàntrà, là hạng chư thiên có bụng to), hộ trì Nam thiện Bộ châu.
*- Thiên vương Virūpakkha (Quảng mục thiên vương), ở hướng Tây, cai quản loài rồng, hộ trì Tây ngưu hóa châu.
*- Thiên vương Kuvera hay Vessavana (Đa văn thiên vương), ở hướng Bắc, cai quản nhóm Dạxoa (yakkha), hộ trì Bắc Cưu lư châu.
Một ngày đêm ở cõi Tứ đại vương bằng 100 năm cõi nhân loại.
Chư thiên cõi Tứ đại vương có tuổi thọ là 500 năm, tính theo nhân loại là 9 triệu năm[38].
Cõi Tứ Đại vương ở nửa núi Tudi (Sineru), cách xa cõi nhân loại là 42 ngàn do tuần, cách xa cõi Đao lợi là 42 ngàn do tuần.
3- Cõi Ba mươi ba (Tāvatiṃsabhūmi).
Cõi này có 33 vị thiên chủ, đứng đầu là vua Trời Đế Thích (sakka). Cõi Ba mươi ba cách xa cõi Tứ Đại vương là 42 ngàn do tuần.
Từ cõi này trở lên là khoảng hư không; chư thiên cõi Ba mươi ba có 2 hạng là:
*- Địa cư thiên (bhummaṭṭhadevatā). Là những vị chư thiên có thiên cung trên mặt đất.
*- Không cư thiên (ākāsaṭṭhadevatā). Là những vị chư thiên có thiên cung lơ lửng giữa hư không.
Kể từ cõi này trở lên chỉ có một hạng chư thiên là “không cư thiên”.
Một ngày đêm cõi Ba mươi ba bằng 100 năm cõi nhân loại, tuổi thọ chư thiên cõi Ba mươi ba là 1.000 năm, tính theo nhân loại là 36 triệu năm (sđd).
4- Cõi Dạma (Yāmābhūmi).
Chữ yāma xuất nguyên từ ngữ căn YAṂ, nghĩa là “tiêu diệt”.
Yāma là “tiêu diệt nóng bức, khó chịu”.
Cõi này dành cho những người làm việc lành với tâm mát mẻ; chư thiên ở cõi này không có sự nóng bức.
Vị chúa cõi này có tên là Suyāma hay Yāma
Cõi Dạma cách cõi Ba mươi ba là 42 ngàn do tuần; một ngày đêm trên cõi này tương đương với 200 năm cõi nhân loại. Tuổi thọ chư thiên cõi Dạma là 2.000 năm, tương đương với 144 triệu năm cõi nhân loại (sđd).
5- Cõi Đẩu-suất (Tusitabhūmi).
Cõi này dành cho những người tạo phước thiện balamật (pāramī). Bồtát Chánh đẳng giác, Bồtát Bích chi (paccekabodhisatta) Bồtát Thượng thủ thinh văn, kiếp áp chót thường tái sinh về cõi này.
Chúa cõi này có tên là Santusiya, cõi này cách cõi Dạma là 42 ngàn do tuần, một ngày đêm cõi này bằng 400 năm cõi người; tuổi thọ chư thiên cõi này là 4.000 tuổi, tương đương với 516 triệu năm cõi nhân loại (sđd).
6- Cõi Hóa lạc (Nimmānarati).
Đây là quả của sự tu tập thiền tịnh còn non kém, nhưng cũng đạt đến chi hỷ của thiền.
Chúa cõi này có tên là Sunimmita, cõi này cách cõi Đẩu-suất là 42 ngàn do tuần.
Một ngày đêm ở cõi này bằng 800 năm cõi người, tuổi thọ chư thiên ở cõi này là 8.000 tuổi, tương đương với 2064 triệu năm cõi nhân loại (sđd).
7- Cõi Tha hóa tự tại (paranimmitavasavatti).
Đây là quả phước của sự tu tập thiền chỉ đạt đến cận định.
Chúa cõi này có tên là Paranimmita, cõi này cách cõi Hóa lạc 42 ngàn do tuần.
Một ngày đêm ở cõi này bằng 1.600 năm cõi nhân loại; tuổi thọ chư thiên ở cõi này là 1600 năm, tương đương với 8256 triệu năm cõi nhân loại (sđd).
207 – Hỏi. Cõi Sắc giới (rūpavacarabhūmi) ra sao?
Đáp. Cõi Sắc giới là chỗ nương trú của các vị Phạm thiên. Như Pāli giải thích:
-“Rūpabrahmanaṃ avacarā bhūmi = rūpavacarabhūmi:
“Nơi Phạm thiên nương trú, gọi là cõi Sắc giới”.
Phạm thiên là “người thành tựu ân đức thù diệu, như ân đức thiền…”
Có câu giải thích về Phạm thiên (brahmana) như sau:
“Brūhanti vaḍḍhanti adhipanītehi jhānādiguṇehīti = brahmāno:
“Những vị chứng đạt, phát triển các pháp tính ưu việt như ân đức thiền.., gọi là Phạm thiên”.
Nói cách khác, vị chứng đạt được thiền định, không bị hoại thiền, sau khi mệnh chung tái sinh về một cảnh giới tương ứng với tầng thiền chứng đạt, vị ấy được gọi là Phạm thiên.
208 – Hỏi. Có bao nhiêu cõi Sắc giới? Hãy kể ra.
Đáp. Có tất cả là 16 cõi Sắc giới, như sau:
*- Tầng Sơ thiền có 3 cõi là: Cõi Phạm chúng thiên (Brahmapārisajjabhūmi), cõi Phạm phụ thiên (Brahmapurohitabhūmi) và cõi Đại phạm thiên (Mahābrahmābhūmi).
Có Pāli như sau: Brahmapārisajjā, brahmapurohitā, mahābrahmanā c’āti pathamajjhābabhūmi:
“Cõi Sơ thiền là: Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại phạm thiên”[39].
*- Tầng Nhị thiền có 3 cõi là: Cõi Thiểu quang thiên (Parittābhābhūmi), cõi Vô lượng quang thiên (Appamāṇābhābhūmi) và cõi Quang âm thiên (Ābhassarābhūmi).
Có Pāli như sau: Parittābhā, appamāṇābhā, ābhassarā c’āti dutiyajjhānabhūmi:
“Cõi Nhị thiền là: Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên và Quang âm thiên” (sđd).
*- Tầng Tam thiền có 3 cõi là: Cõi Thiểu tịnh thiên (Parittasubhābhūmi), cõi Vô lượng tịnh thiên (Appamāṇasubhābhūmi) và cõi Biến tịnh thiên (Subhākiṇṇābhūmi).
Có Pāli như sau:
“Parittasubhā, appamāṇasubhā, subhakiṇnā c’āti tatiyajjhānabhūmi:
“Cõi Tam thiền là: Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên và Biến tịnh thiên.”(sđd)”.
*- Tầng Tứ thiền có 7 cõi là: Cõi Quảng quả (Vehappalābhūmi), cõi Vô tưởng (Asaññasattabhūmi) và 5 cõi Tịnh cư (Suddhāvāsa). Có Pāli như sau:
-“Vehapphalā, asaññasattā, suddhāvāsā c’āti catutthajjhaanabhūmī’ti:
“Cõi Tứ thiền là: Quảng quả, Vô tưởng và Tịnh cư” (sđd).
Năm cõi Tịnh cư là nơi dành cho bậc Thánh Anahàm và bậc thánh Alahán.
Phàm nhân hay bậc Thánh Sơ quả, Nhị quả không thể tái sinh về nơi này, nên 5 cõi này còn được gọi là Thánh cư (ariyavāsa).
Đó là: Cõi Vô phiền (Avihābhūmi), cõi Vô nhiệt (Atappābhūmi), cõi Thiện kiến (Sudassābhūmi, cõi Thiện hiện (Sudassī bhūmi) và cõi Sắc cứu cánh (Akaniṭṭhabhūmi).
Có Pāli như sau: “Avihā, atappā, sudassī, sudassā, akaniṭṭhā c’āti suddhāvāsabhūmi pañcavidhā hoti:
“Cõi Tịnh cư có năm là: Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến và Sắc cứu cánh”.
“Puthujjhanā na labbhanti suddhāvāsesu sabbattā. Sotāpannā ca sakadāgāmino cāpi puggalā:
“Phàm nhân, bậc Dự lưu, bậc Nhất lai không sinh vào Tịnh cư thiên trong mọi trường hợp”(sđd).
209 – Hỏi. Ba cõi tầng Sơ thiền ra sao?
Đáp.Tầng Sơ thiền có 3 cõi là:
*- Cõi Phạm chúng thiên (Brahmapārisajjabhūmi).
Có Pāli như sau:Parisati bhavā = pārisajjā:
Trong nhóm đồ chúng, gọi là pārisajjā.
Tức là hạng Phạm thiên thông thường, không có quyền lực gì đáng kể.
Gọi là Phạm chúng thiên, nghĩa là Phạm thiên tùy tùng của Đại Phạm thiên. Ví như “dân chúng” trong một nước.
“Brahmānaṃ pārisajjā = brahmapārisajjā: Phạm thiên đồ chúng, gọi là “Phạm chúng thiên”.
Tên gọi “Phạm chúng thiên” là do nương theo chỗ trú của các Phạm thiên mà định danh như thế.
Như các Ngài dẫn ra:
“Brahmapārisajjānaṃ nibbātāti = brahmapārisajjā:
“Chỗ trú của Phạm thiên đồ chúng, gọi là Phạm chúng thiên”.
Vị Thánh Anahàm không đắc thiền, khi mệnh chung sinh về cõi này, do mãnh lực diệt trừ được tham dục và sân hận.
*- Cõi Phạm phụ thiên (Brahmapurohitabhūmi).
“Pure ucce tīhāne chanti tiṭṭhantīti = purohitā:
“Người phụ giúp, có chức vụ cao, gọi là “cố vấn”.
Hay: Brahmānaṃ purohita = brahmapurohitā:
“ Phạm thiên cố vấn, gọi là Phạm phụ thiên”.
Các vị Phạm phụ thiên ví như các quan đại thần trong quốc độ.
Chỗ nương trú của các Phạm phụ thiên, gọi là cõi Phạm phụ thiên.
Như có Pāli sau: Brahmapurohitānaṃ nibbattāti = brahmapurohitā:
“Chỗ trú của Phạm thiên cố vấn, gọi là Phạm phụ thiên”.
*- Cõi Đại Phạm thiên (mahābrahmābhūmi).
“Mahanto brahmā = mahābrahmā: “Phạm thiên lớn nhất, gọi là Đại phạm thiên.”
Đại Phạm thiên là vị cai quản cõi Sơ thiền, giống như vua của một nước.
Khi vũ trụ này mới hình thành, vị Phạm thiên sinh ra trước nhất trong tầng Sơ thiền, vị ấy được gọi là Đại Phạm thiên[40].
Như vậy, Đại Phạm thiên chỉ có một vị, điều này được tìm thấy qua đoạn Phật ngôn trong bộ Tương ưng kinh, phẫm ương ưng Phạm thiên (brahmasaṃyutta) như sau:
“Tatra sudaṃ bhikkhave brahmā (mahābrahmā) ca brahmaparisā ca brahmapārisajjā ca ujjhāyanti khīyanti…”
Theo đoạn Pāli trên, từ chỉ vị Đại Phạm thiên dùng số ít, còn từ chỉ Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên thì dùng số nhiều[41].
Có 3 hạng Đại Phạm thiên:
*- Đại Phạm thiên có hào quang chói sáng cả 1.000 vũ trụ (cakkavāla), gọi là Sahassabrahma.
*- Đại Phạm thiên có hào quang chói sáng cả 2.000 vũ trụ, gọi là Dvisahassabrahma.
*- Đại Phạm thiên có hào quang chói sáng cả 3.000 vũ trụ, gọi là tisahassabrahma.
Tuy gọi là 3 cõi Sơ thiền, thật ra ba cõi này nằm ngang hàng nhau, cách cõi Tha hóa tự tại 5.508.000 do tuần.
Các Phạm thiên có những phạm cung xinh đẹp (Kinh Phạm Võng), nằm lơ lửng, trôi nổi giữa hư không, nền bằng 7 loại ngọc báu, có vườn hoa, ao hồ…
Trong tầng Sơ thiền ấy có ranh giới để phân chia khu vực của 3 bậc Phạm thiên trong tầng ấy.
Các Phạm thiên tầng Sơ thiền tục sinh bằng tâm quả Sơ thiền Sắc giới.
Tuổi thọ của Phạm Chúng thiên là một phần ba kiếp trái đất, tuổi thọ của Phạm phụ thiên là nửa kiếp trái đất, tuổi thọ vị Đại Phạm thiên là một kiếp trái đất.
Đây là tính kể từ vũ trụ hình thành cho đến khi vũ trụ bị hoại, nếu vị Phạm thiên sinh lên vào lúc tuổi thọ trái đất là một nửa thì tuổi thọ ngắn lại. Vì khi vũ trụ bị hoại thì cả tầng Sơ thiền cũng bị hoại theo.
Có Pāli như sau: Tesu brahmapārisajjānaṃ devānaṃ kappassa[42] tatiyo bhāgo āyuppamāṇaṃ:
“Ở các cảnh giới này, thọ mạng của các chư thiên Phạm chúng thiên là một phần ba kiếp trái đất (kappa)”.
“Brahmapurohitānaṃ upaddakappo, mahābrahmānaṃ eko kappo:
Phạm phụ thiên là nửa kiếp, Đại Phạm thiên là 1 kiếp”[43].
210 – Hỏi. Ba cõi tầng Nhị thiền ra sao?
Đáp. Tương tự như tầng Sơ thiền, tầng Nhị thiền cũng có 3 cõi và tên gọi do nương theo chỗ ngụ và tính chất của các vị Phạm thiên ấy.
*- Cõi Thiểu quang thiên (Parittasubhābhūmi).
Là những vị Phạm thiên có hào quang tỏa ra ít hơn so với những Phạm thiên cao hơn.
Có Pāli giải thích như sau:
Parittā ābhā etesanti = parittābhā:
Hào quang ít hơn, gọi là parittābhā (thiểu quang)”.
Parittābhāvaṃ nibbattāti = parittābhā:
Trú xứ của các Phạm thiên ít hào quang, gọi là Thiểu quang thiên”.
Các Phạm thiên này giống dân chúng trong “xứ nhị thiền”.
*- Cõi Vô lượng quang thiên (appamāṇābhūmi).
Là những vị Phạm thiên có hào quang tỏa ra nhiều vô số.
Có Pāli giải thích như sau:
Appamāṇā ābhā etesanti = appamāṇābhā:
“Hào quang nhiều vô số, gọi là vô lượng quang”.
Appamāṇābhānaṃ nibbattāti = appamāṇābhā:
Trú xứ của Phạm thiên có hào quang tỏa ra vô số, gọi là cõi Vô lượng quang thiên”.
Các vị Phạm thiên ở cõi này ví như các quan đại thần trong xứ “Nhị thiền”.
*- Quang âm thiên (ābhassarābhūmi).
Là những Phạm thiên có hào quang tỏa ra từ thân rất xinh đẹp.
Có Pāli giải thích như sau:
Sarati nissaratīti = sarā:
Hào quang có chỗ chiếu ra, gọi là sarā (tia sáng).”
Ābhāsarā etesanti = ābhassarā:
Phạm thiên có hào quang từ thân xẹt ra, gọi là “Quang âm ”.
Ābhassarā nibbattāti = ābhāsarā:
Trú xứ của các Phạm thiên Quang âm, gọi là Quang âm thiên”.
Các Phạm thiên Thiểu quang có vai trò như Phạm chúng thiên tầng Sơ thiền.
Các Phạm thiên Vô lượng quang có vai trò như các Phạm phụ thiên ở tầng Sơ thiền.
Các Phạm thiên Quan âm có vai trò như Đại phạm thiên ở tầng Sơ thiền.
Theo kinh Khởi thế nhân bổn (Aggañña suttanta) trong Trường bộ kinh, thủy tổ loài người chính là những vị Phạm thiên cõi Quang âm này.
Các vị Phạm thiên Quang âm, có tâm tràn đầy hỷ lạc sung mãn rất tinh khiết, nên tạo ra sắc tâm tinh khiết, chính do sắc tâm này làm duyên cho sắc thời tiết sinh lên rồi hiển lộ thành hào quang rất xinh đẹp.
Các Phạm thiên ở tầng Nhị thiền tục sinh bằng tâm quả Nhị thiền Sắc giới và tâm quả Tam thiền Sắc giới.
Với tâm quả Nhị thiền Sắc giới làm việc, các vị Phạm thiên này là Phạm thiên Thiểu quang, hay Phạm thiên Vô lượng quang.
Với tâm quả Tam thiền Sắc giới làm việc tục sinh, các vị Phạm thiên này là Quang âm phạm thiên
Tầng Nhị thiền cách xa tầng Sơ thiền 5. 508.000 do tuần, cấu trúc tầng Nhị thiền giống như tầng Sơ thiền nhưng chói sáng hơn.
Tuổi thọ các vị Phạm thiên tầng Nhị thiền như sau:
- Tuổi thọ các vị Phạm thiên Thiểu quang thiên là 2 kiếp trái đất.
- Tuổi thọ các vị Phạm thiên Vô lượng quang là 4 kiếp trái đất.
- Tuổi thọ các vị Phạm thiên Quang âm là 8 kiếp trái đất.
Có pāli như sau:
Parittābhānaṃ dve kappāni; appamāṇābhānaṃ cattāri kappāni; ābhassarānaṃ aṭṭha kappāni:
“Thiểu quang thiên có (tuổi thọ) 2 kiếp trái đất; Vô lượng quang thiên là 4 kiếp trái đất; Quang âm thiên là 8 kiếp trái đất” (sđd).
Sự hoại vũ trụ được ghi nhận là: 7 lần hoại do lửa có một lần hoại do nước.Khi vũ trụ bị hoại do nước sẽ hủy diệt hết cõi Nhị thiền.
Do đó số lượng tuổi thọ các vị Phạm thiên Quang âm là 8 kiếp trái đất.
Nhưng nếu các vị ấy sinh sau hơn thì tuổi thọ không đến 8 kiếp trái đất.
211 – Hỏi. Ba cõi tầng Tam thiền ra sao?
Đáp. Tương tự như tầng Sơ hay Nhị thiền, tầng Tam thiền cũng có ba cõi là:
*- Cõi Thiểu tịnh thiên (parittasubhābhūmi).
Là trú xứ của những vị Phạm thiên có hào quang kém xinh đẹp nhất trong tầng Tam thiền.
Tuy các Phạm thiên ở tầng Sơ thiền, Nhị thiền đều có hào quang chói sáng, nhưng không được xinh đẹp so với hào quang của những Phạm thiên tầng Tam thiền.
Có Pāli giải thích như sau:
Parittā subhā etesanti = parittashubhā:
Hào quang kém xinh đẹp, gọi là thiểu tịnh”.
Parittasubhānaṃ nibbattāti = parittasubhā:
Trú xứ của những Phạm thiên có hào quang kém xinh đẹp, gọi là Thiểu quang thiên”.
*- Cõi Vô lượng tịnh thiên (appamāṇasubhābhūmi).
Là trú xứ của những Phạm thiên có hào quang vô cùng xinh đẹp.
Có Pāli giải thích như sau:
Appamāṇā subhā etesanti = appamāṇasubhā:
“Hào quang vô cùng xinh đẹp, gọi là vô lượng tịnh”.
Appamāṇasubhānaṃ nibbattāti = appamāṇasubhā:
“Trú xứ của những vị Phạm thiên có hào quang vô cùng xinh đẹp, gọi là Vô lượng tịnh thiên.”
*- Cõi Biến tịnh thiên (subhakiṇṇābhūmi).
Là cõi của những vị Phạm thiên có hào quang rất xinh đẹp bọc quanh thân. Có Pāli giải thích như sau:
Subhāti ākiṇnāti = subhakiṇṇā (subhakiṇhā):
“Có hào quang xinh đẹp khắp châu thân, gọi là biến tịnh”.
Subhakiṇṇānaṃ nibbattāti = subhakiṇṇā:
“-Trú xứ của các vị Phạm thiên Biến tịnh, gọi là Biến tịnh thiên”.
Các phạm thiên Thiểu tịnh có vai trò như các Phạm chúng thiên.
Các phạm thiên Vô lượng tịnh có vai trò như các Phạm phụ thiên.
Các phạm thiên Biến tịnh có vai trò như Đại phạm thiên.
Tầng Tam thiền cách tầng Nhị thiền là 5.508.000 do tuần, cấu trúc giống như tầng Nhị thiền nhưng xinh đẹp hơn.
Các Phạm thiên tầng tam thiền tục sinh bằng tâm quả Tứ thiền Sắc giới. Tuổi thọ các vị Phạm thiên ở tầng này như sau:
- Phạm thiên Thiểu tịnh có tuổi thọ là 16 kiếp trái đất.
- Phạm thiên Vô lượng tịnh có tuổi thọ là 32 kiếp trái đất.
- Phạm thiên Biến tịnh có tuổi thọ là 64 kiếp trái đất.
Có Pāli như sau:
Parittasubhāṇaṃ soḷasa kappāni; appamāṇasubhānaṃ dvattiṃsa kappāni; subhakiṇhānaṃ catusaṭṭhi kappāni:
“Thiểu tịnh thiên có (tuổi thọ) là 16 kiếp trái đất; Vô lượng tịnh thiên là 32 kiếp trái đất; Biến tịnh thiên là 64 kiếp trái đất” (sđd).
Sở dĩ có số 64 kiếp trái đất là vì: Sau 7 lần vũ trụ bị hoại do nước, đến một lần hoại do gió; bấy giờ tầng Tam thiền cũng bị hoại theo.
Cách lý giải tương tự như trên.
212 – Hỏi. Bảy cõi tầng Tứ thiền ra sao?
Đáp. Tầng Tứ thiền có hai lãnh vực: Hữu tưởng và Vô tưởng.
Cõi Vô tưởng là nơi trú của những vị Phạm thiên không có tâm.
Trong lãnh vực hữu tưởng có cõi Quảng quả có cả phàm nhân lẫn bậc thánh.
Riêng 5 cõi Tịnh cư chỉ dành riêng cho bậc Thánh Anahàm và Thánh Alahán.
Tức là bậc Anahàm chứng đắc được ngũ thiền Sắc giới, có được một quyền (indriya) vượt trội so với 4 quyền kia, sẽ sinh về cõi tương ứng với quyền vượt trội. Tại một trong 5 cõi này vị Thánh chứng đắc Alahán rồi viên tịch.
Nếu 5 quyền ngang nhau thì vị ấy sinh về cõi Quảng quả và vị Thánh hữu học ấy sẽ viên tịch tại chính cõi này.
213 – Hỏi. Cõi Quảng quả và cõi Vô tưởng ra sao?
Đáp.*- Cõi Quảng quả (vehapphalabhūmi).
Là nơi trú của những vị Phạm thiên có quả phước vô cùng rộng lớn.
Sở dĩ gọi là Quảng quả vì không bị tiêu hoại bởi lửa, nước, gió như các tầng thiền bên dưới.
Trong các tâm thiền, tâm thiền xả thọ là tâm thiền thù thắng bất động so với các tâm thiền thọ hỷ, nên có quả phước vô cùng rộng lớn.
Có Pāli giải thích như sau:
Vipulaṃ phalaṃ etesanti = vehapphalā:
“Có quả (phước) rộng lớn, gọi là quảng quả”.
Vehapphalānaṃ nibbatīti = vehapphalā:
Trú xứ của Phạm thiên Quảng quả, gọi là Quảng quả thiên”.
Các Phạm thiên cõi Quảng quả tục sinh bằng tâm quả Ngũ thiền Sắc giới, có tuổi thọ là 500 kiếp trái đất.
Trong cõi Quảng quả có cả phàm nhân lẫn bậc Thánh.
* – Cõi Vô tưởng (asaññasattabhūmi).
Là cõi của những Phạm thiên không có tâm thức.
Có Pāli giải thích như sau:
Natthi saññā etesanti = asaññā:
Không có tưởng, gọi là vô tưởng”.
Natthi saññāmukhena cattāro arūpakkhandhā etesanti = asaññā:
“Không có tưởng trong bốn vô sắc uẩn, gọi là vô tưởng”.
Asaññasattānaṃ nibbattāti = asaññāsattā:
“Trú xứ của Phạm thiên Vô tưởng, gọi là cõi Vô tưởng”.
Tuy các Phạm thiên này không có tâm thức nhưng vẫn được gọi là “chúng sinh – satta”, vì có sắc Mạng quyền.
Các Phạm thiên này tục sinh bằng nhóm sắc Mạng quyền[44].
Đời sống các Phạm thiên Vô tưởng là 500 kiếp địa cầu.
Có Pāli như sau: Vehapphalānaṃ asaññasattānañ ca pañcakappasatāni:
“Phạm thiên cõi Quảng quả và cõi Vô tưởng có (tuổi htọ) là 500 kiếp trái đất”(sđd).
Hai cõi này nằm ngang nhau, Phạm thiên cõi Quảng quả có thể thấy Phạm thiên Vô tưởng, khác với các Phạm thiên ở 3 tầng thiềp thấp, các Phạm thiên thấp không thể thấy Phạm thiên bậc cao dù nằm ngang nhau. Như Phạm chúng thiên không thể thấy Phạm phụ thiên… chỉ có thể thấy được Phạm thiên bậc cao khi vị ấy hóa thân thô tướng.
214 – Hỏi. Năm cõi Tịnh cư (suddhāvāsā) ra sao?
Đáp. *- Năm cõi Tịnh cư.
Là cõi dành riêng cho Bậc Thánh Anahàm và Thánh Alahán.
Có Pāli như sau:
- Suddhānaṃ anāgāmi arahantānameva āvāsāti = suddhavāsā:
“Trú xứ thanh tịnh của bậc Anahàm và Alahán, gọi là tịnh cư”.
Không như những cõi của tầng thiền bên dưới nằng ngang nhau, các cõi Tịnh cư nằm xếp chồng lên nhau từ thấp đến cao.
1 – Cõi Vô phiền (avihābhūmi).
Vị Thánh Anahàm có tín quyền mạnh (saddhindrya), chứng đạt Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh vể cõi này.
Gọi là cõi Vô phiền, vì các Phạm thiên Anahàm ở cõi này sống hết tuổi thọ của mình, không như những cõi Tịnh cư cao hơn.
Ở cõi Tịnh cư cao hơn, các Phạm thiên Anahàm không sống hết tuổi thọ có được nơi cõi ấy.
Đồng thời những thiên sản mà các Ngài có được cũng không hề bị tổn giảm bất cứ loại nào.
Các Giáo thọ sư có giải thích như sau:
Appakena kālena attano ṭhānaṃ na vijjahantīti = avihā
“Không lìa bỏ trú xứ của mình dù chỉ khoảnh khắc, gọi là Vô phiền”.
Nghĩa là “không chết trước tuổi thọ có được trong cõi ấy”.
Hay “Attano sampattiyā na hāyantīti = avihā:
“Giữ nguyên sự thành đạt của mình, không bị hư hoại, gọi là vô phiền”.
Avihānaṃ nibbattāti = avihā:
“Trú xứ của Phạm thiên “không thất thoát”, gọi là Vô phiền thiên”.
2- Cõi Vô nhiệt (atappābhūmi).
Vị Thánh Anahàm có tấn quyền (viriyindriya) vượt trội, chứng đạt Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.
Gọi là “Vô nhiệt” vì các Ngài không có sự “nóng bức” ở nội tâm.
Nguyên nhân là do “các Ngài thường xuyên nhập “Quả định – phalasamādhi”, nên các phiền não trong nội tâm khó có cơ hội dấy lên, nội tâm của các Ngài luôn an tịnh mát mẻ.
Có Pāli như sau:
Na tappantīti = atappā : Không có nóng bức, gọi là vô nhiệt”.
Atappānaṃ nibbattāti = atappā:
“Trú xứ của các Phạm thiên không có nóng bức, gọi là Vô nhiệt thiên”.
*- Cõi Thiện kiến (sudassābhūmi).
Vị Thánh Anahàm có niệm quyền (satindriya) mạnh, chứng đạt Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.
Gọi là “Thiện kiến” vì khi người khác nhìn thấy các vị Phạm thiên ở đây, đều phát sinh tâm hoan hỷ, do vì thân tướng của các Ngài rất xinh đẹp.
Có Pāli giải thích như sau:
Sukhena dissantīti = suddassā:
Nhìn thấy phát sinh an lạc, gọi là thiện kiến”.
Và: “Parisuddhehi pasādadibbadhammapaññā cakkhūhi sam pannattā suṭṭhu passantīti = sudassā:
“Thấy mọi vật rất rõ ràng, do có nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn và tuệ nhãn thanh tịnh, gọi là thiện kiến”.
Nghĩa là các vị Phạm thiên ở cõi này có đủ bốn loại nhãn là: Mắt thịt (nhục nhãn), mắt chư thiên (thiên nhãn), mắt pháp (pháp nhãn) và mắt trí tuệ (tuệ nhãn), nên nhìn thấy mọi vật rất dễ dàng.
Sudassānaṃ nibbattāti = sudassā:
“Chỗ ở của Phạm thiên Thiện kiến, gọi là cõi Thiện kiến”.
*- Cõi Thiện hiện (sudassībhūmi).
Vị Thánh Anahàm có định quyền (samādhindriya) mạnh, chứng đắc Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.
Gọi là cõi Thiện hiện vì các vị Phạm thiên ở đây khéo thấy trọn vẹn mọi vật hơn các Phạm thiên cõi Thiện hiện.
Các Phạm thiên ở cõi này tuy vẫn có 4 loại nhãn như Phạm thiên cõi Thiện hiện, nhưng ba loại nhãn: Nhục nhãn, thiên nhãn và pháp nhãn thì vượt trội hơn, còn Pháp nhãn thì ngang nhau.
Có Pāli giải thích như sau:
Sukhena passantīti = sudassī:
“Nhìn thấy mọi vật dễ dàng, gọi là Thiện hiện”.
Sudassīnaṃ nibbattāti = sudassī:
“Chỗ trú của Phạm thiên Thiện hiện, gọi là Thiện hiện thiên”.
*- Cõi Sắc cứu cánh (akaniṭṭhābhūmi).
Vị Thánh Anahàm có tuệ quyền (paññidriya) mạnh, chứng đắc Ngũ thiền Sắc giới, sau khi mệnh chung tái sinh về cõi này.
Gọi là cõi Sắc Cứu cánh, vì đây là trú xứ của các vị Phạm thiên có ân đức Giới – định – tuệ cao nhất so với bất cứ vị Phạm thiên nào trong cõi Sắc, kể cả 4 cõi Tịnh cư thấp.
Vị Phạm thiên Anahàm cõi Sắc Cứu cánh sẽ viên tịch ngay chính chỗ ấy, tức là trong kiếp Phạm thiên ở Sắc cứu cánh vị ấy sẽ chứng quả Alahán.
Nơi cõi Sắc Cứu cánh có Bảo tháp Cūḷamanī tôn trí bộ vương phục cùng tóc của Bồtát Siddhattha (Sĩ-đạt-ta).
Khi Bồtát xuất gia, Đại Phạm thiên Ghaṭikāra từ cõi Sắc Cứu cánh xuống, dâng cho Bồtát 8 món y cụ của bậc xuất gia và mang bộ vương phục cùng tóc cắt bỏ của Bồtát mang về tôn trí trong Bảo tháp Cūḷamanī, Bảo tháp này cao 12 do tuần.
Có Pāli giải thích như sau:
Natthi kaṇiṭṭho etesanti = akaniṭṭhā:
“Không có nhỏ nhoi, dù chút ít, akaniṭṭhā”.
Natthi rūpīnaṃ sattānaṃ majjhe kenaci guṇena kaniṭṭhabhāvo etesanti = akaniṭthā:
“Ân đức pháp tánh không nhỏ nhoi, dù chút ít so với những chúng sinh bình thường, gọi là akaniṭṭhā (sắc Cứu cánh)”.
Akaniṭṭhānaṃ nibbattāti = akaniṭṭhā:
“Trú xứ của Phạm thiên Sắc cứu cánh, gọi là Sắc Cứu cánh thiên”.
Tuổi thọ các Phạm thiên cõi Tịnh cư.
Các Phạm thiên cõi Tịnh cư đều tục sinh bằng tâm quả Ngũ thiền Sắc giới.
- Chư Phạm thiên cõ Vô phiền có tuổi thọ là 1.000 kiếp trái đất.
- Chư Phạm thiên cõi Vô nhiệt có tuổi thọ là 2.000 kiếp trái đất.
- Chư Phạm thiên cõi Thiện kiến có tuổi thọ là 4.000 kiếp trái đất.
- Chư Phạm thiên cõi Thiện hiện có tuổi thọ là 8.000 kiếp trái đất.
- Chư Phạm thiên cõi Sắc Cứu cánh có tuổi thọ là 16.000 kiếp trái đất.
Có Pāli như sau:
- Avihānaṃ kappasahassāni:(Cõi) Vô phiền là 1.ooo kiếp trái đất.
- Atappānaṃ dve kappasahassāni:(Cõi) Vô nhiệt là 2.000 kiếp trái đất.
- Sudassānaṃ cattāri kappasahassāni: (Cõi) Thiện kiến là 4.000 kiếp trái đất.
- Sudassīnaṃ aṭṭhakappasahassāni: (Cõi) Thiện hiện là 8.000 kiếp trái đất.
- Akaniṭṭhānaṃ soḷasa kappasahassāni āyupamāṇaṃ: (Cõi) Sắc Cứu cánh là 16.000 kiếp trái đất”[45].
215 – Hỏi. Bốn cõi Vô sắc ra sao?
Đáp. Bốn cõi Vô sắc tuy gọi là cõi, nhưng không hiện rõ bất luận với dạng thức nào, vì chỉ khoảng “chân không” bao la.
Vị Phạm thiên Vô sắc chỉ có bốn danh uẩn: Thọ, tưởng, hành và thức uẩn.
Các Ngài không có sắc pháp, nên chỗ trú của các Ngài cũng không có sắc pháp.
Sở dĩ gọi là cõi, vì có “lời nói sai” rằng: “Chúng sinh có danh, nhưng không có sắc thì không gọi là cõi”.
Để xóa bỏ quan điểm sai lầm này, Ngài Anuruddha nêu lên “cõi Không vô biên xứ (Ākāsānañcāyatanabhūmi)…”.
Lại có quan điểm sai lầm khác là: “Vị Phạm thiên Vô sắc cũng có thiên cung, ao hồ …”.
Thật ra, các Phạm thiên Vô sắc là những vị tu tiến thiền chỉ tịnh (samādhijhāna), có ý lìa bỏ sắc pháp, do mãnh lực thiền khi mệnh chung vị ấy tái sinh trở thành chúng sinh vô sắc[46], Thiên cung, ao hồ, vườn tược … là sắc pháp, làm sao có thể có trên cõi Vô sắc.
Lại nữa, nếu có thiên cung, ao hồ… thì làm sao gọi là “cõi Vô sắc” được.
Có Pāli như sau:
Arūpabrahmānaṃ avacarā bhūmi = arūpavacarabhūmi:
“Cõi lui tới của Phạm thiên Vô sắc, gọi là cõi Vô sắc .”
Vô sắc giới có bốn cõi là:
*- Cõi Không vô biên xứ (ākāsānañcāyatanabhūmi).
Là trú xứ của vị Phạm thiên thành tựu thiền Vô sắc với đề mục “không vô biên xứ”, khi mệnh chung sinh về cõi này.
Vị Phạm thiênKhông vô biên xứ tục sinh bằng tâm quả Không vô biên xứ.
*- Cõi Thức vô biên xứ (viññāṇañcāyatanabhūmi).
Là trú xứ của vị Phạm thiên thành tựu thiền vô sắc với đề mục “thức vô biên xứ”, khi mệnh chung tái sinh về cõi này.
Vị Phạm thiên cõi Thức vô biên xứ tục sinh bằng tâm quả Thức vô biên xứ.
*- Cõi Vô sở hữu xứ (ākiñcāyatanabhūmi).
Là trú xứ của vị Phậm thiên thành tựu thiền vô sắc với đề mục “Vô sở hữu xứ”. Khi mệnh chung, tái sinh về cõi này.
Vị Phạm thiên Vô sở hữu xứ tục sinh bằng tâm quả Vô sở hữu xứ.
*- Cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ (nevasaññānāsaññāyatana bhūmi).
Là trú xứ của vị Phạm thiên thành tựu thiền Vô sắc với đề mục “phi tưởng phi phi tưởng xứ”, khi mệnh chung tái sinh về cõi này,
Vị Phạm thiên phi tưởng phi phi tưởng xứ tục sinh bằng tâm quả phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Tuổi thọ của các vị Phạm thiên ấy như sau:
- Phạm thiên cõi Không vô biến xứ có tuổi thọ là 20.000 kiếp trái đất.
- Phạm thiên cõi Thức vô biên xứ có tuổi thọ là 40.000 kiếp trái đất.
- Phạm thiên cõi Vô sở hữu xứ có tuổi thọ là 60.000 kiếp trái đất.
- Phạm thiên cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ có tuổi thọ là 84.000 kiếp trái đất.
Như có Pāli sau:
“Tesu pama ākāsānañcāyatanūpagānaṃ devānaṃ vīsati kappasahassaani āyuppamāṇaṃ:
Trong các cảnh giới này, tuổi thọ những vị Không bô biên xứ là 20.000 kiếp trái đất.
Viññānañcāyatanūpagānaṃ devānaṃ cattāḷisakappasahassāni:
Các vị Thức vô biên xứ là 40.000 kiếp trái đất.
Ākiñcaññāyatanūpaganaṃ devānaṃ saṭṭhikappasahassasāni.
Các vị Vô sở hữu xứ là 60.000 kiếp trái đất.
Nevasañānāsaññāyatanūpagānaṃ devānaṃ caturāsītikappasahassāni āyuppamānaṃ:
Các vị Phi tưởng phi tưởng xứ là 84.000 kiếp trái đất” (sđd).
Phụ chú.
- Khoảng cách từ Địa ngục Vô gián đến cõi nhân loại là 120 ngàn do tuần.
- Nhân loại cách cõi Tha hóa tự tại là 252 ngàn do tuần.
- Nhân loại cách cõi Phi tưởng phi tưởng xứ là 71 triệu 856 ngàn do tuần.
-Địa ngục Vô gián cách cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ là 71 triệu 876 ngàn do tần.
216 – Hỏi. Người được phân bố theo cõi như thế nào? Có bao nhiêu hạng người tính theo cõi?
Đáp. Người được phân bố theo cõi như sau.
*- Bốn cõi khổ, mỗi cõi chỉ có 1 hạng người khổ => có 4 hạng người khổ.
*- Cõi nhân loại và cõi Tứ đại vương, mỗi cõi có 11 hạng người (trừ người khổ) => 22 hạng người.
*- Năm cõi trời Dục giới (từ cõi Ba mươi ba đến cõi Tha hóa tự tại), mỗi cõi có 10 hạng người (trừ người khổ và người lạc vô nhân) => 5 cõi x 1o hạng người = 55 hạng người.
*- Ba cỏi Sơ thiền, ba cõi Nhị thiền, ba cõi Tam thiền và cõi Quảng quả; mỗi cõi có 9 hạng người (trừ người khổ, người lạc vô nhân và người nhị nhân) => 10 cõi x 9 hạng người = 90 hạng người.
* Cõi Vô tưởng, chỉ có người Lạc vô nhân.
*- Năm cõi Tịnh cư, mỗi cõi có ba hạng người: Người Tam quả, người Tứ đạo và người Tứ quả => 5 cõi x 3 hạng người = 15 hạng người.
*- Bốn cõi Vô sắc, mỗi cõi có 8 hạng người là: Phàm Tam nhân, 3 người Đạo (trừ người Sơ đạo) và 4 người Quả => 4 cõi x 8 hạng người = 32 hạng người. Như vậy tổng cộng có 218 hạng người (tính theo cõi).
217 – Hỏi. Mỗi cõi có được bao nhiêu tâm?
Đáp. *- Bốn cõi khổ mỗi cõi có được 37 tâm.
*- Bảy cõi vui Dục giới, mỗi cõi có 112 tâm là: 54 tâm Dục giới +18 tâm thiền hiệp thế[47] + 40 tâm Siêu thế.
*- Ba cõi Sơ thiền Sắc giới, mỗi cõi có 97 tâm là: Tâm quả Sơ thiền (tâm hữu phần) + 38 tâm Dục giới[48] + 18 tâm thiền Đáo đại hiệp thế + 40 tâm Siêu thế.
*- Ba cõi Nhị thiền, mỗi cõi có 93 tâm là: Tâm quả Nhị thiền (tâm hữu phần) + tâm quả Tam thiền + 38 tâm Dục giới + 18 đổng lực Đáo đại + 35 tâm Siêu thế (trừ 4 tâm Đạo Sơ thiền và tâm Tứ quả Sơ thiền)[49].
*- Ba cõi Tam thiền, mỗi cõi có 82 tâm là: Tâm quả Tứ thiền (hữu phần) + 38 tâm Dục giới + 18 đổng lực Đáo đại + 25 tâm Siêu thế [50].
*- Cõi Quảng quả có được 77 tâm là: Tâm quả Ngũ thiền (tâm hữu phần) + 38 tâm Dục giới + 18 đổng lực Đáo đại + 20 tâm Siêu thế[51].
*- Cõi Vô tưởng không có tâm nào cả.
*- Năm Cõi Tịnh cư, mỗi cõi có được 55 tâm là: Tâm quả Ngũ thiền (tâm hữu phần) +33 tâm Dục giới[52] + 18 tâm đổng lực Đáo đại+ tâm Tam quả Ngũ thiền + tâm Tứ đạo ngũ thiền và tâm Tứ quả Ngũ thiền.
*- Cõi Không vô biên xứ có được 43 tâm là: Tâm quả Không vô biên xứ (tâm hữu phần), 10 tâm bất thiện (trừ 2 tâm sân) + tâm Hướng ý môn + 8 đại thiện + 8 Đại tố + 8 tâm đổng lực thiền Vô sắc +7 tâm Siêu thế Ngũ thiền (trừ tâm Sơ Đạo ngũ thiền).
*- Cõi Thức vô biên xứ có được 41 tâm là: Lấy 43 tâm ở cõi Không vô biên xứ trừ đi 3 tâm Không vô biên xứ, rồi cộng thêm tâm quả Thức vô biên xứ ( tâm hữu phần).
* - Cõi Vô sở hữu xứ có được 39 tâm là: Lấy 41 tâm ở cõi Thức vô biên xứ trừ đi 3 tâm thức vô biên xứ , rồi cộng thêm tâm quả Vô sở hữu xứ (tâm hữu phần).
*- Cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ có được 37 tâm là: Lấy 39 tâm ở cõi Vô sở hữu xứ trừ đi ba tâm Vô sở hữu xứ, rồi cộng thêm tâm quả Phi tưởng phi phi tưởng xứ (tâm hữu phần).
218 – Hỏi. Tâm sinh được trong mấy cõi?
Đáp. *- Bốn tâm quả Vô sắc, mỗi tâm chỉ cho trong một cõi.
*-Tâm quả Sơ thiền chỉ có trong 3 cõi Sơ thiền.
*- Tâm quả Nhị thiền, tâm quả tam thiền chỉ có trong cõi Nhị thiền.
*- Tâm quả Tứ thiền chỉ có trong cõi tam thiền.
*- Tâm quả Ngũ thiền có trong 6 cõi: Cõi Quảng quả và 5 cõi Tịnh cư.
*- Tâm Đạo và tâm Quả Siêu thế không thiền[53] chỉ có trong 7 cõi vui Dục giới.
*- Ba đôi thức (tỷ, thiệt, thân thức) + 2 tâm sân có trong 11 cõi Dục giới.
*- Bốn tâm Đạo Sơ thiền + tâm Tứ quả Sơ thiền có trong 10 cõi là : 7 cõi vui Dục giới + 3 cõi Sơ thiền.
*- Bốn tâm Đạo Nhị thiền + 4 tâm Đạo Tam thiền + tâm Tứ quả Nhị thiền + tâm Tứ quả Tam thiền, có trong 13 cõi là: 7 cõi vui Dục giới + 3 cõi Nhị thiền + 3 cõi Tam thiền.
*- Bốn tâm Đạo Tứ thiền + tâm Tứ quả Tứ thiền, có trong 16 cõi là: & cõi vui Dục giới + 3 cõi Sơ thiền + 3 cõi Nhị thiền + 3 cõi Tam thiền.
*- Tâm Sơ đạo Ngũ thiền, có trong 17 cõi là: 7 cõi vui Dục giới + 10 cõi Sắc giới phàm hữu tưởng (3 cõi Sơ thiền + 3 cõi Nhị thiền + 3 cõi Tam thiền = cõi Quảng quả).
*- Năm tâm Sơ quả ngũ thiền, 5 tâm Nhị quả ngũ thiền , tâm Nhị đạo ngũ thiền , tâm Tam Đạo ngũ thiền, có trong 21 cõi là: 7 cõi vui Dục giới + 10 cõi Sắc giới phàm hữu tâm + 4 cõi Vô sắc.
*- Năm tâm thiền thiện Sắc giới, năm tâm thiền Duy tác Sắc giới, tâm Sinh tiếu, có trong 22 cõi vui ngũ uẩn là: 7 cõi vui Dục giới+ 15 cõi Sắc giới hữu tưởng.
*- Tâm thiện Không vô biên xứ, tâm Duy tác Không vô biên xứ, có trong 23 cõi là : 22 cõi vui ngũ uần + cõi Không vô biên xứ.
*- Tâm thiện Thức vô biên xứ, tâm Duy tác Thức vô biên xứ, có trong 24 cõi là: 22 cõi vui ngũ uẩn + cõi Không vô biên xứ + cõi Thức vô biên xứ.
*- Tâm thiện Vô sở hữu xứ, tâm Duy tác Vô sở hữu xứ, có trong 25 cõi là: 22 cõi vui ngũ uần + cõi Không vô biên xứ, cõi Thức Vô biên xứ, cõi Vô sở hữu xứ.
*- Tâm thiện Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tâm duy tác phi tưởng phi phi tưiởng xứ, có trong 26 cõi là: 22 cõi vui ngũ uẩn + 4 cõi Vô sắc.
*- Bốn tâm tham hợp tà kiến + tâm si hợp hoài nghi, có trong 25 cõi phàm hữu tâm là: 31 cõi trử (5 cõi Tịnh cư + cõi Vô tưởng).
*- Bốn tâm ly tà + tâm si hợp phóng dật, có trong, tâm Hướng ý môn, 8 tâm đại thiện, có trong 30 cõi hữu tâm.
*- Hai tâm nhãn thức, 2 tâm nhĩ thức, tâm Hướng ngũ môn, 2 tâm Tiếp thu, 3 tâm Quan sát, có trong 26 cõi ngũ uẩn = 11 cõi Dục giới + 15 cõi Sắc giới hữu tưởng.
*- Tám tâm đại tố, 5 tâm Tam quả Siêu thế (có thiền), 2 đổng lực Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tâm Tứ đạo ngũ thiền, tâm Tứ quả ngũ thiền, có trong 26 cõi vui hữu tâm = 7 cõi vui Dục giới + 15 cõi Sắc giới hữu tưởng + 4 cõi Vô sắc.
219 – Hỏi. Các bậc Thánh Hữu học đối với các cõi như thế nào?
Đáp. Theo quy luật, bậc Thánh Hữu học không bao giờ tái sinh vào cõi thấp hơn cõi mà vị ấy đang sống, vị Thánh hữu học chỉ tái sinh lại ngay chính cõi ấy hoặc cõi cao hơn.
Vị Thánh hữu học ở cõi Dục, chứng đắc thiền chỉ tịnh (samādhi), xem như trở thành bậc Bất lai, vì các Ngài không còn trở lại cõi Dục cho dù vị ấy là Thánh Sơ quả.
Đối với các cõi vui phàm thì như vậy, riêng bậc Thánh ở cõi 4 Tịnh cư thấp không còn tái sinh lại chính cõi cũ, mà tái sinh lên cõi cao hơn theo từng cấp, như vị Thánh Anahàm cõi Vô phiền, khi mệnh chung sẽ tái sinh lên cõi Vô nhiệt… cho đến cõi Sắc Cứu cánh thì kiếp ấy sẽ viên tịch ngay tại cõi ấy.
220 – Hỏi. Các vị Thánh hữu học nơi cõi Quảng quả và cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ thì như thế nào?
Đáp. Trong 31 cõi, có 3 cõi được gọi “kết thúc (bhavagga)” đối với bậc Thánh hữu học, đó là cõi Quảng quả, cõi Sắc Cứu cánh và cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Vị Thánh Anahàm chắc chắn sẽ viên tịch ở cõi Sắc Cứu cánh trong kiếp ấy.
Riêng vị Thánh hữu học ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng, nếu chưa chứng quả Alahán thì chỉ tái sinh lại cõi ấy cho đến khi viên tịch.
Vị Thánh hữu học ở cõi Quảng quả cũng như thế ấy, cho dù vị ấy có chứng thiền Vô sắc giới, khi mệnh chung vẫn phải tái sinh lại cõi Quảng quả, cho đến khi vị ấy viên tịch.
Nguồn:
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-chanhminh/dvtp13.htm






Phản hồi gần đây